Điều này dẫn đến việc hiểu về quyền tự chủ của các cơ sở GDĐG ở nước ta có thể chưa toàn diện, thiếu tính hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự” [19], Luật Giáo dục năm 2005 được ban hành đã đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn “"Khung pháp lý về tự chủ đại học ở Việt
Nam – Qua thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội" là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Vì vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thúy Hà
Trang 4i
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHUNG PHÁP LÝ VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 12
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tự chủ đại học 12
1.1.1 Khái niệm tự chủ đại học 12
1.1.2 Khái niệm quyền tự chủ đại học 14
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế tự chủ của các trường Đại học ở Việt Nam 15
1.1.4 Nội dung của tự chủ đại học 15
1.2 Yêu cầu, nhu cầu và các điều kiện, bối cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay 18
1.2.1 Yêu cầu và nhu cầu phát triển tự chủ đại học ở Việt Nam 18
1.2.2 Điều kiện, bối cảnh ảnh hưởng, tác động lên sự phát triển của tự chủ đại học ở Việt Nam 20
1.3 Khái niêm, đặc điểm của khung pháp luật về tự chủ đại học ở Việt Nam 24
1.3.1 Khái niệm khung pháp luật về tự chủ đại học 24
1.3.2 Nội dung của khung pháp luật về tự chủ đại học 25
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về tự chủ đại học và xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật về tự chủ đại học 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHUNG PHÁP LUẬT VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 35
2.1 ĐHQGHN trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và định hướng phát triển trong bối cảnh tự chủ đại học 35
2.2 Thực trạng khung pháp luật hiện hành về tự chủ đại học ở Việt Nam 39
2.2.1 Đặc điểm khung pháp luật về tự chủ đại học ở Việt Nam 39
Trang 5ii
2.2.2 Về ưu điểm 42
2.2.3 Nhóm các văn bản pháp luật về tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập 48
2.2.4 Nhóm các quy định pháp luật về tự chủ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 49
2.3 Khung pháp luật và thực trạng thực hiện tự chủ đại học ở ĐHQGHN 52
2.3.1 Các quy định ở ĐHQGHN liên quan đến tự chủ đại học 52
2.3.2 Tự chủ đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM VÀ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 72
3.1 Quan điểm về tự chủ đại học và tự chủ đại học trong điều kiện ĐHQGHN 72
3.2 Những đề xuất hoàn thiện khung pháp luật về tự chủ đại học ở Việt Nam nói chung 74
3.3 Đề xuất hoàn thiện khung pháp luật về tự chủ đại học của ĐHQGHN 78
3.3.1 Về sứ mệnh 78
3.3.2 Về cấu trúc 79
3.3.3 Tính hệ thống hoạt động của mô hình 80
3.3.4 Quan điểm đề xuất 85
3.3.5 Một số đề xuất cụ thể 85
KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6CNTT : Công nghệ thông tin
CTĐT : Chương trình đào tạo
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDĐH : Giáo dục đại học
ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQG : Đại học Quốc gia
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
TCĐH là yếu tố cơ bản trong quản trị đại học, tạo ra sự linh hoạt, năng động của các cơ sở GDĐH trong quá trình sáng tạo ra tri thức, dẫn dắt xã hội phát triển Đồng thời, TCĐH còn làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo đại học Thế nhưng, có thể nói ở Việt Nam trong nhiều năm qua, mô hình
về quyền tự chủ hay một cái nhìn mang tính hệ thống và quy chuẩn về quyền
tự chủ của các cơ sở GDĐG ở nước ta chưa có Điều này dẫn đến việc hiểu về quyền tự chủ của các cơ sở GDĐG ở nước ta có thể chưa toàn diện, thiếu tính
hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự” [19], Luật Giáo dục năm 2005 được ban hành
đã đề cập đến “Việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục (Điều 14)” [5] và Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính Phủ ban hành “Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020” [10], nâng cao
tầm quan trọng của việc hoàn thiện chính sách phát triển GDĐH theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ GDĐH, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với GDĐH, theo đó đổi mới cơ chế quản lý cần chuyển các cơ sở GDĐH ở nước ta sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính; xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở
Trang 82
GDĐH Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI,
ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT: “ iao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo phát huy vai trò của Hội đồng trường” [1] và Luật GDĐH năm 2012 và năm 2018 đã
qui định giao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH
Có thể nói GDĐH nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh những thành quả đạt được, GDĐH Việt Nam đang đứng trước thách thức rất to lớn: Cơ chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học thay đổi chậm, mang tính cứng nhắc, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, nhà quản lý và sinh viên Số lượng giáo viên còn thiếu ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, chất lượng nguồn nhân lực đang còn yếu kém Sự mở rộng qui mô đào tạo ở các trường đại học Việt Nam chưa theo một định hướng chung, chưa thống nhất giữa các trường nên khó có thể kiểm soát được chất lượng giáo dục, và dẫn đến tình trạng yếu kém về chất lượng
Việc xây dựng mô hình TCĐH phù hợp với GDĐH Việt Nam còn chưa
đủ căn cứ khoa học và thực tiễn Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu về TCĐH ở Việt Nam mới chỉ dừng ở các khía cạnh cụ thể của TCĐH, hoặc những gợi ý hết sức vĩ mô, chưa rõ ràng để cơ quan ban hành chính sách có thể sử dụng làm các căn cứ xây dựng văn bản, chính sách cụ thể cho các cơ sở GDĐH có thể thực hiện TCĐH và trách nhiệm giải trình một cách toàn diện Khung pháp lý hiện nay cho TCĐH đã và đang được xây dựng và thực hiện,
Trang 93
song việc thực hiện chưa hiệu quả, do chưa đồng bộ, còn thiếu, chưa thống nhất trong một văn bản về tự chủ của cơ sở GDĐH; hoặc chưa thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành dẫn đến lúng túng và
dễ sai phạm trong việc triển khai tự chủ tại các cơ sở GDĐH: chưa có quy định cụ thể về các điều kiện, nguyên tắc chung và mức độ tự chủ giao cho các
cơ sở GDĐH; chưa có hướng dẫn cụ thể về cách tiếp cận, bản chất của TCĐH, mức độ và điều kiện thực hiện tự chủ, dẫn đến nhận thức của các cơ
sở GDĐH về tự chủ còn khác nhau và có sự khác nhau giữa cơ sở GDĐH và các cơ quan quản lý về quan điểm, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện; chưa có hướng dẫn về tự chủ đối với các cơ sở GDĐH công lập không có cơ quan chủ quản, dẫn đến khó khăn trong việc việc hoàn thiện các điều kiện và năng lực tự chủ của một số trường đại học thuộc diện này
Tuy đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, hết sức chú trọng và
đã cố gắng tạo ra hành lang pháp lý cho quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH, nhưng các quyền tự chủ đó vẫn chưa thật sự phát huy hết tác dụng vì tính chất chưa triệt để và sự thiếu nhất quán, đồng bộ trong các chủ trương chính sách của Nhà nước Các cơ sở GDĐH dường như vẫn hết sức mong muốn được tăng cường quyền tự chủ, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý tài chính, bộ máy, nhân sự, tuyển sinh, CSVC… Cơ chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học một mặt còn tập trung, chưa có quy chế phối hợp với các Bộ, Ngành, chưa phân cấp cho chính quyền địa phương, chưa tạo đủ điều kiện để các cơ sở đào tạo thực hiện quyền và trách nhiệm tự chủ, mặt khác không đủ khả năng đánh giá thực chất hoạt động và sự chấp hành luật pháp của tất cả các trường đại học
ĐHQG là một trong những mô hình TCĐH được thiết lập đầu tiên ở Việt Nam, có địa vị pháp lý đặc biệt, không có cơ quan chủ quản, chỉ chịu sự quản lý nhà nước của các Bộ, ngành liên quan Sau 25 năm thành lập và hoạt
Trang 104
động, đã có ba lần chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện Nghị định và Quy chế về ĐHQG, qua đó, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã từng bước trao quyền
tự chủ toàn diện cho hai ĐHQG
Thực hiện quyền tự chủ được giao, ĐHQGHN đã thực hiện phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trong các lĩnh vực hoạt động cho các đơn vị thành viên và trực thuộc, thúc đẩy sự liên thông, liên kết toàn diện giữa các đơn vị, sử dụng hiệu quả các nguồn lực dùng chung, tạo giá trị gia tăng để nâng cao chất lượng, hiệu quả mọi hoạt động Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng thực tiễn triển khai nhiệm vụ cho thấy còn nhiều những khó khăn, hạn chế cần phải được tháo gỡ
để hoàn thành được sứ mệnh tiên phong trong thực hiện chiến lược quốc gia
Thực tiễn hoạt động và yêu cầu về đổi mới giáo dục đang đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với mô hình ĐHQG hiện nay, đó là: sự suy giảm của NSNN cấp cho các ĐHCL; sự cạnh tranh gay gắt của các trường đại học trong nước; xu thế quốc tế hóa, liên thông, liên kết mạnh mẽ Những thách thức ngay chính trong nội tại của mô hình ĐHQGHN cũng đã bộc lộ rõ, như sự mâu thuẫn giữa tính tự chủ của các đơn vị thành viên với tính hệ thống và sự kết nối, chia sẻ các giá trị của mô hình ĐHQG; sự khó khăn của ĐHQGHN trong dẫn dắt, định hướng và kết nối các đơn vị thành viên và cả hệ thống; sự khó khăn trong công tác tuyển sinh và việc làm đối với các ngành khoa học cơ bản
Vì vậy, cần thiết phải có nghiên cứu đánh giá tổng thể thực trạng TCĐH trong hệ thống GDĐH Việt Nam hiện, đánh giá hiệu quả của các cơ chế chính sách đổi mới quản trị đại học và TCĐH Đây sẽ là những căn cứ thực tiễn quan trọng cho việc đề xuất chính sách thực hiện TCĐH, giải pháp, kiến nghị tăng quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và xây dựng mô hình tự chủ, trách nhiệm giải trình phù hợp cho cơ sở GDĐH ở Việt Nam và ĐHQGHN trong giai đoạn mới và hướng tới tầm nhìn mới
Trang 115
Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài cho Luận văn của mình là:
"Khung pháp lý về tự chủ đại học ở Việt Nam – Qua thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội" nhằm đánh giá những bất cập của khung pháp lý về
TCĐH và khuyến nghị một số nội dung cần điều chỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả quy định pháp luật về TCĐH ở Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam quyền TCĐH đã được thừa nhận hơn 10 năm nay nhưng chưa tạo ra được chuyển biến đáng kể, một phần là do các trường chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng, một phần cũng là do cơ chế, chính sách chưa đồng nhất, thiếu tính ổn định Vì vậy việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật tạo một khung pháp lý về TCĐH là hết sức cần thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế Trong những năm vừa qua có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viêt về vấn đề này, tuy nhiên, mỗi công trình, mỗi bài viết lại đề cập đến một góc độ khác nhau và đều có ý nghĩa đóng góp vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khung pháp lý về TCĐH ở Việt Nam nói chung và ĐHQGHN nói riêng
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
TCĐH, Nhà nước và những thay đổi xã hội ở Trung Quốc, (Su-Yan Pan
Hong Kong University Press, 2009) Người dịch: Phạm Thị Ly Thông tin Giáo dục quốc tế và so sánh của Đại học Hoa Sen, số 2-2010 Tài liệu này trình bày khá chi tiết, sâu sắc về lược sử về quyền tự chủ, các mô hình TCĐH trên thế giới Tài liệu cũng đề cập đến TCĐH, một khái niệm, một hướng đi bắt đầu được quan tâm
và thừ nhận ở Trung Quốc – một quốc gia với sự kiểm soát hệ thống giáo dục từ
cơ quan có thẩm quyền cao nhất: Bộ Giáo dục
University Autonomy in Twenty Countries, (Don Anderson Richard
Johnson, Centre for Continuing Education The Australian National
Trang 126
University, April 1998) Báo cáo này nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà nước và các cơ sở GDĐH ở 20 quốc gia trên thế giới Báo cáo đánh giá xem mức độ can thiệp pháp lý của nhà nước đến các trường như thế nào Báo cáo cũng phân tích về quyền tự chủ của 3 nhóm nước có truyền thống tự chủ khác nhau: nhóm Anh – Mỹ, nhóm Châu Âu và nhóm các nước châu Á
Four models of growth, International Higher Education (Hauptman,
A.M, 2007) Báo cáo này nghiên cứu và trình bày bốn kịch bản cho sự phát triển của GDĐH trên thế giới dựa vào sự phụ thuộc về tài chính của các cơ sở GDĐH vào nhà nước
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, (GS.TSKH Bành Tiến Long,
2005), tác giả đã khái quát cụ thể yêu cầu của việc đổi mới GDĐH Việt Nam trên cơ sở phân tích những hạn chế, bất cập trong GDĐH, trong đó tập trung vào công tác đào tạo, HTQT, NCKH dưới góc độ của một nhà khoa học giáo dục, nhà quản lý giáo dục
Kỷ yếu, Hội thảo quốc gia “Tự chủ đại học và trách nhiệm xã hội của cơ
sở giáo dục đại học”, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam, 2016,
bao gồm 56 bài viết của các tác giả trong nước Các bài viết đã tập trung phân tích làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện TCĐH tại Việt Nam, đề ra một số giải pháp hoàn thiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH
Tự chủ đại học-Thực trạng và giải pháp của tác giả Nguyễn Minh
Thuyết tại Diễn đàn thường niên Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách GDĐH ở Việt Nam, diễn ra tại TP Hồ Chí Minh vào ngày
30 tháng 7 và 01 tháng 8 năm 2014 Tác giả khẳng định chính những bất cập xét từ hạn chế của pháp luật và thiếu năng lực và sự sẵn sàng của các cơ sở
chính là yếu tố ảnh hưởng quan trọng Xét về mặt hạn chế của pháp luật, các
yếu tố cụ thể gồm: có thể các nhà lập pháp chưa hiểu hết chiều sâu của những
Trang 13Tự chủ đại học phải gắn chặt với cơ chế giải trình của Chủ tịch Quốc
hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Dân trí ngày 04/9/2018 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân có buổi làm việc với ĐHQGTPHCM với chủ đề “Vai trò của trường đại học đối với việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa trong tình hình mới” Tại buổi nói chuyện, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân khẳng định, với chủ trương xây dựng hai ĐHQG, Nhà nước đã một lần nữa xác nhận vai trò, vị trí rất quan trọng của giáo dục với sự phát triển của đất nước, khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Bên cạnh đó, người đứng đầu Quốc hội cũng cho rằng, TCĐH là một đặc tính và yêu cầu tất yếu của một trường đại học trên cả 3 lĩnh vực chính là: hoạt động chuyên môn, khoa học; tổ chức nhân sự, bộ máy và hoạt động tài chính của đơn vị Tự chủ là yêu cầu của quản trị của một cơ sở giáo dục và cần có một hành lang pháp lý, quản lý nhà nước phù hợp với chính cơ sở đó Đồng thời, Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh vấn đề cốt yếu nhất mà Nhà nước đóng vai trò quyết định chính là tạo ra một cơ chế quản trị, tôn trọng tính tự chủ của các cơ sở GDĐH, hình thành một không gian đủ rộng cho các sáng kiến được thực hiện
Đảm bảo thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, của tác giả Lê Đức Ngọc, Phạm Hương Thảo, Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 32, Số 3 (2016) Bài viết sau khi làm rõ cơ sở lí luận về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GDĐH trong kinh tế thị trường Bài viết phân biệt rõ sự khác nhau giữa quản lí tự chủ và quản lí
Trang 148
không tự chủ dưới góc độ đặc điểm và nguyên tắc quản lí và quản lí tự chủ đa cấp độ; giới thiệu báo chí đánh giá mức độ đảm bảo quyền tự chủ - tự do học thuật của 23 nước Châu Âu và đề xuất 5 định hướng cần triển khai để thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho hệ thống GDĐH ở Việt Nam
Tự chủ đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục, của tác giả Phạm Thị
Thanh Hải (chủ biên), Trần Thị Hoài, Nguyễn Kiều Oanh, Đỗ Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Huệ, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản ĐHQGHN (2018) Cuốn sách giới thiệu những vẫn đề chung liên quan đến TCĐH trong bối cảnh đổi mới giáo dục, trong đó tập trung đi sâu nghiên cứu vấn đề TCĐH ở ĐHQGHN Tác giả nghiên cứu thực trạng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở ĐHQGHN, đồng thời chỉ
ra các rào cản, các điều kiện thực hiện hiệu quả cơ chế và nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở ĐHQGHN đề xuất, kiến nghị về TCĐH
2.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề lý luận
và thực tiễn ở các nhóm như sau:
Thứ nhất, chính sách hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, cải cách
hệ thống thi cử, đào tạo, cấp phát văn bằng của GDĐH, chính sách nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp quản lý GDĐH, chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục
Thứ hai, các công trình tập trung vào phân tích những vấn đề lý luận về
quyền TCĐH như triết lý giáo dục, khái niệm, bản chất, vai trò và các điều kiện thực hiện quyền TCĐH
Thứ ba, nhóm các công trình tập trung phân tích các nội dung về quản
lý nhà nước và quản trị trường đại học trong điều kiện thực hiện quyền tự chủ
Thứ tư, nhóm các công trình tập trung phân tích các nội dung cụ thể của
quyền TCĐH như quyền tự chủ về học thuật, quyền tự chủ về tài chính và quyền tự chủ về tổ chức, nhân sự
Trang 159
Thứ năm, nhóm các công trình tập trung phân tích về hệ thống GDĐH
trong bối cảnh thực hiện quyền tự chủ hiện nay
Tuy nhiên hiện vẫn chƣa chƣa có công trình nghiên cứu nào một cách toàn diện, có hệ thống về khung pháp lý về TCĐH ở Việt Nam – qua thực tiễn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận của TCĐH và những vấn đề lý luận về khung pháp lý về TCĐH ở Việt Nam hiện nay;
- Tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia trong xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về TCĐH để từ đó có những khuyến nghị cho Việt Nam;
- Nghiên cứu thực trạng khung pháp luật về TCĐH ở Việt Nam hiện nay và trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề pháp lý đặt ra;
- Nghiên cứu thực trạng xây dựng và vận hành theo các quy định của pháp luật về TCĐH ở ĐHQGHN và làm rõ những vấn đề đặt ra;
- Đề xuất một số khuyến nghị khoa học góp phần hoàn thiện khung pháp luật về TCĐH ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là ở ĐHQGHN;
- Khái niệm TCĐH; Nội hàm của TCĐH; Các yêu cầu về TCĐH
- Khái niệm Khung pháp lý về TCĐH; Nội hàm của khung pháp lý về TCĐH; Các yêu cầu cơ bản để có khung pháp lý hoàn thiện
Trang 1610
- Phân tích, tìm hiểu mô hình TCĐH phổ biến trên thế giới; làm rõ sự cần thiết phải phát triển TCĐH ở Việt Nam; lý do khung pháp lý về TCĐH cần được hoàn thiện ở Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống các quy định của pháp luật, chính sách pháp hiện hành điều
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến GDĐH và TCĐH ở Việt Nam;
- Các đặc thù của ĐHQGHN và thực tiễn thi hành pháp luật về TCĐH
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích để phân tích các nội dung cơ bản của tài liệu, các văn bản pháp luật hành chính có liên quan, các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí, chính sách Nhà nước, chiến lược giáo dục cũng như luận
Trang 17- Phương pháp tổng hợp và thống kê được kết hợp hài hoà nhằm mục đích tổng hợp các kết quả thu thập được từ thực tiễn qua các số liệu, báo cáo công tác năm của các trường đại học và xử lý một cách hợp lý, có hiệu quả các số liệu thực tiễn để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp lịch sử dùng để tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển và quá trình chuyển biến việc thực hiện quyền tự chủ đại học của cơ sở GDĐH ở Việt Nam
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia, được sử dụng để tham khảo xin ý kiến của một số chuyên gia Luật, Nhà quản lý giáo dục các trường đại học có kinh nghiệm nhằm đưa ra giải pháp có tính khả về TCĐH
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như
so sánh, qui nạp, diễn dịch
6 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương, chi tiết dưới đây: Chương 1: Khung pháp lý về tự chủ đại học: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế
Chương 2 Thực trạng khung pháp lý về tự chủ đại học ở Việt Nam và thực tiễn tại ĐHQGHN
Chương 3 Quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp
lý về tự chủ đại học ở Việt Nam và ở ĐHQGHN
Trang 1812
CHƯƠNG 1 KHUNG PHÁP LÝ VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tự chủ đại học
1.1.1 Khái niệm tự chủ đại học
Tự chủ theo từ điển Tiếng Việt (1997) là “tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi phối” [45] Như vậy, tự chủ là khả năng
tự điều hành, quản lý công việc của một cá nhân hay một nhóm người trong tổ chức để đạt được hiệu quả trong công việc một cách cao nhất
Theo Hiệp hội quốc tế các trường đại học (IAU) định nghĩa TCĐH như
là mức độ độc lập cần thiết đối với các tác nhân can thiệp bên ngoài mà nhà
trường cần có để có thể thực hiện được việc quản trị và tổ chức nội bộ, việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm vi nhà trường, việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, việc tuyển dụng nhân sự, việc xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự
do trong việc tổ chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy [75]
TCĐH được quy định tại Khoản 1, Điều 32 của Luật GDĐH năm 2012 như sau: “Cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CN, HTQT, bảo đảm chất lượng GDĐH Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục” [6]
Cũng tại Khoản 1, Điều 32 của Luật GDĐH năm 2018 như sau: “Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở GDĐH” [7]
Trang 1913
Còn theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết TCĐH là quyền của cơ sở GDĐG quyết định sứ mạng và chương trình hoạt động của mình, cách thức và phương tiện thực hiện sứ mạng và chương trình hoạt động đó, đồng thời tự chịu trách nhiệm trước công chúng và pháp luật về mọi quyết định cũng như hoạt động của mình [62]
Trong diễn ngôn GDĐH của các nước phương Tây, tự chủ là một khái niệm vô cùng quan trọng và được xem như giá trị căn bản của một trường đại học Tuyên bố Magna Charta Universitatatum tại Bologna năm 1998 cũng tái khẳng định lại điều đó Khái niệm TCĐH được đề cập từ cách đây 10 thế kỷ, thời kỳ bắt đầu hình thành các trường đại học đầu tiên ở phương Tây Từ đó khái niệm này đã trở thành đề tài tranh luận và nghiên cứu của rất nhiều học giả Các quan điểm khác nhau diễn giả về vấn đề TCĐH vẫn có ít nhiều những
sự khác biệt, nhưng nhìn chung vẫn thống nhất ở một số điểm chính như sau:
1 Tự chủ là điều kiện tối cần thiết để một trường đại học có thể tồn tại
và hoàn thành sứ mạng đề ra;
2 Tự chủ là một khái niệm phức tạp, với nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng tối thiểu phải bảo gồm các khía cạnh sau: tự chủ về quản trị, tự chủ trong hoạt động chuyên môn (tự chủ học thuật) và tự chủ về tài chính.;
3 Tự chủ không phải là một tính trạng với hai trạng thái hoặc “có” hoặc “không”, mà là một đặc điểm mà mỗi trường có thể đạt được ở nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn không tự chủ đến hoàn toàn tự chủ [69]
Như vậy, bản chất của cơ chế tự chủ là quá trình giảm thiểu sự hỗ trợ của nhà nước, gia tăng tính chủ động, sáng tạo của cơ sở đào tạo công lập với mục tiêu huy động tối đa nguồn lực, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước, gia tăng tính tự chủ, sáng tạo, mức độ dám nghĩ dám làm và tính tự chịu trách nhiệm của cơ sở đào tạo [45]
Trang 2014
1.1.2 Khái niệm quyền tự chủ đại học
Theo Luật GDĐH năm 2018 thì quyền tự chủ là quyền của cơ sở GDĐH được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu:
tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở GDĐH [7]
Như vậy quyền TCĐH là khả năng thực hiên các hoạt động tự chủ của
cơ sở GDĐH theo quy định pháp luật, là quyền được Nhà nước giao cho các nhà trường trên cơ sở niềm tin rằng nếu được tự chủ thì nhà trường sẽ thực hiện tốt hơn việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
Nội hàm quyền TCĐH được hiểu theo hai nghĩa là quyền tự chủ trong việc đưa ra các quyết định độc lập giữa nhà trường và cơ quan quản lí nhà nước cấp trên và quyền tự chủ giữa nhà trường với các cơ quan trực thuộc trường
Quyền TCĐH có hai dạng thức, thứ nhất là quyền tự chủ hoàn toàn, là thẩm quyền đầy đủ của trường đại học thực chất trong việc đưa ra các quyết định và vận hành nhà trường theo các chương trình và các mục tiêu của nó; thư hai là ở mức độ thấp hơn là tự chủ thủ tục, là thẩm quyền của trường đại học trong việc thực hiện các quyết định sẵn có nhưng không có quyền đưa ra các quyết định
Quyền TCĐH cũng được hiểu là đó là các quyền có điều kiện, sự ràng buộc từ phía cơ quan quản lí nhà nước, Theo đó các trường đại học chỉ có quyền tự chủ khi đã đạt được các chuẩn mực quốc gia hoặc các chuẩn mực đã được xác định sẵn theo các chính sách công Quyền TCĐH được xác lập gắn liền với vị trí, vai trò của trường đại học, năng lực thực hiện quyền từ chủ, biết tự kiểm định chất lượng nhà trường, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của trường đại học khi thực hiện quyền tự chủ của mình
Trang 2115
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế tự chủ của các trường Đại học ở Việt Nam
Thứ nhất, cơ chế tự chủ của các trường đại học ở Việt Nam phải phù
hợp với các quy định pháp luật, chính sách của nhà nước và chiến lược phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam
Thứ hai, cơ chế tự chủ của các trường ĐHCL ở Việt Nam phải đảm bảo
hiệu quả kinh tế - xã hội phát triển bền vững khi thực hiện
Thứ ba, khi thực hiện cơ chế tự chủ phải đảm bảo sự tách biệt hợp lý
giữa quyền của chủ sở hữu với quyền của người sử dụng các loại tài sản thuộc
sở hữu nhà nước
Thứ tư, thực hiện cơ chế tự chủ phải tuân thủ nguyên tắc: tự do hóa
thương mại và phù hợp với các thông lệ quốc tế
Thứ năm, tránh đơn giản hóa và phức tạp hóa việc thực hiện quyền tự
chủ cho các trường ĐHCL
1.1.4 Nội dung của tự chủ đại học
Theo Anderson & Johnson (1998) các thành tố trong TCĐH gồm:
- Tự chủ nguồn nhân lực: Với quyền tự chủ này, trường được quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến điều kiện tuyển dụng, lương bổng, sử dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính
- Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến tuyển sinh và quản lý sinh viên
- Tự chủ trong các hoạt động học thuật và chương trình giáo dục như phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nội dung chương trình và giáo trình học liệu
Trang 22và sử dụng tiền một cách hợp lý Nhưng với chính sách phân quyền hóa, các trường đại học lại có thể sử dụng sự ưu ái này đưa ra các quyết định ảnh hưởng tới chính sách chung về hệ thống GDĐH của cả nước Tính tự chủ của các trường đại học được xem xét ở một số vấn đề sau:
- Vai trò của hiệu trưởng, ban điều hành, giám đốc viện nghiên cứu được tăng cường đối với nhân viên thuộc quyền
Trang 2317
Bản thông qua Đạo luật Hiệp hội ĐHQG năm 2003 trao quyền tự chủ về mặt pháp lý cho tất cả các trường đại học với quyền lực nhiều hơn cho Giám đốc, Hiệu trưởng và Ban quản trị trường [67]
Còn ở Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau thì quyền TCĐH cũng có những bước phát triển đáng kể
Theo quy định của Luật Giáo dục 2005, trường đại học được quyền tự chủ trong 05 hoạt động: xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo; xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp
và cấp văn bằng; tổ chức bộ máy nhà trường, tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đãi ngộ nhà giáo, cán bộ, nhân viên; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực; hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, NCKH trong nước và nước ngoài
Luật GDĐH năm 2012 tái khẳng định quyền tự chủ của các trường đại học, theo đó, cơ sở GDĐH được tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KHCN, HTQT, bảo đảm chất lượng GDĐH
Theo Điều 32, Luật GDĐH năm 2018 quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH bao gồm các quyền tự chủ sau:
1 Quyền tự chủ về học thuật và hoạt động chuyên môn bao gồm quyền ban hành và tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động KH&CN, hợp tác trong nước và quốc tế phù hợp quy định của pháp luật
2 Quyền tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự bao gồm ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bội vê cơ cấu tổ chức, cơ cấu lao động, danh mục, tiêu chuẩn chế độ của từng vị trí việc làm; tuyển dụng, sử dụng và cho
Trang 24Như vậy, qua nghiên cứu theo tôi có thể khái quát nội dung quyền TCĐH ở Việt Nam bao gồm các quyền tự chủ sau:
- Quyền tự chủ trong học thuật và hoạt động chuyên môn
- Quyền tự chủ trong hoạt động tổ chức, nhân sự
- Quyền tự chủ trong tài chính và tài sản
1.2 Yêu cầu, nhu cầu và các điều kiện, bối cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Yêu cầu và nhu cầu phát triển tự chủ đại học ở Việt Nam
TCĐH thể hiện sự chi phối và ảnh hưởng đến công tác điều hành, công tác phát triển trường đại học nói chung Từ đó, TCĐH ảnh hưởng đến từng khâu trong hệ thống của trường đại học
Thứ nhất, cơ chế tự chủ cho phép trường đại học hình thành các ngành,
các CTĐT mới một cách nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu mới nảy sinh trong
xã hội của người học Cơ chế tự chủ cho phép trường đại học có được các chương trình liên kết đào tạo quốc tế nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu xã hội
Thứ hai, cơ chế tự chủ cho phép trường đại học tự xác định mức học phí Thứ ba, cơ chế tự chủ cho phép trường đại học rà soát và định biên công
việc, sắp xếp và loại bỏ những vị trí việc làm không cần thiết, tinh gọn bộ máy
Tự chủ về bộ máy và tài chính cho phép trường đại học xác định mức lương và thưởng tương xứng với các vị trí công việc
Trang 2519
Thứ tư, cơ chế tự chủ tạo thuận lợi cho trường đại học phát huy tính
năng động và tích cực trong tìm kiếm và triển khai các NCKH theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, chính quyền các cấp để gia tăng nguồn thu
Thứ năm, trường đại học theo cơ chế tự chủ có quyền lựa chọn đối tác
để trao đổi chuyên môn, học thuật, giảng viên, sinh viên và hợp tác
Bên cạnh những cơ hội như trên, cơ chế tự chủ cũng đặt ra nhiều thách thức với trường đại học:
Thứ nhất, vấn đề kiểm soát và bảo đảm chất lượng đào tạo sẽ là một
thách thức lớn Khi trường đại học tự chủ có thể quyết định việc mở ngành, và CTĐT mới thì vấn đề kiểm soát khi mở ngành, CTĐT mới và kiểm soát khi thực hiện các CTĐT mới là trách nhiệm chủ yếu của trường đại học
Thứ hai, thách thức trong cân đối tài chính Do mức NSNN cấp sẽ giảm
đi, nên làm sao có đủ thu để đáp ứng nhu cầu chi hợp lý là một bài toán khó với các trường đại học theo cơ chế tự chủ Thu từ đào tạo phụ thuộc vào tuyển sinh và học phí, thu từ NCKH phụ thuộc vào các đơn đặt hàng từ phía doanh nghiệp và địa phương
Thứ ba, áp lực cạnh tranh từ các trường đại học khu vực và quốc tế
Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế chịu sự cạnh tranh trực tiếp của các trường đại học trong khu vực và quốc tế Khó khăn đối với các trường đại học
tự chủ là chương trình liên kết được giảng dạy bằng tiếng Anh nên khó tuyển được giảng viên vừa có chuyên môn tốt, vừa có khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh, mà mức lương lại cần phải hợp lý phù hợp với khả năng chi trả của nhà trường Bên cạnh đó, kinh nghiệm về bảo đảm chất theo các tiêu chuẩn quốc tế chưa nhiều cũng là một khó khăn trong cạnh tranh với CTĐT của trường nước ngoài
Thứ tư, thách thức về quản trị nhân sự Sự điều chỉnh tăng ngành học
và chương trình học mới theo nhu cầu mới của xã hội, thu hẹp và dừng những
Trang 2620
ngành học và chương trình học mà xã hội không còn nhu cầu sẽ đặt ra bài toán về điều chỉnh nhân sự trong trường đại học tự chủ Với những ngành học, chương trình học mà xã hội không còn nhu cầu, điều chuyển giảng viên của những ngành đó sang những ngành khác hay dừng hợp đồng lao động có thể vấp phải những phản ứng từ phía giảng viên dẫn đến quá trình điều chỉnh không dễ dàng và nhanh chóng
Thứ năm, cơ chế tự chủ cũng đòi hỏi trường đại học phải kiểm soát tốt
chi phí để cân đối thu chi Kiểm soát tốt chi phí đòi hỏi phải có dự toán tốt, khả thi và có tính thực tiễn
Thứ sáu, thách thức đối với sự phát triển đặc biệt là trong dài hạn đối
với các đại học, trước hết, đó là sự thách thức đối với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Thứ bảy, tự chủ đặt ra những áp lực và thách thức đối với trách nhiệm
giải trình của các trường ĐHCL
Tóm lại, cơ chế tự chủ mang đến các cơ hội phát triển, nhưng đồng thời cũng đặt ra rất nhiều khó khăn và thách thức đối với các trường ĐHCL Để tồn tại và phát triển, các trường ĐHCL cần tận dụng tốt các cơ hội và nhận thức rõ các thách thức đặt ra ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu và việc thực hiện sứ mệnh đào tạo và nghiên cứu của mình
1.2.2 Điều kiện, bối cảnh ảnh hưởng, tác động lên sự phát triển của
tự chủ đại học ở Việt Nam
a) Bối cảnh quốc tế
Bối cảnh thế giới cũng có những biến đổi rất quan trọng, trong đó có cách mạng công nghiệp 4.0 Việc hội nhập là cơ hội nhưng cũng đòi hỏi sự cạnh tranh, trước hết ở chất lượng của đội ngũ lao động, chất lượng đào tạo, cấu trúc đội ngũ lao động, từ đó thúc đẩy các loại hình đào tạo, mạng lưới đào
Trang 27Một quốc gia muốn phát triển và tăng trưởng bền vững thì nhất thiết phải có 2 yếu tố: một hệ thống đại học hoàn chỉnh, đẳng cấp quốc tế và một lực lượng lao động chất lượng tốt mà lực lượng lao động này chủ yếu lại do chính các trường đại học cung cấp Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vai trò của các trường đại học rất lớn, có thể nói là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia
Việt Nam có một nền kinh tế nhỏ, nhưng có 'độ mở cao' ra khu vực và thế giới, nên chắc chắn chịu ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại 'mở rộng' này Việt Nam Bước vào thế kỷ 21, Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế theo phương châm "Việt nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" Vì thế, Đảng và Nhà nước ta đã kiên định chính sách mở cửa của Việt Nam, loại bỏ hoàn toàn cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Đây là chủ trương đúng đắn và góp phần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng
xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện hiện nay của đất nước với quá trình hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, việc xây dựng chính phủ kiến tạo tạo điều
Trang 2822
kiện mở hợp tác toàn diện về các mặt hoạt động kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục và quốc phòng, an ninh Nhiều tri thức, kinh nghiệm hay của nhân loại, những kiến thức quản trị chính phủ, quản trị doanh nghiệp và quản trị xã hội hiệu quả trên thế giới đang tác động tích cực đến Việt Nam Hơn nữa, công nghệ cao đang phát triển như vũ bão, đặc biệt là cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra thách thức và yêu cầu đổi mới, cải cách chính phủ hiện nay.
b) Bối cảnh trong nước
Tác động của Nghị quyết số 29-NQ/TW đến tự chủ đại học ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu phát triển đất nước phải dựa vào tri thức, các Nghị quyết của Đảng đã xác định giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu (Nghị quyết TW2 (8); Nghị quyết 29-NQ/TW (khóa XI) Trong Nghị quyết 29-NQ/TW Trung ương khóa XI chỉ rõ bảy (07) vấn đề trong quan điểm chỉ đạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng Mở, thực học, thực nghiệp, Liên thông, chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, chuyển từ đào tạo theo số lượng sang chất lượng, thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục đào tạo
Trải qua 6 năm thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW trong lĩnh vực giáo dục đào tạo đã mang lại nhiều kết quả nổi bật, đặc biệt trong bậc học mầm non và bậc phổ thông Ở bậc đào tạo đại học cũng có nhiều đổi mới và đạt được một số thành tựu nổi bật Một số trường đại học đã vươn lên và được xếp hạng ở khu vực và một số rất ít trường được xếp hạng cấp Quốc tế
Ở Việt Nam hiện nay có 235 trường đại học, cao đẳng, trong đó có 170 trường ĐHCL và 65 trường đại học ngoài công lập (không tính các trường thuộc khối An ninh, Quốc phòng) [29] Tính đến nay, khoảng 90% cơ sở đào
Trang 2923
tạo ĐHCL triển khai việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy biên chế và tài chính
Hệ thống DDH Việt nam còn nhiều bất cập, hạn chế
Hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay vẫn còn tình trạng “manh mún” thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Hệ thống vẫn chưa được tổ chức tốt: Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất
Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém.Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng vàcơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếutâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu
và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệtkhó khăn
Ở bậc đại học, việc đào tạo nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, chất lượng đào tạo chưa cao, chưa theo kịp nhu cầu phát triển của đất nước,
do vậy chất lượng nguồn lực do nhiều trường đào tạo còn thấp Nguyên nhân
là do hiện nay chưa có lộ trình cụ thể để thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW và chính sách kèm theo, song chính vẫn là do phương pháp đào tạo đại học ở khá nhiều trường vẫn mang tính hàn lâm với “tri thức hàn lâm”, quy trình đào tạo cũng theo “công nghệ hàn lâm”, từ khâu tuyển sinh đến nội dụng, chương trình và phương pháp đào tạo Do đó, việc đổi mới tư duy trong giáo dục theo hướng giáo dục mở như Nghị quyết 29-NQ/TW yêu cầu là rất chậm, là rào cản chính trong việc phát triển hệ thống
Trang 3024
1.3 Khái niêm, đặc điểm của khung pháp luật về tự chủ đại học ở Việt Nam
1.3.1 Khái niệm khung pháp luật về tự chủ đại học
Cùng với sự ra đời của Nhà nước là sự ra đời của pháp luật Pháp luật
ra đời cùng với nguồn gốc nhà nước với tư cách là bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị để bảo vệ nhà nước và quản lý xã hội Xét về bản chất, cũng giống như đạo đức truyền thống, pháp luật là những chuẩn mực định hướng cho tư tưởng, hành vi, xử sự của các thành viên trong một cộng đồng người, nhằm đạt các mục tiêu mà cộng đồng người đó mong muốn Như vậy, pháp luật có thể được hiểu là hệ thống các quy tắc, các quy định, chính sách pháp luật được thực thi nhằm điều chỉnh hành vi của con người, đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo và duy trì trật tự xã hội Việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của các thành viên xã hội cũng đa dạng, theo từng mức độ khác khau Pháp luật và Nhà nước là hai công cụ giúp thực thi những cam kết có lợi cho cộng đồng, cho thành viên và bảo vệ cộng đồng Pháp luật là "cái khung" hay “bộ chuẩn mực” do Nhà nước tạo ra mà nhà nước do người dân tạo ra Dựa vào cái khung đó mà người dân
và nhà nước có tiêu chuẩn để đo lường hoặc biết được mình được làm gì, được làm đến đâu (giới hạn được làm) và không được làm gì (giới hạn không được làm); hay làm đến đâu là đúng, đến đâu là sai
Theo từ điển Tiếng Việt (1997) khung là “phạm vi được giới hạn, đóng khung” [45]
Vậy khung pháp luật là gì? Khung pháp luật hiện nay chưa có định nghĩa
rõ ràng Mặc dù vậy trên thực tế thuật ngữ khung pháp luật được sử dụng khá nhiều, đặc biệt trong nghiên cứu Ví dụ: Dự án VIE/94/003 về “Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam” cho rằng: “Khung pháp luật kinh tế là một
Trang 31Ở khía cạnh khác, trong nghiên cứu của mình về khung pháp luật vê dịch vụ công, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh có định nghĩa “Khung pháp luật
về dịch vụ công có thể được hiểu là những quy phạm pháp luật cơ bản định hình nên toàn bộ pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hoạt động dịch vụ công” [70]
Như vậy, khái niệm khung pháp luật về TCĐH ở Việt Nam có thể hiểu
là hệ thống các nguyên tắc, chính sách pháp luật, các chế định, các quy định của pháp luật hiện hành tạo thành một lĩnh vực pháp lý chuyên biệt về điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến TCĐH ở Việt Nam
1.3.2 Nội dung của khung pháp luật về tự chủ đại học
a) Các yếu tố cấu thành khung pháp luật về tự chủ đại học
Giáo dục đại học từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, có nhiều đóng góp cho phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, để GDĐH tiếp tục phát triển bền vững, cần phải có một hành lang pháp lý để điều chỉnh các hoạt động liên quan Trước khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH, để quản lý các hoạt động liên
Trang 3226
quan đến GDĐH việc sử dụng các văn bản pháp luật, các quy phạm pháp luật rất phân tán, hiệu lực pháp lý không cao Nhiều vấn đề quan trọng của GDĐH như tổ chức, hoạt động giáo dục (đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc
tế, kiểm định chất lượng giáo dục), tài chính, tài sản cho GDĐH, thanh tra, kiểm tra; quản lý Nhà nước được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật rời rạc Thiếu một hệ thống pháp luật chặt chẽ, một hành lang pháp lý vững chắc, đặc biệt trong đó là việc giao quyền tự chủ toàn diện cho các trường là một trong những khó khăn lớn nhất để GDĐH phát triển bền vững
Đẩy mạnh TCĐH là nội dung quan trọng và là mục tiêu chính để tạo đà cho GDĐH có những bước phát triển mới Đi cùng với việc giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục đại học, trách nhiệm quản lý Nhà nước cũng sẽ có nhiều thay đổi, chuyển từ quản lý sang tạo hành lang pháp lý, giám sát Để thực hiện điều này, các cơ sở GDĐH cần thực hiện các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tự chủ và tất nhiên việc giao quyền phải gắn với trách nhiệm giải trình
và đổi mới quản trị đại học của từng cơ sở GDĐH Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật GDĐH đã được chỉnh lý bổ sung các điều khoản theo hướng giải thích rõ các khái niệm, yêu cầu, cụ thể hóa các nội dung tự chủ, đồng thời quy trách nhiệm giữa các bên có lợi ích liên quan
b) Khung pháp luật về tự chủ đại học
Thực hiện chủ trương đổi mới GDĐH, Luật Giáo dục, Điều lệ nhà trường
và nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập, cụ thể là:
* Về ban hành Luật
- Luật Giáo dục năm 1998 (Luật số 11/1998/QH10) đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp quản lí về TCĐH bằng sự
Trang 33sở giáo dục; khẳng định “Nhà nước…sẽ tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của cơ sở giáo dục” (Điều 14) và quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học (Điều 60) [5]
Luật GDĐH năm 2012 khẳng định quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH tại Việt Nam tại Điều 32 như sau: “Cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CH, HTQT, bảo đảm chất lượng GDĐH Cơ sở GDĐH thực hiện quyền
tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục” [6]
Luật GDĐH năm 2018 một lần nữa khẳng định quyền tự chủ của các cơ
sở GDĐH tại Việt Nam tại Điều 32 cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật Các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở GDĐH [7]
* Về ban hành Điều lệ Trường đại học
- Điều lệ Trường đại học ban hành theo Quyết định số TTg, ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và Điều lệ trường đại học về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà nước, tổ chức hoạt động đào tạo, KH&CN, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự”[19] Điều lệ gồm 7 nhóm quyền tự chủ gồm: 1) hoạch định phát triển; 2) xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch đào tạo, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, công nhận tốt
Trang 34153/2003/QĐ-28
nghiệp, in ấn và cấp bằng; 3) huy động, quản lí, sử dụng các nguồn lực, hợp tác và liên kết nâng cao chất lượng và sự phù hợp; 4) đăng ký tham gia tuyển chọn, thực hiện nhiệm vụ và ký kết hợp đồng khoa học công nghệ; 5) hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ, góp vốn, sử dụng nguồn thu ngoài ngân sách; 6) nhận đất, thuê đất, vay vốn; 7) tổ chức bộ máy nhà trường
* Về ban hành Nghị định, Thông tư
- Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Nghị định này được ban hành nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, cơ
sở GDĐH công lập nói riêng vượt qua những thách thức trong thực hiện cơ chế tự chủ, thúc đẩy phát triển sự nghiệp GDĐH, nâng cao chất lượng dịch
vụ, cho phép các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập tìm kiếm biện pháp mở rộng hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu, chi tiêu tiết kiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trên cơ sở cho phép huy động sự đóng góp và tham gia tích cực của cộng đồng xã hội cho phát triển GDĐH, tăng nguồn thu sự nghiệp và tăng thu nhập cho CCVC cũng như tăng cường tính công khai minh bạch, dân chủ trong các quyết định và hoạt động của nhà trường, Nghị định góp phần nâng cao tính chủ động, sáng tạo các trường đại học công lập [12]
- Nghị định số 186/2013/NĐ-CP ngày 17/11/2013 của Chính phủ về ĐHQG được xem là bước đột phá trong tư duy của nhà nước về bảo đảm tính độc lập nhiều hơn cho trường đại học công Mặc dù chưa đạt tới mức tự trị hay như các tập đoàn nhưng tổ chức ĐHQG có quyền tự chủ rất cao trong cung cấp dịch vụ GDĐH, nhất là trong đào tạo, nghiên cứu, tổ chức cán bộ,
kế hoạch - tài chính và hợp tác quốc tế So với các loại hình trường công khác, ĐHQG có được không gian tự chủ rộng nhất, cả quyền tự chủ thực chất
và tự chủ thủ tục Khả năng chủ động cao của ĐHQG có được là nhờ được
Trang 3529
trao quyền theo cơ chế đặc biệt, được làm việc trực tiếp với Bộ ngành hay cơ quan của Chính phủ và khi cần có thể báo cáo với Thủ tướng Ngoài ra ĐHQG có thể chủ động trong hoạch định phát triển [14]
Để cụ thể hoá các nội dung về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học trong khung khổ pháp lý được quy định các bộ luật hiện hành, đồng thời để thúc đẩy hoạt động TCĐH tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014 về Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017 Theo Nghị quyết này, các cơ sở GDĐH công lập cam kết tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư sẽ được tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về các mặt: đào tạo và NCKH; tổ chức bộ máy và nhân sự; tài chính; chính sách học bổng, học phí đối với đối tượng chính sách; đầu tư, mua sắm Tương ứng với từng mặt, các khía cạnh cụ thể của hoạt động tự chủ của các trường ĐHCL đã được xác định một cách khái quát và rõ ràng Tư tưởng nhất quán được thể hiện ở các điều của Nghị quyết 77/NQ-CP là sự
“cởi trói” cho các trường ĐHCL khỏi các quy định cứng nhắc, tập trung, hành chính từ các cơ quan quản lý nhà nước, đảm bảo cho trường đại học hoạt động theo cơ chế thị trường có sự can thiệp ở mức độ nhất định của nhà nước
Liên quan đến hệ thống cơ chế chính sách tự chủ của trường đại học, ngày 14/2/2015 CP đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP về Quy định
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định các nguyên tắc, quy định chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong đó bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo Cụ thể hơn, Nghị định ghi nhận quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu ở các mặt tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, về
Trang 3630
tổ chức bộ máy, về nhân sự, về xác định giá, phí dịch vụ sự nghiệp công, về tài chính và giao dịch tài chính
- Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV của Bộ GD&ĐT và
Bộ Nội vụ ngày 15/4/2009 hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập GD&ĐT đã nêu rõ quyền tự chủ của đơn vị trong việc xác định nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện; tổ chức bộ máy và biên chế trong đơn vị; việc tuyển dụng, quản lí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về tự chủ đại học và xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật về tự chủ đại học
Các nghiên cứu về mô hình quản trị đại học và tự chủ đại học
Theo dịch giả Vũ Thị Phương Anh, Báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank (2008) khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi - autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi - independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc Mặc dầu vậy, trong mô hình Nhà nước kiểm soát thì cơ sở GDĐH vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn, Nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của cơ sở GDĐH; bên cạnh đó, ngay trong mô hình độc lập thì vẫn có những mặc định ngầm về quyền của Nhà nước nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lược và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở GDĐH [46]
Neave (1998, 35-37) đưa ra một hệ thống phân loại khác về các hình thức tự chủ: 1) mô hình Kant, trong đó nhà nước chỉ can thiệp vào một số vấn
đề nhất định; 2) mô hình Humboldt, trong đó vai trò nhà nước là vai trò hỗ
Trang 3731
trợ; 3) mô hình Napolean, quan niệm rằng vai trò đại học rõ ràng phải phụ thuộc vào nhà nước; và mô hình Anh, trong đó các tập đoàn học giả có tài sản được nhà nước hỗ trợ mà không can thiệp [45]
Tại Hàn Quốc
Các cơ sở GDĐH Hàn Quốc được phân chia thành ba ĐHCL quốc gia
là các trường chịu sự quản lý của CP, ĐHCL chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và đại học tư Một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong quản lý các trường ĐHCL là Hội đồng giáo dục Có hai cơ chế nổi bật trong cải cách GDĐH của Hàn Quốc nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội của các trường khi được giao quyền tự chủ Một là gắn đánh giá chất lượng giáo dục (bằng một
cơ quan kiểm định độc lập) với hỗ trợ tài chính từ chính phủ; hai là quy định
rõ việc thành lập Hội đồng trường và điều lệ trường nhắm giám sát hoạt động của các trường Hội đồng trường được quy định tại Điều 10 Luật GDĐH bao gồm các thành viên là đại diện các cơ sở GDĐH
Về tự chủ chuyên môn: CTĐT, phát triển và phổ biến chương trình giảng dậy tiên tiến cùng các vấn đề khác về chuyên môn được thực hiện bởi một tổ chức độc lập với CP là Hội đồng GDĐH Hàn Quốc đánh giá Hội đồng này chịu trách nhiệm tư vấn chính sách chuyên môn và cả chính sách cung cấp hỗ trợ tài chính [49]
Về tuyển sinh: sau cải cách GDĐH năm 1995, Chính phủ cho phép các trường được tự do tuyển sinh, tự do đặt ra các tiêu chí để tuyển sinh cũng như xác định số lượng thí sinh được tuyển, Tuy nhiên để kiểm soát, chính phủ cũng đặt ra những tiêu chí cơ bản về trong tuyển sinh [78] Dù sao cũng cần khẳng định có một sự tự chủ rất lớn trong việc tuyển sinh ở các trường đại học
Về tài chính: tại Hàn Quốc, theo Luật khung giáo dục 2008 việc đào tạo
sự phạm và đào tạo ở nước ngoài những ngành nghề đặc biệt theo yêu cầu của
Trang 38Ở Pháp
Tự chủ đại học ở Pháp chính thức bắt đầu được nghi nhận bằng sự ra đời của Luật số 2007-1199 ngày 10/8/2007 về tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học tại Pháp Ý tưởng về TCĐH từ đạo luật này được xây dựng trên ba nhóm vấn đề chính, thứ nhất là tự chủ trong quảng trị các trường đại học; thứ hai là phạm vi của quyền tự chủ; thứ 3 là các phương thức cải cách giáo dục theo hướng tự chủ mới này
Luật mới này dành cho các trường đại học một cơ cấu tổ chức mới trong vòng 1 năm và các thẩm quyền mới trong thười hạn tối đa 5 năm Nó cũng cho phép sự thay đổi hệ thống quản trị đại học (Liên quan đến vai trò của Hội đồng giáo dục và Hiệu trưởng trường đại học) và cho phép thiết lập
cơ chết đăng ký trước (Dự bị đại học) Tự chủ về quản trị đại học, Đạo luật
2007 đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Hội đồng quản trị trong trường đại học Theo quy định của luật này thì Hội đồng quản trị gồm 20 đến 30 thành viên bao gồm cả người bên trong và ngoài trường đại học, đặc biệt phải có đại diện của chính quyền địa phương Hội đồng tập trung các thành viên đại diện cho nhiều nhóm chủ thể bao gồm: giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên, doanh nghiệp… Hiệu trưởng trường đại học được bầu bởi thành viên của Hội
Trang 3933
đồng quản trị trường đại học theo nguyên tắc đa số Hiệu trưởng có nhiệm kì tương ứng với nhiệm kì của Hội đồng quản trị và được phép giữu tối đa hai nhiệm kì liên tục
Về quản trị tài chính và ngân sách trường đại học: các trường đại học có thể được trao những thẩm quyền và trách nhiệm mới theo xu hướng tăng cường hơn nữa quyền tự chủ và trách nhiệm bằng cách yêu cầu tự động trao trong thời hạn 5 năm Các quyền và trách nhiệm tập trung chủ yêu về ngân sách (tự chủ ngân sách) và các chủ về nguồn nhân lực (tuyển dụng nhân viên và quản lí hợp đồng, quyết định tiền thưởng, phúc lợi bởi hiệu trưởng, phân công công việc và phân chia trách nhiệm…) Luật 2007 củng cố và tăng cường tự chủ về tài chính
ở trường đại học Theo quy định của Đạo luật Faure 1968 thì trường đại học chỉ
có quyền quyết định với 25% ngân sách thì với Luật 2007 sự tự chủ là 100% khoản thu và ngân sách giao cho trường Điều này có nghĩa là trường ĐHCL được toàn quyền quyết định chi tiêu cho toàn bộ khoản thu của mình trên cơ sở các quy tắc quản lý được ban hành bởi pháp luật Một điểm nhấn đặc biệt của đạo luật này là nó cho phép các trường lựa chọn chuyển đổi mô hình sang tự chủ tài chính sẽ nhận được các khoản trợ cấp từ chính phủ Đi đôi với quyền là trách nhiệm, tuy nhiên để đảm bảo cho sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm được thực hiện hiệu quả thì cần có cơ chế giám sát tốt Theo thống kê, đến năm
2012, có trên 83 trên tổng số 85 trường ĐHCL ở Pháp được trao quyền tự chủ [77] Tiến trình tự chủ hóa các trường đại học diễn ra khá nhanh chóng
Ở Mỹ
Tại Mỹ hiện có khoảng 3.360 trường đại học và cao đẳng cộng đồng Hệ thống giáo dục đại học Mỹ không thuộc sự quản lý trực tiếp của chính quyền Liên bang mà quyền quản lí giáo dục được giao về cho từng bang Hệ thống đại học Mỹ, kể cả trường công và trường tư đều hoạt động theo nguyên tắc tự quản
và tự do về học thuật Nhà nước đóng vai trò không lớn trong việc quản lí các
Trang 4034
trường đại học, trừ việc phân bổ kinh phí Các trường ĐHCL lớn ở Hoa Kì, gắn
bó chặt chẽ với Tiểu bang và được Tiểu bang hỗ trợ tài chính Các loại hình trường đại học ở Mỹ chia làm hai loại: trường công và trường tư, một số trường
tư thuộc về các tôn giáo Khoảng 30% tổng số sinh viên theo học ở các trường
tư Sự khác biệt giữa các loại hình trường này nằm ở việc cấp kinh phí Các trường tư cũng nhận được những hỗ trợ tài chính từ chính quyền bang nhưng rất
ít so với các khoản hỗ trợ cho các trường đại học công
Vì hoạt động theo một cơ chế tự chủ, các trường đại học ở Mỹ cần được kiểm soát theo một cơ chế thoáng, phù hợp với bối cảnh giáo dục Trên
cơ sở yêu cầu thực tiễn này chính quyền đã thiết lập hệ thống kiểm định giáo dục với mô hình tương đối đa dạng và hiệu quả Theo thống kê, hiện tại có 6
tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập ở các vùng bởi chính các trường đại học Sáu tổ chức này chịu trách nhiệm trong việc giám sát và công nhận chất lượng giáo dục ở các trường trong vùng
Kết luận chương 1
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là nội dung quan trọng trong bước đi của quá trình cải cách giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế Chương 1 tác giả đã làm rõ các vấn đề lược sử của quyền tự chủ đại học, làm rõ các khái niệm quan trọng có liên quan đến luận án như đại học, tự chủ, quyền tự chủ, ĐHCL… Từ đó đã phân tích làm rõ nội hàm của quyền tự chủ đại học, yêu cầu, nhu cầu, điều kiện, bối cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển của TCĐH ở Việt Nam và kinh nghiệm thực hiện quyền tự chủ đại học của một số quốc gia trên thế giới
Những nội dung quan trọng và cốt lõi của chương 1 như đã trình bày trên sẽ là khung lý luận cho tác giả tiến hành phân tích thực trạng khung pháp luật về TCĐH ở Việt Nam và thực tiện tại ĐHQGHN