Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về công ty hợp danh là đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Việt Nam và Luật Công ty Nhật Bản Các nội dung chủ yếu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN ĐỨC MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lục Việt Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY HỢP DANH 6
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty hợp danh trên thế giới 6
1.1.1 Sự ra đời của công ty hợp danh 6
1.1.2 Quan niệm về công ty hợp danh 8
1.2 Quá trình hình thành và phát triển công ty hợp danh ở Việt Nam và Nhật Bản 13
1.2.1 Lịch sử hình thành 13
1.2.2 Pháp luật về công ty hợp danh 17
1.2.3 Cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của công ty hợp danh ở Việt Nam và Nhật Bản 20
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VỀ CÔNG TY HỢP DANH 23
2.1 Khái niệm công ty hợp danh 23
2.2 Quy định về thành lập công ty hợp danh 26
2.2.1 Điều kiện thành lập 26
2.2.2 Thủ tục thành lập 36
2.3 Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh 46
2.4 Quy định về thành viên công ty hợp danh 51
2.5 Vốn góp trong công ty hợp danh 61
Trang 52.5.1 Góp vốn 61
2.5.2 Huy động vốn 66
2.5.3 Chuyển nhượng vốn 68
2.6 Quản trị công ty hợp danh 70
2.7 Giải thể công ty hợp danh 74
2.8 Hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam theo kinh nghiệm của Nhật Bản 78
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty hợp danh là một trong những loại hình ra đời sớm trong lịch sử hình thành công ty trên thế giới, cho đến ngày hôm nay công ty hợp danh vẫn tiếp tục khẳng định được sự tồn tại và không ngừng phát triển Cùng với các công ty khác, công ty hợp danh góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất; tập trung và phát huy nội lực vào thúc đẩy nền kinh tế xã hội, giúp cho nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết
có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo… Mặc
dù có vai trò như vậy, nhưng trên thực tế công ty hợp danh nhận được rất ý sự quan tâm, chú ý của các nhà đầu tư và cả pháp luật Ở Việt Nam, công ty hợp danh lần đầu tiên được nhắc đến tại Luật Doanh nghiệp 1999 Sau đó pháp luật về loại hình công ty này tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Luật Doanh nghiệp 2005; tuy nhiên, với 11 điều luật được ghi nhận là chưa đảm bảo được khung pháp lý cho sự hoạt động của công ty hợp danh Hơn nữa, sau gần 10 năm đi vào thực tiễn đời sống kinh tế, pháp luật về công ty hợp danh đã bộc lộ nhiều hạn chế, các quy định của pháp luật còn thiếu tính thống nhất gây khó khăn cho việc áp dụng và trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển của loại hình này Nhật Bản là một quốc gia không chỉ có nền kinh tế phát triển đứng hàng đầu thế giới mà còn có hệ thống pháp luật tiên tiến, đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội Pháp luật về công ty hợp danh của Nhật Bản được xây dựng dựa trên nền tảng thực tiễn môi trường kinh doanh trong nước kết hợp với kinh nghiệm lập pháp có lịch sử hàng trăm năm; chính vì vậy, công ty hợp danh được nhìn nhận với đúng bản chất pháp
lý của nó và có quy chế điều chỉnh hoàn thiện
Trong xu hướng hội nhập quốc tế, giữa các quốc gia không chỉ có sự
Trang 7giao lưu, hợp tác về kinh tế mà còn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội như văn hóa, giáo dục, y tế và lập pháp Đứng giữa bối cảnh đó, Việt Nam
đã, đang và luôn sẵn sàng học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu trong lĩnh vực pháp luật của các quốc gia có kỹ thuật lập pháp cao trong đó
có Nhật Bản; để bổ sung, hoàn thiện nền pháp lý của mình Trải qua hơn bốn mươi năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Nhật Bản đã hợp tác với nước ta trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa đến lĩnh vực pháp luật Biểu hiện của sự hợp tác trong lĩnh vực pháp luật đó là sự ra đời của Dự án cải cách hệ thống tư pháp và pháp luật (JICA) ở Việt Nam do Nhật Bản đầu
tư và hỗ trợ chuyên gia
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “ So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản về công ty hợp danh”, với mong muốn được góp phần vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật công ty hợp danh ở nước ta trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Một số công trình nghiên cứu về Công ty hợp danh ở Việt Nam, đó là:
- Sách, bài báo, tạp chí: Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật
thương mại phần chung và phần thương nhân; Nguyễn Thị Khế (2007), Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh; Ngô Huy Cương (2007), “Khái niệm công ty hợp danh tại Luật doanh nghiệp 2005”; Đỗ Văn Đại (2005),
“Cần quy định hợp lý về công ty hợp danh”; Nguyễn Vĩnh Hưng (2011),
“Công ty hợp danh có hay không tư cách pháp nhân”; Vũ Đặng Hải Yến (2010), “Hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam”; Bùi Xuân Hải (2008), “Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với vấn đề hội nhập”; Các
sách, bài báo này cũng đã đề cập đến những nội dung cơ bản của công ty hợp danh như khái niệm công ty, tư cách pháp lý của công ty hợp danh và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh
Trang 8- Luận văn, luận án:Vũ Đặng Hải Yến (2003), Một số vấn đề pháp lý về
công ty hợp danh, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn
Thị Thùy Giang (2012), Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội; Nguyễn Thị Huế (2012), Pháp
luật về Công ty hợp danh, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện khoa học xã
hội; Các luận văn, luận án này là những công trình nghiên cứu khoa học cho thấy cái nhìn tổng thể và đầy đủ về công ty hợp danh ở các vấn đề như lịch sử
ra đời, khái niệm và đặc điểm của công ty hợp danh, những vấn đề chủ yếu của công ty hợp danh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời, cũng đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật công ty hợp danh ở
Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
So sánh các quy định của pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam và Nhật Bản để tìm ra những ưu điểm, hạn chế của pháp luật về công ty hợp danh của mỗi nước Cùng với đó, luận văn tìm lời giải cho câu hỏi, liệu những điểm hợp lý trong quy định của pháp luật Nhật Bản về công ty hợp danh có thể tham khảo trong tìm kiếm giải pháp khắc phục những hạn chế của pháp luật về công ty hợp danh của Việt Nam?
- Đề xuất giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh của Việt Nam
Trang 94 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về công ty hợp danh là đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Việt Nam và Luật Công ty Nhật Bản Các nội dung chủ yếu liên quan đến pháp luật về thành lập, quản trị và vận hành, giải thể công ty; quy chế pháp lý về vốn và thành viên trong công ty hợp danh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra luận văn có tham khảo các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đã được công bố;
- Trong nghiên cứu và biên soạn luận văn, học viên sử dụng phương pháp phân tích quy phạm và phân tích quan điểm khoa học; phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp; phương pháp so sánh luật học Các phương pháp nghiên cứu trên được dùng xuyên suốt trong luận văn Cụ thể, phương pháp phân tích được sử dụng để đánh giá, nhận xét và làm rõ những nội dung cơ bản trong các quy định của pháp luật về công ty hợp danh; phương pháp so sánh nhằm mục đích tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản; từ đó, kết hợp với phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp đưa ra những nhận định và kết luận khoa học
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có những đóng góp về khoa học và thực tiễn pháp lý Việt Nam trên những vấn đề sau:
- Luận văn là công trình luật học so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản về công ty hợp danh;
- Góp phần đưa ra những nội dung cần tiếp thu từ pháp luật Nhật Bản phục vụ cho công tác xây dựng pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam
Trang 106 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công ty hợp danh
Chương 2: Những vấn đề chủ yếu của pháp luật Việt Nam và pháp
luật Nhật Bản về công ty hợp danh
Trang 11Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY HỢP DANH
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty hợp danh trên thế giới
1.1.1 Sự ra đời của công ty hợp danh
Công ty ra đời là một hiện tượng tất yếu khách quan của nền kinh tế, nó
là sự khởi đầu cho việc liên kết hình thành và phát triển mạnh mẽ trong kinh doanh thương mại Cũng giống như những hiện tượng khác, công ty chỉ ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội nhất định
Hình thức đầu tiên của việc buôn bán, trao đổi xuất hiện trong lịch sử loài người đó là việc các chủ thể kinh doanh đứng ra bỏ vốn đầu tư, quản lý
và điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách độc lập; đồng thời cũng tự mình gánh chịu những rủi ro gặp phải, mà không có sự liên kết với những nhà kinh doanh khác Kiểu kinh doanh truyền thống này được gọi là kinh doanh đơn lẻ Là yếu tố cấu thành nên xã hội, do vậy, nền kinh tế luôn luôn vận động và phát triển không ngừng; điều này khiến các nhà kinh doanh phải tính toán tìm ra những cách thức mới để có thể đẩy mức lợi nhuận lên cao hơn, một trong những cách thức đó chính là mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh Mở rộng quy mô sản xuất đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro gặp phải trong kinh doanh lớn hơn nhưng bù lại những khoản lời lãi thu về sẽ nhiều thêm, rủi ro gặp phải sẽ được chia sẻ cho nhiều người trong quá trình kinh doanh Hơn nữa, nếu vẫn tiếp tục duy trì quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, không đáp ứng được sự đòi hỏi của nền sản xuất ngày càng lớn mạnh, thị trường ngày càng sôi động thì các nhà đầu tư sẽ sớm bị sự phát triển của nền kinh tế phủ nhận Chính những lý do trên, đã thôi thúc và buộc các nhà kinh doanh phải từ bỏ kiểu kinh doanh đơn lẻ
Trang 12truyền thống và tìm đến với quy mô sản xuất phù hợp hơn Công ty ra đời đã đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe đó
Ban đầu, các chủ thể kinh doanh chỉ lập ra những hội buôn, phường bán với sự liên kết đơn giản, đây chính là khởi nguồn của loại hình công ty đối nhân Trải qua quá trình sản xuất, kinh doanh; cùng với quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng, các nhà đầu tư đã dần phát triển và hoàn thiện công
ty thành những tổ chức có cơ cấu chặt chẽ và thực sự phù hợp Hiện nay, công
ty xuất hiện với các loại hình rất đa dạng: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần , rồi trong mỗi loại hình công ty đó lại bao gồm những phân loại nhỏ hơn, tạo nên một bức tranh phong phú về công ty
Công ty hợp danh là dạng đặc trưng của công ty đối nhân Sự ra đời của loại hình công ty này cũng xuất phát từ đòi hỏi phải mở rộng quy mô kinh doanh Tuy nhiên, ở thời điểm ban đầu đó, trong các nhà kinh doanh đơn lẻ vẫn tồn tại một tâm lý lo sợ rủi ro và không muốn để lộ bí quyết kinh doanh Để tạo cho mình hàng rào chắc chắn, an toàn khi liên kết với những người khác, các nhà kinh doanh sẽ tìm đến những người có mối quan hệ thân thiết, đáng tin cậy cùng nhau hợp tác, kinh doanh dưới một tên chung Sự liên kết như vậy của các nhà kinh doanh đã cho ra đời công ty hợp danh Các quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng được ghi nhận trong các bộ luật thời cổ đại như Bộ luật Hammurabi của Babylon và trong bộ luật Justinian của đế chế La Mã Trong Bộ luật Hammurabi có quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng; thuật ngữ shutolin chỉ một dạng hợp danh phi thương mại xuất hiện từ năm 2000 trước Công nguyên, sau đó hình thành hợp danh thương mại từ những đoàn hội buôn Do Thái Trong Bộ luật Justinian của đế chế La Mã thế kỷ VI, các nguyên tắc như nguyên tắc delectus personas - sự lựa chọn của cá nhân, một nguyên tắc xác định sự lựa chọn tự nguyện của các thương nhân khi cộng tác với nhau, hay nguyên tắc người thực hiện hành
Trang 13vi thông qua hành vi của người khác cho bản thân người đó (qui facit per alium facit per se) là những nguyên tắc rất giống với luật hiện đại về công ty hợp danh Người Phương Đông cũng không xa lạ với các phường, hội buôn Các quốc gia Phương Đông có xuất phát điểm của nền kinh tế từ nông nghiệp Do vậy, tâm lý của người dân khu vực này chịu ảnh hưởng sâu sắc
từ truyền thống kinh doanh gia đình hoặc kinh doanh dòng họ Trong lịch sử
đã xuất hiện nhiều hãng buôn nổi tiếng mang tên dòng họ và hạn chế sự can thiệp của người ngoài vào công việc kinh doanh Chính kiểu kinh doanh này
là tiền đề cho sự ra đời của công ty hợp danh ở các nước Phương Đông Cho đến ngày hôm nay, công ty hợp danh được ghi nhận trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới
1.1.2 Quan niệm về công ty hợp danh
Trong mỗi ngành khoa học tồn tại những khái niệm đặc thù về công ty nói chung và công ty hợp danh nói riêng Nguyên nhân của sự khác nhau đó là
do đối tượng nghiên cứu của mỗi ngành khoa học là riêng biệt và không trùng lặp Nghiên cứu sự đa dạng của các quan niệm về công ty hợp danh cũng là một trong những cách để hiểu sâu sắc hơn thế nào là công ty hợp danh?
Trong khoa học về quản trị doanh nghiệp, đối tượng nghiên cứu đó là quá trình quản trị diễn ra trong một tổ chức, doanh nghiệp Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp, ngành khoa học này phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp một chủ sở hữu (bao gồm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu (bao gồm công ty và hợp tác xã) Trong loại hình công ty lại được chia thành công ty đối nhân và công ty đối vốn Công ty hợp danh nằm trong nhóm công ty đối nhân Khoa học quản trị
doanh nghiệp đưa ra khái niệm như sau: “công ty hợp danh là công ty đối nhân
trách nhiệm vô hạn Các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty Loại công ty này thích hợp với các thể nhân, nhưng nhiều khi các
Trang 14pháp nhân kinh doanh cũng cùng nhau thành lập công ty này” [19, tr.11] Như
vậy, công ty hợp danh có các thành viên thường quen biết nhau và kết hợp với nhau dựa trên sự tín nhiệm, họ nhân danh chính mình để kinh doanh và liên đới chịu trách nhiệm Do đó, không thể chuyển nhượng phần góp tài sản của mình mà không được sự đồng ý của toàn thể thành viên Đối với loại công ty này các thành viên thường chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ Khi một thành viên chết có thể dẫn đến giải thể công ty Khoa học về quản trị doanh nghiệp thừa nhận tính chất đối nhân tuyệt đối của công ty hợp danh Ngoài ra, công ty hợp danh là đơn vị kinh tế quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng
để kiếm lợi nhuận – đây là mục đích quan trọng hàng đầu của công ty Lợi nhuận này sẽ được phân chia cho những người góp vốn trong công ty Như vậy, xét từ góc độ của quản trị doanh nghiệp thì công ty hợp danh cũng là một đơn vị kinh tế thực hiện nhiệm vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận cho chủ sở hữu công ty
Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu tìm hiểu về công ty hợp danh, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều đưa ra những khái niệm riêng Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào các điều kiện về lịch sử thương mại, cách nhìn nhận chủ quan của các nhà lập pháp , mà họ đã xây dựng những khái niệm pháp lý rất đa dạng về công ty hợp danh
Pháp luật về công ty của Pháp xây dựng định nghĩa về công ty hợp
danh như sau: “Công ty hợp danh là công ty mà trong đó các thành viên đều
có tư cách thương gia chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới về các khoản nợ của công ty” [13].Công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên Pháp luật
yêu cầu các thành viên phải có tư cách thương gia và có đầy đủ năng lực hành
vi để hành nghề Quy định về tư cách thương gia của thành viên công ty hợp
Trang 15danh ở Pháp có liên quan tới trách nhiệm tài sản của các thành viên.Công ty hợp danh ở pháp mang bản chất đối nhân tuyệt đối bởi lẽ tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty Khi công
ty có khoản nợ, chủ nợ yêu cầu công ty thực hiện việc thanh toán, tuy nhiên, nếu tài sản của công ty không đủ để thực hiện nghĩa vụ này thì chủ nợ được pháp luật trao quyền yêu cầu bất cứ thành viên nào của công ty hợp danh trả
nợ Tính liên đới trong trách nhiệm vô hạn khiến cho chủ nợ có thể chỉ định một thành viên của công ty thực hiện nghĩa vụ mà thành viên đó không được phép từ chối hoặc yêu cầu phân chia trách nhiệm cho các thành viên khác trong công ty Khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, thành viên đó có quyền yêu cầu công ty hoặc các thành viên khác hoàn trả số tiền mình đã dùng cho việc trả nợ theo yêu cầu của chủ nợ Một đặc điểm tạo sức hút cho mô hình công ty này ở Pháp đó là Luật Thương mại không chỉ quy định cá nhân mà còn cho phép pháp nhân tham gia công ty hợp danh Xuất phát từ đặc trưng là
sự liên kết giữa những người có mối quan hệ quen biết và tin tưởng lẫn nhau nên vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty phải nhận được sự nhất trí của tất cả các thành viên khác, việc chuyển nhượng sẽ tuân theo Điều lệ của công ty Yếu tố đối nhân tạo cho các thành viên quyền quản
lý, giám sát mọi hoạt động của công ty, đồng thời gắn kết họ lại với nhau tạo nên uy tín, thương hiệu của công ty hợp danh Theo quy định của Luật Thương mại Pháp thì công ty hợp danh luôn luôn là công ty thương mại, trong mọi trường hợp nó phải tuân thủ các nghĩa vụ của thương gia và tranh chấp của công ty được giải quyết tại Tòa Thương mại
Theo pháp luật Hoa Kỳ thì công ty hợp danh là “sự liên kết gồm hai
hay nhiều chủ sở hữu và với tư cách là những đồng chủ sở hữu họ cùng nhau kinh doanh để thu lợi nhuận” [20] Để thành lập công ty hợp danh ở
Mỹ cần đáp ứng điều kiện về số lượng thành viên tối thiểu là hai thành viên
Trang 16trở lên; các thành viên này tự nguyện và liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty Pháp luật Mỹ mở rộng đối tượng có thể tham gia công
ty hợp danh không chỉ có cá nhân, pháp nhân mà cho phép cả vị thành niên trở thành thành viên công ty Theo Luật thống nhất về công ty hợp danh
1914 của Hoa Kỳ thừa nhận có hai loại công ty hợp danh đó là công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn Trong công ty hợp danh thông thường mang bản chất đối nhân tuyệt đối Các thành viên trong công
ty phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty; ngay cả khi đã rút khỏi công ty thì vẫn bị ràng buộc trách nhiệm
từ những giao dịch được thiết lập trước thời điểm chấm dứt tư cách thành viên hợp danh của họ Bản chất công ty hợp danh thông thường ở Mỹ là một dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các thành viên, do vậy, công ty hợp danh thông thường không có tư cách pháp nhân Xuất phát từ vấn đề này mà pháp luật Mỹ quy định rất chặt chẽ khi không cho phép các thành viên trong công ty hợp danh thông thường chuyển nhượng phần vốn góp, việc chuyển nhượng sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc kinh doanh dưới một tên chung của công ty Công ty hợp danh hữu hạn bao gồm ít nhất một thành viên hợp danh và một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn Có thể nói mô hình công ty hợp danh hữu hạn ở Mỹ có bản chất là công ty hợp vốn đơn giản Bởi lẽ, thành viên hợp danh có quyền và nghĩa vụ giống như thành viên trong công ty hợp danh thông thường Thành viên hữu hạn sẽ chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ của công ty trong giới hạn số vốn góp vào công
ty Việc xuất hiện thành viên chỉ đơn thuần góp vốn, hưởng lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi và không phải dùng tài sản riêng để chịu trách nhiệm về những khoản lỗ từ hoạt động của công ty đã khiến cho công ty hợp danh hữu hạn không còn bản chất đối nhân tuyệt đối nữa Cũng giống như công ty hợp danh thông thường, pháp luật Mỹ quy định, công ty hợp danh
Trang 17hữu hạn không có tư cách pháp nhân Các hoạt động đều được giao dịch bởi
tư cách thương gia của thành viên hợp danh
Pháp luật Thái Lan cho rằng “hợp đồng thành lập công ty hợp danh
hoặc công ty là hợp đồng theo đó hai hoặc nhiều cá nhân thỏa thuận cùng nhau thực hiện công việc chung, trên nguyên tắc chia sẻ lợi nhuận có được từ công việc đó” [1] Đồng thời, pháp luật Thái Lan ghi nhận sự tồn tại của hai
loại hình công ty hợp danh đơn thường và công ty hợp danh hữu hạn Theo đó
“công ty hợp danh đơn thường là loại hình công ty mà ở đó tất cả các thành
viên cùng chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các nghĩa vụ của công ty hợp danh” [1] Cũng giống như đa số các quốc gia khác, công ty hợp danh đơn
thường của Thái Lan cũng mang bản chất đối nhân tuyệt đối tức là tất cả các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới Thành viên trong công ty phải chịu trách nhiệm với cả hành vi liên quan đến hoạt động kinh doanh của bất kỳ thành viên nào trong công ty Mọi hoạt động nhân danh công ty phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên Sự tồn tại và phải triển của công ty hợp danh phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như trình độ, bằng cấp, uy tín cá nhân, kinh nghiệm do vậy, để tránh xung đột lợi ích giữa thành viên với công ty hợp danh, pháp luật Thái Lan quy định các thành viên hợp danh không được tiến hành các hoạt động kinh doanh có cùng tính chất với việc kinh doanh của công ty bất kể là vì lợi ích của mình hay bên thứ ba Tuy nhiên, pháp luật cũng có sự linh hoạt khi cho phép các thành viên được thực hiện các giao dịch trên nếu được các thành viên còn lại thông qua.Công ty hợp danh hữu hạn ở Thái Lan ngoài thành viên hợp danh có thêm sự tham gia của thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn Số lượng thành viên tối thiểu trong công ty hợp danh hữu hạn của Thái Lan tương tự với công ty hợp danh hữu hạn ở Mỹ Quy chế về thành viên hợp danh trong công ty hợp danh hữu hạn giống như trong công ty hợp danh đơn thường Đối với thành
Trang 18viên góp vốn có trách nhiệm tài sản hữu hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty Thành viên góp vốn phải thông báo với bên thứ ba về số vốn đóng góp của họ, nếu lớn hơn số vốn đã đăng ký thì họ phải chịu trách nhiệm trong số vốn đã đăng ký đó Đồng thời, thành viên góp vốn có quyền tự do chuyển nhượng hoặc để lại thừa kế phần vốn góp hay được tiến hành các hoạt động kinh doanh có cùng ngành nghề cạnh tranh với công ty hợp danh hữu hạn mà họ đang là thành viên
Như vậy, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận khác nhau mà các ngành khoa học đưa ra các khái niệm riêng về công ty hợp danh; và tự trong mỗi ngành khoa học đó, các quốc gia cũng nhìn nhận khác nhau về công ty hợp danh Tuy vậy, dù quan niệm như thế nào thì bản chất của công ty hợp danh cũng không thay đổi: đều mang bản chất đối nhân, xem trọng yếu tố nhân thân của các thành viên và không có sự tách bạch tài sản của thành viên hợp danh với công ty, do vậy, thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty
1.2 Quá trình hình thành và phát triển công ty hợp danh ở Việt Nam và Nhật Bản
1.2.1 Lịch sử hình thành
Cũng giống như các quốc gia ở Đông Á như Triều Tiên, Việt Nam, , thời kỳ đầu, pháp luật Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tư tưởng triết học và pháp lý của Trung Quốc Đến thời kỳ Edo (từ đầu thế kỷ XVII đến nửa sau thế kỷ XIX) xã hội Nhật Bản nằm dưới sự cai trị của các Shogun (Tướng quân) và dòng họ Tokugawa Nhờ sự ổn định về chính trị trong thời
kỳ này mà kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh, mặc dù vẫn là nền sản xuất nông nghiệp nhưng kinh tế hàng hóa cũng đã phát triển tương đối Một phần lớn dân số ở vùng thành thị đã bắt đầu tham gia vào thương mại ở các mức độ khác nhau Hoạt động buôn bán và hoạt động tín dụng phát triển; kéo theo đó
Trang 19là mầm mống của sự liên kết giữa các thương nhân trong kinh doanh bắt đầu được nhen nhóm Thời kỳ này, Nhật Bản đã có sự hình thành những bộ luật riêng dựa trên tư tưởng triết lý của mình; tuy nhiên vẫn còn rất sơ khai Từ cuối thể kỷ XIX, chế độ của các Shogun chấm dứt cùng với sự cải cách của Nhật Hoàng Minh Trị (Meiji), Nhật Bản phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, mở cửa với thế giới Phương Tây Sau 300 năm ngủ quên, đòi hỏi Nhật Bản phải hiện đại hóa càng nhanh càng tốt Chính phủ mới coi công nghiệp là một trong những trụ cột của quốc gia hiện đại Thông qua “Chính sách xúc tiến công nghiệp” nền kinh tế Nhật Bản đã có những bước đột phá Sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất công nghiệp khiến cho các thương nhân kinh doanh đơn lẻ buộc phải tăng quy mô kinh doanh Để có thể vừa mở rộng được quy mô sản xuất đem lại lợi nhuận cao, vừa hạn chế được rủi ro gặp phải, các nhà kinh doanh Nhật Bản đã liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành công ty.Khi công ty ra đời, Chính phủ Nhật Bản đã công nhận sự tồn tại và xây dựng khung pháp lý cho sự hoạt động của các loại hình công ty Bước đi đầu tiên đó là Nhật Bản ban hành Bộ luật Thương mại vào năm 1890 Bộ luật này mô hình hóa đáng kể từ Bộ luật Thương mại Đức nhưng chính thức áp dụng các cấu trúc của Bộ luật thương mại Pháp Việc thực thi Bộ luật Thương mại 1890 đã bị hoãn lại, trừ một số nội dung về tên công ty, chứng từ và phá sản là có hiệu lực Năm 1899, Nhật Bản đã ban hành Bộ luật Thương mại mới (Luật số 48, ngày 9 tháng 3 năm 1899) dưới sự học hỏi từ Bộ luật Thương mại của Đức cả về cấu trúc lẫn nội dung [29, tr.153] Trong đó, mô hình công
ty hợp danh được pháp luật Nhật Bản lúc bấy giờ ghi nhận khá giống với mô hình của Pháp và Đức Có 4 loại công ty cơ bản là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và công ty hợp vốn Tuy nhiên, với sự cải cách luật năm 2005, Luật công ty (Luật số 86 thời Bình Thành năm thứ 17) được ra đời với tư cách là luật thống nhất, tổ chức sắp xếp lại, sửa đổi, bổ
Trang 20sung cho các đạo luật trước đó Theo đó, công ty hợp danh, công ty hợp vốn
và công ty trách nhiệm hữu hạn được gộp thành công ty thành viên và được điều chỉnh với quy chế pháp lý chung Công ty hợp danh là một loại hình công ty đáp ứng được nhiều đòi hỏi của thị trường và rất gần gũi với tầng lớp thương nhân tại Nhật Bản
Ở Việt Nam, khái niệm phường, hội buôn xuất hiện từ rất lâu đời cùng với sự phát triển của đô thị thời kỳ phong kiến Phường, hội buôn xuất phát từ các làng nghề truyền thống và trở thành nhân tố cấu thành nền kinh tế lúc bấy giờ Mô hình công ty hợp danh dưới các hình thức khác nhau nhưng mang cùng bản chất công ty hợp danh hiện đại đã xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ XIX Thời kỳ Pháp thuộc, Pháp đã từng áp dụng Luật Thương mại của Pháp vào Việt Nam, theo đó, thừa nhận mọi hình thức công
ty, bao gồm cả công ty hợp danh Vì vậy, các thương gia thời kỳ đó có quyền thành lập công ty hợp danh để hoạt động kinh doanh ở Việt Nam Năm 1931, trong “Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc kỳ”, Công ty hợp danh được gọi bằng cái tên “hội người”, bao gồm “hội hợp danh” và “hội hợp tư” Năm
1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật Thương mai Trung phần áp dụng tại Trung phần, tuy có những sửa đổi, bổ sung nhưng về cơ bản vẫn quy định giống với những Luật Thương mại đã được áp dụng trước đó; Công ty hợp danh vẫn tồn tại dưới tên gọi là một hội và chia làm hai loại “hội hợp danh” và “hội cấp vốn” Năm 1975, ở miền Nam Việt Nam, Bộ luật Thương mại Sài Gòn ghi nhận tên chính thức “Công ty hợp danh” Công ty hợp danh theo luật này chính là một loại hội đoàn thương sự (nhằm phân biệt với hội đoàn dân sự) Hội đoàn thương sự được phân ra bao gồm có công ty đối nhân
và công ty đối vốn Trong công ty đối nhân gồm có hội hợp danh, hội hợp tư đơn thường, hội trách nhiệm hữu hạn và hội dự phần Kể từ khi đất nước
Trang 21thống nhất 5/1975 nước ta không thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, mà thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể đóng vai trò chủ yếu, do vậy, pháp luật chưa công nhận sự tồn tại của loại hình công ty hợp danh Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần VI năm 1986, Việt Nam đã xóa dần cơ chế quản lý kinh
tế kiểu cũ để xây dựng một hệ thống kinh tế tiến bộ và phù hợp với quy luật của thị trường Luật Công ty 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 ra đời như báo hiệu quá trình đổi mới về tư duy kinh tế Tuy nhiên, tại thời điểm đó các nhà làm luật chỉ quy định về công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân Mô hình công ty hợp danh không có trong Luật công ty 1990 nhưng đã xuất hiện trở lại sau mấy thập kỷ vắng bóng trong Luật Doanh nghiệp 1999 sau những tranh luận gay gắt cả bên trong và bên ngoài nghị trường Quốc hội [9] Như vậy, lần đầu tiên Công ty hợp danh được chính thức ghi nhận trong pháp luật Việt Nam là ở Luật doanh nghiệp 1999 (có hiệu lực thi hành 1/1/2000) Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế cho thấy, chỉ với bốn điều luật được ghi nhận trong luật doanh nghiệp thì chưa thể tạo nên một hành lang pháp lý bền vững, đồng thời chưa thể là một lựa chọn hấp dẫn cho các nhà đầu tư Cùng với những bất hợp lý khác của Luật Doanh nghiệp 1999, ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp mới, thay thế cho Luật Doanh nghiệp 1999 Luật Doanh nghiệp 2005 dành 11 điều quy định về công ty hợp danh, đã cho thấy sự thay đổi về quan điểm, tư duy của các nhà làm luật về công ty hợp danh so với trước đây Sau gần 10 năm đi vào thực tiễn đời sống, ngày 29 tháng 11 năm 2014 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2014
có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2015 thay thế cho Luật Doanh nghiệp
2005 với nhiều sự đổi mới đáng kể; tuy nhiên, nội dung pháp luật về công ty hợp danh cơ bản được kế thừa không có sự thay đổi
Trang 22Như vậy, xét đến khía cạnh chiều dài lịch sử, pháp luật về công ty hợp danh ở Nhật Bản được hình thành cách đây hàng trăm năm và tồn tại tương đối ổn định Công ty hợp danh ở Việt Nam mới chỉ được chính thức ghi nhận trong pháp luật từ Luật Doanh nghiệp 1999; cho đến nay vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.2.2 Pháp luật về công ty hợp danh
Pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm, bảo vệ sự ổn định của chính trị - xã hội; tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế phát triển Dưới góc độ khoa học pháp lý, pháp luật được hiểu là hệ thống những quy định chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp khác nhau như giáo dục, thuyết phục hoặc cưỡng chế Trong Hiến pháp Nhật Bản hiện đại quan niệm pháp luật là luật thành văn, được hình thành bởi
sự thông qua của cả hai viện Thượng viện và Hạ viện của Quốc hội – cơ quan duy nhất có chức năng lập pháp và được cấu thành bởi những đại biểu được lựa chọn thông qua bầu cử toàn dân, trừ những trường hợp khác do Hiến pháp quy định Việt Nam không thừa nhận tập quán, án lệ là nguồn của pháp luật
mà chỉ thừa nhận văn bản pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành Các quy định của pháp luật chủ yếu được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật; đó là những quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng nhất định và nhằm đạt được mục đích mà nhà nước mong muốn Cũng giống như các thực thể khác, khi tham gia vào đời sống xã hội công ty hợp danh cũng làm phát sinh những mối quan hệ xã hội liên quan đến
sự ra đời, tồn tại, hoạt động hay chấm dứt công ty Để đảm bảo cho sự tồn tại
về mặt pháp lý của công ty hợp danh, cả Việt Nam và Nhật Bản đều ban hành pháp luật điều chỉnh loại hình công ty này Từ những nhận định cơ bản trên
Trang 23có thể định nghĩa pháp luật về công ty hợp danh như sau: Pháp luật về công ty
hợp danh là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty hợp danh để đảm bảo quyền tự do kinh doanh hợp pháp của người dân và giúp cho Nhà nước thực hiện quản lý xã hội
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về công ty hợp danh đó là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tồn tại của loại hình công ty này Các nhóm quan hệ xã hội nói trên có thể chia thành quan hệ xã hội bên ngoài và quan hệ xã hội phát sinh bên trong công ty hợp danh Các quan hệ bên ngoài
đó là mối quan hệ giữa công ty hợp danh và các chủ thể khác nảy sinh trong quá trình thành lập, tồn tại và chấm dứt của công ty hợp danh; ví dụ như quan
hệ giữa công ty hợp danh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động đăng ký thành lập công ty hay quan hệ giữa công ty hợp danh với các công ty khác… Nhóm quan hệ nảy sinh bên trong công ty hợp danh chủ yếu
là quan hệ giữa các thành viên trong công ty hoặc quan hệ giữa công ty với các thành viên của mình Các nhóm quan hệ này đều thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về công ty hợp danh
Pháp luật về công ty hợp danh được ban hành là khung pháp lý cho quá trình hoạt động và tồn tại của công ty hợp danh Pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam và Nhật Bản có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tính quyền lực nhà nước Pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam nằm chủ yếu trong Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành; còn ở Nhật Bản là trong Luật Công
ty do Quốc hội Nhật Bản thông qua Do được hình thành bằng con đường nhà nước nên các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về công ty hợp danh nói riêng sẽ được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục hay
Trang 24cưỡng chế Việc công ty hợp danh không thực hiện đúng những quy định của pháp luật có thể là nguyên nhân khiến nó không được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ cho sự tồn tại của mình
Thứ hai, tính quy phạm phổ biến Các quy định của pháp luật về công
ty hợp danh là những khuôn mẫu, chuẩn mực mang tính chỉ dẫn cho công ty hợp danh biết được quyền và nghĩa vụ của mình cũng như biết mình phải làm
gì khi rơi vào hoàn cảnh cụ thể được pháp luật dự liệu trước Đồng thời, các quy định này được xây dựng trên cơ sở áp dụng cho loại hình công ty hợp danh, tức là tất cả các công ty hợp danh đều phải tuân theo chứ không dành riêng cho một công ty hợp danh cụ thể
Thứ ba, pháp luật về công ty hợp danh không phải là một ngành luật độc lập mà là một bộ phận nằm trong pháp luật công ty Pháp luật về công ty có đối tượng điều chỉnh rộng, bao gồm những quy định về quá trình tồn tại của tất cả các loại hình công ty như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty hợp danh Pháp luật về công ty hợp danh chỉ là một tập con của pháp luật công ty, nó là tập hợp của những quy phạm pháp luật điều chỉnh việc thành lập,
tổ chức quản lý và hoạt động của công ty hợp danh Những quy phạm pháp luật này không chỉ nằm trong bộ luật chủ đạo quy định về công ty như Luật Doanh nghiệp của Việt Nam hay Luật Công ty của Nhật Bản mà còn nằm trong các văn bản luật chuyên ngành khác như pháp luật về thuế, phá sản…
Thứ tư,pháp luật về công ty hợp danh của Việt Nam và Nhật Bản đều được thể hiện dưới hình thức là luật thành văn Đây chính là tính xác định về hình thức Pháp luật có thể được thể hiện dưới hình thức bên ngoài đó là tập quán pháp, án lệ và văn bản pháp luật Tuy nhiên, cả Việt Nam và Nhật Bản đều xây dựng pháp luật về công ty hợp danh dưới dạng luật thành văn Đặc điểm này khiến cho các quy định của pháp luật về công ty hợp danh có tính rõ ràng, cụ thể, đảm bảo có thể hiểu và thực hiện thống nhất trên phạm vi rộng
Trang 251.2.3 Cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của công ty hợp danh ở Việt Nam và Nhật Bản
1.2.3.1 Cơ sở pháp lý của công ty hợp danh ở Việt Nam
Hiện nay cơ sở chủ yếu cho hoạt động của công ty hợp danh ở Việt Nam được căn cứ vào các quy định trong các văn bản sau:
- Hiến pháp 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 tại kỳ họp thứ 6, Khóa XIII Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một Nhà nước, nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, quy định các vấn đề quan trọng của đất nước Hiến pháp 2013 đã khẳng định Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nhân, doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức, đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước
- Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp thứ 8, khóa XI, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006; quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có Công ty hợp danh Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ có hiệu lực pháp luật đến hết ngày 30 tháng 6 năm
2015 Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2015, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 sẽ chính thức có hiệu lực pháp luật
- Luật Phá sản số 21/2004/QH11 được Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, quy định về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Các vấn đề liên quan điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như trình tự thực hiện thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh
Trang 26Nội dung chủ yếu được quy định trong các văn bản trên có liên quan đến Công ty hợp danh đó là: các quy phạm pháp luật trên đã đưa ra định nghĩa công ty hợp danh cùng những dấu hiệu pháp lý của nó; đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty; hồ sơ, trình tự thành lập, cách thức quản lý, điều hành và chấm dứt hoạt động của công ty hợp danh; cũng như các vấn đề về tài chính hay quản trị công ty hợp danh Những quy định này giúp cho các nhà đầu tư có một sự hiểu biết khá toàn diện về công ty hợp danh trên khía cạnh pháp lý, nhận biết được ưu điểm và nhược điểm của loại hình công ty này, từ đó, giúp họ có thể lựa chọn được một mô hình công ty phù hợp đầu tư vào nền kinh tế
1.2.3.2 Cơ sở pháp lý của công ty hợp danh ở Nhật Bản
Hiện nay hoạt động của công ty hợp danh Nhật Bản chủ yếu dựa vào các quy định pháp luật sau làm nền tảng:
- Hiến pháp được Nhật Bản ban hành ngày 3 tháng 11 năm 1946 và có hiệu lực vào ngày 3 tháng 5 năm 1947, bao gồm 11 chương và 103 điều khoản
- Luật Công ty Nhật Bản (Japanese Company Act 2006) được ban hành
và thông qua năm Bình Thành thứ 17 (tức năm 2005) Đạo luật này được chia thành sáu Quyển; trong đó, công ty hợp danh được quy định trong Quyển 3, cùng với công ty hợp vốn và công ty trách nhiệm hữu hạn, được gọi chung là công ty thành viên Quyển ba quy định các nội dung cơ bản về thành lập và giải thể công ty,thành viên công ty hợp danh, quản trị công ty, chế độ tài chính của công ty Vấn đề đăng ký thành lập của Công ty hợp danh được quy định tại Điều 912, Quyển 5: Sự thay đổi về cơ cấu tổ chức, sáp nhập, chia tách; và chuyển đổi cổ phiếu, cổ phần
- Luật đăng ký thương mại 1963 (Registration Act 1963) được ban hành ngày 9 tháng 7 năm 1963 Quy định các vấn đề chủ yếu về đăng ký công
ty hợp danh
Trang 27- Pháp luật về Phá sản Do hoàn cảnh lịch sử nên hệ thống pháp luật về Phá sản ở Nhật Bản không được quy định trong một văn bản duy nhất mà được quy định trong nhiều luật, bộ luật khác nhau và được ban hành tại nhiều thời điểm khác nhau, đó là: Bộ luật thương mại (1938), Luật về thỏa hiệp (1922; 2000), Bộ luật về phục hồi dân sự (1999,2000), Luật về tổ chức lại công ty (1952), Luật phá sản 2004 (sửa đổi bổ sung 2006) Pháp luật về Phá sản của Nhật Bản quy định các vấn đề để giải quyết một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, các thủ tục về thanh lý tài sản và thủ tục phục hồi doanh nghiệp nói chung, trong đó có công ty hợp danh
Các quy phạm pháp luật trong các văn bản được đề cập nói trên quy định các nội dung pháp lý cơ bản liên quan đến công ty hợp danh ở Nhật Bản như: pháp luật về thành lập công ty; địa vị pháp lý của thành viên và của công ty; vấn đề góp vốn, huy động vốn, chuyển nhượng vốn trong công
ty hợp danh; quản trị công ty hợp danh; cùng như các vấn đề về tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của công ty hợp danh Các quy định liên quan đến Công
ty hợp danh trong pháp luật Nhật Bản không nhiều nhưng mang tính chặt chẽ và khá toàn diện, điều chỉnh hầu hết các quan hệ pháp luật bên trong và bên ngoài Công ty
Trang 28Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VỀ CÔNG TY HỢP DANH
2.1 Khái niệm công ty hợp danh
Ở Việt Nam, định nghĩa về công ty hợp danh lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Doanh nghiệp 1999, tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 (được Quốc Hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ ngày 1/7/2015) Theo đó, Công ty hợp danh được là doanh nghiệp trong đó:
Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công
ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh còn có thể có thành viên góp vốn;
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty [15, Điều 130] Định nghĩa trong Luật Doanh nghiệp 2005 khẳng định Công ty hợp danh là doanh nghiệp, tức là nó sẽ mang đầy đủ đặc điểm của doanh nghiệp như là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Đồng thời, từ định nghĩa trên có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam ghi nhận công ty hợp danh bao gồm cả hai loại: hợp danh thông thường và hợp danh hữu hạn (hay còn gọi là công ty hợp vốn) Mặc dù ghi nhận như vậy nhưng lại không có sự phân tách mà được xếp cùng một tên gọi “công ty hợp danh” và được điều chỉnh bởi quy chế pháp lý chung Pháp
Trang 29luật Việt Nam quy định công ty hợp danh phải là doanh nghiệp có số lượng thành viên tối thiểu là hai thành viên hợp danh, ngoài ra có thể có thêm thành viên góp vốn Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty hợp danh ở Việt Nam có thể chỉ có một loại thành viên duy nhất là thành viên hợp danh – nghĩa là hình thức công ty hợp danh thông thường mang bản chất đối nhân tuyệt đối giống như quy định của nhiều quốc gia khác trên thế giới Đồng thời, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận cả loại hình công ty hợp danh hữu hạn hay còn biết đến với tên gọi công ty hợp vốn – nghĩa là trong công ty ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Đối với loại hình công ty hợp danh có cả thành viên góp vốn này cũng phải đáp ứng điều kiện cần thiết đó là phải có ít nhất hai thành viên hợp danh và không quy định số lượng thành viên góp vốn, sự xuất hiện chỉ một thành viên góp vốn cũng đủ làm cho công ty hợp danh không còn mang bản chất đối nhân tuyệt đối
Nhật Bản là một quốc gia có nền lập pháp tiên tiến trên thế giới Hiện nay, các vấn đề pháp lý liên quan đến công ty hợp danh được điều chỉnh bởi Luật Công ty 2006 (Japanese Company Act 2006 – JCA 2006) Pháp luật Nhật Bản không đưa ra một định nghĩa cụ thể về công ty hợp danh, tuy nhiên
theo Khoản 2 Điều 576 Luật Công ty 2005 có quy định: “Nếu công ty thành
viên được thành lập là một công ty hợp danh thì tất cả các thành viên của công ty phải là thành viên chịu trách nhiệm vô hạn; vấn đề này phải được ghi nhận tại mục (v) của khoản 1 Điều này” [26, Điều 576] Từ quy định trên có
thể nhận thấy, pháp luật Nhật Bản ghi nhận mô hình công ty hợp danh thông thường, mang bản chất đối nhân tuyệt đối Theo Luật Công ty 2006 thì trong công ty hợp danh chỉ tồn tại một loại thành viên duy nhất đó là thành viên hợp danh Còn loại hình công ty có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn được pháp luật Nhật Bản ghi nhận với tên gọi “Công ty hợp vốn”
Từ những phân tích trên, cả pháp luật Việt Nam và Nhật Bản đều thừa
Trang 30nhận công ty hợp danh mang bản chất đối nhân Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản khi so sánh định nghĩa về công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản đó là Công ty hợp danh ở Việt Nam ghi nhận sự tồn tại của cả hai loại hình công ty hợp danh là thông thường và hữu hạn, được điều chỉnh chung trong một quy chế pháp lý; còn ở Nhật Bản, nói tới công ty hợp danh pháp luật chỉ ghi nhận loại hình công ty hợp danh thông thường; ngoài
ra, pháp luật Nhật Bản ghi nhận sự tồn tại của công ty hợp vốn, bình đẳng với công ty hợp danh Quy định của pháp luật Nhật Bản được đánh giá là hợp lý bởi mỗi loại hình công ty hợp danh hay hợp vốn đều mang bản chất pháp lý riêng và cần được điều chỉnh bởi những quy chế độc lập Quy định cộng gộp
cả công ty hợp danh và công ty hợp vốn dưới một tên chung theo pháp luật Việt Nam mặc dù khá gọn gàng nhưng lại không khoa học và còn tồn tại bất cập Trước hết là quy định về số lượng thành viên tối thiểu trong công ty hợp danh là hai thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn đối với các khoản nợ của công ty; điều này chỉ đúng nếu Luật doanh nghiệp 2005 không
quan niệm công ty hợp danh bao gồm cả công ty hợp vốn Bởi lẽ “bản chất của
công ty hợp danh đúng nghĩa là sự liên kết của các thương nhân đơn lẻ để kinh doanh dưới một hãng chung Vì vậy công ty hợp danh phải có từ hai thành viên hợp danh trở lên, nếu không thì vẫn chỉ là thương nhân đơn lẻ” [5, tr.197]
Còn xét về bản chất của công ty hợp vốn thì chỉ cần một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn định về nghĩa vụ tài chính của công ty và một thành viên góp vốn Quy định của pháp luật Việt Nam còn bất cập ở chỗ khi công ty hợp danh hữu hạn không đủ số lượng thành viên hợp danh tối thiểu trong vòng sáu tháng liên tục sẽ buộc phải giải thể, mặc dù có thể công ty đó đang hoạt động rất hiệu quả, có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và giải quyết công ăn việc làm của nhiều người lao động Giải thể bắt buộc trong trường hợp này là chống lại lợi ích của cộng đồng bởi công ty đang phát triển và có nhiều đóng
Trang 31góp cho xã hội Đồng thời, là trái với ý chí của thành viên hợp danh còn lại và các thành viên góp vốn trong công ty
2.2 Quy định về thành lập công ty hợp danh
2.2.1.1 Đối tượng có quyền thành lập công ty hợp danh
Ở hầu hết các quốc gia, việc thành lập công ty hoàn toàn là quyền của công dân, đó là quyền tự do lập hội và họ thực hiện quyền này theo các quy định của pháp luật Pháp luật Việt Nam đã bước đầu tiếp thu tư tưởng tiến bộ này, theo đó xóa bỏ chế độ xin phép thành lập công ty tồn tại trong nhiều năm, coi việc thành lập công ty là quyền của công dân và tổ chức được Nhà nước bảo hộ bằng pháp luật Đối tượng có quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp nói chung và công ty hợp danh nói riêng được pháp luật Việt Nam quy định tại Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi
hành Theo đó, “tổ chức cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có
quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” [15, Điều 13] Luật
Doanh nghiệp 2014 xây dựng quy định ngắn gọn hơn “tổ chức, cá nhân có
quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam” [17, Điều 18] Quy
định của Luật Doanh nghiệp 2014 có thể được hiểu rằng bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, không phân biệt quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch nước ngoài đều
có quyền được thành lập và quản lý doanh nghiệp trong đó có công ty hợp
Trang 32danh ở Việt Nam Tuy nhiên, theo quy định về công ty hợp danh tại Chương
V của Luật Doanh nghiệp 2005 và tại Chương VI của Luật Doanh nghiệp
2014 thì chỉ có thành viên hợp danh là cá nhân mới có quyền quản lý công ty hợp danh, còn tổ chức chỉ được tham gia vào công ty hợp danh với tư cách là thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty Các tổ chức, cá nhân muốn thành lập công ty hợp danh cần phải thỏa mãn hai điều kiện cơ bản mà pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam đặt ra đó là điều kiện về nhân thân và điều kiện về nghề nghiệp
Thứ nhất, điều kiện nhân thân là những yếu tố gắn liền với nhà kinh doanh, không thể chuyển giao cho người khác như năng lực hành vi dân sự hay lý lịch tư pháp Cụ thể, theo quy định của khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005 thì người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh không được phép tham gia thành lập công ty hợp danh Luật Doanh nghiệp 2014 cũng xây dựng quy định
về vấn đề này trên cơ sở kế thừa quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 và
có mở rộng thêm một vài đối tượng không được thành lập, quản lý công ty hợp danh Những đối tượng được Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sung thêm đó là: người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, người bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự được quy định trong Điều 22 Bộ luật dân sự 2005 và trường hợp hạn chế năng lực hành vi dân sự quy định trong Điều 23 Bộ luật Dân sự 2005 Sở dĩ pháp
Trang 33luật đặt ra điều kiện này là bởi những chủ thể chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng nhận thức hoặc nhận thức không đầy đủ về hành vi của họ khi xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh và tự chịu trách nhiệm trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp nói chung, công ty hợp danh nói riêng Đối với người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, người bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án và người bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh, họ đang phải gánh chịu hậu quả pháp lý về hành vi trái pháp luật của mình, do vậy, một số quyền công dân của họ sẽ bị hạn chế trong đó có quyền thành lập và quản lý công ty hợp danh
Thứ hai, điều kiện về nghề nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định bảy nhóm đối tượng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho
cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán
bộ công chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công
an nhân dân Việt Nam; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản Sở dĩ có quy định như trên là vì cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang là những tổ chức được hưởng ngân sách để thực hiện chức năng nhiệm vụ mang tính chất công, các
tổ chức này không có chức năng kinh doanh Còn các cá nhân nói trên là
Trang 34những người đang đảm nhiệm công việc công, có công việc ổn định thường xuyên, họ đã được trả lương để đảm bảo đời sống, họ phải tận tâm và hết lòng
để phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân Pháp luật quy định những đối tượng này không được quyền thành lập doanh nghiệp nhằm tránh sự lạm quyền, nhập nhằng giữa công việc chung và công việc tư
Luật Công ty 2006 của Nhật Bản không quy định về đối tượng nào được quyền thành lập công ty hợp danh Tuy nhiên, thông qua các quy định của pháp luật, có thể nhận thấy đối tượng được quyền thành lập công ty hợp danh ở Nhật Bản bao gồm cá nhân và pháp nhân Yếu tố nhân thân và năng lực hành vi dân sự của cá nhân và pháp nhân đó sẽ tuân theo quy định của Bộ luật dân sự Nhật Bản Điều kiện đặt ra đối với pháp nhân đó là phải được thành lập và tuân thủ theo quy định của Bộ luật Dân sự Đối với cá nhân phải
có năng lực hành vi, tức là phải có khả năng thực hiện các giao dịch pháp lý một cách đầy đủ và độc lập Giao dịch pháp lý do người không có năng lực hành vi dân sự và người có năng lực hành vi hạn chế có thể bị hủy bỏ Người không có năng lực hành vi dân sự bao gồm người vị thành niên và người bị công nhận là không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Do vậy, những người thành niên, có năng lực hành vi đầy đủ và độc lập có quyền thành lập công ty hợp danh Pháp luật Nhật Bản xác định ngoại lệ đối với trường hợp vị thành niên (được xác định là chưa tròn 20 tuổi) hoạt động kinh doanh (với nghĩa rộng là tiến hành hoạt động nhằm thu lợi nhuận) Thông thường, vị thành niên chỉ được thực hiện các giao dịch pháp lý không gây thiệt hại cho lợi ích của mình, trong các trường hợp như thực hiện hoạt động kinh doanh cần phải có
sự đồng ý của người đại diện Nếu không có sự đồng ý thì giao dịch pháp lý
đó sẽ bị hủy bỏ Khi có sự đồng ý của người đại diện, vị thành niên có đầy đủ năng lực hành vi của người trưởng thành trong tất cả các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động kinh doanh Và từ khi có sự đồng ý đó,
Trang 35không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đối với từng giao dịch pháp lý gắn liền với hoạt động kinh doanh Nhận được sự cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh từ người đại diện thì vị thành niên có thể tiến hành thành lập công ty nói chung và công ty hợp danh nói riêng để thực hiện hoạt động kinh doanh một cách chuyên nghiệp Đồng thời, Luật Công ty 2006 cũng có quy định thống nhất với Bộ luật dân sự khi cho phép
vị thành niên có thể trở thành thành viên hợp danh trong công ty hợp danh
“người chưa thành niên được phép trở thành thành viên vô hạn trong công
ty thành viên” [26, Điều 584] Đối với người có năng lực hành vi hạn chế cần
sự chấp thuận của người giám hộ đối với một số hành vi nhất định liên quan đến tài sản trong đó có hành vi nhận và khai thác vốn Vì thế, đối với người có năng lực hành vi hạn chế cần phải xin phép người đỡ đầu khi thành lập công ty Người không có năng lực hành vi dân sự sẽ được đặt dưới sự giám hộ và hành
vi của họ thường bị hủy bỏ, kể cả hành vi được người giám hộ đồng ý, do vậy,
họ không thể thành lập và quản lý công ty hợp danh Tóm lại, theo quy định của pháp luật Nhật Bản thì đối tượng có quyền thành lập công ty hợp danh là người thành niên có năng lực hành vi đầy đủ và độc lập, vị thành niên và người
bị hạn chế năng lực hành vi nếu được sự chấp thuận của người đại diện, người
đỡ đầu Yếu tố nghề nghiệp của đối tượng được thành lập công ty được pháp luật Nhật Bản ghi nhận trong Luật Công chức quốc gia Nhật Bản (National
Public Service Act) như sau “Công chức không được đồng thời nắm giữ chức
vụ nhân viên, người cố vấn hoặc thành viên hội đồng trong công ty hoặc bất kỳ
tổ chức khác được thành lập vì mục đích hoạt động thương mại, công nghiệp, tài chính hoặc đem lại lợi ích cá nhân” [27, Điều 103] Công chức Nhật Bản là
công bộc của nhân dân, hết lòng phụng sự nhân dân và thực thi pháp luật không phụ thuộc vào sự chi phối của một nhóm lợi ích nào trong xã hội; vì thế, quyền tham gia kinh doanh của đối tượng này cũng bị pháp luật hạn chế
Trang 36Tóm lại, đối tượng được quyền thành lập công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản có thể là thể nhân Đối với thể nhân không có năng lực hành vi dân sự không được quyền thành lập công ty hợp danh Tuy nhiên, nếu như Luật Doanh nghiệp 2005 và cả Luật Doanh nghiệp
2014 của Việt Nam không cho phép người chưa thành niên và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được quyền thành lập và quản lý công ty; pháp luật Nhật Bản lại nới lỏng quy định về vấn đề này tức là người chưa thành niên và người bị coi là mất năng lực hành vi nếu được sự đồng ý của người giám hộ vẫn được quyền thành lập và quản lý công ty Ngoài ra, pháp luật cũng hạn chế nào đối với người làm việc trong bộ máy Nhà nước không được quyền thành lập công ty Tuy nhiên, quy định của pháp luật Nhật Bản mở rộng hơn so với pháp luật Việt Nam, khi cho phép pháp nhân là đối tượng được quyền thành lập và quản lý công ty hợp danh nhằm khuyến khích các nhà kinh doanh tham gia đầu tư vào nền kinh tế
2.2.1.2 Quy định về đặt tên cho công ty hợp danh
Tên doanh nghiệp là hình ảnh, đồng thời là tài sản tạo nên thương hiệu của công ty, giúp đối tác có thể tìm kiếm rõ ràng và chính xác, thúc đẩy công việc kinh doanh phát triển Đặt tên cho công ty là một trong những công việc đầy khó khăn và ẩn chứa nhiều nguy cơ pháp lý Điều này đòi hỏi chủ công ty phải có kiến thức cũng như sự lựa chọn khôn ngoan Một mặt cần tìm kiếm một cái tên hay, ngắn gọn, giàu ý nghĩa, phù hợp với ngành nghề kinh doanh mặt khác, tên công ty còn phải đáp ứng các quy định về mặt pháp lý
Pháp luật Việt Nam quy định cách đặt tên cho doanh nghiệp nói chung, trong đó có công ty hợp danh tại Điều 31, 32, 33, 34 Luật doanh nghiệp 2005; Điều 13, 14, 15, 16 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ
về đăng ký doanh nghiệp; và những nội dung này tiếp tục được Luật Doanh nghiệp 2014 kế thừa Dựa vào các Điều luật này, hướng dẫn các chủ đầu tư
Trang 37muốn thành lập công ty hợp danh đặt tên cho công ty phù hợp và đúng với yêu cầu của pháp luật Theo quy định tại Điều 31 Luật doanh nghiệp 2005 khi đặt tên cho doanh nghiệp phải tuân thủ quy tắc “TÊN DOANH NGHIỆP” được viết bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và phải có hai thành tố loại hình doanh nghiệp và tên riêng Do vậy, khi các nhà đầu tư lựa chọn mô hình công ty hợp danh thì cần lưu ý cụm từ “CÔNG TY HỢP DANH” là bắt buộc phải có trong tên của công ty của mình; ví dụ: có thể đặt tên công ty là “Công ty hợp danh New Life 123” Ngoài ra, có thể sử dụng ngành nghề kinh doanh, hình thức đầu tư để cấu thành tên riêng của công ty hợp danh nếu công ty có đăng ký ngành nghề đó hoặc thực hiện đầu tư theo hình thức đó; ví dụ: “Công ty hợp danh kiểm toán Việt Nam” Pháp luật Việt Nam cũng cho phép tên doanh nghiệp nói chung và công ty hợp danh có thể được viết bằng tiếng nước ngoài và viết tắt Đối với tên công ty hợp danh viết bằng tiếng nước ngoài phải được dịch từ tên tiếng Việt tương ứng Tên riêng của công ty có thể giữ nguyên hoặc dịch nghĩa tương ứng sang tiếng nước ngoài, ví dụ: “Vietnam Auditing Partnership Company” Tên viết tắt của công
ty được viết tắt từ tên tiếng việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài, ví dụ:
“CTHD Kiểm toán Việt Nam” hoặc “CPA Vietnam”
Với mục đích đảm bảo cho việc quản lý các công ty, đồng thời, tránh việc các công ty đặt tên giống nhau nhằm mục đích trục lợi, đánh cắp thương hiệu; do vậy từ Luật doanh nghiệp 2005 cho đến Luật Doanh nghiệp 2014 đều đưa ra quy định về những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp Do vậy, khi đặt tên cho công ty hợp danh cần lưu ý: (i) Không được đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của công ty hợp danh đã đăng ký Tên trùng là trường hợp tên của công ty hợp danh yêu cầu đăng ký được viết và đọc bằng tiếng Việt hoàn toàn giống với tên của một công ty hợp danh đã đăng ký trước đó Tên gây nhầm lẫn đó là tên tiếng Việt của công ty yêu cầu được đăng ký đọc
Trang 38giống như tên công ty hợp danh đã đăng ký hoặc chỉ khác tên của công ty đã đăng ký bởi ký hiệu “&”, ký hiệu “-”, chữ “và”; tên viết tắt của công ty hợp danh yêu cầu đăng ký trùng với tên viết tắt của công ty đã đăng ký trước đó; tên bằng tiếng nước ngoài của công ty hợp danh yêu cầu đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của công ty đã đăng ký; tên riêng của công ty hợp danh yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của công ty hợp danh đã đăng ký bởi một hoặc một số số tự nhiên, hoặc một, một số chữ cái tiếng Việt, ngay sau tên riêng của công ty đó, trừ trường hợp công ty yêu cầu đăng ký là công ty con của công ty đã đăng ký; tên riêng của công ty hợp danh yêu cầu đăng ký chỉ khác với tên riêng của công ty hợp danh đã đăng ký bởi chữ “tân”, chữ
“mới”; các từ “miền Bắc”, “miền Trung”, “miền Nam” hay các từ có ý nghĩa tương tự; tên riêng của công ty hợp danh yêu cầu đăng ký trùng với tên riêng của bất cứ doanh nghiệp nào đã đăng ký trước đó (ii) Không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của các cơ quan, đơn vị, tổ chức đó; ví dụ: Không đặt tên như sau
“Công ty hợp danh Hội Cựu chiến binh Việt Nam” nếu như chưa có sự chấp thuận của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (iii) Không sử dụng từ ngữ, ký hiệu
vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, tên danh nhân để đặt tên riêng cho doanh nghiệp; ví dụ: Không đặt tên công ty là “Công ty hợp danh Nguyễn Du”
Pháp luật Nhật Bản quy định các vấn đề liên quan đến tên của công ty nói chung và công ty hợp danh nói riêng tại Chương II: Tên thương mại của
công ty (Điều 6, 7, 8, 9) Theo đó thì “tên của một công ty phải là tên thương
mại” [26, Điều 6], đây là một quy định có vai trò to lớn, bởi lẽ tên thương mại
là một tài sản kinh doanh có giá trị đặc biệt, đóng vai trò vô cùng quan trọng
Trang 39đối với sự tồn tại và phát triển của công ty Tên thương mại có thể được hiểu
là tên gọi dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt các công ty của hoạt động trong cùng lĩnh vực kinh doanh, cùng khu vực địa lý và quyền độc quyền tương ứng với tên thương mại phát sinh trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại Quy tắc đặt tên thương mại của công ty được quy định tại
khoản 2 Điều 6 Luật Công ty 2006: “Trong tên thương mại của công ty phải
sử dụng các cụm từ “Kabukishi – Kaisha”, “Gomei – Kaisha”, “Goushi – Kaisha”, “Goudou – Kaisha” tương ứng với Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Công ty hợp vốn hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn” [26, Điều 6] Quy
định này của pháp luật Nhật Bản tương tự với pháp luật Việt Nam đó là tên thương mại của công ty phải được cấu thành bởi tên loại hình và tên riêng Đối với công ty hợp danh ở Nhật Bản, khi đặt tên thương mại phải sử dụng từ
“GOMEI – KAISHA” kèm theo tên riêng, ví dụ: Nippon Toki Gomei Kaisha
Luật Công ty 2006 cũng ghi nhận điều khoản “Trong tên thương mại của
công ty không được sử dụng bất kỳ từ ngữ nào có thể gây nhầm lẫn với loại công ty khác” [26], nghiêm cấm sử dụng tên có thể gây nhầm lẫn với công ty
khác Pháp luật Nhật Bản giải thích trường hợp nhầm lẫn ở Điều 7 và Điều 8 Luật Công ty 2006 Trường hợp thứ nhất đó là việc một người mặc dù không phải chủ sở hữu của công ty hợp danh nhưng lại sử dụng nhãn hiệu hoặc bất
kỳ một từ nào trong tên thương mại của công ty hợp danh đó nhằm mục đích gây nhầm lẫn cho cộng đồng rằng người đó sở hữu công ty Mục đích của người cố ý sử dụng tên và nhãn hiệu của công ty là để gây nhầm lẫn hoặc lừa đảo Trường hợp thứ hai, một người có thể sở hữu một công ty, nhưng lai sử dụng toàn bộ tên thương mại và nhãn hiệu của một công ty khác, gây nhầm lẫn cho cộng đồng với mục đích đánh cắp thương hiệu và trục lợi cho cá nhân Như vậy, nếu pháp luật Việt Nam chọn cách liệt kê các trường hợp để giải thích cho việc đặt tên công ty gây nhầm lẫn, thì pháp luật Nhật Bản đã chỉ ra
Trang 40cách thức mà các đối tượng sử dụng tên thương mại của công ty gây nhầm lẫn So sánh với các quy định mang tính chất liệt kê dài dòng của Việt Nam thì các điều luật trong Luật Công ty 2006 của Nhật Bản về vấn đề này ngắn gọn nhưng lại có tính bao quát cao hơn
Pháp luật Việt Nam quy định tên của công ty hợp danh là một trong những điều kiện cần đáp ứng để cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy phép đăng ký doanh nghiệp Cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến đăng ký của công ty hợp danh theo đúng quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan đăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng Do vậy, trước khi đặt tên cho công ty hợp danh, cần phải kiểm tra tên dự kiến có trùng hoặc dễ gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác đã đăng
ký bằng cách truy cập vào Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, mục Dịch vụ công/Tra cứu tên doanh nghiệp Khác với pháp luật Việt Nam, Luật Công ty 2006 của Nhật Bản đưa ra các quy định để bảo vệ tên thương mại của công ty hợp danh và các loại hình công ty khác trong trường hợp tên thương mại của công ty bị xâm phạm Theo quy định tại khoản 2, Điều 8 Luật
Công ty 2006 thì “Bất kỳ công ty nào bị xâm hại hoặc có khả năng bị xâm hại
đến lợi ích kinh doanh bằng cách sử dụng tên thương mại hoặc nhãn hiệu vi phạm các điều khoản trên, có thể yêu cầu một lệnh đình chỉ hoặc ngăn chặn bên
vi phạm, có khả năng vi phạm đến lợi ích kinh doanh của công ty” [26, Điều 8]
Tên thương mại và nhãn hiệu là quan trọng đối với công ty nói chung, đặc biệt là với công ty hợp danh – loại hình công ty thường tập hợp các cá nhân là những người có chuyên môn cao, có uy tín trong nghề nghiệp và họ dùng chuyên môn, uy tín đó vào hoạt động kinh doanh cũng như làm nền tảng quyết định sự thành công trong kinh doanh Do vậy, trong trường hợp nhận thấy lợi ích của công ty hợp danh sẽ bị thiệt hại từ hành vi sử dụng tên gây nhầm lẫn thì công ty có quyền sử dụng biện pháp ngăn chặn hoặc yêu cầu bên