1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông dân lập Mikhain Vaxilêvich Lômônôxốp, huyện Từ Liêm, Hà Nội

113 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp, tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học si

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

VÕ THỊ MAI HIỀN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN LẬP MIKHAIN VAXILÊVICH

LÔMÔNÔXỐP, HUYỆN TỪ LIÊM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa s- phạm

võ thị mai hiền

biện pháp quản lý hoạt động giáo dục h-ớng nghiệp cho học sinh tr-ờng trung học phổ thông dân lập mikhain vaxilêvich lômônôxốp, huyện từ liêm, hà nội

luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Chuyên ngành: quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 05

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Nhật Thăng

Hà Nội - 2008

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

1.1.7 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 19

1.3 ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp đối với mục tiêu giáo

dục học sinh Trung học phổ thông hiện nay

20

Trang 5

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục Trung học phổ thông 20 1.3.2 ýnghĩa của giáo dục hướng nghiệp đối với thực hiện mục

tiêu giáo dục phổ thông

21

1.4 Mục tiêu, nội dung của quản lý hoạt động giáo dục hướng

nghiệp đối với giáo dục Trung học phổ thông

Chương 2: thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

cho học sinh trường trung học phổ thông dân lập lômônôxốp

28

2.1 Vài nét về trường THPT dân lập Lômônôxốp huyện Từ

Liêm, Hà Nội

28

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trường 28

2.2 Nhận thức của học sinh, cán bộ giáo viên và phụ huynh học

sinh trong nhà trường về giáo dục hướng nghiệp

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của

trường hiện nay

43

Trang 6

2.3.1 Vài nét về thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở các trường

Trung học phổ thong hiện nay

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh trường trong những năm vừa qua

48

Chương3: biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông dân lập mikhain

vaxilêvich lômônôxốp, huyện từ liêm, hà nội

50

3.1 Những nguyên tắc cơ bản của quản lý hoạt động giáo dục

hướng nghiệp

50

3.1.3 Nguyên tắc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý 50 3.2 Các căn cứ để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động

giáo dục hướng nghiệp

51

3.2.1 Căn cứ vào quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục

hướng nghiệp phục vụ công tác, phân luồng học sinh trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng

cường quản lý giáo dục

51

3.2.2 Căn cứ vào các yêu cầu của công tác hướng ngiệp trong

chiến lược giáo dục (2001-2010)

53

3.3 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 55

Trang 7

3.3.1 Biện pháp 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng

cao nhận thức của cán bộ, giáo viên và phụ huynh và học

sinh về giáo dục hướng nghiệp

55

3.3.2 Biện pháp 2: Đổi mới công tác lập kế hoạch và công tác

kiểm tra của ban giám hiệu nhà trường nhằm đáp ứng được

nhu cầu học tập của học sinh trong trường và nhu cầu nhân

lực của các doanh nghiệp trên địa bàn nơi trường đóng

60

3.3.3 Biện pháp 3: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp

vụ dạy hướng nghiệp cho cán bộ quản lý và giáo viên của

nhà trường

62

3.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra và quản lý

nhà nước đối với trường Trung học phổ thông về công tác

giáo dục hướng nghiệp

64

3.3.5 Biện pháp 5: Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp 65

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, học sinh phổ thổng ra trường thường chọn nghề một cách ngẫu nhiên, theo cảm tính, không có hiểu biết cần thiết về nghề mà mình định lựa chọn, thiếu ý thức đúng đắn về ngành nghề; do đó, thiếu ý thức phấn đấu vươn lên trong nghiệp vụ, thậm chí có học sinh bỏ nghề, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, vừa lãng phí công lao đào tạo của nhà nước, vừa có hại cho sự phát triển của cá nhân Ngoài số học sinh được đào tạo chính quy, số học sinh tốt nghiệp ở các hệ đào tạo khác nhau sau khi chủ yếu ra trường tham gia xây dựng quê hương, phần lớn những học sinh này không yên tâm công tác, sản xuất, mà tư tưởng phổ biến là muốn thoát li nông thôn, bám lấy thành thị, thiếu năng lực cần thiết để có thể lao động ngay, không qua trường nghề, tạo ra trong xã hội tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu lao động và là trở ngại lớn cho việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh các cấp khi ra trường

Tình hình đó có nhiều nguyên nhân Đối với ngành giáo dục, chính là

do chưa bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tâm thế sẵn sàng đi vào lao động sản xuất, chưa giúp cho học sinh có những hiểu biết nhất định về các ngành, nghề chủ yếu, nghề cơ bản của đất nước, nhất là nghề truyền thống và phổ biến ở địa phương, đồng thời chưa tạo cho thế hệ trẻ năng lực và phẩm chất cần thiết để

có thể tham gia lao động ngay khi ra trường

Từ thực tế đó công tác hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông hiện nay đang là một vấn đề bức xúc của cả xã hội, nó chiếm một vị trí quan trọng trong việc phân công lao động xã hội, trong phát triển nguồn nhân lực của cả nước Giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối với xã hội mà nó còn ảnh hưởng đến từng cá nhân, từng gia đình Chính vì vậy Đảng ta đã xác định: “Cần tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa giáo dục hướng nghiệp, mở rộng và phát triển các trường dạy nghề…” Trong báo cáo

Trang 9

Chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: “Ở mọi cấp học, bậc học, kết hợp dạy và học lý thuyết với thực nghiệm và thực hành, gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất Nhà trường và cơ sở đào tạo phối hợp với các tổ chức khoa học và các cán bộ kỹ thuật để truyền bá tri thức sản xuất, chuyển giao công nghệ mới cho nhân dân Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng cho học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Nhanh chóng hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng tỷ lệ đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, khuyến khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề, dân lập, tư thục trang bị cho thanh niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới, để tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân, lập nghiệp”

Khi cả nước đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cả thế giới đã và đang bước vào nền kinh tế tri thức, sự chuyên môn hóa trong sản xuất ngày càng ở trình độ cao thì rất cần nguồn lao động có trình độ, có năng lực, đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội Để đáp ứng yêu cầu đó thì hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở bậc Trung học phổ thông cần giúp các

em có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, chính xác phù hợp với khả năng, sở thích của bản thân và phù hợp với yêu cầu của xã hội Nhằm tránh tình trạng đào tạo lệch lạc, tránh lãng phí trong đào tạo, đồng thời nâng cao năng suất lao động Chính vì vậy hệ thống giáo dục của nước ta đã và đang có sự phân luồng học sinh, bắt đầu quan tâm đến hướng nghiệp cho học sinh THPT, nhất

là ở những lớp cuối cấp

Về phía học sinh, hầu hết học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông đều cảm thấy khó khăn khi phải tự lựa chọn nghề nghiệp, các em thường chọn nghề theo cảm tính: thấy trường nào hay khoa nào hay hoặc ít người thi thì đăng ký làm hồ sơ thi, không cần biết ra trường sẽ xin việc ra sao, không cần biết sau này công việc của mình là như thế nào, liệu có phù hợp với năng lực

Trang 10

và phẩm chất của mình không và cũng không cần biết mình có yêu nghề đó không Chính vì vậy công tác giáo dục hướng nghiệp cần phải có hiệu quả nhất định nhưng muốn vậy thì cần phải có những biện pháp quản lý một cách khoa học, hiệu quả

Ở trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp hiện nay, giáo dục hướng nghiệp cũng đã được quan tâm và đã thu được một số kết quả nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy giáo dục hướng nghiệp của trường chưa đạt kết quả cao

Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của trường,

vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục

hướng nghiệp cho học sinh trường THPT Dân lập Lômônôxốp huyện Từ Liêm, Hà Nội ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp, tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông ở huyện Từ Liêm, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT, trong đó có trường THPT Dân lập Lômônôxốp

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường Trung học phổ thông

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp ở huyện Từ Liêm, Hà Nội

4 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung: Nghiên cứu quản lý hoạt động Giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh trong trường Trung học phổ thông

- Giới hạn đối tượng khảo sát:

Trang 11

+ Nghiên cứu trên 300 học sinh ở 3 khối 10, 11, 12 trong trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp huyện Từ Liêm

+ 45 giáo viên, cán bộ quản lý của trường và TTKTTH-HN số 5

+ 20 cha mẹ học sinh của trường

- Giới hạn thời gian: Nghiên cứu trong 3 năm học 2004-2007

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông nói chung

- Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp, huyện Từ Liêm

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông ở trường THPTDL Lômônôxốp

6 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, học sinh trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp, huyện Từ Liêm nói riêng và các trường Trung học phổ thông nói chung ở Hà Nội chưa nhận thức đầy đủ về nghề nghiệp Vì vậy các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn nghề cho tương lai

Một trong những nguyên nhân cơ bản là do công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Nếu xây dựng được

hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp trong trường có tính khả thi phù hợp với quy luật, phù hợp với thực tế thì sẽ nâng cao được hiệu quả công tác giáo dục hướng nghiệp cho các em

7 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 12

+ Điều tra bằng phiếu hỏi

8 Điểm mới của đề tài

- Về lý luận: Luận văn xác định những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý

hoạt động giáo dục hướng nghiệp đối với học sinh Trung học phổ thông, đặc biệt học sinh Trung học phổ thông dân lập Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp trong hoàn cảnh hiện nay

- Về thực tiễn: Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục

hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp, tìm nguyên nhân hạn chế quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ

lục luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học

sinh Trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

học sinh trường Trung học phổ thông dân lập Lômônôxốp huyện Từ Liêm

Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông dân lập Lômônôxốp trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Hướng nghiệp

Với ý nghĩa là định hướng nghề nghiệp, có nhiều cách hiểu khác nhau với tiêu chí, mục tiêu quan sát và góc độ chuyên môn khác nhau về khái niệm hướng nghiệp:

Theo từ điển Tiếng Việt, Hướng nghiệp được hiểu là “thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được hiểu với nghĩa

“giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề”

Theo từ điển Giáo dục học: Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực

tế khách quan của xã hội Công tác hướng nghiệp có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn giúp cho thanh niên có cơ hội phát huy được năng lực nâng cao được hiệu quả lao động say mê sáng tạo trong nghề nghiệp, mặt khác giúp tránh thay đổi nghề nghiệp nhiều lần hạn chế các hậu quả do nghề nghiệp không phù hợp mang lại Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông cần tiến hành qua các môn học, các giờ lao động, các sinh hoạt ngoại khóa, các buổi tham gia sản xuất, các cuộc gặp gỡ trao đổi với những người tiêu biểu của các ngành nghề thông qua phim ảnh, sách báo để phát hiện nắm bắt được đặc điểm tâm lý xu hướng nghề nghiệp của từng học sinh rồi từ đó có những gợi

ý, hướng dẫn, động viên, khuyến kích giúp các em xác định được nghề nghiệp trong tương lai của mình Công tác hướng nghiệp không chỉ được tiến hành trong trường phổ thong mà còn được thực hiện ở các Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, tại nhà máy, làng nghề, trang trại để thanh niên chưa có nghề hoặc muốn chuyển nghề làm quen, thử sức và lựa chọn

Trang 14

Theo tác giả Phạm tất Dong: “Hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của

cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân”

Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động

xã hội

Theo các nhà Giáo dục học: “hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy học của giáo viên, vừa là hoạt động của học sinh và kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai”

Xét về mặt xã hội, hướng nghiệp được hiểu trong phạm vi rộng hơn, không phải là công việc chỉ làm một lần trong cuộc đời mỗi con người, đó là hoạt động có tính lặp lại: xuất phát từ việc định hướng để lựa chọn một nghề, thích ứng với nghề đó và kết quả là sự phù hợp trong quá trình hành nghề Tuy nhiên, do tác động của xã hội cũng như nhu cầu, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, mỗi con người đều có thể và cần phải thực hiện lại việc hướng nghiệp cho bản thân trước mỗi bước ngoặt trong cuộc đời nghề nghiệp của mình

Các nhà Luật gia thì hiểu hướng nghiệp là: “các phương tiện y học, giáo dục và tổ chức pháp quyền nhằm xác định cho mỗi công dân có nghề và nơi làm việc Nội dung vạch rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn nghề, hình thành tổ chức và hình thành công tác giáo dục hướng nghiệp, thể chế hóa quá trình hướng nghiệp”

Qua hàng loạt định nghĩa được tham khảo chúng tôi hiểu: Hướng nghiệp là toàn bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một

Trang 15

nghề hay một số nghề nhất định nhằm đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội

Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực trong thế giới đó và có được cuộc sống thoải mái với lao động nghề nghiệp Từ đó chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công

xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu cá nhân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của

xã hội và cá nhân

Đây là công việc mà toàn xã hội phải có trách nhiệm tham gia Trẻ em cần được hướng nghiệp liên tục, thường xuyên, bằng nhiều hình thức, nhiều con đường (như đài báo, câu lạc bộ…) để hướng dẫn nghề cho các em, phải coi công tác giáo dục hướng nghiệp là quyền trẻ em Chúng ta cần phấn đấu

để thế hệ trẻ chọn nghề theo hứng thú, sở thích và cũng mong muốn học sinh càng ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu về nhân lực mà

xã hội đặt ra Do đó hướng nghiệp phải được cả xã hội quan tâm đặc biệt không nên để trẻ em chọn nghề tự phát và cũng không nên để số phận nghề của học sinh phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên

Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là công việc của tất cả tập thể sư phạm (của hiệu trưởng, hiệu phó, đoàn thanh niên, cán bộ giáo viên trong nhà trường…) Là hoạt động dạy của thầy, học của trò, nhằm giúp các

em lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, ở từng địa phương, từ đó giúp các em có kỹ năng tự đối chiếu những năng lực phẩm chất, những đặc điểm tâm sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề nghiệp đang đặt ra cho người lao động Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông cần được thống nhất chặt chẽ với công tác hướng nghiệp trong xã hội, hai bộ phận này quan hệ mật thiết bổ sung hỗ trợ cho nhau mới đem lại hiệu quả cao cho công tác hướng nghiệp

Trang 16

1.1.2 Giáo dục hướng nghiệp

Theo các nhà chuyên môn: “Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù hợp với nguyện vọng của cá nhân vừa phù hợp với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông”

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp là một quá trình kéo dài trong suốt cuộc đời con người, bao gồm:

(1) Đối với thế hệ trẻ (Thanh thiếu niên còn đang ngồi trên ghế nhà trường): Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà

trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để học sinh có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong nhà trường, công tác hướng nghiệp cho HS còn là quá trình giáo dục nhằm điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của các em nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với nghề, giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có ý thức để đạt tới mục tiêu: giúp cho học sinh khi tốt nghiệp chọn được nghề phù hợp với năng lực trình độ cá nhân và phù hợp với xu thế phát triển kinh

tế – xã hội Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông không chỉ giúp các em làm quen với lao động nghề nghiệp, mà qua đó còn phát hiện năng khiếu và tìm hiểu khuynh hướng nghề nghiệp của từng em; hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp cho các em chuẩn bị vào đời

(2) Đối với những người đang tham gia các hoạt động lao động sản xuất: Giáo dục hướng nghiệp là quá trình điều chỉnh sự phù hợp nghề của

người đó đối với công việc mà họ đang làm Hoạt động hướng nghiệp sẽ giúp cho người lao động biết được những phẩm chất, đặc điểm tâm lý và sinh lý của họ có đáp ứng với những yêu cầu cụ thể mà nghề đó đòi hỏi ở người lao động hay không Trong quá trình học tập, lao động và phát triển, mỗi người đều có những biến đổi về lượng và về chất trong những yếu tố phẩm chất, năng lực; chính vì vậy, việc di chuyển nghề để tìm đến một công việc phù

Trang 17

hợp, một cách thức làm việc đạt được hiệu quả cao hơn là hoàn toàn có thể diễn ra trong suốt cuộc đời lao động của mỗi con người Thông qua học tập

để nâng cao kiến thức văn hóa phổ thông, trình độ chuyên môn nghiệp vụ hoặc học thêm nghề mới sẽ giúp cho người lao động có thêm nhiều cơ hội tìm việc làm, đồng thời cũng có thể đối chiếu được sự thích ứng, phù hợp của mình với nghề nghiệp đang làm hoặc các nghề nghiệp khác trong xã hội để chuyển đổi (nếu cần)

(3) Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực: được hiểu là hoạt động giáo dục của nhà trường thông qua các hình

thức hướng nghiệp, thực hiện các nội dung hướng nghiệp để nhằm bồi dưỡng cho học sinh được gia tăng giá trị về các mặt: kiến thức, kỹ năng, năng lực, đồng thời hướng dẫn việc lựa chọn nghề (điều chỉnh động cơ, hứng thú chọn nghề) của các em theo định hướng cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội Cụ thể là:

- Về kiến thức: Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển nguồn

nhân lực trước hết phải dựa trên sự vững chắc của những kiến thức phổ thông

cơ bản mà học sinh có được trong quá trình học các môn văn hóa Trên nền tảng này, các hoạt động Giáo dục hướng nghiệp phải giúp cho học sinh có những hiểu biết cần thiết về các lĩnh vực sản xuất chủ yếu trong xã hội bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Trong đó cần quan tâm đến những ngành nghề cần có hàm lượng tri thức cao trong các sản phẩm, lĩnh vực dịch

vụ và quá trình công nghệ hóa, số hóa các hoạt động sản xuất Các hoạt động giáo dục dựa trên trình độ học vấn và khả năng nhận thức của từng đối tượng phải có nội dung và hình thức phù hợp, giúp các em tiếp cận với những kiến thức về khoa học đáp ứng công nghiệp hiện đại, khoa học tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và công nghệ vật liệu mới Kiến thức trang bị cho học sinh trong quá trình học tại trường phổ thông là những kiến thức phổ thông cơ bản Các nội dung giáo dục hướng nghiệp không thể tách rời quá trình trang bị kiến thức này

Trang 18

Những kiến thức học sinh thu nhận trong quá trình tham gia các hoạt động Giáo dục hướng nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Củng cố những kiến thức văn hóa phổ thông đã được trang bị

+ Có những hiểu biết nhất định về thế giới nghề nghiệp

+ Có những kiến thức kĩ thuật tổng hợp, biết vận dụng những nguyên lý, kiến thức văn hóa phổ thông vào việc giải thích các vấn đề kỹ thuật, sự phát triển của tự nhiên, xã hội

Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực phải cung cấp cho học sinh được những kiến thức nền tảng mà mỗi người lao động trong tương lai cần phải có, làm cơ sở để họ có thể tiếp tục con đường học vấn ngay chính trong quá trình tham gia lao động sản xuất, theo quan điểm học tập thường xuyên, suốt đời của UNESCO Vì vậy, kiến thức trang bị cho các em phải có tính mở, phải giúp cho các emcó được quy trình khám phá kiến thức, khám phá thế giới nghề nghiệp Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ, thế giới nghề nghiệp trong một không gian thế giới “phẳng” sẽ bắt buộc mỗi người đều phải tự học, tự tìm hiểu Giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay là phải trang bị cho các em kiến thức tự học, tự tìm hiểu Chẳng hạn: cần phải cung cấp cho các

em biết cấu trúc của một nghề thành thạo, cho học sinh làm quen với một số bảng mô tả nghề (họa đồ nghề) trên cơ sở đó, các em có thể vận dụng vào tìm hiểu các nghề khác trong thế giới nghề nghiệp một cách đầy đủ, khoa học Khi đã có được các khung, các quy trình của các vấn đề có liên quan đến việc trang bị kiến thức, cần phải trang bị cho các em cách thức để có được thông tin và định hướng việc thu thập thông tin cho phù hợp với mục đích cần sử dụng Các nguồn trí thức hiện nay là vô cùng lớn, vì vậy, việc chọn lọc thông tin cũng rất quan trọng trong quá trình cung cấp kiến thức cho học sinh

-Về kĩ năng: Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển nguồn

nhân lực phải tạo cho học sinh những kĩ năng, kỹ xảo mang tính kĩ thuật tổng

Trang 19

hợp, vận dụng những kiến thức, kĩ năng này vào việc xử lí các tình huống trong cuộc sống lao động hoặc học tập sau này Đặc biệt cần chú ý hình thành ở học sinh năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ, kỹ năng phân tích, lựa chọn định hướng ngành, nghề học để sau này tham gia lao động xã hội Muốn vậy phải giúp học sinh phân tích so sánh khả năng, trình độ, hoàn cảnh, sở thích của bản thân với yêu cầu của xã hội giúp các em tiếp cận với trí thức hiện đại và các kĩ năng này được hình thành trong quá trình các em tham gia các hoạt động hướng nghiệp bao gồm: kĩ năng lập kế hoạch công việc, kỹ năng sử dụng công cụ lao động, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng phát biểu trước công chúng và trình bày ý tưởng về một vấn đề khoa học, kĩ thuật Để giúp học sinh phát triển năng lực nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, các kĩ năng được lựa chọn để hình thành cho học sinh phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường lao động, là cơ sở để học sinh phát triển tiếp tục sau khi tốt nghiệp ra trường

- Về năng lực: Năng lực của người lao động là một yếu tố cơ bản trong

chất lượng nguồn nhân lực Để giúp con người có thể sống tốt và có trách nhiệm đối với cộng đồng trong một xã hội luôn luôn phát triển, giàu khả năng biến động của thời kì nền kinh tế tri thức, các nhà giáo dục trên thế giới đã khẳng định vai trò quyết định của việc hình thành các năng lực cho người học, trong đó nhấn mạnh các năng lực chìa khóa như : - năng lực sáng tạo, có khả năng ứng phó với những sự thay đổi; - năng lực hợp tác, có khả năng phối hợp hành động trong học tập và đời sống; - năng lực tự khẳng định mình, tự lập trong học tập và cuộc sống; - năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng và phẩm chất đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp

Trong thực tế, mỗi người chỉ có thể yên tâm sống và làm việc với nghề nếu họ có năng lực chuyên môn thực sự, có thể tự mình đóng góp sức lực, trí tuệ cho nghề mà mình yêu thích Mặt khác, quan hệ giữa năng lực của người lao động và năng suất lao động là tỉ lệ thuận, vì vậy, trong quá trình hướng

Trang 20

nghiệp phải tạo điều kiện để hình thành ở học sinh những năng lực nghề nghiệp cần thiết Nhà trường phải hình thành cho các em học sinh năng lực nghề nghiệp, đó là khả năng thích ứng, năng lực sử dụng một số máy móc, thiết bị kĩ thuật hiện đại phổ biến; năng lực di chuyển nghề nghiệp; năng lực ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng lực tự làm việc, năng lực tự đánh giá bản thân có thể lựa chọn con đường ngành nghề cho mình sau khi tốt nghiệp Trong nhà trường phổ thông, con đường tốt nhất để hình thành năng lực nghề nghiệp là phải đảm bảo hai yếu tố tổ chức các hoạt động sản xuất kết hợp với dạy nghề Trong quá trình hướng nghiệp học sinh

sẽ được tiếp cận làm quen với nghề và như vậy tri thức cũng như kĩ năng nghề nghiệp sẽ từng bước hình thành và phát triển

- Về phẩm chất đạo đức: Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp phải góp

phần vào việc giáo dục cho học sinh những phẩm chất của người lao động mới, đồng thời, biết chọn lọc, tiếp thu những thành tựu của khoa học, hiểu biết về pháp luật để tham gia thị trường lao động trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh và hội nhập Trong giai đoạn hiện nay, đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa, có những tác động khách quan làm thay đổi thang giá trị xã hội, phẩm chất của người lao động,… Điều

đó ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng phát triển nhân cách người học Do vậy, Giáo dục hướng nghiệp phải quan tâm đến việc giáo dục phẩm chất đạo đức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lao động có văn hóa cho học sinh; Điều quan trọng đối với học sinh là có động cơ học tập, biết tự đánh giá bản thân, có thái độ lựa chọn nghề nghiệp, ngành học đúng đắn, xác định trách nhiệm trong việc lựa chọn nghề phù hợp với khả năng bản thân… đặc biệt là trau dồi năng lực và phẩm chất của người lao động hiện đại như tính sáng tạo, tính kỉ luật công nghiệp, năng lực học tập suốt đời, nâng cao trình độ về mọi mặt, có ý chí và quyết tâm vươn lên tự tìm việc làm - đó là yêu cầu và cũng

là phẩm chất của người lao động mới

Trang 21

Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển nhân lực có tác động tích cực thúc đẩy của nền kinh tế quốc gia Trên cơ sở nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực để xây dựng các mô hình giáo dục hướng nghiệp phù hợp cho các đối tượng học sinh khác nhau là một việc làm cần thiết, góp phần làm cho công tác hướng nghiệp có hiệu quả thiết thực, đóng góp vào việc nâng cao tỷ lệ cho đào tạo, chuyển dịch cơ cấu nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.3 Biện pháp

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội

thì “Biện pháp là cách hành động lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích”

Trong khi đó theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học của

Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh thì “biện pháp” được hiểu là: “cách làm,

cách giải quyết một vấn đề cụ thể”

Như vậy, biện pháp là một bộ phận tổ thành của phương pháp, có nghĩa là để sử dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau và cùng một biện pháp có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau

1.1.4 Quản lý

Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành

Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất cổ truyền đến văn minh hiện đại làm cho trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng cao, phát triển theo các đòi hỏi ngày càng cao như một tất yếu lịch sử khách quan

Sự phát triển xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là phụ thuộc vào trình độ nắm vững tri thức và trình độ quản lý Mọi hoạt động xã hội đều cần đến những tác động quản lý Khi nói đến quản lý người ta phải đề cập đến chủ thể và đối tượng quản lý Chủ thể và đối tượng quản lý có thể là con người hoặc tổ chức do con người lập nên Với những lợi ích lớn lao của quản lý, từ nhiều năm nay đã xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu được

Trang 22

thực hiện theo nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định bản chất, tìm kiếm

lý luận và các kỹ thuật cần thiết làm cơ sở cho thực hành quản lý

Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức Theo góc độ điều khiển từ quản lý là lái, điều khiển, điều chỉnh Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định

Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản

lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:

- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung

- Quản lý là quá trình làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức

- Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác

Theo C.Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận

Trang 23

động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm đơn lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy”

Như vậy trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định - được gọi là hoạt động quản lý Từ đó có thể nhận thấy rằng lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất, thì trình độ

tổ chức, điều hành tất yếu cũng được nâng lên, phát triển theo với những đòi hỏi ngày càng cao Khi lao động xã hội đạt tới một trình độ và quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một dạng hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành một bộ phận lao động trực tiếp và một bộ phận chuyên hoạt động quản lý, tạo thành một mối quan hệ trong quản lý Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản lý đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện

Theo Harld Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiềm bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”

Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến các mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu,

ở khía cạnh này, quản lý là một nghệ thuật Đó là “bí quyết” làm việc với con người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức

Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình

Trang 24

tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hóa thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết Đó chính

là khoa học, khoa học quản lý Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhưng lại vừa

là nghệ thuật

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”

Theo Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người”

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến”

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý

là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Một cách tiếp cận khác của nhà lý luận quản lý nước ngoài O Donnel

đã cho rằng: “Quản lý là sự thiết lập và giữ gìn môi trường nội bộ của một tổ chức mà ở đó, mọi người cùng nhau làm việc thoải mái, cộng tác để đạt được những hiệu quả và hiệu suất trong công việc vì mục đích chung của tập thể, của tổ chức đó”

Trang 25

Như vậy, quản lý được hiểu là sự trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định của tổ chức và điều khiển các hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân theo những yêu cầu nhất định Có người cho rằng quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người

Về thực chất quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt mục tiêu đề ra Yêu cầu của quản lý là biết cách vận dụng, khai thác được các nguồn lực hiện hữu cũng như tiềm năng kể cả nguồn nhân lực, để đạt đến những kết quả kỳ vọng Quản lý là sự tác động của con người cùng các cơ quan quản lý đến con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý được hoạt động bình thường, có hiệu lực, giải quyết tốt các nhiệm vụ đề ra để tiến hành sự trông coi, giữ gìn chúng theo những yêu cầu nhất định cũng như tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu của nhiệm vụ nhất định

Có tác giả lại cho rằng quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để làm cho chúng phát triển hợp quy luật đạt được mục đích đề ra và ý chí của người quản lý

Nghiên cứu nội hàm các định nghĩa về quản lý mà các tác giả đã nêu ra tùy theo cách tiếp cận của mình tuy có khác nhau song bản chất của hoạt động quản lý cũng là cách thức thực hiện tác động tổ chức, điều khiển, chỉ huy cho hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức được vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra

1.1.5 Quản lý nhà trường

Nhà trường là một thể chế xã hội hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục - đào tạo của Nhà nước và của cộng đồng xã hội, chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống Quản lý nhà trường là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo dục

Theo GS TSKH Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà

Trang 26

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh”

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”

Trường học là một hệ thống thành tố của hệ thống giáo dục, nên quản

lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của quản lý giáo dục

1.1.6 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là nhiệm vụ của nhà quản lý giáo dục trong các trường phổ thông Người quản lý phải xác định chính xác mục tiêu, nhiệm vụ, hình thức của giáo dục hướng nghiệp

Để quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp , người quản lý phải xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy, điều hành các hoạt động giáo dục hướng nghiệp và cuối cùng là kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp Sau một chu kỳ quản lý, người quản lý phải tổng kết rút kinh nghiệm để tổ chức hoạt đồng này ngày càng tốt hơn

Ngoài ra, người cán bộ làm công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn phải nắm vững chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, phương hướng phát triển kinh tế của địa phương mình, nắm được yêu cầu nghề nghiệp của xã hội, phải biết được thị trường lao động cần gì để từ đó thiết kế cáchoạt động cụ thể, có chương trình hành động thích hợp cho học sinh của mình

1.1.7 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Từ các khái niệm ở trên, chúng ta có thể hiểu “Biện pháp quản lý hoạt

động giáo dục hướng nghiệp” là cách mà người quản lý tổ chức thực hiện,

Trang 27

điều hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu, mục đích của việc xây dựng kế hoạch hoạt động hướng nghiệp của trường để nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng đi lên trong mối hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên một

hệ thống nhất bền vững Để đi đến mục đích cuối cùng là phân luồng học sinh sau bậc học và đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội

1.2 Đặc điểm của loại hình trường dân lập

Xã hội hóa giáo dục là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Trong những năm qua đã có nhiều mô hình giáo dục ngoài công lập thể hiện được bản chất, mục đích của công tác

xã hội hóa giáo dục được hình thành và phát triển Huy động được công sức, trí tuệ, nguồn vốn từ xã hội phát triển để phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó phải kể đến loại hình trường tư thục, trường dân lập đã góp phần tạo sự chuyển biến với những kết quả quan trọng, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

Thực hiện chủ trường của Đảng về đổi mới hệ thống trường lớp và tạo

cơ sở pháp lý cho các trường ngoài công lập phát triển, tại Điều 48 Luật giáo

dục năm 2005 quy định:”Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được

tổ chức theo loại hình trường công lập, trường dân lập và trường tư thục”

Đồng thời để tránh tình trạng bị phân biệt đối xử với trường ngoài công lập, Luật giáo dục năm 2005 đã khẳng định sự bình đẳng của trường dân lập, trường tư thục với trường công lập và cũng khẳng định trường dân lập có quyền hạn nhất định:

- Trường dân lập, tư thục có những quyền hạn và nhiệm vụ như trường công lập trong mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liên quan đến tuyển sinh, giảng dạy, học tập, thi cử, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng chứng chỉ

- Trường dân lập, tư thục tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và

Trang 28

phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng quản lý các nguồn lực thực hiện mục tiêu giáo dục

- Văn bằng, chứng chỉ do trường dân lập, trường tư thục, trường công lập cấp có giá trị pháp lý như nhau

- Trường dân lập, trường tư thục chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ

1.3 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp đối với mục tiêu giáo dục học sinh Trung học phổ thông hiện nay

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục Trung học phổ thông

- Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ nămg cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hay đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố

và phát triển những kết quả giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,

có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn phướng phát triển tiếp tục học đại học, cao đẳng, Trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp đối với thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông

Giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội, nó luôn được gắn liền với giáo dục phổ thông, nó được thể hiện rõ nét ở 04 mặt: giáo dục, kinh tế, chính trị và xã hội

(1) Ý nghĩa giáo dục của giáo dục hướng nghiệp:

Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục Đây là việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp cho các em theo xu thế của nhu cầu xã hội và phân công lao động xã hội Thực tế

Trang 29

đã cho chúng ta thấy: sự lựa chọn nghề nghiệp một cách tự phát của thanh, thiếu niên ít khi phù hợp với hướng sản xuất, nhu cầu lao động xã hội nên mới xảy ra tình trạng mất cân đối như hiện nay (người có trình độ đại học thì quá nhiều trong khi đó công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề thì lại thiếu) Từ đó mới sảy ra tình trạng làm việc trái ngành nghề được đào tạo, kỹ sư có trình độ đại học lại đi làm công việc của một công nhân kỹ thuật…Do vậy tác dụng của giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội Kết quả của giáo dục hướng nghiệp chính là giúp học sinh tự đánh giá năng lực của bản thân để lựa chọn nghề phù hợp, có điều kiện phát triển tiềm năng của mỗi em, như vậy chất lượng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực sẽ cao hơn Giáo dục hướng nghiệp là giúp học sinh tự giác chọn nghề trên co sở biết điều hòa lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội, sao cho phù hợp với nguyện vọng của bản thân

Giáo dục hướng nghiệp còn góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục của trường phổ thông Như chúng ta đã biết hiện nay nhà trường phổ thông có vai trò là đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao độngtrong những lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể, sau khi tốt nghiệp phổ thông học sinh phải có năng lực tham gia một nghề ở địa phương hoặc sẽ tiếp tục học để sau này làm tốt một nghề Như vậy hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông không dừng lại ở việc giáo dục ý thức lao động chung chung mà phải hướng các em đi vào một nghề cụ thể

(2) Ý nghĩa kinh tế của giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động của trẻ tuổi đất nước tư đó nâng cao năng xuất lao động xã hội, đông thời đưa thanh thiếu niên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy hết năng lực sở trường lao động Phát triển cao hứng thú nghề ngiệp, làm tăng khả năng sáng tạo trong lao động Đây là việc làm hết sức có

ý nghĩa trong công tác giáo dục hướng nghiệp Từ đó biến nghề nghiệp không chỉ là nơi kiếm sống đơn thuần mà còn là nơi giúp cá nhân thể hiện

Trang 30

nhân cách, phát triển tài năng, hết mình công hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước

Tuy nhiên để đảm bảo ý nghĩa kinh tế của giáo dục hướng nghiệp thì trường phổ thông phải gắn mục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương và đất nước đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự phát triển kinh tế của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, đi vào sự phân công lao động trong phạm vi cả nước và từng địa phương Chính vì vậy hướng nghiệp có nhiệm

vụ quan trọng bởi thông qua đó hướng nghiệp là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động nghề nghiệp, phân bố lại lực lượng lao động trong xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động tuổi trẻ

(3) Ý nghĩa chính trị

Giáo dục hướng nghiệp có tác dụng góp phần cụ thể hóa mục tiêu giáo dục của trường phổ thông, điều đó có nghĩa là hoạt động hướng nghiệp có chức năng thực hiện hóa đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, thực hiện hóa đường lối giáo dục trong đời sống xã hội Ngày nay, cuộc chạy đua giữa các nước về khoa học – kỹ thuật là cuộc chạy đua về sản xuất diễn ra rất mãnh liệt Trong cuộc chạy đua này, những nước tụt hậu phần lớn là không làm tốt công tác đào tạo người lao động, đào tạo một đội ngũ thợ lành nghề

và những cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, hay nói khác đi là những nước chưa làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng

và hiệu quả giáo dục Giáo dục hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động – yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội Làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp sẽ có những lớp người mới đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tóm lại giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa đối với sự triển khai chiến lược con người – một bộ phận của chiến lược kinh tế và khoa học - kỹ thuật

(4) Ý nghĩa xã hội

Trang 31

Xét ở bình diện xã hội, giáo dục hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bố lực lượng dân

cư Khi xã hội gặp khó khăn trong việc tìm kiếm công ăn việc làm cho thanh niên, hướng nghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề sẽ có tác dụng giúp ổn định đời sống xã hội góp phần tạo điều kiện cho xã hội sử dụng hết lực lượng học sinh phổ thông ra trường trong mọi lĩnh vực kinh tế

Chúng ta biết rằng để thanh thiếu niên đứng ngoài lao động nghề nghiệp sẽ gây nên nhiều tác hại phức tạp về mặt xã hội Bởi vậy cần hướng dẫn thanh thiếu niên chọn nghề cho mình sao cho phù hợp đồng thời có thái

độ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất và hoạt động nghề nghiệp nhằm góp phần sức lực, trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước Qua đó tạo nên ý thức xã hội và xây dựng vị trí chỗ đứng trong xã hội của thế hệ trẻ

1.4 Mục tiêu, nội dung của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp đối với giáo dục Trung học phổ thông

1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Hiện nay cả nước ta đang hướng tới mục tiêu là từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa đất nước từ một nước công nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp văn minh hiện đại “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển…tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kiến trúc hạ tầng tiềm lực kinh tế quốc phòng, an ninh được tăng cường Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế nước ta trên thị trường quốc tế được nâng cao” (theo Văn kiện Đại hội IX) Như vậy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta được thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền vững trong đó nhân tố con người là Trung tâm Để từng bước thực hiện được mục tiêu này trong nghị quyết hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi

Trang 32

phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố

cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” đồng thời Đảng ta cũng xác định: cần tăng cường hơn nữa giáo dục hướng nghiệp, mở rộng và phát triển dạy nghề…Ngoài ra trong báo cáo chính trị của đại hội Đảng lần thứ IX cũng

đã khẳng định rằng: “ở mọi cấp học, bậc học, kết hợp dạy và học lý thuyết với thực nghiệm và thực hành, gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học

và sản xuất, nhà trường và cơ sở đào tạo phối hợp với các tổ chức khoa học

và các cán bộ kỹ thuật truyền bá tri thức sản xuất, chuyển giao công nghệ cho nhân dân Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Nhanh chóng hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng tỷ lệ được đào tạo trong toàn bộ lao động

xã hội, khuyến khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề tư thục và dân lập trang bị cho thanh thiếu niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động

và năng lực tiếp thu công nghệ mới để tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân, lập nghiệp”

Qua hàng loạt các công trình nghiên cứu và điều tra xã hội học cho chúng ta thấy thưc trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được thể hiện rõ nét qua hệ thống đào tạo nhân lực có hàng trăm trường đại học, cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, trường nghề tăng quy mô đào tạo nhanh từ 1995 đến 2000 thì đào tạo nghề tăng từ 1,8 lần, đại học tăng 2 lần Năm 2000 có 7,5 triệu người qua đào tạo, trong đó đại học 1,3 triệu người; cao đẳng 1,6 triệu người, công nhân kỹ thuật và đã qua trường nghề là 4,6 triệu người, trình độ người lao động đã được nâng cao Tuy nhiên chúng ta vẫn thiếu về

số lượng, yếu về chất lượng, bất hợp lý về cơ cấu trình độ ngành nghề, vùng miền Lao động phổ thông dư thừa lớn, thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn, chuyên gia cao cấp Mất cân đối giữa các nghề nhưng tỷ lệ thất nghiệp cao Học nhiều nhưng năng lực hành nghề thấp Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nước ta thứ năm

Trang 33

2000-2010 đã đặt ra yêu cầu cần được điều chỉnh cơ cấu lao động kỹ thuật theo hướng: tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ

lệ lao động nông nghiệp, mở rộng quy mô đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề Đồng thời điều chỉnh cơ cấu đào tạo ngành nghề, tăng tỷ lệ đào tạo công nhân kỹ thuật, Trung cấp…giảm tỷ lệ đào tạo đại học để đảm bảo cân đối trong cơ cấu lao động xã hội

Như vậy hướng nghiệp và dạy nghề là một trong những mục tiêu chính của cấp THPT Đồng thời giáo dục hướng nghiệp một mặt là tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, mặt khác là giáo dục lòng yêu nghề và có thể thử sức với nghề nghiệp mà học sinh dự định lựa chọn Chính điều này nên mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là quản lý chương trình phù hợp với học sinh phổ thông, chương trình lâu dài liên thông giữa khối THPT

và chi tiết, đồng thời phải có đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy với công việc, hiểu biết xã hội sâu rộng thì mới có thể đạt được kết quả cao trong công tác quản lý

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiện nay trong trường Trung học phổ thông

Giáo dục phổ thông bao gồm: giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS và

giáo dục THPT Trong luật giáo dục cũng nêu rõ: “Giáo dục Trung học phổ

thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học cao đẳng, Trung cấp, học nghề hoặc

đi vào cuộc sống lao động” Học sinh cuối cấp Trung học cơ sở là học sinh

lớp 9, với lứa tuổi 14-15 Các em cần được giáo dục hướng nghiệp để có thể học tiếp lên THPT hoặc chọn nghề phù hợp với tâm lý và năng lực sở trường nếu đi vào cuộc sống lao động sản xuất Học sinh THPT lớp cuối cấp là lớp

12, ở độ tuổi 17-18 các em rất cần được giáo dục hướng nghiệp để đảm bảo

về kiến thức, về kỹ năng, về thái độ của nội dung giáo dục phổ thông qua đó

Trang 34

giúp đó giúp các em hiểu rõ hơn về thế giới nghề nghiệp, về nhu cầu của nền kinh tế-xã hội và những đòi hỏi của nghề sẽ chọn

Như vậy, công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông gồm những hoạt động sau:

(1) Xây dựng được kế hoạch giáo dục hướng nghiệp:

Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp được xác định trên cơ sở nhiệm

vụ giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và được cụ thể hóa theo đặc điểm của địa phương và đặc điểm lứa tuổi, cấp học Việc thiết kế các công việc cần làm để thực hiện các mục tiêu hướng nghiệp căn cứ vào các hoạt động cơ bản của nhà trường là hoạt động dạy học và các hoạt động ngoại khóa khác nhau Việc xây dựng kế hoạch nhân sự của công tác này được phân công gồm một thành viên của Ban giám hiệu, các giáo viên chủ nhiệm khối lớp đó, các giáo viên bộ môn kỹ thuật và các giáo viên dạy hướng nghiệp do Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp ….Trong kế hoạch cần xác định rõ các điều kiện cơ sở vật chất và tài chính cần có cho công tác giáo dục hướng nghiệp

(2) Tổ chức, chỉ đạo và điều hành hoạt động giáo dục hướng nghiệp:

Công tác này thường được tiến hành thông qua các mặt sau: Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học và các môn học văn hóa, hướng nghiệp qua các môn kỹ thuật, dạy nghề phổ thông, hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp, hướng nghiệp qua tổ chưc lao động, qua các buổi tham quan học tập tại các cơ sở kinh doanh, sản xuất và hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục khác

(3) Kiểm tra đánh giá:

Người quản lý phải kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hướng nghiệp và kết quả giáo dục hướng nghiệp Việc đánh giá này dựa trên mục tiêu đã được xây dựng trong kế hoạch và xem đây là tiêu chuẩn đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp Việc kiểm tra đánh giá nên thực hiện theo từng học kỳ

Trang 35

Kết luận chương 1

Trong chương này chúng tôi đã phân tích hệ thống hóa những nội dung

cơ bản và chủ yếu của các khái niệm: hướng nghiệp; giáo dục hướng nghiệp; quản lý; quản lý nhà trường; quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp; ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp đối với mục tiêu giáo dục học sinh phổ thông hiện nay; mục tiêu và nội dung của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp Đây là những vấn đề rất cơ bản từ đó có cơ sở để nghiên cứu đưa ra thực trạng về nhận thức của các cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh của trường và đề xuất những biện pháp để góp phần nâng cao chất lượng dục hướng nghiệp của trường

Trang 36

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN LẬP LÔMÔNÔXỐP HÀ NỘI

2.1 Vài nét về trường trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp huyện

Từ Liêm

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trường

Trường THPT Dân lập Lômônôxốp huyện Từ Liêm được thành lập ngày 10.06.1992 theo quyết định 1432/QĐ-TCCQ của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khi đó lấy tên Trường Phổ thông bán công cấp 2,3 Chuyên Ngoại ngữ Hà Nội dưới sự bảo trợ của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đến ngày 26.11.2003 trường được đổi thành Trường THPT Dân lập Lômônôxốp, huyện Từ Liêm theo quyết định số 7136/QĐ-UB của

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

Khi mới thành lập số lượng giáo viên, cán bộ công nhân viên có 47 người, tổng số học sinh cả cấp 2 & 3 mới có 943 em Đến năm học 2007-

2008, toàn bộ giáo viên, cán bộ công nhân viên 300 người và 2.760 học sinh Trường có sơ sở khang trang, có diện tích trên 6.505m2 gồm 120 phòng học chuẩn, phòng truyền thống, phòng thư viện, phòng thí nghiệm Hóa – Sinh, phòng thực hành Vật lý – Công nghệ, 03 phòng máy tính (80 máy), phòng đa năng, nhà giáo dục thể chất Khu hiệu bộ gồm 14 phòng làm việc

2.1.2 Nhiệm vụ đào tạo

Với mục tiêu giáo dục học sinh phát triển toàn diện, nhà trường đào tạo học sinh chất lượng cao nắm chắc kiến thức cơ bản theo chương trình do Bộ giáo dục và Đào tạo quy định và tăng cường học thêm các môn Toán, Lý, Hóa, Văn – Tiếng Việt, Ngoại ngữ… nhằm cung cấp học sinh lớp 10 cho các lớp Chuyên của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Chu Văn An, Amsterdam…cũng như các trường khác trên đại bàn

Trang 37

thành phố Hà Nội và các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp

Ngoài ra trường cũng mở các lớp Bóng rổ, võ Karatedo, khiêu vũ, thể dục thẩm mỹ…

2.1.3 Thành tích đạt được

Từ năm 1992-2007 qua 15 khóa học, nhà trường đã đào tạo được 2854 học sinh có bằng tú tài và 4399 học sinh tốt nghiệp THCS Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông là 99-100%, ở THPT có hơn 60% học sinh đỗ Cao đẳng và Đại học, ở THCS có 40% vượt qua các kỳ thi vào các lớp chuyên của ĐHQGHN, ĐHSPHN Học sinh của trường đã đạt nhiều giải Quốc tế, Quốc gia, Thành Phố, Quận về HS giỏi các môn văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao Trường

đã được nhận bằng khen của UBND thành phố ; bằng khen của Bộ GD&ĐT, bằng khen của Thành phố ; các giấy khen của sở GD&ĐT Hà Nội; giấy khen của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội; giấy khen của UBND Quận Cầu Giấy & 2006-2007 được UBND Thành phố Hà Nội tặng Danh hiệu tập thể lao động xuất sắc

2.1.4 Những vấn đề khó khăn

Bên cạnh những thành tựu nhà trường còn gặp nhiều khó khăn như: Vì là trường dân lập nên học sinh trong trường có cả học sinh nội thành và ngoại thành, thành phần gia đình cũng đa dạng: cán bộ, kinh doanh, nông nghiệp… nên điều kiện học tập của các em cũng khác nhau chính điều này ảnh hưởng rất lớn nhận thức và năng lực của các em khi chọn nghề nghiệp trong tương lai

2.1.5 Kế hoạch của các năm học tới

- Tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất, tiếp tục mua sắm và sửa sang

để có nhiều phòng học bộ môn hơn nữa

- Củng cố và nâng cao chất lượng bán trú: Học sinh học 02 buổi/ngày cho học sinh toàn trường, ăn ngủ trưa tại trường

- Học tập: Tiếp tục phát huy số lượng học sinh đỗ vào các trường Chuyên, Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp Mở thêm các lớp

Trang 38

chất lượng cao Tăng cường thêm tiếng nước ngoài như tiếng Anh, Nhật, Trung, Đức, Pháp và hợp tác Quốc tế

- Đức dục: giảm số học sinh cá biệt toàn trường xuống còn khoảng 0,15%

- Phấn đấu đạt trường chuẩn quốc gia năm học 2008-2009

2.2 Nhận thức của học sinh, cán bộ giáo viên và phụ huynh học sinh trong nhà trường về giáo dục hướng nghiệp

2.2.1 Nhận thức của học sinh

2.2.1.1 Nhận thức của học sinh về nghề nghiệp

Công tác hướng nghiệp cho học sinh không chỉ chú ý tới những nghề

xã hội đòi hỏi trước mắt mà còn phải hướng học sinh vào những ngành nghề tương lai cần phát triển Để giúp học sinh hiểu biết có hệ thống về ngành, nghề, tạo điều kiện cho học sinh phát triển đầy đủ phẩm chất, năng lực cần thiết và có thể lý giải có căn cứ đúng đắn khi chọn nghề, trong trường phổ thông cần có những buổi giới thiệu về nghề, hướng vào những nghề cơ bản trong xã hội Kế hoạch giới thiệu cần sắp xếp theo trình tự hợp lý và có thể tiến hành trong tiết học, trong buổi tham quan, nói chuyện ngoại khóa, tọa đàm…Nội dung chủ yếu của các giờ học là cung cấp thông tin nhất định về nội dung, tính chất, đặc điểm lao động của một nghề nhất định, vai trò, vị trí của nghề đó trong nền kinh tế quốc dân, những đòi hỏi của nghề về kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ năng cơ bản, phẩm chất đạo đức, tâm lý, tình trạng sức khỏe, sự phấn đấu trong nghề v v Ngoài ra một trong những nội dung cơ bản của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông là phải giáo dục lòng yêu lao động, xây dựng niềm tin đối với lao động, bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm trong lao động, ý thức bảo vệ của công, tinh thần thi đua trong lao động

Tuy nhiên nhận thức về nghề nghiệp của mỗi học sinh là khác nhau nhưng nó là một quá trình lâu dài, đó là sự phản ánh được những đặc trưng

Trang 39

cơ bản của nghề nghiệp, phản ánh được những yêu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp, phản ánh những yêu cầu đòi hỏi về mặt tâm sinh lý đối với người làm nghề đó và nó cũng phản ánh các quá trình lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định

Sự nhận thức về nghề nghiệp bao gồm những mặt sau: Nhận thức về nhu cầu xã hội đối với một nghề nhất định và đối với tất cả các nghề trong xã hội (đó chính là nhận thức về thị trường lao động); nhận thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu của nghề, nhận thức về đặc điểm tâm sinh lý của chính bản thân mình đối với lĩnh vực nghề mình chọn Trên cơ sở nhận thức

đó có sự so sánh, đối chiếu và lựa chọn sự phù hợp của nghề đối với bản thân

Thông thường nhận thức của học sinh được chia ra làm 3 mức độ:

- Mức độ thứ nhất: là mức độ nhận thức cao nhất và đầy đủ nhất về nghề nghiệp, nó bao gồm những học sinh có những biểu hiện như sau:

+ Nhận thức về nội dung, mục đích đào tạo nghề một cách chính xác, đầy đủ

+ Đánh giá được thị trường lao động đối với nghề

+ Tự đánh giá được bản thân một cách đúng đắn so với yêu cầu của nghề + Động cơ chọn nghề xuất phát từ nhu cầu, hứng thú, sở thích, nguyện vọng v.v bên trong của cá nhân là chủ yếu

+ Thường xuyên có ý thức nâng cao vốn tri thức, tích cực chiếm lĩnh những tri thức khoa học làm nền tảng tiếp thu nghề nghiệp trong tương lai

Nhìn chung ở mức này nhận thức nghề nghiệp của học sinh là do nhận thức lý tính chi phối, đây là mức độ nhận thức cao nhất hoàn thiện chính xác

và đầy đủ nhất Khi đạt được ở mức độ này thì cá nhân sẽ có sự lựa chọn hợp

lý và chính xác nhất khi quyết định nghề nghiệp của mình

- Mức độ 2: Là mức độ thấp hơn nhưng tương đối đầy đủ về nghề nghiệp, bao gồm những học sinh có biểu hiện sau:

Trang 40

+ Biết chút ít chung chung về mục đích nội dung đào tạo nghề nghiệp, biết sơ qua về công việc mà khi bước vào nghề phải thực hiện

+ Đánh giá được sự cần thiết của nghề mình chọn với yêu cầu của xã hội, khả năng phát triển nghề, giá trị kinh tế do nghề nghiệp mang lại

+ Giải thích được động cơ tại sao mình lại chọn nghề này

Nhìn chung ở mức độ này nhận thức cảm tính lớn hơn nhận tức lý tính Khi đạt ở mức độ này thì cá nhân có thể chọn nghề tương đối phù hợp với bản thân mình tuy nhiên vẫn còn hạn chế về hiểu biết nghề nghiệp nên có thể mắc phải những sai lầm nhất định

- Mức độ thứ 3: Là mức độ thấp nhất về nghề nghiệp, nó bao gồm những học sinh có những biểu hiện sau:

+ Không hiểu biết gì về nghề mình sẽ chọn, không nêu được mục đích, nội dung đào tạo của nghề nghiệp, không biết chút ít về công việc mà khi bước vào nghề phải thực hiện

+ Không đánh giá được vị trí nghề trong xã hội

+ Động cơ chọn nghề chủ yếu do tác động bên ngoài

Ở mức độ này thì việc chọn nghề nghiệp hoàn toàn do nhận thức cảm tính chi phối Khi cá nhân chọn nghề nghiệp chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức này chi phối thì việc lựa chọn nghề sai là phổ biến Những trường hợp này thường thì bỏ nghề, chuyển nghề hoặc phải đào tạo lại

Nhận thức nghề nghiệp của học sinh là một yếu tố quan trọng đối với lựa chọn nghề trong tương lai của học sinh, nó là cơ sở định hướng cho sự lựa chọn nghề nghiệp Việc nhận thức về nghề của học sinh càng đầy đủ, sâu sắc, chính xác càng giúp các em có cơ sở vững chắc để lựa chọn nghề phù hợp với năng lực của bản thân, vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động xã hội Ngược lại sự nhận thức chưa đầy đủ về mục đích đào tạo nghề,

xu hướng phát triển nghề….sẽ làm cho các em thiếu cơ sở khoa học để chọn nghề phù hợp, có thể dẫn đến sai lầm khi chọn nghề nghiệp, điều này ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động nhất là người sử dụng lao động Sở dĩ như

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w