Kết quả giáo dục trong những năm gần đây ở trường THPT Đình Lập nói riêng và các trường THPT trên địa bàn tỉnh Lạng sơn nói chung cho thấy vẫn còn có những mẫu thuẫn, bất cập như : sự ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÝ LÂM HÙNG
BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hậu
HÀ NỘI – 2011
Trang 3CHÚ THÍCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt Viết đầy đủ
Dạy học Giáo dục Giáo viên Giáo viên chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm lớp Giáo dục và Đào tạo Giáo dục Quốc dân Mục tiêu giáo dục Phương pháp dạy học Phụ huynh học sinh Học sinh
Quản lý Quản lý Giáo dục Quản lý quá trình dạy học Trung học phổ thông Trung học cơ sở
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả đánh giá xếp loại hai mặt của Tỉnh 32 Bảng 2.2 Kết quả thi tốt nghiêp của Tỉnh ………… 34 Bảng 2.3 Số lớp và số học sinh của nhà trường ……… ……… 37 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá xếp loại hai mặt của trường ……… …… 38 Bảng 2.5 Bảng tổng hợp số liệu HS trúng tuyển Đại học, Cao đẳng… 39 Bảng 2.6 Kết quả thanh tra chuyên môn theo định kỳ của trường ….… 41 Bảng 2.7 Tìm hiểu về nhận thức của giáo viên trường ……….… 43 Bảng 2.8 Đánh giá nhận thức về nội dung công tác GVCNL 44 Bảng 2.9 Đánh giá việc thực hiện nội dung công tác GVCNL………… 45 Bảng 2.10 Đánh giá về kỹ năng, kinh nghiệm làm công tác GVCNL… 46 Bảng 2.11 Đánh giá về mối quan hệ giữa GVCNL với học sinh … … 48 Bảng 2.12 Các biện pháp giáo dục của GVCNL qua nhận xét của học
Bảng 2.13 Tìm hiểu về nhận thức của CBQL trường THPT 51 Bảng 2.14 CBQL nhà trường đánh giá về công tác GVCNL 52 Bảng 2.15 Đánh giá việc lựa chọn, bố trí, phân công GVCNL.……… 53 Bảng 2.16 Nhận thức của CBQL Sở GD & ĐT về công tác GVCNL 54 Bảng 2.17 Kết quả tìm hiểu về các hình thức chỉ đạo công tác GVCNL 55 Bảng 2.18 Cán bộ sở GD & ĐT nhận định, đánh giá công tác
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp 82
Trang 5và Toàn Quốc năm 2010
Minh họa so sánh kết quả xếp loại về mặt học lực của Tỉnh Lạng Sơn so với kết quả chung của các tỉnh Miền Bắc và Toàn Quốc năm 2010
Minh họa so sánh kết quả tốt nghiệp THPT của Tỉnh Lạng Sơn so với kết quả chung của các tỉnh Miền Bắc và Toàn Quốc 2007-2010
Minh họa kết quả giáo dục về mặt đạo đức của nhà trường trong những năm gần đây
Minh họa kết quả giáo dục về mặt học tập của nhà trường trong những năm gần đây
Trang 6MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài……… ……….………… 1
2 Mục đích nghiên cứu……… ……… ….…… 2
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu……….… ……… 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……….……….… ………… 3
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu……….….…… 3
6 Giả thuyết khoa học……….….….… 3
7 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 3
8 Cấu trúc luận văn……… ……… 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU TRƯỞNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG …… 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ……… 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản ……… …… …….….… 6
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 6
1.2.2 Giáo viên, Giáo viên chủ nhiệm lớp……… 13
1.3 Trường trung học phổ thông trong hệ thống GĐQ … 17
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ của trường trung học phổ thông 17
1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường THPT 19
1.4 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm của hiệu trưởng trường trung học phổ thông 20
1.4.1 Xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp 21
1.4.2 Thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp 21
1.4.3 Chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện kế hoạch 23
1.4.4 Kiểm tra, dánh giá công tác chủ nhiệm lớp 24
1.4.5 Phối hợp các lực lượng trong công tác chủ nhiệm lớp trong trường THPT 24 1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp ở trưởng THPT 25 1.5.1 Năng lực đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp 25
1.5.2 Chế độ lao động của giáo viên chủ nhiệm lớp 25
1.5.3 Sự kết hợp giữa đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp và các lực lượng giáo dục khác 26
Trang 71.5.4 Điều kiện tự nhiên xã hội, địa bàn, dân cư, yêu cầu về chất lượng
giáo dục toàn diện trong thời đại hiện nay 27 Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM VÀ QUẢN LÍ
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG THPT ĐÌNH LẬP,
TỈNH LẠNG SƠN 29 2.1 Vài nét về lịch sử giáo dục lạng sơn và nhà trường 29 2.1.1 Khái quát về tỉnh Lạng Sơn và Giáo dục - Đào tạo tỉnh Lạng Sơn 29 2.1.2 Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế- xã hội và giáo dục của huyện
Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn 35 2.1.3 Khái lược về đặc điểm giáo dục của trường trung học phổ thông Đình
lập, tỉnh Lạng Sơn 36 2.2 Thực trạng công tác chủ nhiuệm lớp tại trường THPT Đình Lập, tỉnh
Lạng Sơn 42 2.2.1 Nhận thức về công tác chủ nhiệm lớp tại trường Trung học phổ thông
Đình lập, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 42 2.2.2 Thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp tại trường
Trung học phổ thông Đình lập, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 43 2.3 Thực trạng qảun lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp tại trường THPT
Đình Lập tỉnh Lạng Sơn 50 2.3.1 Nhận thức của CBQL trường Trung Học Phổ Thông đối với công tác
chủ nhiệm lớp 50 2.3.2 Thực trạng tổ chức và chỉ đạo GVCNL của cán bộ quản lí trường
THPT Đình lập 52 2.3.3 Đánh giá công tác GVCNL trước yêu cầu đổi mới hiện nay của Sở
GD & ĐT 53 2.3.4 Nhận xét chung về thực trạng quản lí công tác chủ nhiêm lớp ở
trường THPT Đình Lập, Huyện Đình Lập, Tỉnh Lạng Sơn 57 Tiểu kết chương 2 61
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG QUẢN LÝ ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN 62 3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 62 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục THPT 62
Trang 83.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 62
3.1.3 Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn 62
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 63
3.2 Các biện pháp quan rlý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm của hiệu trưởng
63 3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường 63
3.2.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm 65
3.2.3 Thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm 68
3.2.4 Đổi mới chỉ đạo công tác giáo viên chủ nhiệm 70
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác giáo viên chủ nhiệm 75
3.2.6 Xây dựng và hoàn thiện quy chế phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục khác 78
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng ở trường THPT Đình Lập 81
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Khuyến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước Đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt đưa các mục tiêu giáo dục thành hiện thực Ở trường trung học phổ thông hiện nay, yêu cầu giáo dục toàn diện học sinh là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đang đặt ra trong nhà trường Trường THPT là cấp học cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông, cấp học có sứ mạng rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông
mà Điều 27 luật Giáo dục năm 2005 đã ghi rõ : “ giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trong thời gian gần đây, chất lượng giáo
dục đã được sự quan tâm, chú ý của mọi người trong xã hội Giáo dục ngày càng phát triển cả qui mô, phương thức giáo dục và mạng lưới các cơ sở giáo dục Đối với công tác giáo dục và đào tạo thì đội ngũ giáo viên đóng một vai
trò quan trọng Điều 15 Luật giáo dục năm 2005 đã ghi: "Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục" Chính vì vậy, xây dựng
và phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường
Ở trường THPT, người GVCN có vai trò hết sức quan trọng Người Giáo viên chủ nhiệm được coi là người thay mặt hiệu trưởng làm công tác quản lý và giáo dục học sinh của một lớp học, là người gần gũi thân mật, là người hướng dẫn, chỉ đạo, khuyên nhủ học sinh mỗi khi các em gặp khó khăn,
là người cố vấn tin cậy của chi đoàn lớp Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của tập thể lớp và tác động đến sự phát triển nhân cách của từng học sinh trong lớp đó, chịu trách nhiệm trước nhà trường
về chất lượng giáo dục của lớp mình
Trang 10Kết quả giáo dục trong những năm gần đây ở trường THPT Đình Lập nói riêng và các trường THPT trên địa bàn tỉnh Lạng sơn nói chung cho thấy vẫn còn có những mẫu thuẫn, bất cập như : sự phát triển về số lượng học sinh không tỉ lệ thuận với chất lượng văn hóa, chất lượng đạo đức, mặc dù chất lượng đầu vào của học sinh là như nhau nhưng sau khi kết thúc năm học thì chất lượng giáo dục mọi mặt ở các lớp trong cùng khối lại khác nhau Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những mâu thuẫn, bất cập đó là năng lực của giáo viên chủ nhiệm lớp còn hạn chế do chưa được đào tạo một cách thật chuyên sâu, hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên cũng như cán bộ quản lý chưa được đúng tầm, việc quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm của hiệu trưởng chưa được thật khoa học theo đúng yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà trường, người Hiệu trưởng cần phải chú trọng đến đội ngũ GVCNL, đây là lực lượng chủ yếu , quan trọng nhất trong công tác giáo dục toàn diện của nhà trường.Vì thế, xây dựng đội ngũ GVCNL giỏi làm lực lượng nòng cốt là công tác có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở nhà trường phổ thông
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp của Hiệu trưởng về quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm tại trường trung học phổ thông Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học
chuyên ngành quản lí giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường THPT Đình lập tỉnh Lạng sơn
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông Đình Lập,
tỉnh Lạng Sơn
Trang 113.2 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu Trưởng Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông Đình lập trong giai đoạn hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Nếu triển khai thực hiện các biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông Đình lập một cách khoa học, hệ thống và đồng bộ theo lý luận quản lí giáo dục hiện đạisẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện ở trường trung học phổ thông Đình Lập, tỉnh Lạng sơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận về Hiệu trưởng quản lí đội ngũ giáo viên chủ
nhiệm lớp ở trường THPT
5.2.Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác chủ nhiệm lớp và thực
trạng việc quản lý công tác chủ nhiệm của Hiệu trưởng tại trường Trung học phổ thông Đình lập tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay
5.3.Đề xuất các biện pháp Hiệu trưởng quản lý công tác chủ nhiệm ở trường trung
học phổ thông Đình Lập, tỉnh Lạng sơn
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu thực trạng Hoạt động quản lý công tác chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông Đình lập, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn
(2006 – 2010)
7 Các phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Áp dụng Luật giáo dục năm 2005, các văn kiện của Đảng, Nhà nước,
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng sơn, nghiên cứu sách báo tạp chí, tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Quan sát ,khảo sát thực tế
Trang 12+ Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
+ Phân tích các văn bản, báo cáo, các số liệu, tư liệu…
+ Tổng kết kinh nghiệm
7.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ
- Sử dụng thống kê ( bảng số liệu, biểu đồ )
- Sử dụng lí thuyết toán học và phần mềm tin học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu trưởng quản lý đội ngũ giáo viên chủ
nhiệm ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng công tác chủ nhiệm và công tác quản lý giáo viên
chủ nhiệm của hiệu trưởng tại trường Trung học phổ thông Đình lập, tỉnh Lạng
Sơn
Chương 3: Biện pháp của hiệu trưởng về quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm tại trường trung học phổ thông Đình Lập, Tỉnh Lạng Sơn
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU TRƯỞNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ
NHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Khi đề cập đến công tác chủ nhiệm đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu , tìm hiểu , phân tích mà có thể kể đến các công trình như sau: + Giáo dục học 2004 (chương XVI, Người GVCNL) của Phạm Viết Vượng + Phương Pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2004
Trong các tài liệu này đã cơ bản đề cập khá chi tiết về vị trí, vai trò,chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Trong quá trình học tập và nghiên cứu ở trình độ thạc sĩ, đã có một số tác giả nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT như : tác giả
Nguyễn Xuân Tuyên (2004) với đề tài "Biện pháp quản lý công tác giáo viên
chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay" Tác giả Ngô Thị Chuyên (2008) với đề tài “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông huyện Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh” Tác giả Trần Thị Phương Mai
(2009) “Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng
thương mại và du lịch Hà Nội”; Các luận văn này cũng đã đề cập đến vị trí,
vai trò,chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT… đưa ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT song mới chỉ dừng lại ở mức khái quát chung công tác quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng, chưa đi sâu phân tích vai trò và nhấn mạnh các biện pháp quản lý công tác GVCNL của người hiệu trưởng ở trường THPT Vấn đề
Trang 14quản lý công tác GVCNL trong trường THPT thường được hiệu trưởng các trường THPT quan tâm, song nó chỉ tồn tại ở dạng những kinh nghiệm trên báo cáo sơ kết, tổng kết năm học của các nhà trường
Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn còn thiếu những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác GVCNL ở trường THPT Đình lập tỉnh Lạng sơn một cách đầy đủ và hệ thống
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác GVCNL góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường THPT Đình lập đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện
nay
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa lại do sự khác biệt của thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, cách hiểu khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất và sự
mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên phong phú, đa dạng
Theo F.W.Taylor (1856-1915), “Quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công
việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [21, tr.327]
Tác giả H.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó
đảm bảo phối hợp những nỗ lự hoạt động cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [21, tr.327]
Trang 15Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [27, tr.350] Theo từ điển Tiếng Việt: thuật ngữ “Quản lý” được xác định là: “Trông
coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [41 tr 329]
Theo nghĩa Hán Việt: Quản lý = Quản + lý, là sự duy trì + sự đổi mới
Trong “Quản” (giữ) có “Lý” (chỉnh sửa) trong “Lý” (chỉnh sửa) có “Quản” (giữ), quản lý là quá trình có tính thống nhất biện chứng hai vấn đề “Quản” và
“Lý” Trong “Quản” phải có “Lý” thì toàn bộ hệ thống, tổ chức mới phát triển được, trong “Lý” phải có “Quản” thì sự phát triển đó mới ổn định bền vững
Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu
tố bên trong và bên ngoài.[2 tr 1]
Quản lý mang tính lịch sử- xã hội cao, các quan niệm, mô hình, tính chất phương thức quản lý chuyển đổi theo sự phát triển của đời sống xã hội
“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng tổ chức, sử
dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các danh mục trên đề ra một cách hiệu quả
nhất” [21 tr.328]
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Các tác giả cũng khẳng định, hiện
nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn là : “Quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [28, tr.1]
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau :
+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể
Trang 16quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
+Tác động của chủ thể phải có kế hoạch và có tính mục đích
+ Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội)
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình
Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người
bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo
ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội
Quản lý vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, quản lý được xem là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người, để đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ chức
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Khái niệm QLGD có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
P.V.khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD và ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đặc biệt
sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục của sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ
em” [21, tr.341]
Trang 17Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa
tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằmđẩy
mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội" [4, tr.10]
Tác giả Trần Kiểm khẳng định QLGD được phân chia thành hai cấp:
quản lý vĩ mô và quản lý vi mô Đối với cấp vĩ mô: "Quản lý giáo dục được
hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục" Đối với cấp vi mô: "Quản lý giáo dục được hiểu
là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường" [42, Tr.14]
Cũng như quản lý nói chung, QLGD là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QLGD lên đối tượng nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra Nhưng QLGD không đơn thuần là những tác động theo một hướng QLGD là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học, do đó những tác động của
nó lên hệ thống phải là những tác động kép Tác động lên hoạt động dạy, đồng thời chuyển hoá hoạt động dạy thành hoạt động học để đạt tới mục tiêu giáo dục, và chính trong quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó, nó sẽ phải điều hành, phối hợp tác động của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến hoạt động giáo dục và đào tạo
Các quan điểm trên tuy có sự diễn đạt khác nhau, nhưng đều toát lên bản chất của QLGD đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản
lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện
có hệ quả mục tiêu giáo dục đề ra
Trong đó:
Trang 181.2.1.3 Chức năng quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục có bốn chức năng cơ bản chung của quản lý là:
+ Chức năng kế hoạch hóa
+ Chức năng tổ chức
+ Chức năng chỉ đạo/lãnh đạo
+ Chức năng kiểm tra
Nội dung cụ thể của các chức năng đó như sau :
Chức năng kế hoạch hóa
Chức năng kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý giáo dục
+ Xác định và phân tích mục tiêu quản lý giáo dục Từ các căn cứ để thực hiện chức năng kế hoạch, các nhà quản lý xác định hệ thống mục tiêu cần thiết của từng cấp hoặc từng cơ sở giáo dục, đó là nhóm mục tiêu phát triển giáo dục ( cả số lượng và chất lượng ) và nhóm các mục tiêu điều kiện
để thực hiện mục tiêu giáo dục.Sau khi có được hệ thống các mục tiêu thì tiến hành phân tích mục tiêu sẽ giúp lựa chọn đúng đắn các mục tiêu có tính khả thi và từ có có chiến lược hành độn cụ thể
+ Dự báo đánh giá triển vọng, lựa chọn và phân công cán bộ, giáo viên, nhân viên vào các nhiệm vụ trên cơ sở tính toán kỹ càng đúng người, đúng việc, phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân để càng phát huy được tối đa năng lực của mọi người
Trang 19+ Xác định cơ chế quản lý bao gồm các chủ trương, chính sách đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường, khuyến khích động viên cán
bộ, giáo viên, nhân viên trong hoạt động giáo dục
+ Xây dựng và phát triển đội ngũ Đây là quá trình tổ chức tập hợp cán
bộ, giáo viên, nhân viên trong trường học hoặc trong một hệ thống và triển khai các hoạt động của các bộ phận đó Thực hiện nội dung này liên quan đến hai khâu cơ bản là quản lý nguồn nhân lực( quy hoạch, tuyển chọn và tuyển dụng, bồi dưỡng đội ngũ và quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên …) và quản
lý nguồn nhân sự ( hay quản lý các hoạt đọng cụ thể của đội ngũ )
+ Xác định cơ chế quản lý trong giáo dục nói chung và trong nhà trường nói riêng Cơ chế giáo dục hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm các thiết chế tổ chức và các chế độ quy phạm cho việc thực hiện quá trình quản lý các hoạt động giáo dục nhằm đạt tới mục tiêu Cơ chế quản lý giáo dục tập trung vào việc hình thành và giải quyết tốt các mối quan hệ trong quản lý nhà trường nhằm khai thác, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục
vụ cho việc đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường
+ Tổ chức lao động một cách khoa học, đó là việc nghiên cứu khoa học hiện trạng lao động của sư phạm trong nhà trường, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào việc đổi mớ phương pháp lao động nhằm tăng hiệu quả
tối ưu
Chức năng chỉ đạo/lãnh đạo:
Chỉ đạo, điều khiển, hướng dẫn, động viên, khuyến khích nhằm tác động đến các thành viên của các tổ chức trong nhà trường làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu giáo dục
Trang 20Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm các hoạt động giúp cho các nhà quản lý giáo dục thâu tóm được các hoạt động GD&ĐT của nhà trường qua mỗi thời kỳ Trên cơ sở đó các biện pháp chấn chỉnh kịp thời, mặt khác thấy được các điểm mạnh, tích cực để phát huy Tổng kết sư phạm phải dựa trên cơ sở của phân tích sư phạm, phải nêu được các kinh nghiệm, bài học cho các hoạt động sau Muốn làm được như vậy, nhà quản lý phải theo dõi sát
cả quá trình thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận
Các chức năng quản lý gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này ở các mức độ khác nhau Ngoài ra, trong mọi hoạt động QLGD, thông tin QLGD đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động quản lý giáo dục
1.2.1.4 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD Nhà trường chính là nơi diễn ra các quá trình giáo dục có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, là tổ chức giáo dục mang tính quyền lực nhà nước-xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục-đào tạo thế hệ trẻ thành những người có tri thức, sức khoẻ, nhân cách Giáo dục nhà trường giữ vai trò trọng yếu tạo ra sức lao động mới cho xã hội đặc biệt là đòi hỏi hàm lượng chất xám trong lao động ngày càng cao
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý nhà trường là quản lý một thiết
chế vừa có tính sư phạm, vừa có tính kinh tế Các vấn đề tổ chức-sư phạm và
kinh tế-xã hội lồng ghép vào nhau” [3, tr.40]
Nghĩa là cần phải đào tạo HS trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông hành đi vào đời: cơ bản giấy thông hành học vấn (người học
có tri thức cơ bản thích ứng với bước tiến của văn hoá chung Giấy thông hành kỹ thuật nghề nghiệp (có kỹ năng nghề phổ thông để tự lập được) Giấy thông hành kinh doanh (có tư duy kinh tế, có khả năng tham gia lao động, kinh doanh có hiệu quả)
Trang 21Quản lý theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả các hoạt động trong nhà trường như QLQTDH, giáo dục, tài chính, nhân lực, hành chính, môi trường giáo dục
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 2 loại quản lý: Một là: quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (các cấp quản lý nhà nước và sự hợp tác, giám sát của xã hội, cộng đồng)
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức năng quản lý của một tổ chức)
Mục tiêu quản lý của nhà trường thường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học là nhiệm vụ chức năng mà nhà trường sẽ thực hiện suốt trong năm học
Quản lý nhà trường phải bao quát mười vấn đề trong kế hoạch phát triển nhà trường Mười vấn đề đó là: Mục tiêu, nội dung phương pháp, thày-lực lượng, trò-đối tượng, hình thức, điều kiện, môi trường, bộ máy và quy chế
đào tạo [3, Tr.43]
Tác giả Trần Khánh Đức đã khái quát “Quản lý trường học là quản
lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của
Trang 22Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn) đối với trường trung học có cấp THPT, giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS)
* Đặc thù lao động sư phạm của giáo viên trung học phổ thông là:
- Lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao
- Đối tượng của lao động sư phạm là học sinh phần lớn từ 15 đến 17 tuổi
- Phương tiện lao động chủ yếu của giáo viên là phương tiện tinh thần
- Thời gian lao động trên lớp của giáo viên khó tách bạch khỏi thời gian lao động ngoài giờ lên lớp Bất cứ lúc nào, người giáo viên vẫn có thể nghĩ về công việc sư phạm của mình
- Mặt kinh tế của lao động sư phạm gắn chặt với mặt giáo dục
- Hiệu quả là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng thực
hiện mục tiêu đào tạo.[21 Tr.37]
1.2.2.2 Nhiệm vụ của giáo viên
Điều lệ trường Trung Học Cơ Sở, Trung Học Phổ Thông và Trung học có nhiều cấp học quy định nhiệm vụ của giáo viên như sau :
a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài; dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học
bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu
sự kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
Trang 23đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.[9, Tr.16 ]
1.2.2.3 Giáo viên chủ nhiệm
Trong nhà trường phổ thông, lớp học là một đơn vị hành chính cơ bản,
vì các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường chủ yếu diễn ra theo đơn
vị lớp học Xây dựng một tập thể lớp vững mạnh là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của nhà trường phổ thông Do tầm quan trọng của lớp học đối với sự hình thành nhân cách của học sinh, các trường phổ thông đều cử ra một giáo viên chủ nhiệm – Người chịu trách nhiệm quản lý và giáo dục, người điều khiển và phối hợp mọi hoạt động của các thành viên trong lớp cũng như
tổ chức các mối quan hệ giữa lớp học với nhà trường, gia đình và xã hội Nói cách khác:” giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện một lớp học” [32, Tr.179]
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người góp phần quyết định sự thành công hay thất bại trong công tác giáo dục của nhà trường nên những giáo viên có kinh nghiệm, có uy tín , được các em quý trọng mới được cử làm giáo viên chủ nhiệm lớp Giáo viên chủ nhiệm lớp là người có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý giáo dục nhà trường, là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp học, tập hợp đoàn kết học sinh trong tập thể lớp, là người thay mặt và đại diện cho quyền lợi chính đáng của tập thể học sinh, thay mặt học sinh giải quyết một số vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ hợp lí của các em,
là người phản ánh với hiệu trưởng, với giáo viên bộ môn, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường các nguyện vọng chính đáng của các em để các lực lượng giáo dục này có cách giải quyết phù hợp, người đại diện cho tập thể
Trang 24lớp họp bàn về quyền lợi và trách nhiệm của tập thể học sinh, đại diện cho lớp đề nghị khen thưởng hay kỉ luật học sinh thuộc lớp mình phụ trách, họ cũng có quyền biểu quyết trong hội đồng khen thưởng hay kỷ luật khi các hội đồng này giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến học sinh lớp mình đảm nhận
1.2.2.4 Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ của một giáo viên còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp
tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
b) Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ
hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng [ 9, Tr.16 ]
1.2.2.5 Quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm
Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và Trung học có nhiều cấp học quy định: Giáo viên chủ nhiệm ngoài các quyền hạn được quy định của giáo viên giảng dạy còn có những quyền sau đây:
a) Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình; b) Được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khi giải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình;
c) Được dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm; d) Được quyền cho phép cá nhân học sinh nghỉ học không quá 3 ngày;
đ) Được giảm giờ lên lớp hàng tuần theo quy định khi làm chủ nhiệm lớp [ 9, Tr.17 ]
Trang 251.2.2.6 Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
a/ Đội ngũ được hiểu là tập hợp một số người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức)
b/ Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp bao gồm các giáo viên được Hiệu trưởng phân công làm công tác chủ nhiệm lớp
Trong trường THPT, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thường được tổ chức thành tổ chủ nhiệm, dưới tổ chủ nhiệm là các khối chủ nhiệm như khối chủ nhiệm khối lớp 10, khối chủ nhiệm khối lớp 11,… hay khối chủ nhiệm khối lớp chuyên ban khoa học tự nhiên, chuyên ban khoa học xã hội…
1.2.2.7.Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
Khi bàn về việc nâng cao chất lượng giáo dục, các nhà khoa học đều rất quan tâm đến việc tìm kiếm các con đường, các biện pháp tác động đến quá trình dạy học ở trên lớp và hoạt động ở ngoài giờ lên lớp
- Vậy biện pháp là gì? Đó là: “Cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.[41, tr.161]
Từ cách hiểu về biện pháp như trên ta suy ra:
+ Biện pháp quản lý là cách quản lý, cách giải quyết những vấn đề liên quan đến quản lý
+ Biện pháp quản lý công tác GVCNL là cách làm, cách quản lý, cách giải quyết những vấn đề thuộc công tác GVCNL nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông
1.3 Trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ của trường trung học phổ thông
1.3.1.1 Vị trí của trường trung học phổ thông
Trường trung học phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
1.3.1.2 Nhiệm vụ của trường trung học phổ thông
Trang 26Giáo dục THPT trực tiếp góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, tiếp tục phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh, nên giáo dục THPT có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông nói chung, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đang trong thời đại của khoa học kỹ thuật công nghệ và thông tin thì việc giáo dục học sinh có đầy đủ những kiến thức khoa học, kỹ năng cơ bản, năng động sáng tạo sẵn sàng thích ứng nhanh được với
sự thay đổi của xã hội mà không làm mất đi truyền thống văn hoá dân tộc, không bị suy đồi về đạo đức, lối sống là vô cùng cần thiết Trên cơ sở, nền tảng những kiến thức, kỹ năng học sinh đã được học ở các lớp dưới, giáo dục THPT tiếp tục củng cố, phát triển kết quả của giáo dục THCS, hoàn thành tiếp học vấn phổ thông, cung cấp những hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp, phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh Giáo dục THPT
còn được coi như là giữ vai trò “bản lề” của cả một đời người
Mục tiêu giáo dục THPT được xác định rõ trong Luật Giáo Dục năm
2005 là “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo
dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [34, tr.21]
Việc thực hiện mục tiêu giáo dục THPT cần quan tâm đặc biệt đến các vấn đề :
+ Hình thành và củng cố các giá trị về tư tưởng, đạo đức, lối sống phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục phổ thông gồm tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống dân tộc, có lòng nhân ái, hiểu biết pháp luật, có văn hoá trong ứng xử giao tiếp
+ Củng cố và phát triển những nội dung đã học ở THCS, có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật và hướng nghiệp Có kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập mới vào thực tiễn sản xuất và đời sống
Trang 27+ Hiểu biết và có kỹ năng rèn luyện thân thể thường xuyên, có khả năng cảm thụ, đánh giá cái đẹp trong cuộc sống và văn học nghệ thuật, sống hoà hợp với thiên nhiên và XH
1.3.2 Vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông
Theo Luật Giáo Dục 2005 quy định: Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và công nhận Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân thì phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học [34, Tr.19]
1.3.3.1 Vai trò của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông
Hiệu trưởng là người cán bộ quản lý giáo dục Luật Giáo Dục 2005 quy định :
Người cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân.[34, Tr.5]
Như vậy, vai trò của hiệu trưởng là vô cùng quan trọng Hiệu trưởng
là con chim đầu đàn, là người đại diện chức trách hành chính, là người quản lý và lãnh đạo cộng đồng giáo dục, có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước nhà nước và nhân dân, tổ chức và quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng
1.3.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng
Điều lệ trường Trung Học Cơ Sở, Trung Học Phổ Thông và Trung học
có nhiều cấp học quy định nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng như sau :
a) Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường ;
b) Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 3 Điều 20 của Điều lệ này;
Trang 28c) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
d) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
đ) Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
e) Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;
g) Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
h) Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
i) Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;
k) Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật [9 Tr.9 ]
1.4 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm của hiệu trưởng trường trung học phổ thông
Sự phát triển của nhà trường, chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện của nhà trường phải kể đến sự đóng góp đáng kể của đội ngũ GVCN, vì đội ngũ GVCN là lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục, là đội ngũ trợ lý
Trang 29quan trọng, trực tiếp quản lý toàn diện các lớp học sinh; Báo cáo cho hiệu trưởng những thông tin cần thiết về học sinh, về tập thể lớp, về các hoạt động giáo dục theo định kỳ và đột xuất Hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ có kết quả cao khi hiệu trưởng biết huy động sự tham gia đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp của các bộ phận trong trường trong đó có đội ngũ GVCN
Việc quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng tập trung vào các nội dung sau:
1.4.1 Xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
Ngay từ đầu năm học, song song với việc lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học, căn cứ vào qui mô nhà trường: số học sinh, số lớp, số giáo viên hiện có ,căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành Hiệu trưởng trường THPT thực hiện công tác xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp Công việc này thường được thể hiện qua các nội dung như :
+ Phân loại và xếp lớp học sinh
+ Rà soát đội ngũ GVCN năm trước về số lượng, năng lực từ đó thực hiện điều chỉnh và bổ xung đội ngũ
+ Phân lớp chủ nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm Việc phân lớp thường ưu tiên cho giáo viên có giờ dạy trên lớp, ưu tiên môn có nhiều giờ, xét đến tính liên tục, cố gắng đảm bảo cho GVCN theo liên tục ba năm liền đối với một lớp Đối với lớp mũi nhọn của nhà trường bố trí GVCN là người có chuyên môn vững vàng, phải dạy môn được chú ý đầu tư ở lớp đó Đối với những lớp có
học sinh "cá biệt", có nhiều học sinh yếu thì bố trí GVCN cứng rắn, giàu
kinh nghiệm trong công tác giáo dục, có những phẩm chất như : nhiệt tình, chu đáo, tỉ mỉ…
1.4.2 Thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp
1.4.2.1 Xác định mục tiêu và giao chỉ tiêu giáo dục cho GVCN
Để giúp cho người GVCN có định hướng đúng đắn và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý học sinh của mình ở mỗi lớp, người cán bộ quản lý nhà
Trang 30trường phải đề ra mục tiêu chung cho công tác GVCN của toàn trường đối với từng năm học Động viên toàn trường hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học
1.4.2.2 Yêu cầu GVCN lập kế hoạch công tác chủ nhiệm
Hiệu trưởng hướng dẫn GVCN xây dựng nội dung công tác GVCN, coi trọng hình thức, nội dung sinh hoạt, hoạt động tự quản; xây dựng tập thể lớp, chi đoàn vững mạnh toàn diện…Những nội dung thi đua thật cụ thể, chi tiết cho từng hoạt động, cho từng thời kỳ, từng nội dung thi đua Hiệu trưởng cần xây dựng được những chỉ tiêu, tiêu chí, lượng hoá tối đa các nội dung cho cả năm học, cho từng kỳ, cho từng đợt thi đua phù hợp với đối tượng học sinh ở các khối lớp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá chính xác, công bằng
+ Có kế hoạch chung của nhà trường về các hoạt động ngoại khoá, lao động, văn nghệ, thể dục thể thao… để GVCN chủ động đề ra kế hoạch hoạt động của lớp mình
+ Tạo điều kiện cho GVCN được được rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ Những yêu cầu công việc của người quản lý đưa ra phải có tính thực tế và cái đích cuối cùng của mọi công việc là phải có tác dụng giáo
vì thế để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục học sinh thì rất cần thiết có
sự phối hợp giữa GVCN với nhà trường và các lực lượng giáo dục khác Để
sự phối hợp này ngày càng chuyên môn hóa,càng ăn khớp với nhau hơn thì rất cần thiết có những quy chế về hội họp, quy chế về sự phối hợp giữa đội ngũ GVCN với các lực lượng giáo dục khác Nếu thực hiện tốt điều này thì việc quản lý đội ngũ GVCN của hiệu trưởng cũng sẽ thuận lợi, sâu sát, chuyên nghiệp hơn
Trang 311.4.3 Chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm
Trong chỉ đạo, hiệu trưởng thu thập thông tin nhanh, chính xác để xử lý kịp thời Mặt khác phải nhanh nhạy phát hiện những chỗ mạnh, chỗ yếu của từng GVCNL trong công tác quản lý lớp để kịp thời uốn nắn, nhắc nhở, phát huy…
Công tác chỉ đạo đội ngũ GVCN của hiệu trưởng được thực hiện thông qua các hình thức sau :
1.4.3.1 Thông qua cuộc họp định kỳ
Trong các cuộc họp định kì như họp giao ban, họp hội đồng giáo dục,sơ kết học kì 1,tổng kết năm học.họp định kì tổ chủ nhiệm, hội nghị cha mẹ học sinh trên cơ sở kế hoạch thực hiện nhiệm vụ hàng tuần, hàng tháng, hàng kì
và cả năm học, dựa vào tình hình thực tế thực hiện nhiệm vụ của các GVCN
và của tổ chủ nhiệm Hiệu trưởng thường xuyên dành thời gian để kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ GVCN để từ đó thu thập thông tin
về việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ này đề từ đó có các biện pháp chỉ đạo
và sử lí tình huống nảy sinh như chỉ đạo công tác quản lí lớp, việc thu các khoản đóng góp, việc phát hiện và giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt
1.4.3.2 Thông qua các tổ chức giáo dục
Mỗi giáo viên chủ nhiệm thường cũng là các giáo viên bộ môn, vì thế
họ không chỉ sinh hoạt chuyên môn ở tổ chủ nhiệm mà còn tham gia sinh hoạt chính ở các tổ chuyên môn, Chi Đoàn giáo viên, Công Đoàn Hoạt động của các tổ chức này không chỉ chuyên sâu về chuyên môn của mình mà còn coi việc thực hiện nhiệm vụ GVCN làm một trong những tiêu chí đánh giá thi đua, đánh giá năng lực của các thành viên, vì thế hiệu trưởng thông qua việc chỉ đạo hoạt động của các tổ chức này để chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác của đội ngũ GVCN
Trang 321.4.3.3 Thông qua việc tổ chức các hoạt động, phong trào
Xuyên xuốt năm học thường xuyên phát động các phong trào thi đua theo phát động của ngành, thi đua lập thành tích chào mừng những ngày lễ lớn, các hoạt động ngoại khóa Để nâng cao được hiệu quả của phong trào này từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, hiệu trưởng bám sát phong trào để từ đó chỉ đạo sâu sát đội ngũ GVCN, kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai sót Có biện pháp giúp đỡ hỗ trợ các GVCN khi họ gặp khó khăn
1.4.3.4.Thông qua tổ chức trao đổi kinh nghiệm công tác chủ nhiệm lớp
Để nâng cao hiệu quả công tác của đội ngũ GVCN, giúp họ ngày càng
có nhiều kinh nghiệm hơn, càng chuyên nghiệp hơn trong công tác này thì hiệu trưởng tổ chức các cuộc họp trao đổi kinh nghiệm cho đội ngũ GVCN
Có thể tổ chức thông qua nhiều hình thức đa dạng như viết tham luận về công tác chủ nhiệm lớp,giao lưu học hỏi kinh nghiệm giữa các khối chủ nhiệm và
cả giao lưu với các đơn vị giáo dục khác
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp
Việc kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác GVCN của hiệu trưởng diễn
ra thường xuyên và không chỉ có tính định kì hàng tuần, hàng tháng mà còn thông qua hồ sơ, các loại sổ sách, báo cáo hàng tháng, học kỳ Và cả kiểm tra đột xuất.Việc kiểm tra này không chỉ nhằm đánh giá, xếp loại thi đua mà còn giúp hiệu trưởng nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót, khen thưởng kỉ luật một cách khách quan, thu thập được nhiều thông tin để kịp thời điều chỉnh các nội dung, các biện pháp quản lí cho phù hợp từ đó xây dựng ngày càng hợp lí các nội dung quản lí của hiệu trưởng về công tác chủ nhiệm lớp
1.4.5 Phối hợp các lực lượng trong công tác chủ nhiệm lớp
Hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp không phải là thành quả giáo dục riêng của mỗi cá nhân giáo viên chủ nhiệm lớp mà đó là kết quả của một tập thể các lực lượng giáo dục trong và cả ngoài nhà trường như : giáo viên bộ môn, đoàn thể, gia đình, xã hội
Trang 33Nhằm nâng cao được hiệu quả giáo dục toàn diện của đội ngũ GVCN, hiệu trưởng phải tranh thủ sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Thông qua các việc chỉ đạo hoạt động của các
tổ chuyên môn, thông qua quy chế phối kết hợp hoạt động của nhà trường với các tổ chức như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Công Đoàn, Hội Cha Mẹ học sinh, Chính quyền sở tại một trong những nội dung cần phối kết hợp thực hiện chính là mảng công tác chủ nhiệm lớp.Việc tranh thủ sức mạnh tập thể này không chỉ nâng tầm công tác chủ nhiệm lớp lên thành một công việc được chú trọng nhiều hơn, mà còn giúp đội ngũ GVCN hoàn thành công việc của mình thuận lợi hơn vì nhận được sự giúp đỡ chia sẻ của tất cả các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, giúp công tác quản lí đội ngũ của hiệu trưởng cũng nhẹ nhàng và hiệu quả hơn
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông
1.5.1 Năng lực đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi chưa hẳn đã phải là một giáo viên dạy giỏi mà phải là một giáo viên có kĩ năng quản lí ( Kỹ năng nắm vững học sinh
và tập thể học sinh một cách toàn diện; kỹ năng ứng sử, giao tiếp ; năng lực cảm hoá, thuyết phục, xây dựng uy tín; kỹ năng kế hoạch hoá công tác GVCN; kỹ năng tổ chức lãnh đạo mọi hoạt động tập thể; kỹ năng phối hợp với các lực lượng giáo dục học sinh ).Thực tế cho thấy không phải GVCN nào cũng đáp ứng được những phẩm chất này, hơn nữa công tác GVCN lại không được đào tạo một cách bài bản mà chủ yếu được đúc rút từ những kinh nghiệm thực tế Vì vậy yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả của công tác chủ nhiệm chính là năng lực của người giáo viên chủ nhiệm lớp
1.5.2 Chế độ lao động của giáo viên chủ nhiệm lớp
Nếu đánh giá về “ Lượng” thì công tác GVCN lớp có thể được coi là
công tác phụ của người giáo viên.Trong thực tế giáo dục của nước ta hiện nay, với những nơi còn rất thiếu giáo viên bộ môn thì những GV bộ môn phải
Trang 34giảng dạy vượt số giờ quy định rất nhiều mà lại phải kiêm nhiệm công tác chủ nhiệm lớp thì dù có muốn thì họ cũng thật khó có thời gian đầu tư để nâng cao hiệu quả của công tác này
1.5.3 Sự kết hợp giữa đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp và các lực lượng giáo dục khác
1.5.3.1 Kết hợp với giáo viên bộ môn
Hiệu quả giáo dục của một lớp học phụ thuộc một phần quan trọng vào hoạt động và phẩm chất của giáo viên chủ nhiệm lớp và các giáo viên bộ môn khác Vì vậy giáo viên chủ nhiệm lớp phải là hạt nhân của sự kết hợp với các giáo viên bộ môn khác cùng thực hiện tác động sư phạm đồng bộ tới tập thể học sinh Giáo viên chủ nhiệm thông qua giáo viên bộ môn để nắm vững hơn thông tin về tập thể lớp mình chủ nhiệm, kết hợp với giáo viên bộ môn để theo dõi và giáo dục toàn diện cho học sinh, đồng thời giáo viên chủ nhiệm cũng giúp giáo viên bộ môn có thêm thông tin về những học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong học tập và rèn luyện cùng thống nhất với nhau phương pháp bồi dưỡng giúp đỡ học sinh để cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Trên cơ sở sự kết hợp cùng thực hiện công tác của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, Hiệu trưởng cần có kế hoạch và biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác phối kết hợp của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn
1.5.3.2 Kết hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Thực tế cho thấy giáo viên chủ nhiệm lớp nào quan tâm đến công tác của
chi đoàn và thường xuyên kết hợp với tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh để tổ chức các hoạt động giáo dục của lớp thì hiệu quả giáo dục được nhân lên gấp bội và ngược lại, nếu giáo viên chủ nhiệm nào thiếu quan tâm đến công tác của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn giữa chi đoàn với giáo viên ảnh hưởng lớn đến kết quả giáo dục
1.5.3.3 Phối hợp với cha mẹ học sinh
Gia đình là môi trường giáo dục – lực lượng giáo dục đầu tiên, ảnh hưởng một cách sâu sắc đến học sinh GVCNL phải là người thay mặt nhà
Trang 35trường thực hiện mối liên kết giữa nhà trường và gia đình GVCN phải giúp cha mẹ học sinh hiểu rõ chủ trương, kế hoạch giáo dục của nhà trường và mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của lớp trong năm học GVCN thống nhất với gia đình về yêu cầu , nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục
1.5.4 Điều kiện tự nhiên xã hội, địa bàn, dân cư, yêu cầu về chất lượng giáo dục toàn diện trong thời đại hiện nay
Trong điều kiện hiện đại, xã hội ngày càng phức tạp, quan hệ xã hội càng phong phú, học sinh tiếp cận thông tin bằng nhiều nguồn khác nhau, rất
dễ bị lôi kéo, kích động, dễ bị nhiễm tư tưởng bàng quan, thói quen hưởng thụ, lười lao động; nhiều tệ nạn xã hội tác động, xâm nhập vào nhà trường như : văn hoá phẩm đồi truỵ, ma tuý, cờ bạc, chia bè phái gây gổ đánh nhau, nghiện trò chơi điện tử…Vì thế không ít học sinh ngoan đã trở thành học sinh
cá biệt Điều này lại càng làm cho công việc chủ nhiệm lớp của GVCN đã vốn
đã nhiều việc nay lại càng phức tạp hơn
Cũng trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, do ảnh hưởng của cơ chế thị trường thì không ít các bậc phụ huynh chỉ quan tâm đến việc làm kinh
tế, họ gần như phó mặc cho nhà trường việc giáo dục con cái, vì thế người GVCNL đôi khi còn phải làm cả những công việc thay cho cha mẹ học sinh như tư vấn nghề nghiệp, tư vấn về quan hệ gia đình, lứa đôi…
Các yếu tố như địa bàn, dân cư cũng ảnh hưởng không ít đến công tác chủ nhiệm với những trường THPT có học sinh ở xa đến học thì việc liên lạc giữa GVCN và gia đình thường khó khăn và ít thường xuyên Đặc biệt, với các trường THPT đóng trên địa bàn vùng cao miền núi Trình độ dân trí còn thấp, thì công tác giáo dục toàn diện học sinh bị ảnh hưởng bởi nhiều hủ tục văn hóa lạc hậu, GVCNL càng thiếu sự phối kết hợp giáo dục của gia đình
Tiểu kết chương 1
Không thể phủ nhận vai trò của GVCN ở trường THPT nếu như xác định đúng vị trí, nhiệm vụ của người GVCN Trong xã hội phát triển khá phức tạp hiện nay, với yêu cầu giáo dục ngày càng cao, sản phẩm giáo dục
Trang 36ngày càng cần hoàn thiện thì công tác GVCN ngày càng được coi trọng và cần phải được quan tâm đúng mức
Nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp cho đội ngũ GVCN là yêu cầu thiết thực, cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục Để thực hiện nhiệm vụ này, vai trò quản lí , tổ chức, chỉ đạo của người hiệu trưởng vô cùng quan trọng Hiệu trưởng trường THPT cần nắm vững các nhiệm vụ, mục tiêu, chức năng quản lí của nhà trường đồng thời nắm vững chức năng quản lí chuyên môn để từ đó vận dụng một cách linh hoạt, hợp lí, sáng tạo vào công việc quản lí của mình nhằm tổ chức các hoạt động của nhà trường một cách khoa học, huy động được đội ngũ giáo viên nhiệt tình, trách nhiệm, đem hết năng lực phục vụ công tác giáo dục góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu giáo dục đã đề ra của nhà trường, của Ngành Giáo Dục
Đây là những vấn đề người nghiên cứu cần nắm vững để tìm hiểu thực trạng tình hình quản lí công tác giáo viên chủ nhiệm ở một số trường phổ thông để từ đó có cơ sở đề xuất một số biện pháp cần thiết quản lí công tác GVCN ở trường THPT nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TẠI TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Vài nét về lịch sử giáo dục lạng sơn và nhà trường
2.1.1 Khái quát về tỉnh Lạng Sơn và Giáo dục - Đào tạo tỉnh Lạng Sơn
2.1.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn
Vị trí địa lý
Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, có 10 huyện và 01 thành phố
Về điều kiện tự nhiên: Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Lạng Sơn có vị trí địa lý tương đối thuận lợi: Có 1
số trục đường giao thông (đường bộ, đường sắt) quan trọng của quốc gia chạy qua Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa phong phú, Lạng Sơn còn là tỉnh miền núi có Khu kinh tế cửa khẩu là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm, là khu vực phát triển năng động nhất, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, là trọng tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Dân số và lao động
Dân số tỉnh Lạng Sơn có khoảng 732.515 người (điều tra dân số 01/04/2009), với nhiều dân tộc anh em, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 42,97%, Tày chiếm 35,92%, Số người trong độ tuổi lao động là 492.151 người (nữ 250.150 người)…Nhìn chung các cộng đồng dân cư sống đoàn kết,
có các giá trị văn hóa của dân tộc; có truyền thống yêu nước, cách mạng
Dân cư trên địa bàn tỉnh phân bố không đồng đều; dân số khu vực thành thị chiếm 19,73%, nông thôn chiếm 80,27%
Lao động trong các lĩnh vực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn chủ yếu tập trung vào các hoạt động: Dịch vụ, thương mại; Nông lâm nghiệp và công nghiệp - xây dựng Hằng năm có khoảng trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt 32%; trung bình hằng năm có khoảng 1 đến 1,2 vạn lao động được giải quyết việc làm
Trang 38Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội
Về Công nghiệp - Xây dựng
Lạng Sơn đang hình thành những khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung tại thành phố Lạng Sơn, huyện Chi Lăng có thể phát triển một số lĩnh vực như: Chế biến nông sản - lâm sản - thực phẩm; cơ khí; hóa chất; sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản; phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống
Về Nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp hàng hóa, hình thành những vùng chuyên canh tập trung như: Vùng cây ăn quả ở các huyện Chi Lăng, Bắc Sơn, Lộc Bình…; vùng cây nguyên liệu thuốc lá ở các huyện Bắc Sơn, Hữu Lũng, Chi Lăng Vùng lúa tập trung ở các huyện Tràng Định, Hữu Lũng, Lộc Bình, Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng, Văn Lãng
Về Thương mại, dịch vụ
Hình thành những khu thương mại tập trung tại thành phố Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng, Tân Thanh - Văn Lãng Các địa chỉ du lịch nổi tiếng như: Mẫu Sơn, Tam Thanh, Nhị Thanh, Tô Thị, khu di tích lịch sử Chi Lăng, Bắc Sơn, thành nhà Mạc
Tóm lại: Với đặc điểm địa hình và vị trí địa lý tương đối thuận lợi; tiềm
năng lao động của tỉnh khá dồi dào; lực lượng lao động có cơ cấu độ tuổi trẻ; tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (32%), thiếu lao động có tay nghề, giáo dục và đào tạo Lạng Sơn đứng trước những thời cơ và thách thức lớn, phải đi trước một bước nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cũng như đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người Vì vậy cần thiết quy hoạch phát triển giáo dục của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 một cách đồng bộ, đáp ứng mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh và bền vững của tỉnh
Trang 392.1.1.2 Về Giáo dục và Đào tạo của tỉnh lạng sơn
* Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
Năm học 2010 - 2011, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn
có 17291 cán bộ, giáo viên, nhân viên các cấp học Theo quy định hiện hành của Luật giáo dục, đội ngũ cán bộ, giáo viên các cấp học trên địa bàn tỉnh hầu hết đạt chuẩn trình độ đào tạo; số giáo viên trên chuẩn có trình độ cao Tuy nhiên chất lượng đội ngũ chưa tương xứng với trình độ đào tạo
b) Giáo dục trung học phổ thông
* Quy mô trường, lớp, học sinh
Năm học 2010 - 2011 toàn tỉnh có 25 trường (02 ngoài công lập) với 648 lớp,
26558 học sinh; tỷ lệ 39,31 học sinh/lớp, hệ ngoài công lập có 17 lớp với 693 (2,73%) học sinh; có 36 lớp với 1224 học sinh học 2 buổi/ngày (chủ yếu là trường chuyên Chu Văn An và trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh)
* Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Năm học 2010 - 2011 có 80 cán bộ quản lý (tăng 52 so với năm 2001); 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó có 13 thạc sỹ (16,45%); 92% được bồi dưỡng về kiến thức quản lý trường học, trong đó có 46,25% được bồi dưỡng tập trung theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; 15%
có trình độ cao cấp lý luận chính trị Năm học 2010 - 2011, toàn tỉnh có 1470 giáo viên (tăng 975 so với năm 2001); 99,86% đạt chuẩn trình độ đào tạo,
Trang 40trong đó 1,7% trên chuẩn Số giáo viên cấp trung học phổ thông cơ bản đã đủ
số lượng (tỷ lệ giáo viên/lớp là 2,17), số giáo viên thiếu chủ yếu là bộ môn Vật Lý, Hóa học
Chất lượng đội ngũ giáo viên tiếp tục được nâng cao và bổ sung, nhiều giáo viên được cử đi ôn và dự thi đào tạo thạc sĩ
* Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục cấp trung học phổ thông đã có nhiều chuyển biến tích cực; huy động 80% học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT; 87,5% học sinh lên lớp thẳng; trên 90% học sinh tốt nghiệp THPT, trong đó có trên 6% loại khá, giỏi Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT Lạng Sơn thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng (năm 2010 có trên 25% học sinh tốt nghiệp THPT trúng tuyển vào Đại học, Cao đẳng)
Tuy nhiên chất lượng giáo dục chung của tỉnh còn nhiều hạn chế, yếu kém, tỷ lệ học sinh khá, giỏi còn chưa cao và còn nhiều học sinh yếu, thậm chí còn có học sinh học lực kém; năm học 2009 - 2010 chỉ có 25,84% học sinh có học lực khá, giỏi, trong đó học lực giỏi chỉ có 1,38%
Bảng 2.1 Kết quả đánh giá xếp loại hạnh kiểm và học lực cuối năm học
2009 - 2010 cấp THPT của tỉnh Lạng Sơn so với 15 tỉnh miền núi phía bắc
và so với cả nước
Xếp loại hạnh kiểm và học
lực
Toàn quốc (%)
Khu vực miền núi phía bắc (%)