1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam

78 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được điều chỉnh trực tiếp bởi các nghị định – là những văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý không cao, đồng thời những quy định của các văn bản pháp luật này về hợp đồng CTTC vẫn chưa

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Chơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng cho thuê tài

chính

6

1.2 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính 10 1.3 Đặc trng cơ bản của hợp đồng cho thuê tài chính 12 1.4 Các loại hợp đồng cho thuê tài chính cơ bản 19 1.4.1 Hợp đồng cho thuê tài trợ trực tiếp (direct lease) 20 1.4.2 Hợp đồng cho thuê liên kết (syndicate) 21 1.4.3 Hợp đồng cho thuê bắc cầu (leveraged lease contract) 22 1.4.4 Hợp đồng bán, tái thuê (sale anh leaseback arrangement) 23 1.4.5 Hợp đồng cho thuê giáp lng (under lease) 24 1.4.6 Hợp đồng thuê mua trả góp (lease purchase arrangement) 25

Chơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính

ở Việt Nam

28

2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng cho thuê

tài chính ở Việt Nam

Trang 2

chính

2.2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của Công ty cho thuê tài chính 40

2.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên thuê 42 2.2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng 43 2.2.4 Các nội dung cơ bản của hợp đồng cho thuê tài chính 44 2.2.5 Vấn đề đăng ký hợp đồng, tài sản cho thuê tài chính 47 2.2.6 Vấn đề chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính và xử lý tài

3.2 Tiềm năng của hoạt động CTTC đối với nền kinh tế Việt Nam

và yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật để đáp ứng

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho thuê tài chính (CTTC) là một loại hoạt động tín dụng hữu hiệu bổ sung cho các loại hình tín dụng khác như tín dụng thương mại, tín dụng đầu tư,… góp phần đa dạng hoá các phương thức tài trợ vốn cho các doanh nghiệp CTTC giúp cho các nguồn vốn luân chuyển một cách dễ dàng và có tính an toàn cao, tăng cường độ vận động của thị trường tài chính Trong đó, các định chế tài chính như công ty tài chính, Công ty CTTC có mối quan hệ ngày càng mật thiết với nhau và với các doanh nghiệp khác So với các loại hình tài trợ khác, CTTC có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Hoạt động CTTC từ hàng chục năm nay đã vô cùng sôi động ở rất nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, trở thành “kênh” dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế Chính thức xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1995, đến nay hoạt động CTTC đang dần khẳng định vai trò, nhưng rất chậm chạp Điều này có nguyên nhân trực tiếp từ việc

cơ chế, chính sách về lĩnh vực này vẫn chưa thật sự đầy đủ, hoàn thiện Đặc biệt là những quy định về hợp đồng CTTC – “xương sống” của toàn bộ hoạt động CTTC, chưa thật sự phù hợp, chưa tạo ra được sức cuốn hút, cũng như sự yên tâm cần thiết đối với cả các định chế tài chính, cũng như giới doanh nghiệp khi cân nhắc việc tham gia vào hoạt động này

Được biết đến như một “kênh” tài trợ vốn hiệu quả, nhưng đến nay hoạt động cho thuê tài chính ở nước ta vẫn mới chỉ có Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ điều chỉnh trực tiếp – sau này được sửa đổi, bổ sung một

số điều bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 (Luật các tổ chức tín dụng cũng có đề cập với tư cách là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng) cùng một số Thông tư của Ngân hàng Nhà nước như: Thông tư 08/2001/TT-NHNN, Thông tư 07/2004/TT-NHNN, Thông tư 03/2005/TT-NHNN, hướng dẫn thi hành

Trang 4

Được điều chỉnh trực tiếp bởi các nghị định – là những văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý không cao, đồng thời những quy định của các văn bản pháp luật này

về hợp đồng CTTC vẫn chưa thật sự linh hoạt về hình thức, chưa đầy đủ về nội dung, chưa đa dạng về đối tượng cho thuê, hạn hẹp về chủ thể tham gia hợp đồng và quá trình tiến hành các giao dịch cho thuê tài chính trên thực tế đã bộc lộ một số vướng mắc, những điểm chưa phù hợp giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, việc thực hiện hợp đồng còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro, còn những vướng mắc trong việc thu hồi tài sản thuê khi bên thuê vi phạm hợp đồng, vấn đề đăng ký tài sản thuê, đăng

ký giao dịch cho thuê tài chính,… Những bất cập, vướng mắc này đặt ra yêu cầu về việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, an toàn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giúp cho hoạt động cho thuê tài chính diễn ra an toàn, hiệu quả, đạt được mục tiêu, yêu cầu của các bên tham gia giao dịch

Xuất phát từ những lý do nêu trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Pháp luật

về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật của mình, nhằm góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, thúc đẩy sự phát triển hoạt động CTTC ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam đã có một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, tìm hiểu

cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động CTTC ở Việt Nam như: Luận văn Thạc sĩ Luật học "Cơ sở pháp lý cho hoạt động thuê mua ở Việt Nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện" của tác giả Doãn Hồng Nhung; Luận văn Thạc sĩ Luật học

"Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động thuê mua tài chính ở Việt Nam" của tác giả

Lê Hoàng Oanh ; Luận văn Thạc sĩ Luật học "Pháp luật về công ty cho thuê tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng" của tác giả Đinh Tiểu Khuê; cùng một số bài viết: “Về quy định đăng ký tài sản cho thuê tài chính” của tác giả Nguyễn Hữu Thanh; "Rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính” của tác giả Hoàng Ngọc Tiến ;

"Cho thuê tài chính ở Việt Nam tại sao chưa phát triển" của tác giả Hoàng Quý Vương và Phạm Tuấn Long,… Tuy nhiên, các công trình và bài viết nói trên chưa

Trang 5

đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính

Thực tế cũng đã có công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính như Luận văn Thạc sĩ Luật học "Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng CTTC ở Việt Nam" của tác giả Lê Thị Thảo Nhưng công trình này được hoàn thành trong năm 2003, trong khi từ đó đến nay pháp luật về cho thuê tài chính đã có một số thay đổi và những yêu cầu của thực tiễn cũng đã thay đổi, nên vấn đề này vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng CTTC là một yêu cầu cấp thiết và thời

sự góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động CTTC, “khơi thông” kênh dẫn vốn đầy hiệu quả này Mục đích của luận văn là tìm hiểu thực trạng pháp luật

về hợp đồng CTTC ở Việt Nam, qua đó đề ra những định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng CTTC, góp phần hoàn thiện khung pháp luật về hoạt động CTTC

ở Việt Nam

Để thực hiện mục đích này, người thực hiện luận văn có nhiệm vụ: Nghiên cứu một cách có hệ thống những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng CTTC; quy định của pháp luật của một số quốc gia có hoạt động CTTC phát triển Đồng thời, nghiên cứu các quy định về hợp đồng nói chung, hợp đồng tín dụng và các quy định liên quan đến hợp đồng CTTC để từ đó đưa ra các định hướng

và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng CTTC ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về hợp đồng CTTC Đây là các quy định điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hợp đồng CTTC như chủ thể, đối tượng của hợp đồng CTTC; quyền – nghĩa vụ của các chủ thể hợp đồng CTTC; nội dung của hợp đồng CTTC và các quy định giải quyết

những vấn đề phát sinh từ hợp đồng CTTC

Trang 6

Luận văn không đi sâu vào nghiên cứu pháp luật điều chỉnh về hợp đồng nói chung mà tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc ký kết, thực hiện hợp đồng CTTC và giải quyết tranh chấp từ hợp đồng CTTC

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động tiền tệ – ngân hàng Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng làm cơ

sở để nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng kết hợp những phương pháp trên với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp luật học so sánh, phương pháp quy nạp và diễn giải,… để giải quyết một số nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu, để giải thích, đánh giá và kết luận về một số vấn đề cụ thể của pháp luật về hợp đồng CTTC

6 Ý nghĩa của luận văn

- Đây là một trong số ít luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề của pháp luật về hợp đồng CTTC

- Luận văn nghiên cứu cụ thể về tình hình áp dụng thực tế các quy định pháp luật về hợp đồng CTTC trong thời gian qua ở Việt Nam; đưa ra đánh giá khoa học

về thực trạng pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này, trên cơ sở so sánh với pháp luật các nước và trên cơ sở điều kiện tình hình KT – XH hiện nay

- Đề xuất phương hướng và kiến nghị cụ thể đối với việc hoàn thiện pháp luật

về hợp đồng CTTC ở Việt Nam

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3 chương, với kết cấu như sau:

Trang 7

- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng CTTC

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng CTTC ở Việt Nam

- Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng CTTC ở Việt Nam

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG

CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1 Khái niệm cho thuê tài chính

Ngày nay, thuật ngữ cho thuê tài chính (CTTC) đã trở nên quen thuộc trong lĩnh vực kinh doanh Tuy nhiên, cho tới nay không phải quốc gia nào cũng có một khái niệm chuẩn về CTTC Theo công bố của Công ty tài chính Quốc tế (IFC), chỉ

có 19/37 quốc gia được điều tra thăm dò có định nghĩa về CTTC Đồng thời, mỗi quốc gia cũng có những quy định riêng về CTTC tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của mình

Từ khi ra đời cho đến nay, thuật ngữ “Leasing” được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm chỉ hoạt động cho thuê tài sản được các định chế tài chính (trong đó nhất thiết phải có Công ty CTTC) mua theo yêu cầu của bên thuê

Trang 8

Hết thời hạn, bên thuê được phép chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng CTTC

Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật như Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01/10/1998; Nghị định số 64/1995/NĐ-CP ngày 01/10/1995 ban hành

“Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC Việt Nam” sử dụng thuật ngữ “Cho thuê tài chính” đối với hoạt động nêu trên Bên cạnh thuật ngữ “Cho thuê tài chính”, hiện nay còn tồn tại nhiều thuật ngữ khác như “Tín dụng thuê mua”,

“thuê mua tài chính”,… Thuật ngữ “Tín dụng thuê mua” nhìn dưới góc độ tín dụng

là một phương thức tài trợ vốn, cấp vốn được thực hiện dưới hình thức tài sản đem cho thuê Còn “Cho thuê tài chính”, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu hiện nay thì thuật ngữ này chưa thể hiện đầy đủ nội dung của khái niệm “Leasing”, vì CTTC thì thiên về việc đem tài sản của mình để “cho người khác thuê” hơn là việc

“thuê để mua” Trong hoạt động CTTC, ngoài yếu tố thuê tài sản, thì việc thoả thuận chuyển quyền sở hữu, mua lại tài sản khi kết thúc hợp đồng thường được các bên đặt ra Do vậy, nếu dùng thuật ngữ “Thuê mua tài chính” sẽ thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động “leasing” Tuy nhiên, trong bản luận văn này, tác giả xin phép vẫn dùng cụm từ “Cho thuê tài chính” cho thống nhất với câu chữ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này

Để có khái niệm tương đối đầy đủ về CTTC, chúng ta cần xem xét các định nghĩa về CTTC

Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee – IASC) đưa ra định nghĩa về CTTC như sau:

“Thuê mua tài chính (Finacial Lease) là một giao dịch trong đó một bên (người cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (người đi thuê) trong một thời gian nhất định, mà trong thời gian đó, người cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ cùng các chi phí có liên quan; quyền sở hữu tài sản

có thể được chuyển giao hay không tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên” [5]

Theo Từ điển quản lý tài chính ngân hàng, Thuật ngữ thuê mua được định nghĩa như sau: “Thuê mua là một hợp đồng cho thuê kèm theo lời hứa đơn phương

Trang 9

bán cho người thuê theo một giá nhất định, có tính đến số tiền thuê đã trả” [14, Tr.144]

Theo Điều 1 Công ước Unidroit về cho thuê tài chính quốc tế được ký tại Ottawa ngày 20/5/1998, hoạt động cho thuê tài chính được xác định là giao dịch, trong đó một bên (bên cho thuê):

(a) Căn cứ vào yêu cầu được nêu cụ thể của bên kia (bên thuê) thống

nhất một thoả thuận (thoả thuận cung cấp) với một bên thứ ba (nhà cung cấp) Theo đó, bên cho thuê mua nhà máy, hàng hoá, tư liệu sản xuất hoặc các thiết bị khác (gọi chung là thiết bị) theo các điều kiện đã được (bên đi thuê) chấp thuận;

(b) Cùng thống nhất một thoả thuận (thoả ước cho thuê) với bên đi thuê

cho phép bên đi thuê quyền sử dụng thiết bị để đổi lại bằng việc thanh toán tiền thuê” [4, Tr.1]

Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ ghi nhận: “Cho thuê tài chính” là loại cho thuê trong đó:

- Người cho thuê không chọn sản xuất hoặc cung ứng hàng;

- Người cho thuê thu nhận hàng hoặc quyền sở hữu và sử dụng hàng liên quan đến việc cho thuê;

- Hoặc người cho thuê nhận một bản sao hợp đồng chứng thực đã mua hàng vào thời điểm hoặc trước khi ký hợp đồng, hoặc việc phê chuẩn hợp đồng của người cho thuê chứng thực việc họ mua hàng đó là một trong những điều kiện xét tính hiệu lực của hợp đồng cho thuê

Còn theo Hiệp hội các công ty tài chính Thuỵ Điển thì “Cho thuê tài chính”

có nghĩa là:

- Người cho thuê mua thiết bị do người thuê yêu cầu;

- Các thiết bị thuộc quyền sở hữu của người cho thuê và quyền sử dụng được trao cho người thuê trong suốt thời hạn thuê, thường tương đương với tuổi thọ kỹ thuật của thiết bị

Trang 10

- Hợp đồng cho thuê không thể bị phá vỡ trước thời hạn;

- Số tiền thanh toán cho thuê sẽ bù đắp chi phí lãi, chi phí quản lý, rủi ro và lãi cho phép khấu hao toàn bộ hoặc gần như toàn bộ giá mua thiết bị đó;

- Tại thời điểm kết thúc hợp đồng, người thuê có quyền gia hạn hợp đồng với phí suất được ấn định tại thời điểm ký hợp đồng;

- Nếu người thuê quyết định không gia hạn thuê, thì quyền sử dụng thiết bị sẽ chấm dứt và thiết bị được bàn giao lại cho người cho thuê

Ở Việt Nam, hoạt động “Thuê mua tài chính” thường được gọi là “Cho thuê

tài chính” và được diễn đạt: “là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận” [44]

Căn cứ vào các định nghĩa trên ta thấy dù có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng bản chất chung của cho thuê tài chính (hay thuê mua tài chính): Là một dạng hoạt động tín dụng ngân hàng thông qua việc tài trợ thiết bị của bên cho thuê đối với bên thuê, đối tượng của hoạt động tín dụng này là tài sản và tài sản đó thường

có thời gian sử dụng lâu dài, không dễ bị lạc hậu, thời hạn thuê thường chiếm phần lớn thời gian sử dụng của tài sản nên nó được xem là tín dụng trung, dài hạn mà mục đích của người cho thuê là thu hồi vốn và lãi trên vốn đầu tư (tiền mua thiết bị) còn mục đích của của người đi thuê là sử dụng vốn (thiết bị) có thời hạn và hoàn trả cho người cho thuê theo định kỳ dưới dạng tiền thuê Tiền thuê được tính toán trên

cơ sở đảm bảo cho người cho thuê việc hoàn vốn và lợi nhuận đối với số tiền đầu tư ban đầu

1.2 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính

Trong khoa học pháp lý, hợp đồng được định nghĩa là: “Sự thoả thuận bằng lời nói hoặc bằng văn bản giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và

Trang 11

năng lực hành vi nhằm xác lập, thực hiện, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội [8, Tr.111]

Từ quan niệm đó về hợp đồng, dựa trên những đặc điểm riêng có của hoạt động cho thuê tài chính mà hợp đồng cho thuê tài chính có thể được định nghĩa dưới các dạng thức như sau:

Hợp đồng CTTC là “Hợp đồng cho thuê được ký kết giữa bên cho thuê với bên đi thuê, cho phép bên đi thuê có quyền sử dụng các thiết bị và nhận thanh toán các khoản tiền thuê” [4]

“Hợp đồng thuê mua tài chính là hợp đồng, trong đó quy định người đi thuê

sẽ có quyền sử dụng tài sản và trả chi phí cho người cho thuê, người đi thuê sẽ chịu mọi rủi ro phát sinh từ tài sản” [29]

“Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê

về việc cho thuê một hoặc một số máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên” [45]

Như vậy, hợp đồng CTTC dù được thể hiện một cách đa dạng trong pháp luật của nhiều quốc gia và pháp luật quốc tế, nhưng đều được hiểu một cách thống

nhất là phương thức thực hiện giao dịch cho thuê tài chính, là hình thức pháp lý của quan hệ cho thuê tài chính

Để đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng CTTC, pháp luật các nước thường quy định về các nội dung cơ bản mà hợp đồng này cần có:

- Các bên trong quan hệ CTTC: Quan hệ CTTC được thiết lập giữa các chủ thể tham gia bao gồm bên cho thuê và bên thuê Phổ biến ở các quốc gia bên cho thuê là các công ty CTTC, còn bên thuê là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thuê tài sản phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh và sinh hoạt ở Việt Nam, chỉ có các công ty CTTC được thực hiện hoạt động CTTC Vì thế, bên cho thuê bao giờ cũng là các công ty CTTC, bên thuê

là các tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam trực tiếp sử dụng tài sản thuê phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, pháp luật Việt Nam không thừa nhận hoạt động CTTC phục vụ cho mục đích tiêu dùng

Trang 12

- Đối tượng của hợp đồng CTTC: Là tài sản Tài sản trong CTTC thường có giá trị lớn và có thời hạn sử dụng lâu dài Các tài sản này có thể là bất động sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác Theo pháp luật Việt Nam, tài sản thuê là động sản

- Thời hạn của hợp đồng CTTC: Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế đưa ra 4 dấu hiệu nhận biết một giao dịch CTTC, đó là: Thời gian của hợp đồng CTTC chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản (“Thời gian hữu dụng là (a) Thời kỳ mà một tài sản khấu hao, theo dự kiến sẽ được sử dụng một cách hữu hiệu; hay (b) Một số nhất định các sản phẩm hay các đơn vị sản phẩm tương tự dự kiến sẽ thu được từ tài sản đó”) [5, Tr.15] Thời gian đó được xác định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia:

Là 60% thời gian hữu dụng của tài sản (Luật Thuê mua tài chính nước Cộng hoà Maccedonia); là 75% thời gian hữu dụng của tài sản (Luật tạm thời số 16 năm 2002 - Luật Thuê mua tài chính của Malaysia); 60% thời gian hữu dụng đối với tài sản có tuổi thọ kinh tế trên 5 năm và 70% đối với tàu sản cho tuổi thọ kinh tế dưới 5 năm (Luật Thuê mua Hàn Quốc) Thông thường, luật pháp các nước quy định thời hạn của hợp đồng CTTC khá dài, từ 3-7 năm, thậm chí dài hơn đối với những hợp đồng cho thuê bất động sản như nhà xưởng, văn phòng và tất nhiên là không huỷ ngang

- Lãi suất thuê tài chính: Phải tương đương hoặc lớn hơn giá trị của tài sản cho thuê tại thời điểm ký kết hợp đồng

- Hình thức của hợp đồng CTTC: Thể hiện văn bản ghi nhận sự cam kết của các bên giao kết hợp đồng Hợp đồng CTTC là hình thức pháp lý của giao dịch CTTC, vì về mặt nội dung hợp đồng chứa đựng các điều khoản như: Điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tuỳ nghi nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch và thường là các nội dung về: Tài sản cho thuê; sử dụng tài sản thuê; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng; thời hạn của hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên; lãi suất (phí thuê tài sản); các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước hạn, giải quyết tranh chấp, xử lý tài sản,… Pháp luật các quốc gia nói chung cũng như của Việt Nam nói riêng đều quy định hợp đồng CTTC phải được thể hiện bằng văn bản

Trang 13

1.3 Đặc trưng cơ bản của hợp đồng CTTC

Hợp đồng CTTC là một loại giao dịch không huỷ ngang và vào cuối thời hạn thuê, bên thuê có quyền lựa chọn tiếp tục thuê hoặc mua tài sản đó

Đi sâu tìm hiểu các đặc trưng của hợp đồng CTTC giúp chúng ta phân biệt các giao dịch CTTC với giao dịch tương tự khác Việc nghiên cứu làm rõ những đặc trưng này sẽ giúp các nhà làm luật xây dựng được cơ chế pháp lý rõ ràng, minh bạch, phù hợp cho từng loại hợp đồng, từng loại giao dịch Để làm rõ hơn những đặc trưng cơ bản của hợp đồng CTTC, chúng ta phải nghiên cứu các dấu hiệu xác định một giao dịch là giao dịch CTTC

Hiện vẫn chưa có sự thống nhất giữa các quốc gia cũng như các tổ chức quốc

tế về việc xác định “chuẩn” các dấu hiệu của một giao dịch CTTC Tuy nhiên có thể liệt kê một số đặc điểm mà các nước và các tổ chức quốc tế đưa ra để nhận dạng hợp đồng CTTC

*Theo Uỷ ban Tiêu chuẩn kế toán quốc tế - IASC, nghiệp vụ nào thoả mãn một trong bốn điều kiện sau thì được xem là CTTC:

- Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho người thuê khi chấm dứt thời hạn hợp đồng;

- Hợp đồng có quy định quyền chọn mua tài sản khi hết hạn hợp đồng

- Thời hạn của hợp đồng thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản

- Hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê do người thuê trả tối thiểu bằng hoặc lớn hơn giá trị của tài sản thuê tại thời điểm bắt đầu hợp đồng thuê

Hiện nay phần lớn các nước đưa ra các tiêu chuẩn dựa trên các tiêu chuẩn mà IASC đã quy định để xác định một giao dịch được gọi là thuê tài chính Những giao dịch thuê tài sản thoả mãn một trong bốn tiêu chuẩn này đều thuộc về phương thức thuê tài chính, những giao dịch còn lại thuộc về cho thuê vận hành

Theo Công ước Unidroit về Tín dụng Thuê mua Quốc tế, thì giao dịch thuê mua gồm những tiêu chuẩn sau:

- Người thuê chỉ rõ thiết bị và lựa chọn nhà cung cấp không phụ thuộc vào những kỹ năng và ý kiến của người cho thuê, trong tình trạng mà người thuê đã biết

rõ về nhà cung cấp;

Trang 14

- Những khoản tiền thuê phải trả theo thoả thuận của thuê mua phải được tính theo phương thức trả dần hay trả ngay một phần đáng kể chi phí mua thiết bị

Theo tiêu chuẩn của Hội đồng tiêu chuẩn Kế toán tài chính Hoa Kỳ – FASB, thì giao dịch thuê mua phải thoả mãn những điều kiện sau:

- Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho người đi thuê khi chấm dứt hợp đồng thuê

- Hợp đồng thuê cho phép người đi thuê được quyền chọn mua tài sản thuê với giá thấp hơn ở một thời điểm nào đó hay đến khi chấm dứt thời hạn thuê

- Thời hạn thuê phải bằng hoặc lớn hơn 75% thời gian hoạt động ước tính của giá trị tài sản thuê

- Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% so với giá trị tài sản thuê

- Trong pháp luật của các quốc gia, tiêu chuẩn được đưa ra linh hoạt tuỳ theo tình hình mỗi nước, nhưng cũng dựa trên những tiêu chuẩn chung nói trên VD: thời gian thuê tối thiểu là 2 hoặc 3 năm hay 70% thời gian hữu ích của tài sản;…

Ở Việt Nam, theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP thì một giao dịch CTTC phải thoả mãn một trong bốn điều kiện sau:

(1) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên

(2) Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại

(3) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê

(4) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê ít nhất phải tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng

Như vậy, hợp đồng CTTC có sự kết hợp các đặc điểm của hợp đồng thuê tài

sản với những đặc điểm của hợp đồng mua bán và hợp đồng tín dụng Kết hợp với

những dấu hiệu về chủ thể của hợp đồng CTTC (đã được phân tích ở trang 11-12

Trang 15

Luận văn này), chúng ta có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của hợp đồng CTTC

như sau:

- Thứ nhất, chủ thể giao kết hợp đồng CTTC một bên bao giờ cũng là các công ty CTTC (pháp luật Việt Nam ghi nhận đó là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng) và bên kia là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thuê tài sản

- Thứ hai, hợp đồng CTTC có thời hạn chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản và là loại hợp đồng không được phép huỷ ngang bởi các bên tham gia hợp đồng

- Thứ ba, trong hợp đồng CTTC, bên cho thuê luôn nắm giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản thuê và có quyền thu hồi tài sản cho thuê khi bên thuê vi phạm hợp đồng, bên thuê có quyền sử dụng và khai thác tài sản cho các mục đích thoả thuận trong hợp đồng Mọi rủi ro đối với tài sản trong suốt thời gian của hợp đồng được chuyển giao cho bên thuê, bù lại bên thuê được hưởng những lợi ích kinh tế do tài sản mang lại

- Thứ tư, hiện giá các khoản thuê phải lớn hơn hoặc gần bằng giá trị của tài sản thuê nhằm đảo bảo cho bên cho thuê bù đắp được chi phí mua tài sản ban đầu và có lãi

- Thứ năm, hết thời hạn hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về việc: (1) Bên thuê được chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản vào lúc kết thúc hợp đồng CTTC; (2) Bên thuê mua lại tài sản thuê (quyền chọn mua) vào cuối thời điểm của hợp đồng sau khi đã trả một khoản tiền theo nguyên tắc giá bán được tính toán trên cơ sở hiện giá Thường đó chỉ là một khoản tiền tượng trưng

*Phân biệt CTTC với thuê vận hành:

Giao dịch CTTC và cho thuê vận hành tương đối giống nhau về bản chất pháp lý nhưng lại khác nhau về mặt kinh tế nghiệp vụ Từ những đặc trưng cơ bản nêu trên của hợp đồng CTTC, chúng ta có thể phân biệt giao dịch CTTC với thuê vận hành, thể hiện bằng bảng biểu dưới đây

Trang 16

1 Thời hạn thuờ Thường dài hơn một nửa cho đến

bằng đời sống hữu ớch của tài sản

Rất ngắn so với đời sống hữu ớch của tài sản

Mức vốn được thu hồi nhỏ hơn rất nhiều so với giỏ trị tài sản

Người cho thuờ chịu mọi chi phớ bảo dưỡng, đúng bảo hiểm

Trong hợp đồng không

có thoả thuận chuyển quyền sở hữu hoặc bán lại tài sản

7 Rủi ro Ng-ời thuê chịu mọi rủi ro thiệt

hại

Ng-ời cho thuê chịu mọi rủi ro thiệt hại Ngoài ra, Uỷ ban Tiêu chuẩn kế toán quốc tế - IASC còn đ-a ra bốn tiêu chí

để xác định một giao dịch là CTTC hay thuê vận hành:

- Quyền sở hữu tài sản thuê có đ-ợc chuyển giao từ ng-ời cho thuê sang ng-ời thuê khi kết thúc hợp đồng? Nếu có thì đó là giao dịch CTTC, nếu không thì

là thuê vận hành

- Trong hợp đồng có quy định quyền chọn mua tài sản thuê khi kết thúc hợp

đồng với giá danh nghĩa không? Nếu có đó là giao dịch CTTC, nếu không là thuê vận hành

Trang 17

- Thời gian của hợp đồng thuê có chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản không? Nếu có thì là giao dịch CTTC, nếu không thì là thuê vận hành

- Hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê tối thiểu do ng-ời thuê trả t-ơng đ-ơng hoặc lớn hơn giá trị của tài sản tại thời điểm bắt đầu ký kết hợp đồng không? Nếu có thì là CTTC, nếu không thì là thuê vận hành.[5]

Bất cứ một giao dịch thuê tài sản nào thoả mãn một trong bốn tiêu chí trên thì

đ-ợc IASC coi là giao dịch CTTC

*So sánh hợp đồng CTTC với hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay thuộc tổ chức tín dụng

Hợp đồng CTTC nh- đã nói ở trên, thực chất là một loại hợp đồng tín dụng trung và dài hạn nh-ng hợp đồng này có những điểm đặc tr-ng so với các hợp đồng tín dụng khác trong hoạt động cho vay của ngân hàng, thể hiện ở chỗ:

- Trong giao dịch CTTC, bên cho thuê tài trợ cho doanh nghiệp bằng các tài sản nh- máy móc, ph-ơng tiện, thiết bị, gọi chung là các động sản Còn trong cho vay ngân hàng, ngân hàng sẽ tài trợ cho doanh nghiệp trực tiếp bằng tiền và doanh nghiệp sẽ sử dụng số tiền đó để mua máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất của mình Nh- vậy, so với tín dụng ngân hàng, CTTC đảm bảo cho bên tài trợ là khoản tiền bỏ ra đã đ-ợc sử dụng đúng mục đích

- Trong hoạt động CTTC th-ờng có quan hệ nhiều bên: Bên đi thuê, bên cho thuê, nhà cung cấp, nhà bảo hiểm Ng-ợc lại, trong hoạt động cho vay của ngân hàng thì th-ờng chỉ có quan hệ song ph-ơng giữa ng-ời đi vay và ng-ời cho vay (trừ một số tr-ờng hợp)

- Phí cho thuê đối với hoạt động CTTC th-ờng cao hơn so với lãi suất cho vay trung và dài hạn của ngân hàng do phí cho thuê đ-ợc tính trên cơ sở lãi suất cho vay trung và dài hạn cộng với chi phí phát sinh đối với tài sản và chi phí quản

lý của công ty CTTC

Hoạt động CTTC (cho vay bằng hiện vật) th-ờng gắn liền với quyền sở hữu về tài sản Trong đó, bên cho thuê nắm giữ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và là ng-ời sở hữu tài sản Khi doanh nghiệp đi thuê (vay) bị phá sản thì bên cho thuê tài sản đ-ợc bảo đảm quyền thu hồi tài sản thuê Trong khi đó cho vay ngân hàng (cho vay bằng tiền) thì chỉ thông qua hợp đồng tín dụng để nhận biết đ-ợc là bên đi vay

Trang 18

đã vay với số tiền là bao nhiêu Do đó, về lý thuyết, tín dụng thông qua hoạt động cho thuê tài chính có mức độ an toàn cao hơn tín dụng bằng tiền, đồng thời với thủ tục t-ơng đối đơn giản, nó giúp cho các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn trung và dài hạn

Trong hoạt động CTTC, tỷ lệ tài trợ th-ờng cao hơn so với các hoạt động cho vay và đầu t- thông th-ờng Xuất phát từ vấn đề sở hữu tài sản trong suốt thời gian thuê, bên cho thuê có thể yên tâm rằng: Khoản cho thuê của mình là hoàn toàn đúng mục đích, và đ-ợc bảo đảm bằng chính tài sản cho thuê Do vậy, bên cho thuê có thể yên tâm nâng tỷ lệ tài trợ (nhiều khi lên đến 100% giá trị tài sản cho thuê)

*Điểm khác nhau chủ yếu giữa CTTC và một khoản vay ngân hàng để đầu t- cho trang thiết bị đ-ợc chỉ rõ d-ới đây:

TT Tiêu chí Cho thuê tài chính Vay vốn ngân

hàng

1 Quyền sở hữu tài

sản

2 Quyền sở hữu sau

thời hạn cho thuê

3 Cách thức xử lý khi

không trả đ-ợc nợ

Thu hồi, phát mại thiết bị; kiện

đòi trả tài sản và bồi th-ờng

Kiện tụng và tịch thu tiền

4 Thời hạn tài trợ Trung và dài hạn (dựa trên thời

gian hữu dụng của tài sản)

Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

5 Thuế -100% tiền cho thuê đ-ợc tính là

chi phí -Thuế GTGT đối với tiền cho thuê

Khấu hao thiết

bị và lãi khoản vay đ-ợc tính

là chi phí

1.4 Các loại hợp đồng CTTC cơ bản

Trang 19

Hợp đồng CTTC đ-ợc ký kết giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một số máy móc - thiết bị và động sản khác trong một thời gian nhất định theo những điều kiện nhất định Trên thực tế, hoạt động CTTC diễn ra rất đa dạng, trong

đó các chủ thể tham gia đ-ợc tự do thể hiện ý chí sao cho phù hợp nhất với điều kiện thực tế của mình Do vậy, cùng với sự phát triến của hoạt động CTTC, trên thế giới ngày nay xuất hiện các loại hợp đồng CTTC rất đa dạng

D-ới đây là một số dạng phố biến nhất

1.4.1 Hợp đồng cho thuê tài trợ trực tiếp (direct lease):

Hợp đồng cho thuê tài trợ trực tiếp là loại hợp đồng có sự tham gia của 2 bên, trong đó bên cho thuê dùng tài sản có của mình trực tiếp tài trợ cho bên thuê Bên cho thuê th-ờng là nhà sản xuất hoặc các định chế tài chính khác có thể là Công ty CTTC dùng chính tài sản của mình để tài trợ

Hợp đồng cho thuê trực tiếp có những đặc điểm sau:

+ Chỉ có hai bên tham gia vào quan hệ : bên thuê và bên cho thuê

+ Tài sản cho thuê có giá trị không quá lớn th-ờng là các loại máy móc - thiết

bị đ-ợc sử dụng phổ biến sẵn có của bên cho thuê

+ Vốn tài trợ hoàn toàn do ng-ời cho thuê đảm nhiệm

+ Ng-ời thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu

tựng

Bỏn lại thiết bị

Mụ hỡnh giao dịch tài trợ trực tiếp

Trang 20

1.4.2 Hợp đồng cho thuê liên kết (syndicate lease)

Hợp đồng cho thuê liên kết là loại hợp đồng gồm nhiều bên tài trợ cho một bên Sự liên kết này có thể theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc Tr-ờng hợp nhiều

định chế tài chính hay các nhà chế tạo phải liên kết với nhau để tài trợ cho ng-ời thuê tạo thành sự liên kết ngang.Tr-ờng hợp các định chế tài chính hay các nhà chế tạo lớn giao tài sản cho chi nhánh của họ (dealers) thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hàng thì tạo lên sự liên kết dọc (trust dealers)

Các loại tài sản là đối t-ợng của hợp đồng cho thuê liên kết th-ờng có giá trị cao mà bản thân ng-ời cho thuê không có khả năng tự tài trợ hoặc do sự rủi ro nên không dám tài trợ một mình mà phải tìm sự liên kết bên ngoài

Cho thuê liên kết là hình thức đồng tài trợ nên trong quan hệ CTTC, trái chủ

là bên cho thuê gồm hai hoặc nhiều chủ thể Khi kết thúc hợp đồng, việc thanh toán tiền thuê cũng nh- ph-ơng thức xử lí tài sản sẽ đ-ợc thực hiện theo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng

Đặc điểm của giao dịch cho thuê liên kết:

+ Bên cho thuê là sự liên kết của các định chế tài chính, các nhà sản xuất hay các công ty mẹ với chi nhánh Bên thuê là một doanh nghiệp nhận tài trợ thông qua tài sản thuê

+ Các chủ thể liên kết cho thuê đều có quyền và nghĩa vụ liên đới đối với bên thuê

1.4.3 Hợp đồng cho thuê bắc cầu (leveraged lease contract)

Mụ hỡnh giao dịch cho thuờ liờn kết

Trang 21

Hợp đồng cho thuê bắc cầu (hay còn gọi là hợp đồng cho thuê hợp tác) là một loại hình tài trợ đặc biệt do có sự tham gia của ng-ời cho vay là các ngân hàng hoặc

các định chế tài chính phi Ngân hàng khác

Hợp đồng cho thuê bắc cầu phát sinh từ sự hạn chế về nguồn vốn của các Công ty cho thuê tài chính nên không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng Trong giao dịch cho thuê bắc cầu hình thành hai loại quan hệ gồm: Quan hệ CTTC giữa bên thuê với bên cho thuê và quan hệ vay giữa bên cho thuê với các định chế tài chính cho vay Nh- vậy, cho thuê bắc cầu không phải là hình thức đồng tài trợ Trong mối quan hệ thứ nhất, bên cho thuê là trái chủ, song trong mối quan hệ thứ

hai bên cho thuê lại trở thành thụ trái phải thanh toán tiền vay+ lãi cho bên tài trợ

Mô hình giao dịch cho thuê bắc cầu

1.4.4 Hợp đồng bán, tái thuê ( sale and leaseback arrangement)

Hợp đồng bán và tái thuê là một dạng đặc biệt của ph-ơng thức CTTC có sự tham gia của hai bên Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn về vốn l-u động nh-ng lại không đủ uy tín để vay vốn từ ngân hàng hoặc do các thủ tục và điều kiện khắt khe

khác trong việc vay vốn ngân hàng mà hình thức giao dịch “bán và tái thuê” ra đời

Hợp đồng bán và tái thuê là một giao dịch, trong đó ng-ời bán thiết bị - máy móc cũng chính là ng-ời thuê tài sản đó Nội dung của quan hệ này là thể hiện ở chỗ

Người thuờ (leassee)

Người cho vay

(lender)

Tài sản

Tiền cho vay

Trả

tiền

nợ

Tiền thuờ Người cho thuờ

(leassor)

Trang 22

ng-ời chủ sở hữu tài sản do thiếu vốn l-u động đã chuyển sở hữu tài sản đó cho tổ

chức tài trợ, sau đó thuê lại tài sản đó

Nh- vậy, trong giao dịch CTTC dạng này, một chủ thể đóng hai vai trò:

“người bán” đồng thời là “ng-ời thuê”, còn “ người mua” lại đồng thời là “người cho thuê” tài sản đã mua của người thuê

Mô hình giao dịch bán và tái thuê

Theo các nhà phân tích kinh tế, hình thức cho thuê lại có thể sử dụng để cân bằng thanh toán của doanh nghiệp thông qua việc bán tài sản không phải theo giá trị ghi trên bảng cân đối mà theo thời giá thị tr-ờng một cách có lợi Điều này có thể giúp các doanh nghiệp vừa cải thiện đ-ợc khả năng tài chính vừa giữ đ-ợc tài sản trong tay để sử dụng Từ những lẽ đó “bán và tái thuê” tạo cho doanh nghiệp một phương thức mới tiếp cận nguồn tài chính khác thông qua một giao dịch “mua bán tài sản” thông thường

1.4.5 Hợp đồng cho thuê giáp l-ng (under lease)

Hợp đồng cho thuê giáp l-ng là sự thoả thuận của bên cho thuê, bên thuê thứ nhất về việc cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà bên thuê thứ nhất đã thuê của nhà tài trợ (bên cho thuê)

Tiền mua tài sản

Thoả thuận mua bỏn tài sản

Quyền sở hữu

Hợp đồng cho thuờ tài sản

Trả tiền thuờ

Chủ sở hữu ban đầu (Người bỏn)

Người thuờ Quyền sử dụng tài sản

Trang 23

Hợp đồng cho thuê giáp l-ng đ-ợc sử dụng trong tr-ờng hợp ng-ời có nhu cầu thuê nh-ng không thể trực tiếp thuê từ phía các nhà tài trợ do nguyên nhân chủ quan hay khách quan nào đó về uy tín, năng lực tài chính… Thực tế hiện nay, các Công ty CTTC n-ớc ngoài th-ờng chỉ chấp nhận tài trợ cho những công ty lớn của Việt Nam

Nhận đ-ợc tài trợ theo ph-ơng thức này, các doanh nghiệp đi thuê có thể tránh đ-ợc một số rủi ro phát sinh Trong tr-ờng hợp bên thuê thứ nhất không còn nhu cầu sử dụng tài sản thuê nh-ng thời hạn thuê ch-a hết (hợp đồng CTTC không

đ-ợc huỷ ngang) họ có nguy cơ lâm vào tình thế bất lợi khi nhu cầu thuê không còn

mà vẫn phải trả tiền thuê, do đó họ phải tìm bên thuê thứ hai để chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng tài sản thuê cho bên thuê thứ hai Tuy nhiên, bên thuê thứ nhất vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới với những rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản thuê vì hợp đồng ban đầu vẫn còn hiệu lực

Mô hình cho thuê giáp l-ng

s

Hợp đồng cho thuê giáp l-ng tạo nhiều thuận lợi cho bên thuê Thông qua hình thức tài trợ này, các doanh nghiệp lớn hay nhỏ có cơ hội đ-ợc tài trợ, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, ph-ơng thức cho thuê này cho phép các doanh nghiệp khai thác tối đa công dụng của tài sản, giúp bên thuê giảm đ-ợc rủi ro, thậm chí có thể thu đ-ợc lợi nhuận từ việc cho thuê tài sản đó

1.4.6 Hợp đồng thuê mua trả góp (lease purchase arrangment)

Tiền thuờ

Quyền

sử dụng tài sản Người thuờ thứ nhất

(leassee 1)

Tiền thuờ

Quyền

sử dụng tài sản Người thuờ

thứ hai (leassee 2)

Người cho

thuờ

(leassor)

Trang 24

Hợp đồng thuê mua trả góp là ph-ơng thức tài trợ vốn đặc biệt Hợp đồng thuê mua trả góp đ-ợc thiết lập giữa bên mua với chủ sở hữu tài sản là nhà chế tạo hay định chế tài chính nào đó Theo hợp đồng này, bên mua phải thanh toán ngay một phần giá trị của tài sản, tiền lãi và phần giá trị còn lại của tài sản sẽ đ-ợc thanh toán nhiều kỳ, tới thời điểm kết thúc hợp đồng quyền sở hữu tài sản đ-ợc chuyển giao cho ng-ời mua trả góp Điểm đáng chú ý là khi hợp đồng có hiệu lực ng-ời mua trả góp th-ờng phải trả ngay một khoản chiếm khoảng 25- 30% giá trị tài sản cho nhà tài trợ Đây đ-ợc coi nh- biện pháp hạn chế rủi ro cho bên tài trợ

Mô hình giao dịch thuê mua trả góp

Thuê mua trả góp ngày nay đ-ợc coi là một hình thức CTTC, mặc dù thời kỳ mới xuất hiện nó chính là một hình thức tín dụng th-ơng mại Sở dĩ ngày nay thuê mua trả góp đ-ợc coi là một giao dịch CTTC là do gần đây nó đã đ-ợc các nhà chế tạo phát triển thành một hình thức tài trợ vốn thông qua hiện vật và đ-ợc các định chế tài chính, các nhà kinh doanh cho thuê (lease dealers) sử dụng nh- một hình thức tài trợ CTTC Xét về tính chất giao dịch , thuê mua trả góp không có sự khác biệt so với các ph-ơng thức CTTC khác Tuy nhiên, thuê mua trả góp cũng có đặc tr-ng so với các hoạt động CTTC khác

Hợp đồng thuờ mua trả gúp Quyền sử dụng tài sản Tiền trả gúp Quyền sở hữu tài sản Tiền mua tài sản

Người bỏn

Người thuờ

Người mua

Người cho thuờ

Trang 25

Do ng-ời thuê thực hiện Do ng-ời thuê thực hiện

7 Mục đích Đảm bảo cho ng-ời thuê

đổi mới công nghệ kịp thời

Tài sản đ-ợc khấu hao nhanh chóng và không dễ bị lạc hậu

8 Quyền sở hữu Thuộc quyền người cho

thuờ (cú thể chuyển giao khi kết thỳc hợp đồng)

Chuyển giao cho người thuờ khi kết thỳc hợp đồng

9 Tớnh toỏn khấu

trừ

Tổng số tiền thuờ Tổng số tiền lói+khấu hao

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHO THUấ TÀI

CHÍNH Ở VIỆT NAM

Trang 26

2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam

Ở Việt Nam, mặc dù từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã có một số giao dịch mang dáng dấp của giao dịch CTTC, tuy vậy mãi cho tới năm 1992 vấn đề CTTC mới được khởi xướng nghiên cứu cùng với các cuộc xúc tiến ban đầu như tổ chức các buổi nói chuyện giới thiệu, hội thảo trao đổi ý kiến với các chuyên gia kinh tế pháp luật,… Đầu năm 1993, với sự cố vấn của Công ty Tài chính quốc tế (IFC), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nghiên cứu và soạn thảo “Quy chế về CTTC” nhằm đưa loại hình tín dụng này vào Việt Nam Tới tháng 5/1995, một văn bản pháp luật đầu tiên về CTTC ra đời Đó là Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành “Thể lệ tín dụng thuê mua”, cho phép các tổ chức tín dụng Việt Nam thực hiện nghiệp vụ tín dụng thuê mua dưới dạng các Công ty thuê mua hoặc Phòng tín dụng thuê mua trực thuộc tổ chức tín dụng Tuy nhiên, hoạt động thuê mua lúc này cũng chỉ mang tính thử nghiệm, chủ yếu để giải quyết các tài sản xiết nợ của ngân hàng thương mại

Tiếp đó, ngày 09/10/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/CP về

“Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC” và đến ngày 09/02/1996, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/TT-NH5 hướng dẫn thi hành Nghị định 64/CP, tạo ra hành lang pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các công ty CTTC nói chung và các công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng nói riêng ở Việt Nam Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã thành lập các Công ty CTTC trực thuộc để thay thế cho các Công ty tín dụng thuê mua và các Phòng tín dụng thuê mua trước đây Trong giai đoạn này, các văn bản pháp luật là cơ sở để thành lập và tổ chức hoạt động của các công ty CTTC, bao gồm:

- Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính (10/1990)

Trang 27

- Quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 của Thống đốc Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam ban hành Thể lệ tín dụng thuê mua (tạo cơ sở pháp lý cho các Ngân hàng thương mại Nhà nước lập ra các công ty thuê mua trực thuộc)

- Nghị định 64/1995/NĐ-CP ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC tại Việt Nam

- Thông tư 03/TT-NH5 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 09/02/1996 hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định 64/CP

Vào tháng 12/1997, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, trong đó có một số quy định cụ thể về hoạt động CTTC Cũng trong thời gian này, một số quy định pháp luật có liên quan cũng được ghi nhận trong các đạo luật mới được ban hành như: Bộ luật Dân sự 1995, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000,…

Các văn bản pháp luật nói trên ra đời cũng như thực tế phát triển của hoạt động CTTC dẫn đến một số các quy định trong Nghị định 64/CP không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải có sự sửa đổi Vì vậy, ngày 02/5/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2001/NĐ-CP về tổ chức hoạt động của Công ty CTTC, thay thế Nghị định 64/2001/NĐ-CP Ngày 06/9/2001, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông

tư số 08/2001/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện Nghị định 16/2001/NĐ-CP Hai văn bản này có các quy định về tổ chức và hoạt động của năm loại hình công ty CTTC (mở rộng hơn) Và mới đây, ngày 19/5/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 65/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/CP cho phù hợp hơn với tình hình thực tiễn của hoạt động CTTC

Như vậy, từ năm 1998 đến nay, nguồn pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của công ty CTTC gồm:

- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước

Trang 28

- Luật Các tổ chức tín dụng; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng

- Thông tư số 03/2005/TT-NHNN ngày 25/5/2005 hướng dẫn các công ty CTTC thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn đối với hoạt động CTTC theo Nghị định số 16/CP, với mục tiêu đảm bảo tính thống nhất của quy định pháp luật đối với các hình thức cấp tín dụng khác (thay thế Thông tư 01/2003/TT-NHNN)

Trong các văn bản trên, trực tiếp đề cập đến hợp đồng CTTC là Nghị định 16/2001/NĐ-CP; Nghị định 65/2005/NĐ-CP và Thông tư 08/TT-NHNN đưa ra các quy định khá cụ thể về các loại hợp đồng CTTC; chủ thể, nhà cung ứng, đối tượng của hợp đồng CTTC; quyền – nghĩa vụ của các chủ thể hợp đồng CTTC; các nội dung cơ bản của hợp đồng CTTC; vấn đề xử lý chấm dứt hợp đồng CTTC;…

Trang 29

Dưới đây, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu những quy định của pháp luật hiện hành về những vấn đề liên quan trực tiếp đến hợp đồng CTTC

2.2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng CTTC

2.2.1 Chủ thể hợp đồng CTTC

2.2.1.1 Bên cho thuê

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 16/2001/NĐ-CP thì “Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam” Hướng dẫn cụ thể hơn, Thông tư 08/2001/TT-NHNN quy định “Công ty cho thuê tài chính

là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam, hoạt động chủ yếu

là cho thuê tài chính …” (khoản 2 Điều 1)

Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 1997 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán” Cũng Điều luật này, tại khoản 3 quy định: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng

là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác”

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, công ty CTTC là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam

Theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Thông tư 08/2001/TT-NHNN thì công ty CTTC được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới một trong năm hình thức sau:

- Công ty CTTC nhà nước: là công ty CTTC do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh Việc cấp giấy phép thành lập

và hoạt động của công ty CTTC Nhà nước theo hướng dẫn riêng của Ngân hàng Nhà nước;

Trang 30

- Công ty CTTC cổ phần: là công ty CTTC được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó các tổ chức và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và các quy định khác của pháp luật;

- Công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng: là công ty CTTC hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn

tự có của mình làm chủ sở hữu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và các quy định khác của pháp luật;

- Công ty CTTC liên doanh: Là công ty CTTC được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh;

- Công ty CTTC 100% vốn nước ngoài: Là công ty CTTC được thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Một điều cũng đáng lưu ý là ở Việt Nam hiện nay hầu hết các công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng So với các tổ chức tín dụng là ngân hàng thì công ty CTTC – với tư cách là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có phạm vi hoạt động hẹp hơn nhiều Ngoài hoạt động đặc thù là CTTC, thì công ty CTTC chỉ được thực hiện một số nghiệp vụ của ngân hàng Cụ thể, các công ty CTTC trực thuộc các tổ chức tín dụng chỉ được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên, được phát hành các loại giấy tờ có giá có thời hạn một năm trở lên,…[37, 41, 45] Quy định như vậy có thể tạo ra lợi thế cho các công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng, nhưng đổi lại các công ty CTTC này bị ràng buộc bởi các chuẩn mực kế toán tài chính ngân hàng như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc; tỉ lệ cho vay tối đa với một khách hàng; các tỉ lệ đảm bảo

an toàn;… Khiến cho các công ty CTTC thiếu sự linh hoạt trong hoạt động và sử dụng vốn, trong khi ngân hàng là tổ chức tín dụng trong cùng hệ thống lại được hưởng nhiều ưu đãi hơn: Được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng, được huy động vốn dưới mọi hình thức (công ty CTTC chỉ được huy động vốn bằng tiền gửi

từ 1 năm trở lên), được nhận tiền gửi, được vay Ngân hàng Nhà nước, phát hành các

Trang 31

loại giấy tờ có giá (công ty CTTC được phát hành các loại giấy tờ có giá từ 1 năm trở lên),… Hiện một số công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng đang đòi được thực hiện các nghiệp vụ như của ngân hàng, tạo sự bình đẳng, để thuận lợi hơn trong hoạt động cũng như việc sử dụng vốn Đây là điều đáng lưu tâm xem xét trên tinh thần tạo điều kiện để các công ty CTTC phát huy tối đa hiệu quả hoạt động, thúc đẩy hoạt động CTTC phát triển hơn nữa ở Việt Nam

Như đã nói ở trên, bên cạnh tư cách là một tổ chức tín dụng, công ty CTTC còn là một doanh nghiệp Tuy nhiên, nó có những đặc điểm riêng so với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác và các loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Những đặc điểm này là gì?

- Thứ nhất: Đối tượng kinh doanh chủ yếu của CTTC là các loại tài sản thuộc

sở hữu của mình: máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác Đây là những loại tài sản mà pháp luật cho phép là đối tượng của hoạt động CTTC Còn các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác có đối tượng kinh doanh là tiền tệ

- Thứ hai: Công ty CTTC là doanh nghiệp mà hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu và thường xuyên mang tính nghề nghiệp là hoạt động CTTC Có thể nói đây là sản phẩm độc canh của công ty CTTC Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác được tiến hành các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng như tín dụng, nhận tiền gửi

có kỳ hạn,…

- Thứ ba: công ty CTTC là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Các loại doanh nghiệp thuộc ngành nghề nào thì chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về ngành nghề đó Đây là điểm khác với các doanh nghiệp khác

- Thứ tư: công ty CTTC là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về ngân hàng và các quy định khác có liên quan của pháp luật

Trên thế giới, hầu hết các nước quy định bên cho thuê phải là một định chế tài chính Theo pháp luật Việt Nam, thì ở Việt Nam chỉ có công ty CTTC mới được thực hiện hoạt động CTTC Tuy nhiên, nhiều quốc gia có những quy định rộng rãi

Trang 32

hơn, cho phép các công ty hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp tham gia hoạt động tín dụng thuê mua như là một hình thức hỗ trợ thúc đẩy bán sản phẩm của mình (điển hình là Hoa Kỳ) Tất nhiên những hoạt động này phải được thực hiện qua các công ty con chuyên kinh doanh thuê tài chính Cũng có quốc gia như Thái Lan lại coi doanh nghiệp kinh doanh tín dụng thuê mua cũng như một công ty thương mại;…

Như vậy, các mô hình tổ chức CTTC được hình thành khác nhau ở các nước tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế xã hội của nước đó, tuy nhiên đối với một quốc gia mà hoạt động CTTC mới được hình thành chưa lâu như Việt Nam thì cần phải có sự nghiên cứu, tiếp thu một cách nghiêm túc những điểm tích cực, phù hợp trong mô hình của các nước Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về lĩnh vực CTTC thì bên CTTC bắt buộc phải là công ty CTTC Điều này cũng xuất phát từ đặc điểm kinh tế xã hội của ta, các hoạt động tín dụng quá gắn bó – cả về quan niệm

và thực tế – với các tổ chức tín dụng và cũng là sự thận trọng thường thấy trong chủ trương phát triển một hình thức tài trợ vốn còn khá mới mẻ: Nhà nước phải nắm và quản lý sát sao Sự thiếu cởi mở này tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả không hay là sự cứng nhắc của lĩnh vực tín dụng này, theo chiều hướng: Nhà nước khi thấy cần thì triển khai, bổ sung, mở rộng còn không cần hoặc thấy trình độ quản lý không theo kịp đà phát triển thì ngừng lại, bỏ lửng phớt lờ quy luật kinh tế và nhu cầu của xã hội

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, hoạt động CTTC ở Việt Nam chưa phát triển mạnh, nhu cầu CTTC chưa thực sự được đánh thức nên sự cứng nhắc này chưa thể hiện rõ ràng, vẫn ở mức chấp nhận được, nhưng khi hoạt động CTTC sôi động đến mức độ nhất định thì chắc chắn quy định nói trên về chủ thể - bên CTTC sẽ là rào cản cho sự phát triển của loại hình tín dụng này

2.2.1.2 Bên thuê

Theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Thông tư 08/2001/TT-NHNN thì bên

thuê tài chính gồm: các tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích sản xuất kinh doanh của mình, bao gồm: cá nhân có

Trang 33

đăng ký kinh doanh; hộ gia đình; doanh nghiệp; tổ chức khác thuộc đối tượng vay vốn của các tổ chức tín dụng Như vậy, có thể hiểu bên thuê là bất kỳ tổ chức, cá

nhân nào hoạt động tại Việt Nam, có nhu cầu sử dụng trực tiếp tài sản thuê cho mục

đích hoạt động của mình

Tuy vậy, Nghị định 16/CP cũng đưa ra quy định hạn chế CTTC đối với một

số đối tượng Điều 29 Nghị định 16/CP quy định “Không được CTTC đối với

những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật các Tổ chức tín dụng - tức là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (giám đốc), Phó Tổng giám đốc (phó giám đốc) của tổ chức tín dụng; người thẩm định, xét duyệt cho vay;

bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (giám đốc), Phó Tổng giám đốc (phó giám đốc);…

Điều 30 cũng quy định công ty CTTC không được áp dụng điều kiện ưu đãi khi ký kết hợp đồng CTTC với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật các

Tổ chức tín dụng, gồm: Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng; Kế toán trưởng, Thanh tra viên; các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng; doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật này sở hữu trên 10% vốn Điều lệ của doanh nghiệp đó

Các đối tượng nói trên cũng chỉ được phép thuê tài sản có tổng giá trị không vượt quá 5% vốn tự có của công ty CTTC, trong khi một khách hàng bình thường

có thể được thuê tài chính của công ty CTTC với tổng mức tới 30% vốn tự có của công ty CTTC (trừ trường hợp đối với những khoản CTTC từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc khách hàng thuê là tổ chức tín dụng)

Nhìn chung, quy định về bên thuê trong Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Thông

tư 08/2001/TT-NHNN đã mở rộng phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho các công ty CTTC mở rộng hoạt động tài trợ vốn của mình Đồng thời, những quy định về hạn chế đối với một số đối tượng thuê tài chính cũng nhằm hạn chế rủi ro và những giao dịch bất minh về CTTC Dù vậy, quy định này

Trang 34

phù hợp trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam mới chỉ cho phép các công ty CTTC tồn tại trong hệ thống tổ chức tín dụng

Tuy nhiên, nếu đối chiếu quy định về vấn đề này ở Nghị định 16/CP và ở Thông tư 08 – văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 16/CP, thì đối tượng thuê theo Thông tư 08 bị bó hẹp hơn so với Nghị định 16/CP Thông tư 08 quy định chỉ các doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký kinh doanh và hộ kinh doanh cá thể là được thuê tài chính Quy định như vậy thực tế đã loại ra khá nhiều chủ thể cũng có nhu cầu thuê tài chính như các cá nhân là xã viên HTX, các làng nghề,…họ có đủ điều kiện để vay vốn theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, nhưng lại không được thuê tài chính Tất nhiên, cũng không quá khó hiểu khi Thông tư 08 đưa ra quy định như trên, bởi các đối tượng này nếu tham gia quan hệ CTTC sẽ rất dễ xảy ra rủi ro đối với các công ty CTTC, bởi khả năng tài chính, hoạt động của “bên thuê” này khá bấp bênh, khó kiểm soát Trên thực tế, ngay đối với các cá nhân có đăng ký kinh doanh và hộ kinh doanh cá thể cũng hiếm khi được thuê tài chính – do không

có nhu cầu hoặc các công ty CTTC không dám chấp nhận cho thuê Do vậy, nếu có quy định rộng mở hơn nữa cũng không khả thi Hiểu như vậy trong bối cảnh hiện nay cũng có thể tạm chấp nhận được Tuy nhiên, CTTC là “kênh” huy động vốn hữu hiệu và trong tương lai tiềm năng to lớn của hình thức tín dụng này sẽ ngày càng được phát huy mạnh mẽ, nên việc mở rộng đối tượng được tham gia thuê tài chính, “cởi trói” về điều kiện hạn chế cho các đối tượng thuộc dạng đang phải ràng buộc về hạn mức, định mức thuê tài chính là việc phải làm và làm càng sớm càng tốt Mặt khác, CTTC là quan hệ kinh tế, phải tuân theo nguyên tắc thoả thuận, việc

có cho thuê hay không hoàn toàn do bên cho thuê quyết định, nên mở rộng đối tượng thuê tài chính cũng không cần thiết phải quá thận trọng

2.2.1.3 Nhà cung ứng

Các quy định hiện hành không đề cập cụ thể đến vai trò của nhà cung ứng trong hợp đồng CTTC, điều đó có nghĩa khái niệm nhà cung ứng trong giao dịch CTTC là rất rộng, có thể hiểu là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có tài sản được các bên

Trang 35

thoả thuận dùng làm đối tượng để CTTC (tất nhiên đó là tải sản được nhà cung ứng

sở hữu một cách hợp pháp)

Nghị định 16/2001/NĐ-CP (khoản 3 Điều 16) đã mở rộng cho phép thực hiện

thêm một phương thức CTTC mới, đó là: Mua và cho thuê lại Theo hình thức này,

công ty CTTC mua lại máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác thuộc quyền sở hữu của bên thuê và cho bên thuê thuê lại chính các tài sản đó để tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình Như vậy, nhà cung ứng ở đây lại chính là bên thuê Một loại giao dịch CTTC khác cũng chỉ có sự tham gia của hai bên, nhưng bên cung ứng tài sản chính là bên cho thuê Tuy nhiên, giao dịch này mới chỉ có ở một số nước nơi mà pháp luật cho phép các các công ty xây dựng kinh doanh bất động sản, các công ty trong lĩnh vực công nghiệp được CTTC đối với công trình xây dựng, nhà xưởng, máy móc do chính mình sản xuất Ở Việt Nam chưa thể có giao dịch tương tự do pháp luật chỉ cho phép bên thuê là công ty CTTC thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và các công ty CTTC ở Việt Nam mới chỉ hoạt động đơn thuần trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, không thể là nhà cung ứng đối với bất kỳ tài sản thuê nào

Mặc dù pháp luật không quy định, nhưng thông thường các hợp đồng CTTC luôn có mặt nhà cung ứng tài sản thuê Để thiết lập một quan hệ CTTC, các bên có thể lập hai hợp đồng song song gồm: Hợp đồng thuê tài chính giữa bên cho thuê và bên thuê và hợp đồng mua bán tài sản giữa bên cho thuê và nhà cung ứng Tuy nhiên trên thực tế, các bên, đặc biệt là bên thuê rất muốn sự góp mặt (bằng cam kết

có chữ ký xác nhận) của nhà cung ứng trong hợp đồng CTTC bởi tài sản thuê sẽ được đảm bảo bởi cả hai đối tác là bên cho thuê và nhà cung ứng, thuận lợi hơn cho bên thuê khi thực tế có thể xảy ra một số sự cố liên quan đến tài sản thuê

2.2.2 Đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính

Khoản 1 Điều 1 và khoản 3 Điều 7 Nghị định 16/2001/NĐ-CP quy định “Tài sản cho thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác” Nghị định 65/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP, nhưng không đề cập gì đến tài sản thuê tài chính

Trang 36

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hầu như chỉ động sản mới là đối tượng của giao dịch CTTC Tất nhiên, có những loại phương tiện vận chuyển như máy bay, tàu biển,… là bất động sản, nhưng quy định nói trên chưa rõ, chưa cụ thể hoặc nếu chỉ cho phép cho thuê một số loại bất động sản thì cũng phải quy định, liệt kê cho rõ

Theo Điều 18 Nghị định 16/2001/NĐ-CP thì đối tượng của giao dịch CTTC

có thể là tài sản trong nước hoặc được công ty CTTC nhập khẩu trực tiếp Điều 19 Nghị định 16/2001/NĐ-CP (sau này được sửa đổi bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP) yêu cầu mọi giao dịch CTTC phải đăng ký (cả hợp đồng và đối tượng giao dịch) tại Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp, nhằm bảo đảm quyền tài sản của bên cho thuê

Nhìn chung, các quy định về đối tượng CTTC trong các văn bản pháp luật hiện hành đã tương đối đầy đủ, nhưng để thị trường CTTC được diễn ra thuận lợi, lành mạnh cần có quy định rõ hơn về tài sản CTTC như đã nói ở trên Quy định về tài sản CTTC ở Nghị định 16/2001/NĐ-CP khiến người ta không dám diễn giải rằng tài sản CTTC gồm cả một số loại bất động sản, mà chỉ có thể hiểu tài sản CTTC gồm các loại động sản như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và các động sản khác có thể khai thác giá trị sử dụng trên 1 năm, phục vụ hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân Trong thực tế thì trên thị trường CTTC của các nước, thị phần CTTC đối với bất động sản cũng không nhỏ và ở nước ta trong những năm qua, nhu cầu thuê tài chính đối với bất động sản như nhà xưởng, văn phòng cũng đã xuất hiện nhiều Do vậy, không nên giới hạn tài sản thuê là động sản nhằm đáp ứng được nhu cầu thuê của các tổ chức, cá nhân, mở rộng thị trường của các công ty CTTC

2.2.3 Quyền – nghĩa vụ của các chủ thể hợp đồng CTTC

2.2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của Công ty CTTC

*Quyền của công ty CTTC

Theo Điều 23 Nghị định 16/CP, khi tham gia vào hoạt động CTTC, công ty CTTC có các quyền sau:

Trang 37

- Yêu cầu bên thuê cung cấp các báo cáo quý, quyết toán tài chính năm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các vấn đề liên quan đến tài sản cho thuê

- Kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản cho thuê

- Mua, nhập khẩu tài sản cho thuê theo yêu cầu của bên thuê

- Gắn ký hiệu sở hữu trên tài sản cho thuê trong suốt thời hạn cho thuê

- Chuyển nhượng các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng CTTC cho một công ty CTTC khác Trong trường hợp này, ben cho thuê chỉ cần thông báo trước bằng văn bản cho bên thuê

- Yêu cầu bên thuê đặt tiền ký cược hoặc có người bảo lãnh thực hiện hợp đồng CTTC nếu thấy cần thiết

- Giảm tiền thuê, gia hạn thời hạn trả tiền thuê, bán tài sản cho thuê theo quy định

- Yêu cầu bên thuê bồi thường thiệt hại khi bên thuê vi phạm hợp đồng CTTC

Để khuyến khích hoạt động CTTC và bảo vệ quyền lợi của công ty CTTC, Luật Các tổ chức tín dụng 1997 quy định tại điểm c khoản 1 Điều 62 như sau: “Thu hồi tài sản cho thuê và yêu cầu bên thuê phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê khi vi phạm hợp đồng cho thuê”

*Nghĩa vụ của công ty CTTC:

Theo Điều 24 Nghị định 16/2001/NĐ-CP, công ty CTTC có nghĩa vụ sau:

- Ký hợp đồng mua tài sản với bên cung ứng theo các điều kiện đã được thoả thuận giữa bên thuê và bên cung ứng Bên cho thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản cho thuê không được giao không đúng với các điều kiện do bên thuê thoả thuận với bên cung ứng

- Đăng ký quyền sở hữu, làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản cho thuê

- Thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng CTTC

Trang 38

2.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên thuê

*Quyền của bên thuê:

Được quy định tại Điều 25 Nghị định 16/2001/NĐ-CP như sau:

- Lựa chọn, thoả thuận với bên cung ứng về đặc tính kỹ thuật, chủng loại, giá

cả, cách thức và thời hạn giao nhận, lắp đặt và bảo hành tài sản cho thuê

- Trực tiếp nhận tài sản cho thuê từ bên cung ứng theo thoả thuận trong hợp đồng mua tài sản

- Quyết định việc mua tài sản hoặc tiếp tục thuê sau khi kết thúc hợp đồng CTTC

- Yêu cầu bên cho thuê bồi thường thiệt hại khi bên cho thuê vi phạm hợp đồng CTTC

*Nghĩa vụ của bên thuê:

Được quy định tại Điều 26 Nghị định 16/2001/NĐ-CP như sau:

- Cung cấp các báo cáo quý, quyết toán tài chính năm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, các vấn đề liên quan đến tài sản thuê khi bên cho thuê yêu cầu; tạo điều kiện để bên cho thuê kiểm tra tài sản cho thuê

- Chịu trách nhiệm về sự lựa chọn, thoả thuận về tài sản thuê với bên cung ứng

- Sử dụng tài sản thuê đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng CTTC; không được chuyển quyền sử dụng tài sản thuê cho cá nhân, tổ chức khác nếu không được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản

- Trả tiền thuê theo thoả thuận trong hợp đồng CTTC và thanh toán các chi phí có liên quan đến việc nhập khẩu, thuế, lệ phí đăng ký quyền sở hữu, bảo hiểm đối với tài sản thuê

- Chịu mọi rủi ro về việc sử dụng tài sản thuê gây ra đối với tổ chức và cá nhân khác trong quá trình sử dụng tài sản thuê

Trang 39

- Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê Không được tẩy xoá, làm hỏng ký hiệu sở hữu gắn trên tài sản thuê

- Không được dùng tài sản thuê để thế chấp, cầm cố hoặc để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác

- Thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng

2.2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng

Bên cung ứng tài sản thuê trong hợp đồng có thể là nhà sản xuất trực tiếp sản xuất ra tài sản thuê hoặc là đại lý bán tài sản thuê Bên cung ứng có thể là các doanh nghiệp trong và ngoài nước Khi tham gia vào hợp đồng CTTC họ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định như sau:

- Ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán tài sản với bên cho thuê, ghi hoá đơn mua bán tài sản và làm thủ tục chuyển sở hữu tài sản cho thuê cho bên cho thuê theo quy định của pháp luật

- Yêu cầu bên cho thuê thanh toán đầy đủ số tiền đã thoả thuận trong hợp đồng

- Đàm phán với bên thuê về tài sản thuê, loại thiết bị, máy móc, các thông số

kỹ thuật, giá cả

- Giao tài sản (thiết bị, máy móc đã thoả thuận) trong tình trạng làm việc tốt theo đúng yêu cầu của bên thuê

- Bảo hành tài sản sau khi bán cho bên cho thuê

- Cung cấp các dịch vụ bảo dưỡng, lắp đặt, sửa chữa và đào tạo cho bên thuê Trong giao dịch CTTC sự linh hoạt trong việc khai thác sử dụng những giá trị phát sinh từ tài sản cho thuê là yếu tố rất quan trọng Pháp luật hiện hành đã cho phép bên cho thuê được quyền chuyển nhượng các quyền của mình cho một công ty CTTC khác, mà không cần sự đồng ý của bên thuê (khoản 5 điều 23 NĐ 16/CP) tạo

sự linh hoạt trong hoạt động của Cty CTTC Ngược lại, bên thuê cũng có thể được chuyển quyền sử dụng tài sản thuê nếu được bên cho thuê đồng ý Đây là những

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w