bên cạnh nhiều cơ hội, thời cơ thuận lợi nhưng chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức tác động tới vấn đề việc làm như khả năng tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng do một số doanh ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG LAN
PH¸P LUËT VIÖC LµM Vµ GI¶I QUYÕT VIÖC LµM
Tõ THùC TIÔN TØNH QU¶NG B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG LAN
PH¸P LUËT VIÖC LµM Vµ GI¶I QUYÕT VIÖC LµM
Tõ THùC TIÔN TØNH QU¶NG B×NH
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trương Thị Phương Lan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 6
1.1 Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm 6
1.1.1 Quan niệm về việc làm 6
1.1.2 Phân loại việc làm 10
1.1.3 Tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm 13
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 16
1.2.1 Các nguyên tắc về việc làm và giải quyết việc làm 16
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 19
1.3 Pháp luật việc làm và giải quyết việc làm theo quan điểm của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam 23
1.3.1 Tổ chức lao động Quốc tế 23
1.3.2 Pháp luật của một số quốc gia 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH 30
2.1 Thực trạng pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 30
2.1.1 Về trách nhiệm các bên trong lĩnh vực việc làm 30
2.1.2 Về các biện pháp pháp lý giải quyết việc làm 43
2.1.3 Về việc làm và giải quyết việc làm đối với nhóm lao động đặc thù 49
2.1.4 Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với vấn đề việc làm 56
Trang 52.2 Thực tiễn thi hành pháp luật việc làm và giải quyết việc
làm tỉnh Quảng Bình 59
2.2.1 Về việc làm 59
2.2.2 Giải quyết việc làm tại tỉnh Quảng Bình 61
2.3 Những thuận lợi, khó khăn về thực hiện việc làm và giải quyết việc làm ở tỉnh Quảng Bình 68
2.3.1 Thuận lợi 68
2.3.2 Khó khăn 69
Chương 3: MỘT SỐ YÊU CẦU NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH 73
3.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 73
3.1.1 Về kinh tế 73
3.1.2 Về xã hội 75
3.1.3 Về pháp lý 77
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 80
3.2.1 Về các quy định pháp luật 80
3.2.2 Về tổ chức thực hiện 84
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm tại tỉnh Quảng Bình 86
3.3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 86
3.3.2 Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý, thực thi các chính sách 90
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN: Bảo hiểm tất nghiệp BHXH: Bảo hiểm xã hội BHYT: Bảo hiểm y tế CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa HĐND: Hội đồng nhân dân
ILO: Tổ chức lao động Quốc tế LĐNT: Lao động nông thôn LĐ-TB-XH: Lao động – Thương binh và xã hội NLĐ: Người lao động
UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa XKLĐ: Xuất khẩu lao động
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng, là mối quan tâm lớn của toàn nhân loại, của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động luôn luôn là vấn đề nóng bỏng, là mối mối quan tâm hàng đầu của mỗi một quốc gia, là mục tiêu chính trong chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn và đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay
Trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế, khi Việt Nam đã gia nhập thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Hiê ̣p đi ̣nh đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương và Hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i tự do Viê ̣t Nam - Châu Âu bên cạnh nhiều cơ hội, thời cơ thuận lợi nhưng chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức tác động tới vấn đề việc làm như khả năng tỷ
lệ thất nghiệp sẽ tăng do một số doanh nghiệp có quy mô nhỏ không đủ sức cạnh tranh phải giải thể; di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp; cạnh tranh về lao động trình độ cao sẽ ngày càng gay gắt; lao động nước ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý…) tham gia vào thị trường lao động Việt Nam nhiều hơn, đồng thời lao động của Việt Nam cũng di chuyển ra nước ngoài nhiều hơn; tốc độ đô thị hoá nhanh, người nông dân bị thiếu việc làm hoặc mất việc làm do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa là vấn đề tất yếu xảy ra…
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề đó, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho người
Trang 8lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động
ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được xác định tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: “Thực hiện tốt các chính sách
về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực của người lao động Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, cải thiện môi trường và điều kiện làm việc Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm” Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã xác định rõ: “Tập trung
giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII của Đảng cũng đã xác định các chỉ tiêu quan trọng về xã hội
như sau: Đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã
hội khoảng 40%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%
Đối với tỉnh Quảng Bình, là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ Việt Nam với diện tích tự nhiên 8.065,27 km2, dân số năm 2015 là 872.925 người, với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ cấu kinh tế lạc hậu, dân cư phân bố không đều; trình độ dân trí còn thấp Để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình thì vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh có ý nghĩa hết sức quan trọng Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động của Quảng Bình khá dồi dào Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế,
tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, trình độ học vấn không cao, thể lực và tầm vóc con người đã được cải thiện dần nhưng vẫn còn thấp so với bình quân chung của cả nước, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao và giảm chậm so với yêu cầu, điều này sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến thể trạng và thể lực của nguồn nhân lực trong thời gian tới
Đặc biệt trong năm 2016, Quảng Bình là tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất
Trang 9từ sự cố ô nhiễm môi trường biển do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra, đã ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng, sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân tỉnh Quảng Bình; hoạt động khai thác, tiêu thụ thủy hải sản bị đình trệ, đời sống, việc làm, thu nhập của người dân gặp nhiều khó khăn Theo thống kế tình hình thiệt hại sau sự cố cô nhiễm là: Số tàu thuyền bị ảnh hưởng: 7.854 tàu; hơn 1.500 ha diện tích nuôi trồng thủy hải sản; 16.672 lao động bị ảnh hưởng trực tiếp và 10.667 lao động
bị ảnh hưởng gián tiếp… trận mưa lũ lịch sử chưa từng có vừa xảy ra vào tháng 10 năm 2016 đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội, môi trường, ảnh hưởng lớn cả về trước mắt và lâu dài đến đời sống, lao động, việc làm của nhân dân… Ước tính tổng thiệt hại gần 3.000 tỷ đồng…
Là một tỉnh nghèo, khó khăn chồng chất khó khăn nên vấn đề sinh kế cho người dân là bài toán khó cho các cấp, các ngành của tỉnh Quảng Bình trong việc ổn định tư tưởng, tình cảm của người dân, trong việc giải quyết chế
độ, chính sách cho người dân bị ảnh hưởng và đặc biệt là phải xác định, xây dựng được lộ trình, giải pháp sát hợp để chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho số lao động bị ảnh hưởng từ những sự cố nêu trên
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Pháp luật việc làm và
giải quyết việc làm từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình" làm đề tài luận văn thạc sỹ
luật học của mình với mong muốn làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm và nghiên cứu thực tiễn giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình để từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm, đồng thời đề xuất những giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho tỉnh Quảng Bình
2 Tình hình nghiên cứu
Trên cơ sở pháp luật về lao động, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm như:
Trang 10"Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm ", Tạp chí Luật
học, số 1/2006 của TS Nguyễn Hữu Chí;
"Pháp luật hợp đồng lao động từ quy định đến thực tiễn”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 23/2014 của PGS TS Lê Thị Hoài Thu;
Bàn về khái niệm việc làm dưới góc độ pháp luật lao động”, Tạp chí
Luật học, số 6/2004 của ThS Nguyễn Thị Kim Phụng; và một số đề tài
nghiên cứu dưới góc độ pháp lý như: Luận văn thạc sỹ luật học: Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phùng Thị Hoài Thương; “Những vấn đề pháp lý
cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lâm Thị Thu Huyền; Pháp luật việc làm và thực trạng giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình” của tác giả Vũ Văn Pho
Các công trình trên đã đề cập một cách toàn diện các quy định của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, để có cái nhìn đa chiều và góp thêm tiếng nói nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay và đặc biệt là thực tiễn giải quyết việc làm tại tỉnh Quảng Bình là hết sức cần thiết Vì vậy, việc lựa cho ̣n
đề tài này là vừa có giá trị lý luận , vừa có ý nghĩa thực tiễn , như một sự bổ sung cần thiết vào khoa ho ̣c luật lao động
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm Khái quát pháp luật về việc làm, nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động về việc làm; tìm ra các vướng mắc, tồn tại, bất cập để trên cơ sở đó,
đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm
Đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra những giải pháp để giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định về việc làm và giải quyết việc làm trong Bộ luật lao động năm 2012 và Luật việc làm năm
2013 để từ đó chỉ ra những hạn chế của các quy định này Ngoài ra, luận văn còn đánh giá thực trạng thi hành các quy định việc làm và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu, phù hợp để giải quyết việc làm cho lao động tại tỉnh Quảng Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về vấn đề nhà nước và pháp luật
Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được làm 3 chương, gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm Chương 2: Thực trạng pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm và
thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Một số yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm tại tỉnh Quảng Bình
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1 Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1 Quan niệm về việc làm
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân
và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ Sự tồn tại
và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như kinh tế, xã hội học, lịch sử và pháp lý Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phương thức lao động, kiếm sống của con người và xã hội loài người Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập của người lao động từ việc làm Trong thống kê, điều tra xã hội người ta quan tâm đến tỷ lệ người có việc làm và thất nghiệp, nhu cầu việc làm của xã hội Thông qua đó, các nhà quản lý nắm được tình trạng việc làm, tương quan cung – cầu lao động, sự phân bố nguồn lực… để đưa ra biện pháp giải quyết việc làm Pháp luật lại chủ yếu quan tâm đến tính hợp pháp của việc làm và giải quyết việc làm, các nội dung bảo vệ việc làm hợp pháp [14, tr.64] Do việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này
Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề cập trong nhiều văn kiện như: Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; Chương trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm 1976; Công ước số 22 năm 1964… nhưng trong các văn kiện này chưa
Trang 13nêu ra khái niệm “việc làm” Đến Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các nhà thống kế lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm
và người thất nghiệp Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ trở lại việc làm Gần đây nhất, năm
2005, ILO đã đưa vào từ điển chuyên ngành khái niệm “làm” Theo đó, “Việc làm là một công việc được trả công Việc làm cũng đề cập đến số người tự tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công” [3] Đây là khái niệm ngắn gọn, chỉ đề cập một cách chung nhất, khái quát nhất đến những công việc do
cá nhân thực hiện cho chính bản thân hoặc cho chủ thể khác để được trả công xứng đáng, phù hợp
Trên thế giới, quan niệm về việc làm đưa ra dưới nhiều góc độ, với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau Giáo sư N.Y Asuda (Nhật Bản) cho rằng “Việc làm là những tác động của người lao động vào vật chất sinh ra lợi nhuận” Còn cố vấn Văn phòng lao động Quốc tế Giăng Mutê đưa ra quan điểm “Việc làm như một tình trạng, trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [14, tr.64]
Ở Việt Nam, quyền có việc làm được coi là quyền hiến định của mọi công dân Tuy nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp trong phạm vi những gì mà pháp luật cho phép Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên chế của Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là
có việc làm nghiêm chỉnh Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi là thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa
Trang 14(XHCN) là quốc doanh và tập thể Bên cạnh đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa, không thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất nghiệp, thị trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh tế Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động Từ quan niệm trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể hiện các chế độ như: Tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước; Nhà nước bảo đảm mọi vấn
đề về việc làm cho lực lượng lao động trong biên chế từ tiền lương, tiền công, các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), đào tạo bồi dưỡng, nghỉ phép, chế độ thai sản… cũng như các ưu đãi, phúc lợi xã hội khác Do vậy, khi đề cập đến vấn đề việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho rằng việc làm trước hết là quyền của công dân, quyền của người lao động Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền làm việc Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để đảm bảo cho công dân được hưởng quyền đó” (Điều 30) Đến Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền có việc làm” (Điều 58) Điều này thể hiện sự ảnh hưởng tư tưởng, nhận thức, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh lúc đó cả nước đang ra sức lao động, sản xuất, dồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nền kinh tế đang trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề việc làm đã có những thay đổi căn bản Hiến pháp năm 1992 khẳng định:
“Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55) Với quan điểm mới này, đã mở ra bước chuyển căn bản nhận thức về việc làm và giải
Trang 15quyết việc làm đối với Nhà nước và mỗi công dân Một lần nữa, Hiến pháp năm 2013 Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam lại khẳng định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, nơi làm việc” (Điều 35)
Trên cơ sở của Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành Bộ luật lao động năm
1994 và được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002, 2006, 2007 và đặc biệt Bộ luật lao động năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012 thì khái niệm việc làm lại được hoàn chỉnh thêm một bước: “Việc làm là hoạt động lao động tạo
ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều 9)
Hơn thế, ngày 16/11/2013 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật việc làm, khái niệm việc làm lại tiếp tục khẳng định: “Việc làm là hoạt động tạo thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều 3) Như vậy,
Bộ luật lao động năm 2012 và Luật việc làm năm 2013 đều có quy định chung
về khái niệm việc làm Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc làm đối với
sự phát triển của mỗi quốc gia và là vấn đề bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Tóm lại, có thể còn có nhiều khái niệm khác nhau về việc làm nhưng
dù ở góc độ nào, có thể hiểu một cách khái quát nhất: Việc làm là hoạt động lao động của con người, mang lại thu nhập, không bị pháp luật cấm và được
xã hội thừa nhận Dưới góc độ này thì việc làm có các dấu hiệu sau
Thứ nhất, việc làm phải là những hoạt động lao động có mục đích của
con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần phục vụ bản thân, gia đình và xã hội Hoạt động lao động có thể là lao động trí óc hay lao động chân
tay giản đơn, lao động có trình độ cao hay là lao động trình độ thấp
Thứ hai, việc làm là hoạt động của con người tạo ra nguồn thu nhập
Hoạt động đem lại thu nhập có thể được lượng hóa dưới các dạng: Người lao động nhận được tiền công, tiền lương hoặc hiện vật từ người sử dụng lao
Trang 16động, tự đem lại thu nhập cho người lao động Như vậy, một hoạt động được xem xét có phải là việc làm hay không không phải là việc làm chủ yếu dựa trên tính hợp pháp của hoạt động đó
Thứ ba, việc làm là hoạt động không bị pháp luật cấm Quan niệm trên
về việc làm vừa mang tính mềm dẻo vừa tạo nhiều cơ hội để người lao động kiếm việc làm trên cơ sở nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền
“công dân có thể làm tất cả những gì pháp luật không cấm”
“Việc làm” và “thất nghiệp” là một cặp phạm trù song hành với nhau khi bàn về vấn đề việc làm Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO),”Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”
Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới phát sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp luât quy định riêng về thất nghiệp, nhưng có đề cập đến ở một số văn bản Luật như Luật việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, qua đó có thể khẳng định: Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm
Tóm lại: Thất nghiệp có ba đặc trưng sau: Có khả năng lao động; Đang không có việc làm; Đang đi tìm việc làm
1.1.2 Phân loại việc làm
Có nhiều cách phân loại việc làm, tuy nhiên có thể phân loại việc làm theo một số căn cứ sau:
- Căn cứ vào điều kiện và môi trường làm việc, việc làm được phân thành hai loại: Việc làm bình thường và việc làm nặng nhọc độc hại, nguy hiểm
Việc làm bình thường là loại việc làm trong đó các công việc không chứa đựng hoặc chứa đựng ít các yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Việc
Trang 17làm bình thường xét về mặt kỹ thuật thường có thao tác hoạt động, quy trình, quy phạm của nghề, công việc tương đối đơn giản Người lao động tiến hành công việc trong điều kiện lao động tương đối thuận lợi và ít bị nguy cơ đe dọa
về tính mạng thân thể Chính vì vậy mà người lao động có thể trực làm hoặc tuy có sự bảo hộ nhưng không đáng kể để giải quyết công việc đó một cách an toàn và không để lại những hậu quả xấu cho tương lai [10]
Việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là công việc chứa các yếu tố
có hại cho cơ thể con người như hóa học, vật lý, sinh học, môi trường đối với
cơ thể người lao động Khi người lao động trực tiếp thực hiện các công việc trong điều kiện lao động đó thì các yếu tố trên sẽ có tác động vào cơ thể người lao động gây ra các bệnh nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe Ngoài ra, với các yếu tố nguy hiểm, độc hại của công việc thì nguy cơ tại nạn lao động xảy
ra đối với người lao động là rất lớn
- Căn cứ vào đối tượng lao động, việc làm được phân thành hai loại: Việc làm cho người lao động bình thường và việc làm cho người lao động đặc thù Tình trạng đặc thù của người lao động được thể hiện qua việc giới hạn những công việc và giới hạn chịu được những công việc do nguyên nhân xuất phát từ tình trạng cơ thể [10]
Đối với những người lao động bình thường, có sức khỏe về thể lực và trí lực thì họ sẽ lao động trong các điều kiện lao động bình thường Họ là những người có năng lực lao động đầy đủ
Đối với một số lực lượng lao động đặc thù như lao động chưa thành niên, lao động nữ hoặc lao động là người khuyết tật, là những lao động có
sự phát triển không bình thường hoặc khiếm khuyết về cơ thể hoặc không phù hợp với tình trạng cơ thể khiến họ không có nhiều cơ hội để thực hiện tất cả các công việc [10] Nhà nước có những quy định cụ thể đối với họ Điều này thể hiện trong việc Nhà nước đưa ra những điều kiện ưu tiên và
Trang 18những hành vi cấm người lao động, người sử dụng lao động không được làm và có cả những cơ chế ưu đãi với người sử dụng lao động nếu có sử dụng lực lượng lao động này
- Căn cứ vào tính chất công việc và thời gian làm việc, việc làm được phân thành hai loại: Công việc làm trọn thời gian và công việc không làm trọn thời gian
Công việc làm trọn thời gian là việc làm mà người lao động có thể thực hiện công việc với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hay quy định của người sử dụng lao động Theo đó người lao động phải dành toàn bộ thời gian làm công việc đó và phải có trách nhiệm với công việc đó Đặc biệt khi người lao động có sự gắn bó với công việc thì sẽ tạo được kỹ năng và tính yêu nghề, tâm lý ổn định cho họ
Việc làm không trọn thời gian là việc làm có thời gian làm việc ngắn hơn với thời gian làm việc bình thường theo ngày được quy định trong pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng lao động Theo đó, công việc làm không trọn thời gian thì những người thực hiện việc làm đang có một công việc đòi hỏi thời gian làm việc không dài hoặc tính chất công việc không ổn định Người lao động chỉ phải thực hiện nghĩa vụ công việc trong một thời gian ngắn, sự có mặt của người lao động tại nơi làm việc không đòi hỏi thường xuyên Đây là công việc mà người lao động thường làm thêm hoặc công việc có tính chất tạm thời Tuy nhiên, việc thực hiện công việc đó vẫn phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động về việc làm và các quy định về việc làm
- Ngoài ra, xét theo vị trí lao động, mức độ sử dụng thời gian làm việc của người lao động thì việc làm cũng được phân thành việc làm chính và việc
Trang 19làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.
Hay cũng có thể chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần Thời gian làm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định
1.1.3 Tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm
Việc làm và giải quyết việc làm luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc Nhân tố quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội đó chính là con người Con người bằng trình độ, năng lực, sức lao động của mình đóng góp vào sự phát triển chung đó thông qua việc làm Xã hội càng phát triển thì vấn đề tạo việc làm
và giải quyết được bài toán về giải quyết việc làm cho người lao động càng trở nên được quan tâm và ưu tiên hàng đầu Chính vì thế, việc làm và giải quyết việc làm có vai trò rất quan trọng đối với quốc gia, cá nhân, đơn vị sử dụng lao động và xã hội:
Đối với mỗi quốc gia: Việc làm là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển, tiến
bộ của quốc gia Bởi thế, giải quyết việc làm phải gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội Một xã hội phát triển bền vững phụ thuộc vào sự nỗ lực, quan tâm giải quyết việc làm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn xã hội Do vậy, để phát triển, xã hội cần xác định giải quyết tốt việc làm, tạo thu nhập cho mọi người có cuộc sống ổn định Lao động là một trong những
Trang 20nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nói riêng và của quốc gia nói chung Vì vậy, nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hòa giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững [29] Bên cạnh đó, giải quyết được việc làm, hạn chế thất nghiệp, giúp cho xã hội phát triển ổn định bền vững, bảo đảm phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, ngăn ngừa, hạn chế các tệ nạn tiêu cực xảy ra
Đối với mỗi cá nhân: Có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống
bản thân mình, nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân Vì vậy, việc làm có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế
và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Việc làm tạo ra giá trị vật chất và tinh thần trong đời sống con người, làm cho xã hội luôn phát triển, quan hệ việc làm có thể là quan hệ tiền quan
hệ lao động, có thể đan xen với quan hệ lao động, không có việc làm thì không thể có quan hệ lao động
Việc làm là điều kiện tiên quyết giúp con người tồn tại, hòa nhập vào cộng đồng cũng như nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng xã hội Thông qua việc làm mọi người lao động có điều kiện khẳng định mình trong cuộc sống và luôn hướng tới những giá trị nhân văn cao đẹp Đặc biệt, việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có
Trang 21trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, ) Như vậy, việc làm là một yếu tố giúp con người nói chung và người lao động nói riêng tồn tại, hòa nhập cộng đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động đối với cộng đồng Việc làm không chỉ là nguồn sống mà còn là lẽ sống, một trong những điều kiện quan trọng để phát triển và hoàn thiện nhân cách con người Đồng thời, việc làm là một trong các quyền của con người thuộc nhóm về kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân được quy định trong Hiến pháp
Đối với đơn vị sử dụng lao động: Người lao động là nhân tố quyết
định đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của cơ quan, tổ chức sử dụng lao động Đối với mỗi đơn vị sử dụng lao động, bất kể là cơ quan nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hay các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp thì ngay từ đầu khi xây dựng đề án thành lập, hoạt động thì yếu tố con người, tổ chức nhân sự luôn được đặt lên hàng đầu sau yếu tố về tài chính và các nguồn lực khác Bởi chính con người, mỗi một cá nhân, người lao động mới hình thành nên tổ chức, hình thành nên bộ máy, hình thành nên tập thể và quyết định đến
sự vận hành, phát triển của cơ quan, tổ chức Cá nhân, người lao động có mạnh thì cả tập thể mới mạnh Mạnh ở đây phải kể đến trình độ, năng lực, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết của người lao động Người sử dụng lao động phải biết tuyển người, dùng người vừa đúng, vừa trúng và phát huy được năng lực của người lao động bằng các hoạt động quản lý của mình
Ngoài ra, luôn biết tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động, thể hiện vai trò, trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động đối với người lao động, sự quan tâm của người quản lý về đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động và nó cũng là mối quan hệ tạo nên sự gắn kết giữa người lao động với người sử dụng lao động và ngược lại Muốn vậy, người sử dụng lao động luôn luôn phải tìm kiếm, tạo ra việc làm và giải quyết việc làm nhằm ổn định tiền lương, tăng thu nhập cho người lao động Vì thế yếu tố việc làm, tạo
Trang 22việc làm và người lao động là hai yếu tố cơ bản quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị sử dụng lao động
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm
1.2.1 Các nguyên tắc về việc làm và giải quyết việc làm
Thứ nhất, Nhà nước thống nhất quản lý lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Tinh thần của nguyên tắc này thể hiện ở khoản 1 Điều 7, Luật việc
làm “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả
nước” Tại Điều 9 Bộ luật Lao động quy định: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm” Với tư
cách vừa là chủ thể quản lý, vừa là chủ thể sử dụng lao động lớn nhất hiện nay, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho từng cá nhân người lao động Do vậy, Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động bằng pháp luật và có chính sách để phát triển , phân bố nguồn nhân lực , phát triển đa da ̣ng các hình thức sử du ̣ng lao động và di ̣ch vu ̣ việc làm Theo
đó, Nhà nước chủ yếu thực hiện, quản lý ở tầm vĩ mô bằng việc ban hành và
tổ chức thực hiện các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước phải đảm bảo việc làm thông qua việc xác định chỉ tiêu tạo việc làm trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 10 năm, 5 năm và hàng năm gắn với chính sách việc làm và lao động , đảm bảo cơ hội làm việc bình đẳng, công bằng cũng như xây dựng , tạo lập các công cụ , thể chế hỗ trợ trong lĩnh vực tạo và giải quyết việc làm ; khuyết khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động; phân bổ ngân sách và bảo đảm nguồn lực để tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình giải quyết việc làm của quốc gia cũng như từng địa phương
Trang 23Thứ hai, cấm cưỡng bức , ngược đãi ngư ời lao động trong việc làm và giải quyết việc làm
Vấn đề cấm ngược đãi và cưỡng bức người lao động trong quá trình lao động là nguyên tắc được nhiều quốc gia quan tâm trong việc xây dựng và thực hiện các quy định về việc làm Ở Việt Nam, nguyên tắc nà y được quy
đi ̣nh ta ̣i Khoản 2, khoản 3 Điều 8 Bộ luật Lao động năm 2012: "Cấm ngược đãi người lao động”, “cấm cưỡng bức người lao động" Hay tại khoản 4, Điều
9 Luật việc làm cũng quy định “cấm dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động…” Nội dung nguyên tắc này thể hiện các cơ quan Nhà nước cũng như người sử du ̣ng lao động không được buộc người lao động phải tiến hành những việc làm trái với ý nguyện của họ và trong quá trình sử dụng lao động không được có những hành vi có tính chất ngược đãi người lao động Đây là một nguyên tắc thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của Nhà nước
ta, nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động Bởi vì, trước hết người lao động thuộc về số đông người trong xã hội Hơn nữa, trong quan hệ lao động các chủ thể có đi ̣a vi ̣ kinh tế không bình đẳng Người sử dụng lao động có đầy đủ các điều kiện về vốn , tư liệu sản xuất , công nghệ kỹ thuật Ngược lại , người lao động la ̣i rơi vào vi ̣ thế yếu, họ chỉ có một tài sản duy nhất là sức lao động để đổi lấy thu nhập , đảm bảo cuộc sống Chính vì vậy , trong quá trình lao động, người sử dụng lao động không được dùng vị thế kinh tế của mình để
ép buộc, cưỡng bức, ngược đãi người lao động phải làm việc theo ý muốn của mình trái với quy đi ̣nh của pháp luật, vi pha ̣m quyền con người Tinh thần của nguyên tắc này nhằm hướng tới mục đích bảo vệ nhân quyền và chống lại tình trạng nô dịch việc làm
Thứ ba, bình đẳng trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” (khoản 1, Điều 16) Theo đó, mọi người lao động
Trang 24đều có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng trong trả công khi làm công việc như nhau, không bị phân biệt đối xử về bất cứ tiêu chí
nào Điểm a khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động năm 2012 quy định “Người lao
động có quyền nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử”
Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong việc làm, Bộ luật lao
động năm 2012 quy định: “Cấm phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu
da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo ” (khoản 1
Điều 8) Luật việc làm năm 2013 quy định: “Bình đẳng về cơ hội việc làm và
thu nhập” (khoản 2 Điều 4); “cấm phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp" (khoản 1 Điều 9) Người lao động không bị phân biệt đối xử về dân
tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo trong lĩnh vực việc làm Họ có thể làm việc ở bất cứ nơi nào miễn là ho ̣ có sức khỏe , khả năng và trình độ nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của người tuyển du ̣ng lao động
Không ai có thể phủ nhận những ưu thế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa Dưới góc độ việc làm, toàn cầu hóa tạo ra một lượng việc làm rất lớn thậm chí vượt ra khỏi biên giới quốc gia, từ đó khả năng lựa chọn và cơ hội việc làm cho mỗi công dân là rất cao Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng có những mặt trái của nó về lĩnh vực việc làm Đó là tình trạng thất nghiệp, là sự phân biệt việc làm của nhóm người lao động yếu thế Và ở đây, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước là phải hạn chế đến mức thấp nhất sự bất bình đẳng trong vấn đề việc, đảm bảo công bằng trong cung cấp việc làm
và tiếp cận việc làm cho mọi công dân [5] Vì thế, nguyên tắc bình đẳng trong lĩnh vực việc làm một mặt đảm bảo quyền lợi cho người lao động được có cơ hội việc làm, mặt khác ta ̣o điều kiện để người lao động phát huy khả năng tìm tòi sáng ta ̣o, không ngừng ho ̣c tập nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật đáp ứng yêu cầu của người sử du ̣ng lao động
Trang 25Thứ tư, đa dạng hóa việc làm và khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo ra việc làm
Với dân số khoảng hơn 90 triệu dân ở nước ta hiện nay thì số lượng lao động có nhu cầu có việc làm là rất lớn, thật sự là sức ép đối với xã hội và Nhà nước ta Vì vậy, việc đa dạng hóa các nguồn và hình thức tạo, giải quyết việc làm là hướng đi cần thiết của Nhà nước ta nhằm khai thác nguồn lực và tận dụng mọi tiềm năng của xã hội trong lĩnh vực giải quyết việc làm [5]
Đa dạng hóa việc làm được coi là nguyên tắc linh hoạt, mềm dẻo và đầy tính nhân văn, tính an sinh xã hội của nước ta Áp dụng nguyên tắc này nhằm tạo cơ chế mở cho người sử dụng lao động và người lao động trong việc tìm kiếm việc làm, tạo ra việc làm mà không bị pháp luật cấm nhằm tạo ra việc làm ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn, chất lượng hơn, đặc biệt phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định
Nguyên tắc này được hiểu là việc Nhà nước huy động mọi nguồn lực, khả năng của xã hội trong giải quyết việc làm, đồng thời phải đa dạng và sử dụng một cách linh hoạt các hình thức tạo ra việc làm và giải quyết việc làm Bên cạnh đó còn phát huy tính chủ động, năng động của mọi người lao động
có khả năng lao động trong xã hội và khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nhà nước khuyến khích mo ̣i hoa ̣t động ta ̣o ra việc làm , mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút lao động Nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, vừa thể hiện trách nhiệm của xã hội, của người sử dụng lao động và của cá nhân người lao động trong một mối quan quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau trong vấn đề việc làm và giải quyết việc làm
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm
Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
Trang 262013 khẳng định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”; Bô ̣ luâ ̣t Lao đô ̣ng năm 2012 đã dành trọn Chương II để quy đinh về việc làm, với các quy định cụ thể về quyền làm việc của người lao động; quyền tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động; chính sách Nhà nước hỗ trợ việc làm; chương trình việc làm; tổ chức dịch vụ việc làm… Luật việc làm năm 2013 có những quy định cụ thể về chính sách, pháp luật như: Chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm; chính sách hỗ trợ chuyển dịch việc làm đối với lao động nông thôn; chinhs ách việc làm công Ngoài ra, Nhà nước cũng đã ban hành Luật Bảo hiểm Xã hội , Luật Dạy nghề , Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ; Luâ ̣t Doanh nghiê ̣p, Luật Hợp tác xã trong đó có những quy định về giải quyết việc làm, đẩy mạnh tạo việc làm gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chủ động sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện theo hướng thị trường, phù hợp dần với bối cảnh hội nhập quốc tế
Song song đó, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được ban hành và thực thi như : huy đô ̣ng nguồn vốn đầu tư phát triển , đẩy mạnh phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm ; lâ ̣p Quỹ Quốc gia về viê ̣c làm để cho vay vốn ta ̣o viê ̣c làm với lãi suất ưu đãi ; hình thành Quỹ Giải quyết việc làm địa phương ; hình thành và phát triển hệ thống các Tổ chức dịch vụ việc làm, và các cơ sở đào tạo nghề xã hội ; phát triển nhiều hình thức, mô hình tổ chức giải quyết viê ̣c làm phong phú , đa da ̣ng; quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao đô ̣ng nhằm giải quyết viê ̣c làm với thu nhâ ̣p cao , đồng thời nâng cao trình độ tay nghề , tác phong công nghiệp cho người lao đô ̣ng từ đó , góp phần nâng cao nhâ ̣n thức của các cấp , các ngành về tạo việc làm cho người lao đô ̣ng, qua đó, đã huy đô ̣ng được mo ̣i nguồn lực cho đầu tư phát triển và tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Xác định việc làm là một vấn đề cấp thiết, giải quyết việc làm cho người
Trang 27lao đô ̣ng là mô ̣t trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế –
xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
đã được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, cụ thể:
“Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực của người lao động Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, cải thiện môi trường và điều kiện làm việc Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI cũng xác định rõ: “Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập
cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”
Thực hiện chủ trường, chính sách đó, trong những năm qua các cấp, các ngành đã tập trung triển khai thực hiện quyết liệt nên đã góp phần tích cực giảm sức ép việc làm trong nước, tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị
Về chính sách, pháp luật: Các chính sách về việc làm đã được luật hoá trong Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn đã quy định một số tiêu chuẩn cơ bản, các chủ trương, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước để thúc đẩy công tác giải quyết việc làm cho người lao động Tuy nhiên, các chính sách này chủ yếu điều chỉnh đối với lao động có quan hệ lao động, các đối tượng khác như việc làm ở khu vực phi chính thức/phi kết cấu, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ thể
Nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn Các chính sách còn mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể, còn thiếu các chính sách về bình đẳng việc làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời gian; các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa được xác định rõ; các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu
Trang 28cầu thực tiễn gây khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm
Về tổ chức thực hiện: Các chính sách được ban hành tương đối đầy đủ
và đồng bộ, tuy nhiên, việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do cơ chế chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các
cơ quan thực hiện Một số địa phương, doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được ban hành, ví dụ như quy định về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa phương, đảm bảo tỷ lệ lao động là người tàn tật, việc thực hiện các chế độ đối với người lao động,
Trái với quy định, nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với kế hoạch tạo việc làm, tuy nhiên, nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội khi triển khai không gắn với quy hoạch nguồn nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm cho người lao động dẫn đến tình trạng nhiều khi không tuyển được lao động, hoặc có tuyển được nhưng không đáp ứng yêu cầu, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của các chương trình, dự án đó
Các dự án cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm chủ yếu là dự án trong lĩnh vực nông nghiệp, đối tượng vay là các cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ thấp nên nhìn chung chưa tạo thêm nhiều việc làm mới; một số dự án cho vay sai mục đích , không đúng đối tượng; nhu cầu vay vốn lớn nhưng ngu ồn vốn có hạn , cơ chế quản lý , sử du ̣ng nguồn vốn chưa hợp lý gây ảnh hưởng đáng kể đến hoa ̣t đô ̣ng của quỹ
Hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ng oài là hoạt động mang ý nghĩa chính trị – kinh tế – xã hội quan trọng nhưng mức độ quan tâm chưa cao, thể hiê ̣n ở chỗ người đưa đi chủ yếu là lao đô ̣ng phổ thông, ý thức kỷ luật còn thấp, tỷ lệ bỏ trốn cao hơn các nước trong khu vực; còn nhiều tiêu cực trong hoa ̣t đô ̣ng XKLĐ…
Trang 291.3 Pháp luật việc làm và giải quyết việc làm theo quan điểm của
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam
1.3.1 Tổ chức lao động Quốc tế
Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cũng được Tổ chức lao động Quốc tế (International Labour Ognization) - ILO xem như một tôn chỉ để thực hiện các hoạt động của mình Trong Điều lệ của ILO năm 1919 đã đề ra cương lĩnh: Chống nạn thất nghiệp, bảo đảm tiền công đủ sống” Năm 1969, ILO đưa ra “Chương trình việc làm thế giới” với mục tiêu là tạo việc làm có hiệu quả cao cho một số lượng lớn người dân, đồng thời ILO còn tiến hành các hoạt động hỗ trợ các quốc gia thành viên của ILO trong việc soạn thảo, xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hành động quốc gia nhằm đạt mục tiêu này Năm 1976, ILO tổ chức hội nghị việc làm thế giới, tại hội nghị này đã thông qua tuyên bố về các nguyên tắc và chương trình hành động nhằm loại trừ nghèo khổ, phát triển việc làm đầy đủ, có hiệu quả, thỏa mãn những yêu cầu cơ bản của người lao động ILO đã ban hành nhiều công ước quan trọng về vấn đề việc làm và chống thất nghiệp như: Công ước số 88 (1948) về tổ chức dịch vụ việc làm; Công ước số 122 (1964) về chính sách việc làm; Công ước số 159 (1983) về tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người lao động có khuyết tật; Công ước số 168 (1988) về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp; Công ước số 111 (1958) về phân biệt đối
xử trong việc làm và nghề nghiệp; Theo tinh thần công ước 122, chính sách việc làm phải đảm bảo ba yếu tố sau:
- Có việc làm cho tất cả những người sẵn sàng làm việc và đang tìm kiếm việc làm;
- Sẽ có sự tự do lựa chọn việc làm và cơ may rộng lớn cho người lao động để đạt trình độ tay nghề và sử dụng được trình độ tay nghề và năng khiếu của mình trong một công việc thích hợp
Trang 30- Việc làm đó ngày càng có năng suất tốt;
Như vậy, theo Công ước 122, giải quyết việc làm phải hướng tới các cấp độ có hiệu quả khác nhau Việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và người lao động được tự do lựa chọn việc phù hợp với khả năng của mình
Theo ILO thì: Người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được làm việc trở lại
Bên cạnh đó, theo tinh thần Tuyên ngôn về quyền con người 1948 của Liên hợp quốc cũng ghi nhận: Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo
vệ chống lại thất nghiệp Khi ban hành Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966, Liên hợp quốc cũng có nội dung quy định về việc làm với tinh thần: Các quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền làm việc trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp thuận và các quốc gia sẽ thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này
Việt Nam là thành viên của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) vì vậy Việt Nam đã có những động thái tích cực trong việc luật hóa các quy định của ILO vào pháp luật Việt Nam phù hợp với đặc điểm văn hóa, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Chính phủ đã xây dựng các Bộ luật quan trọng như Bộ Luật Lao động, Dân sự, Hình sự… nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho người lao động Các chính sách và các Bộ Luật luôn được Chính phủ sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời cũng là để tương thích với các tiêu chuẩn lao động qui định trong
Trang 31Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn các công ước của ILO bao gồm: Các công ước số 87 và 98 về tự do lập hội và thỏa ước lao động tập thể; Các công ước số 29 và 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc; các công ước số 100 và 111 về xóa bỏ việc làm và nghề nghiệp; các công ước số 138
và 182 về xóa bỏ lao động trẻ em [24, tr.118]
Hoạt động của ILO tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể đặc biệt từ giữa những năm 1990 trở lại đây Các hỗ trợ của ILO tập trung giúp Chính phủ hoạch định chiến lược và chính sách về lao động, việc làm nhằm giúp cải thiện điều kiện sống và điều kiện làm việc của người lao động Trong thời gian tới ILO sẽ tập trung hỗ trợ cho công tác ngăn chặn và xoá bỏ tình trạng lao động trẻ em, tăng cường bình đẳng nam nữ, phát triển các doanh nghiệp, bảo trợ xã hội, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp, thúc đẩy các mối quan hệ lao động và đối thoại xã hội Nhìn chúng, các hoạt động hợp tác đều gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ và phù hợp với bốn mục tiêu chiến lược về chương trình việc làm của ILO
1.3.2 Pháp luật của một số quốc gia
Các quốc gia hiện nay cũng rất coi trọng vấn đề việc làm, bởi nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển, ổn định của chính quốc gia đó Giải quyết tốt vấn đề việc làm và phúc lợi xã hội chính là yếu tố thể hiện sự tiến bộ, văn minh của đất nước đó Để giải quyết tốt vấn đề việc làm, hầu hết các quốc gia
đã quy định vấn đề đó vào pháp luật của quốc gia mình với sự quan tâm đặc biệt như: Tại Nhật Bản ban hành Luật về ổn định việc làm năm 1947; Mỹ có Luật về việc làm và đào tạo nghề năm 1973; Ba Lan có Luật về việc làm và bảo hiểm thất nghiệp năm 1991; Trung Quốc có sắc luật về trợ cấp việc làm năm 1996, Luật xúc tiến việc làm, Luật đào tạo, phát triển kỹ năng nghề; Hàn Quốc có Luật khung chính sách việc làm, Luật đào tạo, phát triển kỹ năng nghề, Luật bảo hiểm việc làm, Luật quản lý lao động nước ngoài; Luật đào tạo,
Trang 32phát triển kỹ năng nghề của Philippines; Luật nhân lực Indonexia; Đạo luật về dịch vụ việc làm của Thái Lan; Luật bảo đảm việc làm của Nhật Bản; Luật lao động năm 1955 của Brunei Mặc dù vậy, đối với mỗi quốc gia thì vấn đề việc làm lại được nhìn nhận có nét khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, nhìn chung các quốc gia đều có xu hướng tiếp cận các chuẩn mực Quốc tế đã được hình thành để phù hợp với quá trình phát triển, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế Quốc tế ngày càng sâu rộng
Luật Nhân lực năm 2003 của Indonexia, dành hẳn một chương quy định
về quy hoạch nhân lực và thông tin nhân lực Chương 6 về sắp xếp việc làm, Điều 31 quy định: Bất kỳ nhân lực nào cũng có quyền bình đẳng và các cơ hội lựa chọn việc làm, có việc làm và thay đổi công việc để có thu nhập chính đáng
dù là lao động ở trong nước hay đi làm việc ở nước ngoài Luật lao động năm
1955 của Brunei quy định rất chi tiết, cụ thể về các điều kiện làm việc để bảo
vệ quyền lợi ích chính đáng cho người lao động mà Việt Nam nên lấy đó làm
cơ sở cho việc quy định, thể chế hóa để phù hợp với pháp luật Việt Nam Ví
dụ, Điều 59, quy định: Mỗi người sử dụng lao động sẽ lưu giữ một sổ đăng ký tất cả những người lao động tại nơi làm việc của mình theo mẫu quy định; Điều
72, 74, 75 quy định: Cấm không được tuyển dụng trẻ em làm việc trong bất kỳ công việc nào; Không được tuyển dụng vị thành niên làm đêm trong bất kỳ công việc lao động nào; không được tuyển dụng phụ nữ làm việc ban đêm trong bất kỳ công việc lao động nào Trong trường hợp đặc biệt phải được Quốc Vương quy định Hay có những quy định rất tích cực, tiến bộ để bảo về quyền lợi của người lao động đó là: Người lao động cấm tính lãi trên các khoản tạm ứng tiền lương của người lao động; người lao động được chăm sóc và điều trị bằng thuốc có chất lượng tốt, thiết bị sơ cứu và các thiết bị vận chuyển tại địa điểm làm việc Luật Việc làm của Philippines là một cơ sở để chúng ta tham khảo Luật này quy đi ̣nh về quản lý việc tuyển du ̣ng người lao động , bao gồm
Trang 33việc thiết lập một hệ thống đăng ký và cấp giấy phép lao động , tăng cường mạng lưới các văn phòng việc làm công và hợp lý hóa sự tham gia của khu vực
tư nhân vào tuyển mộ và bố trí người lao động , cả trong và ngoài nước , phục
vụ cho các mục tiêu phát triển quốc gia , nhất là đảm bảo việc tuyển cho ̣n kỹ càng người lao động Philippines đi làm việc ở nước ngoài để bảo vệ danh tiếng
tốt của người Philippines ở nước ngoài [2]
Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, bảo đảm và ưu tiên cho người lao động trong nước có việc làm, Bộ luật lao động năm 1955 của Malayxia quy định việc chấm dứt hợp đồng do dư thừa lao động:
Trong trường hợp phải cắt giảm nhân công do dư thừa lao động người sử dụng lao động phải chấm dứt hợp đồng với tất cả lao động nước ngoài trước khi chấm dứt hợp đồng với lao động địa phương, số lượng lao động nước ngoài bị cắt giảm bằng với số lao động địa phương
Luật lao động năm 1997 của Campuchia lại đưa ra nguyên tắc theo thứ
tự ưu tiên để quy định về việc cho nghỉ việc hàng loạt để bảo vệ quyền lợi cho người lao động trên nguyên tắc bình đẳng, công khai: Người sử dụng lao động đưa ra các thứ tự nghỉ việc theo bằng cấp chuyên môn, thâm niên làm việc trong cơ sở và gánh nặng của gia đình của người lao động [2]
Vấn đề bảo vệ quyền lợi cho lao động đặc thù nói chung và lao động là người khuyết tật cũng rất được các nước quan tâm nhằm bảo đảm quyền công bằng, cơ hội cho người lao động là người khuyết tật có việc làm trong thị trường lao động Điều 3 Hiến pháp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
năm 1988 quy định: “Người khuyết tật có quyền được hưởng quyền bình đẳng
như các công dân khác trên các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như trong cuộc sống gia đình và cấm phân biệt đối xử, lăng mạ, quấy rối người khuyết tật’’ Tỷ lệ người khuyết tật được làm việc tại các doanh nghiệp
Trang 34cũng được các nước quy định rất rõ Đức đã định ra chính sách định mức với 10% cho các khối công sở, ngân hàng và bảo hiểm; 6% cho khu vực tư nhân
và các lĩnh vực còn lại Tại các nước thuộc khối liên minh Châu Âu, tỷ lệ định mức giao động từ khoảng 2% [8]
Chúng ta có thể thấy được rằng, pháp luật về lao động và việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động đã được một số nước trên thế giới nhìn nhận, quan tâm đặc biệt từ rất sớm Quy định pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động ở một số nước trên thế giới là bài học kinh nghiệm quý để Việt Nam nhìn nhận, đánh giá, tham khảo, vận dụng và áp dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển của Việt Nam Có thể tham khảo luật Nhân lực của Indonexia để chúng ta có thể quy định cụ thể
về quy hoạch nhân lực và thông tin nhân lực trong Bộ luật lao động hoặc luật việc làm khi có sửa đổi, bổ sung nhằm giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có tầm nhìn chiến lược trong việc đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước Hay trong xu thế phát triển hiện nay, việc người Việt Nam đi lao động có thời hạn ở nước ngoài ngày một tăng thì chúng ta có thể tham khảo Luật việc làm của Philipin để xây dựng chế định quy định về quản lý việc tuyển du ̣ng người lao động , tăng cường mạng lưới các văn phòng việc làm công và hợp lý hóa sự t ham gia của khu vực tư nhân vào tuyển mộ và bố trí người lao động , cả trong và ngoài nước , phục vụ cho các mu ̣c tiêu phát triển quốc gia , nhất là đảm bảo việc tuyển cho ̣n kỹ càng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để bảo vệ danh tiếng tốt của người Việt Nam ở nước ngoài
Có việc làm là nguyện vo ̣ng đáng trân tro ̣ng của con người Mọi người
có sức lao động đều có quyền có việc làm và là m việc, có quyền tiến hành bất cứ hoa ̣t động nào m à ta ̣o ra thu nhập cho bản thân , gia đình, xã hội với điều kiện hoa ̣t động đó là hợp pháp , phù hợp với nguyên tắc : "Công dân có quyền
Trang 35làm những gì mà pháp luật không cấm" Với ý nghĩa đó, pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm đã tạo ra hành lang pháp lý cơ bản, quan trọng, là một trong những cơ sở đầu tiên làm phát sinh các vấn đề pháp lý có liên quan tới quan hệ lao động để từ đó Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội tiến hành thực hiện các chủ trương, biện pháp giải quyết việc làm Với một hệ thống các văn bản và quy định khá hoàn chỉnh, pháp luật lao động đã ta ̣o được hành lang pháp lý tương đối thuận lợi cho vấn đề việc làm và giải quyết việc làm , biến chủ trương, chính sách về việc làm thành các quy đi ̣nh cu ̣ thể về quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương phù hợp với từng giải đoạn phát triển
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Thực trạng pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm
2.1.1 Về trách nhiệm các bên trong lĩnh vực việc làm
2.1.1.1 Trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo việc làm cho người lao động
Trong vấn đề giải quyết việc làm , Nhà nước có vai trò , trách nhiệm rất lớn trong việc hoạch định chính sách, pháp luật và quản lý ở tầm vĩ mô
Đối với Nhà nước, chủ thể quản lý xã hội, đồng thời là người sử dụng lao động lớn nhất trong xã hội, việc tạo ra việc làm, nâng cao giá trị của việc làm là vô cùng quan trọng Vì, mọi thu nhập chủ yếu của Nhà nước đều từ hoạt động lao động Sinh hoạt quan trọng nhất của Nhà nước và doanh nghiệp chính là sự vận động tạo việc làm và thực hiện việc làm Vì vậy, chính sách tạo và giải quyết việc làm là chính sách có ý nghĩa sống còn của Nhà nước và xã hội [12, tr.32]
Trách nhiệm của Nhà nước là rất to lớn trong việc giải quyết việc làm thể hiện ở đảm bảo việc làm thông qua hoa ̣ch đi ̣nh , xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với chính sách việc làm và lao động , đảm bảo cơ hội làm việc bình đẳng , công bằng cũng như xây dự ng, tạo lập các công cu ̣, thể chế hỗ trợ trong lĩnh vực ta ̣o và giải quyết việc làm Nhà nước còn đóng vai trò trong việc có chính sách khuyến khích cầu lao động như thu hút đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp để thu hút lao động , cho vay vốn giải quyết việc làm và tự ta ̣o việc làm ; tăng các chương trình , dự án phát triển kinh tế -
xã hội thu hút nhiều lao động , chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động , khởi sự
Trang 37doanh nghiệp; hỗ trợ nhóm lao động yếu thế Bên ca ̣nh đó, Nhà nước còn có chính sách đầu tư phát triển nguồn lao động, chú tro ̣ng da ̣y nghề cho lao động nông thôn, dân tộc thiểu số, chính sách quản lý lao động di chuyển Ngoài ra, Nhà nước ban hành các chính sách với vai trò bà đỡ hỗ trợ thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp , thúc đẩy tái cơ cấu lao động trong các doanh nghiệp như chính sách về BHXH, BHTN thông qua các quy đi ̣nh về trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc , mất việc làm, về hưu trước thời ha ̣n nh ằm điều hòa mức tiêu dùng , giảm bớt gánh nặng về tài chính cho người lao động bị mất việc làm và thất nghiệp
Xuất phát từ vai trò to lớn và quan tro ̣ng của Nhà nước , Điều 9, Điều
12, Điều 13 và Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2012 quy đi ̣nh trách nhiệm của Nhà nước từ khâu xác định kế hoa ̣ch chỉ tiêu tạo việc làm cho lao động, chính sách vay vốn , chính sách giảm miễn thuế , chính sách khuyến khích và ta ̣o điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doa nh, coi tro ̣ng ưu đãi về giải quyết việc làm cho các dân tộc ít người , khuyến khích tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước kể cả Việt Nam đi ̣nh cư ở nước ngoài, tiến hành đầu
tư giải quyết việc làm Bên ca ̣nh những quy đi ̣nh có t ính nguyên tắc chung , Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn cũng đã đưa ra các biện pháp cơ bản giải quyết việc làm có liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước Một
trong những biện pháp quan tro ̣ng nhằm giải quyết việc làm đ ó là "Thành lập
Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật" (khoản 5 Điều 12)
Đặc biệt, Luật việc làm năm 2013 quy định rất rõ về nội dung và thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm: Theo đó, nội dung bao gồm: Ban hành
và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về việc làm Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về việc làm Quản lý lao động, thông tin thị trường lao động, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và bảo hiểm
Trang 38thất nghiệp Quản lý tổ chức và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm Hợp tác quốc tế về việc làm Thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm được quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả nước Bộ Lao động – Thương binh và xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về việc làm Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và xã hội thực hiện quản lý nhà nước về việc làm UBND các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về việc làm tại địa phương
Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên trong quá trình thi hành Bộ luật lao động năm 2012 và Luật việc làm năm 2013 đã có một số vướng mắc, cần phải có sự quan tâm từ phía Nhà nước:
- Theo quy định mới từ Luật việc làm, người thất nghiệp sẽ được hỗ trợ tối đa 6 tháng trợ cấp học nghề (tối đa 1 triệu đồng/tháng) Nhưng quy định tại Điểm h, Khoản 3, Điều 53 trong Luật việc làm lại chỉ rõ: Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp mà đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên sẽ
bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, dù thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu Thực tế cho thấy đây là quy định làm khó cho người lao động Và thực tế cho thấy, trong quá trình học tập để nâng cao trình độ sau khi thất nghiệp, người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, vì họ không có tiền đóng học phí, mua sách vở, dụng cụ, chi phí sinh hoạt Vì thế, người lao động muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp để đi học thì phải tìm những nghề có thời gian học dưới 12 tháng Trên thực tế, với thời gian học ngắn như vậy, người lao động
Trang 39khó kiếm được việc làm ổn định với mức lương khá Và quy định này không những bất cập mà còn cản trở người lao động nâng cao trình độ Như vậy thì
ý nghĩa của việc trợ cấp thất nghiệp sẽ không còn mang đúng tính chất của nó như quy định tại Khoản 4, Điều 3
- Chế độ đối với người thất nghiệp bao gồm: Trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tìm việc làm; hỗ trợ đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nghề nghiệp: Các điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định bao gồm các điều kiện về việc chấm dứt hợp đồng, thời gian đóng bảo hiểm tối thiểu của NLĐ, đăng ký thất nghiệp và tình trạng tìm kiếm việc làm sau khi chấm dứt hợp đồng [26] Theo quy định tại Khoản 1, Điều 50: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc Với quy định này
có thể ảnh hưởng đối với những người đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp với mức lương cao hơn 20 lần mức lương tối thiểu chung
- Vấn đề liên quan đến BHTN: Theo quy định, đối tượng bắt buộc tham gia BHTN được mở rộng Nghĩa là, người lao động làm việc theo hợp đồng mùa vụ từ 3 tháng trở lên phải tham gia BHTN Tuy nhiên, theo thực tế số doanh nghiệp đóng BHTN cho lao động vẫn rất thấp Bởi lẽ, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chưa ổn định, nhiều đơn vị phá sản, giải thể, chuyển đổi loại hình kinh doanh, cắt giảm lao động khiến doanh nghiệp trốn đóng BHTN Ngoài ra, làm căn cứ đóng BHTN là tiền lương tối thiểu vùng Tuy nhiên trên thực tế, hiện có nhiều doanh nghiệp có trụ sở ở
Trang 40một vùng nhưng các bộ phận sản xuất kinh doanh ở các vùng khác nhau , nên chưa biết người sử dụng lao động và người lao động sẽ tham gia BHTN theo mức lương nào
- Theo Luật việc làm năm 2013, người thất nghiệp sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp nếu sau hai lần từ chối nhận việc do Trung tâm Dịch vụ việc làm nơi đang hưởng TCTN giới thiệu mà không có lý do chính đáng Đây là
quy định bất lợi cho lao động nếu không được hướng dẫn rõ thế nào là
không có lý do chính đáng Nếu việc làm không phù hợp với năng lực hoặc
đi làm quá xa, người lao động không thể đáp ứng được thì có được xem là chính đáng không?
Bên cạnh đó, chính sách trợ cấp thất nghiệp là để bù đắp thu nhập trong thời gian người lao động không có việc làm, không có nguồn thu nhập khác Thế nhưng, tình trạng người lao động mất việc song đã tìm được chỗ làm mới nhưng không báo cho cơ quan chuyên trách; người đang làm việc nhưng “giả” thất nghiệp đang có chiều hướng gia tăng đây là một thực trạng nhằm trục lợi BHTN Việc chi trả bảo hiểm này còn gặp khó khăn và vướng mắc Người lao động muốn đăng ký hưởng BHTN phải qua rất nhiều thủ tục kê khai Ngoài ra, trình tự, thời gian đăng ký trợ cấp thất nghiệp vẫn phức tạp, bất cập về thời gian chốt sổ Bảo hiểm xã hội với cơ quan bảo hiểm xã hội, tình trạng lạm dụng BHTN hay cơ quan chức năng gặp khó khăn về công tác thu chi… vẫn xảy ra
2.1.1.2 Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm việc làm cho người lao động
Khi có nhu cầu tuyển dụng lao động vào làm việc, người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động, có quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh (Điều 11, Bộ luật lao động năm 2012)