Với những ý nghĩa đó, tôi đã chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học ở Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” làm luận văn tốt nghiệp cao học; với mong muốn t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG TUYẾT BAN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG TUYẾT BAN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở HUYỆN TỦA CHÙA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Là nữ cán bộ quản lý của dân tộc ít người lại đang công tác tại địa bàn
vô cùng khó khăn, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học ở Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” để viết luận văn tốt nghiệp Trong quá trình nghiên cứu tôi đã nhận được sự khích lệ và cộng tác của các bạn đồng nghiệp; Ban giám hiệu, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong huện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên để hoàn thành luận văn
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu, các giáo sư, các giảng viên của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình lập đề cương, nghiên cứu viết và hoàn chỉnh luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp và các lực lượng giáo dục trong huyện Tủa Chùa đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như cung cấp tài liệu, đóng góp các ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn chỉnh luận văn, song chắc rằng luận văn vẫn còn có những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc
để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Hoàng Tuyết Ban
Trang 4HĐ GDKNS Hoạt động giáo dục kỹ năng sống
HĐ GDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng, biểu vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 6
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1 1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 8
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 10
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 10
1.2.2 Kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống 14
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 17
1.3 Giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học 18
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học 18
1.3.2 Giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học 20
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học 23
1.4.1 Quản lý chương trình, nội dung 23
1.4.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động 24
1.4.3 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá 24
1.4.4 Phối hợp các lực lượng tham gia 26
1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống 29
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường Tiểu học 29
1.5.1 Mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục tiểu học 29
Trang 61.5.2 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh tiểu học 30
1.5.3 Trình độ của đội ngũ giáo viên 38
1.5.4 Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 39
1.5.5 Văn hóa nhà trường 39
1.5.6 Môi trường và các điều kiện cơ sở vật chất 41
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TẠI HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN 45
2.1 Khái quát chung về Huyện Tủa Chùa 45
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Tủa Chùa 45
2.1.2 Tình hình về giáo dục của huyện Tủa Chùa 47
2.2 Thực trạng về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 50
2.2.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học của CBQL, GV, CMHS và các lực lượng xã hội khác 50
2.2.2 Thực trạng về hoạt động giáo dục KNS cho học sinh TH ở các trường TH Huyện Tủa Chùa 54
2.3 Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục KNS Huyện Tủa Chùa 56
2.3.1 Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường tiểu học 56
2.3.2 Thực trạng quản lý thực hiện chương trình, nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 58
2.3.3 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 66
2.3.4 Thực trạng quản lý sự phối hợp các lực lượng trong trường và ngoài xã hội để tổ chức các hoạt động GD kỹ năng sống 68 2.3.5 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GD kỹ năng
Trang 7sống 69 2.3.6 Đánh giá chung 69 Tiểu kết chương 2 73 Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ÐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ÐIỆN BIÊN 74 3.1 Một số định hướng có tính nguyên tắc trong việc xây dựng các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học 74 3.1.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong hoạt động giáo dục 74 3.1.2 Quản lý giáo dục KNS phải góp phần hình thành, phát triển nhân cách học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học 74 3.1.3 Các biện pháp quản lý phải phát huy được tiềm năng của cán bộ và giáo viên, kích thích động lực và nhu cầu rèn luyện của học sinh 74 3.1.4 Các biện pháp phải tác động đồng bộ vào các yếu tố, các khâu của hoạt động giáo dục kỹ năng sống 74 3.1.5 Các biện pháp phải đảm bảo tính khả thi, thiết thực 74 3.1.6 Các biện pháp phải kế thừa, phát huy được kinh nghiệm, sự phát triển của xã hội 74 3.2 Đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay 74 3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về giáo dục KNS và quản lý giáo dục KNS cho học sinh trong giai đoạn hiện nay 74 3.2.2 Kế hoạch hóa quá trình quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS 77 3.2.3 Quản lý công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho đội ngũ GV tham gia tổ chức thực hiện 79 3.2.4 Tăng cường chỉ đạo đổi mới, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống 80
Trang 83.2.5 Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia tổ chức thực
hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 83
3.2.6 Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất và tài chính phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống 86
3.2.7 Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện chương trình GD KNS gắn với công tác thi đua khen thưởng 89
3.2.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.3 Khảo sát tính khả thi và sự cấp thiết của các biện pháp đề xuất 91
3.3.1 Mục đích khảo sát 91
3.3.2 Đối tượng khảo sát 91
3.3.3 Các biện pháp được khảo sát 91
3.3.4 Nội dung khảo sát 92
3.3.5 Kết quả khảo sát 92
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 95
1 Kết luận 95
2 Khuyến nghị 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 100
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1.Điều tra nhận thức về KNS của GV TH Huyện Tủa Chùa 52 Bảng 2.2 Điều tra về KNS của GV TH Huyện Tủa Chùa 53 Bảng 2.3 Thực trạng xây dựng kế hoạch GD KNS 56 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào các môn học của giáo viên 58 Bảng 2.5 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện GD kỹ năng sống thông qua công tác chủ nhiệm của GV 60 Bảng 2.6 Tần xuất thực hiện các hình thức GD KNS của GVCN 61 Bảng 2.7 Thực trạng việc tích hợp hoạt động GD KNS với HĐ GDNGLL 62 Bảng 2.8 Thực trạng việc tích hợp HĐ GD KNS với HĐ của Đội TNTP HCM 64 Bảng 2.9 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS của BGH nhà trường 67 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 92 Biểu đồ 2.1: Đánh giá nhận thức của CBQL, giáo viên và CMHS nhà trường và cán bộ địa phương về GD kỹ năng sống 50 Biểu đồ 3.1: Mức độ cấp thiết và tính khả thi 93
Trang 10Kỹ năng sống không phải tự nhiên có mà là kết quả rèn luyện của mỗi người trong suốt cuộc đời, trong các mối quan hệ xã hội, dưới ảnh hưởng của giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường có vai trò hết sức quan trọng Giáo dục nhà trường tạo ra những cơ sở ban đầu quan trọng nhất cho sự phát triển nhân cách nói chung và kỹ năng sống của trẻ nói riêng Ở trường phổ thông hoạt động quản lý giáo dục trong công tác tổ chức, quản lý giáo dục kỹ năng sống
là một yêu cầu tất yếu, gắn liền với vai trò và nhiệm vụ của nhà trường
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân,
vì vậy vai trò của nhà trường đối với việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học càng trở nên có ý nghĩa hơn Học sinh tiểu học là những học sinh đang trong quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách, những thói quen cơ bản chưa ổn định mà đang được hình thành và củng cố Do đó việc giáo dục kỹ năng sống cho các em là một việc làm rất cần thiết, là nền tảng giúp các em phát triển nhân cách sau này
Từ năm học 2010 - 2011, Bộ giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào các môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các bậc học phổ thông nói chung và bậc tiểu học nói riêng Đây
là một chủ trương cần thiết và đúng đắn đã được xã hội và đặc biệt là các bậc
Trang 11cha mẹ quan tâm, đón nhận và coi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh
Trong thực tế, lo lắng trước những cảnh báo về những hành vi, việc làm
và cả những hậu quả thương tâm của một lớp trẻ thiếu kỹ năng sống Ở thành phố và các khu vực thuận lợi nói chung, thành phố Điện Biên Phủ nói riêng, tranh thủ những tháng nghỉ hè vừa qua, không ít phụ huynh bên cạnh việc cho con đi học ngoại ngữ, năng khiếu, thể thao, cũng ráo riết tìm kiếm những trung tâm huấn luyện kỹ năng sống cho trẻ với kỳ vọng: Trẻ sẽ có đủ tự tin, bản lĩnh để vững bước vào đời Ở nông thôn và những nơi vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nhất là vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số như Huyện Tủa Chùa, hầu hết phụ huynh lại không quan tâm tới việc giáo dục kỹ năng sống cho con em mình, các em lớn lên với những bản năng sẵn có; để rồi đã có rất nhiều hậu quả đau lòng đã xảy ra khi các em thiếu đi kỹ năng sống trong xã hội hiện nay
Do đó, việc đưa KNS vào trường học không chỉ được nhiều phụ huynh tán thành, mà còn được đông đảo đội ngũ cán bộ giáo viên ủng hộ Qua ba
năm triển khai và thực hiện, chúng tôi nhận thấy: Kỹ năng sống thực sự
không phải là những gì quá cao siêu, phức tạp, mà là những nội dung hết sức đơn giản, gần gũi với trẻ em; là những kiến thức tối thiểu để giúp các em tự
tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống Việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS
trong các nhà trường được thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của các cấp quản
lý Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Tủa Chùa nói riêng, khi đưa hoạt động giáo dục kỹ năng sống vào trường học, việc quản lý hoạt động này như thế nào để phát huy tốt hiệu quả của nó thì các trường học còn gặp không ít lúng túng Bên cạnh đó, Phòng GD&ĐT mặc
dù đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ hoạt động giáo dục KNS nhưng mới chỉ dừng ở mức độ kế hoạch, còn việc tổ chức thực hiện
kế hoạch như thế nào, kiểm tra đánh giá ra sao, các điều kiện để tổ chức thực hiện kế hoạch được đảm bảo như thế nào chưa được thực hiện đồng bộ và
Trang 12bài bản Từ đó dẫn tới việc, chất lượng hoạt động giáo dục KNS cho học sinh phổ thông nói chung và học sinh tiểu học nói riêng của huyện Tủa Chùa đạt kết quả chưa cao
Với những ý nghĩa đó, tôi đã chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học ở Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” làm luận văn tốt nghiệp cao học; với mong muốn trước hết là tìm ra những biện pháp quản lý sát với tình hình thực tiễn của đơn vị mình để nâng cao chất lượng hoạt động GDKNS, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đồng thời, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Tủa Chùa
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học tại huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên, qua đó góp phần đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học và
quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong các trường Tiểu học
3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng của quản lý hoạt động giáo dục
KNS cho học sinh trong các trường Tiểu học huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
3.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu
học tại huyện Tủa Chùa nhằm góp phần đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 13Hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học huyện Tủa chùa, tỉnh Điện Biên
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Tiểu học ở Huyện Tủa chùa, Tỉnh Điện Biên
5 Giả thuyết khoa học
Nếu triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý đề xuất thì chất lượng hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học của Huyện Tủa Chùa sẽ được nâng cao, góp phần đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhằm tổng hợp các vấn đề lý luận làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu Tìm hiểu và phân tích các quan điểm lý lụan thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, nghiên cứu trên sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra: Nhằm khảo sát thực trạng về giáo dục, về
KNS, giáo dục KNS và quản lý giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học tại Huyện Tủa Chùa, Tỉnh Điện Biên
+ Phương pháp chuyên gia: Nhằm tìm hiểu thêm các nội dung được đề
cập trong đề tài nghiên cứu; các vấn đề về đời sống văn hóa của địa phương trên địa bàn có liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và mức
độ tin cậy của các sản phẩm nghiên cứu
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm tập hợp và phân tích các
thành công của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên cũng như của các địa phương khác
Trang 146.3 Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử lý
số liệu điều tra, để xử lý kết quả
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi
để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của địa phương
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong các trường Tiểu học
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học ở Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Chương 3 Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học ở Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Trang 15
bị cho người học những kỹ năng sống cốt lõi để họ có thể ứng phó với các tình huống trong cuộc sống, mặt khác cần triển khai các nội dung giáo dục tiếp cận kỹ năng sống nhằm không chỉ nhận thức, thái độ mà quan trọng là thay đổi hành vi theo hướng tích cực
Chương trình giáo dục các giá trị sống được triển khai từ một dự án quốc tế bắt đầu từ năm 1995 do trường đại học Brahmakumarit thực hiện để
kỉ niệm 50 năm ngày thành lập Liên hợp quốc nhằm kêu gọi sự chia sẻ cho một thế giới tốt đẹp hơn, dự án này tập trung vào 12 giá trị sống mang tính phổ quát, chủ đề được lấy trong lời mở đầu của hiến chương Liên hợp quốc, khẳng định lòng tin vào quyền cơ bản của con người, về phẩm chất, nhân cách giá trị của mỗi người: sáng kiến LVEP (LivingValues-Edducation Program) ra đời và được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “Những giá trị sống: Một chương trình giáo dục” Chương trình này đưa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phương pháp thực hành đối với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, Tự
Trang 16do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết
Bước vào thế kỷ 21, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông qua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ
sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh
Tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar UNESCO và UNICEF đã nhận
thấy mô hình “Trường học thân thiện” với các yếu tố của nó là một giải pháp
nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục Vì vậy mô hình này đã được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới Trong mô hình trường học thân thiện, tiêu chí giáo dục KNS vừa như là một biểu hiện của chất lượng giáo dục, vừa để giúp HS sống an toàn Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh; cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp và kỹ năng sống của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục Cho nên, trong mục tiêu 6 của chương trình đã coi kỹ năng sống là một khía cạnh của chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học Như vậy tiến hành giáo dục KNS để nâng cao chất lượng giáo dục
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm Ở một số quốc gia, giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế
Trang 17Ở Ma - rốc: giáo dục kỹ năng sống hướng đến các vấn đề như: Vệ sinh, các vấn đề nổi cộm ở đô thị, bảo quản nguồn nước
Ở các nước phương tây, kỹ năng sống từ lâu đã được quan tâm Mô hình giáo dục của Pháp thế kỉ XXI theo đề xuất của Edgard Mong là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào) và học cách sống Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm Người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh thương tích Đây chính là giáo dục kỹ năng sống gắn với những nội dung, vấn đề cụ thể
1.1.2 Ở trong nước
Đối với Việt Nam đây là một vấn đề rất được quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu nhưng cũng mới chỉ có sự tiếp cận trên một vài phương diện chủ yếu là giáo dục sức khoẻ và giáo dục vệ sinh môi trường ở một số dự
án như: "Trường học nâng cao sức khoẻ" của BỘ GD&ĐT, Bộ Y tế, Tổ chức
Y tế thế giới (WHO); dự án "Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học
cơ sở" của BỘ GD&ĐT Tuy nhiên trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kỹ năng học tập, tiếp thu kiến thức còn việc giáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm nhiều Theo chuyên viên tâm lý Huỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "Hiện nay, thuật ngữ kỹ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính
Trang 18những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì
năng xác định giá trị nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên
gia Úc tập huấn Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có ngành Giáo dục
và Hội chữ thập đỏ
Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên: "Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống" Ngoài ngành Giáo dục, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức xã hội chính trị là Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
và Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển nên đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của các tác giả: PGS TS Đặng Thị Thanh Huyền, PGS TS Đặng Quốc Bảo, PGS TS Nguyễn Thị Hường, Bác sỹ Lê Công Phượng; PGS TS Nguyễn Thanh Bình; TS Lưu Thu Thuỷ; TS Nguyễn Kim Dung, TS Vũ Thị Sơn; Lưu Thị Lịch, Nguyễn Thị Chính, Đoàn Thị Hương; TS Tâm lý học: Huỳnh Văn Sơn; PGS TS Nguyễn Dục Quang;
GS TS Nguyễn Quang Uẩn Đặc biệt, các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu, thực hiện và xuất bản cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra quan hệ liên thuộc giữa giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, trong đó giáo dục giá trị sống luôn là nền tảng, kỹ năng sống là công cụ và phương tiện
để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống Đây là những tiền đề đưa nội dung giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh tiểu học vào các nhà trường mạnh
Trang 19mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Từ năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình GDKNS vào chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kĩ năng tâm
lý - xã hội là những kĩ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày
để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý công tác GDKNS cho học sinh dân tộc thiểu số Ngày 28 tháng 2 năm 2014, Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành Thông tư 04/2014/TT – BGD-ĐT, Quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa Điều này thể hiện tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường phổ thông trong bối cảnh hiện nay
Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu đề tài giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, nhưng chủ yếu các đề tài phân tích làm
rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề giáo dục giá trị sống, hoặc kỹ năng sống, chưa giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách hệ thống,
về biện pháp quản lý, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh nói chung và học sinh ở một trường tiểu học cụ thể nói riêng Một số đề tài đã nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm
vụ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nhưng mới chỉ dừng lại trong phạm vi hẹp của từng nhà trường, chưa áp dụng rộng rãi cho những trường có đặc điểm giống nhau Do vậy, cần thiết phải có những biện pháp nhằm quản lý, chỉ đạo có hiệu quả hoạt động giáo kỹ năng sống cho học sinh
ở những trường tiểu học trên cùng một địa bàn, cùng chung điều kiện về kinh
Trang 20tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học ở Huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” có kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên Vấn đề mà luận văn quan tâm là biện pháp quản lý của nhà trường để chỉ đạo và thực hiện hoạt động giáo dục KNS cho học sinh một cách hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần vào sự đổi mới của giáo dục trong bối cảnh hiện nay
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
* Quản lý
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát
triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng
và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một
hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung
Chính vì thế quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:
- Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng
cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ
để giải quyết những vấn đề đặc trưng để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự
- Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép
xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm
Trang 21những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định
- Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng
quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người” Với học thuyết này giúp con người quản lý ứng
xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức Hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.” [13, tr.9]
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành
* Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của
kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất
là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo
Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Giống như khái niệm “quản lý” đã trình bày ở trên, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thể quản
Trang 22lý giáo dục, khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra.” [15, tr.16 ]
Nói chung, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục Nói một cách rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
* Quản lý nhà trường
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý, về bản chất
là huy động các nguồn lực để tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục[20, tr.369]
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD - ĐT, cơ quan quản lý hệ thống giáo dục quốc dân bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD - ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng Giáo dục
ở các quận, huyện, nơi chỉ đạo và giám sát nhà trường thực hiện các chương trình giáo dục Cơ quan quản lý trực tiếp các hoạt động giáo dục trong nhà trường là ban giám hiệu nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục
Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài
Trang 23xã hội Quản lý nhà trường bao gồm các nội dung sau: Quản lý chương trình dạy, quản lý chương trình học và quản lý khâu hỗ trợ chương trình dạy, chương trình học như: quản lý cơ sở vật chất và thiết bị GD, quản lý việc bồi dưỡng GV, quản lý môi trường GD, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh
1.2.2 Kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống
* Khái niệm kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm khác về kỹ năng sống:
- Theo tổ chức Y tế thế giới ( WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày
- Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức hình thành thái dộ kĩ năng sống
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và và Văn hóa Liên Hợp Quốc (Unesco) KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
+ Học để biết ( Learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả
+ Học làm người ( Learning to be) gồm kĩ năng cá nhân như: ứng phó
với căng thẳn, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin
+ Học để sống với người khác ( Learning to live together) gồm các kỹ
năng xã hội như: giao tiếp thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông:
+ Học để làm ( Learning to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc
và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm.[2, 41]
Phân tích và quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác với môi trường của mình Quan niệm
Trang 24này mang tính chất khái quát nhưng chưa thể hiện rõ các kỹ năng cụ thể, mặc
dù khi phân tích sâu thì thì thấy tương đối gần với nội hàm KNS theo quan niệm của UNESCO Quan niệm của UNESCO là quan niệm nhiệm vụ Còn quan niệm của UNICEF nhấn mạnh kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân với kiến thức và thái độ
Kỹ năng mà một người có được phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ: muốn có kỹ năng thương lượng phải biết nội dung thương lượng) việc
đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích vì thái độ có tác động mạnh mẽ đến kĩ năng (ví dụ: thái độ kì thị khó làm cho một người thực hiện tốt kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác)
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các
kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân
tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả
Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với nhứng người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
KNS là những kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại
và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kỹ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống
KNS là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người KNS bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người KNS có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người
Trang 25KNS không phải tự nhiên có được mà phải hình thành dần trong quá trình
học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn
ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội, KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân KNS mang tính xã hội vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống
và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc
* Giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một trong những nội dung, mục tiêu quan trọng của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Tuy nhiên, hiện nay, theo đánh giá của nhiều giáo viên: “Lỗ hỏng của nhiều học sinh hiện nay là thiếu kĩ năng sống Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là vô cùng bức thiết không chỉ của nhà trường mà của toàn xã hội.”
Giáo dục KNS cho HS phải bảo đảm các yếu tố: giúp HS ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp HS hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp luật…
Tuy nhiên, giáo dục KNS để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không phải chỉ từ các bài giảng KNS là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng ghép này sẽ không dừng lại ở mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ cụ thể hóa thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu học sinh xử lý
Giáo dục KNS tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành
vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị , thái độ và kỹ năng thích hợp
Vì vậy giáo dục KNS cho học sinh được biểu hiện là giáo dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể tải những gì mình biết (nhận thức) những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm
Trang 26gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống Trong chương trình giáo dục kỹ năng sống, không có khái niệm “vâng lời”, chỉ có khái niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”
Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt mục đích “rèn nếp” hay “nghe lời” Công dân toàn cầu là người biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định có làm điều này hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp công dân chỉ biết “biết nghe lời”
Đây là sự khác biệt cơ bản của việc giáo dục kỹ năng sống với các môn học truyền thống như Đạo đức và Giáo dục công dân
Chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học được Bộ GD&ĐT triển khai vào năm học 2010-2011 Đây là môn học mở, tùy điều kiện từng trường để áp dụng linh hoạt, vì không quy định tiết học, giờ học cụ thể nên tùy thuộc vào điều kiện, năng lực giáo viên
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ rõ: [17, 3]
- Hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong quy định này được hiểu là hoạt động giáo dục giúp cho người học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách
và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống
- Hoạt động giáo dục kỹ năng sống không phải là hoạt động giáo dục
ngoài giờ chính khóa Theo quy định của Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì hoạt
động giáo dục ngoài giờ chính khóa được hiểu là hoạt động giáo dục đáp ứng nhu cầu người học không thuộc chương trình, kế hoạch giáo dục do các cơ quan có thẩm quyền đã phê duyệt
Trang 27- Hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, giáo dục nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam
Quản lý hoạt động GDKNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao GDKNS trong nhà trường
Quản lý hoạt động GDKNS chính là những công việc của nhà trường
mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có
kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh
Từ đó có thể nói: “Quản lý hoạt động GDKNS trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong
và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh đã đề ra”
Nói cách khác, Quản lí hoạt động GDKNS cho HS chính là quản lí kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức; quản lý công tác kiểm tra đánh giá, sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ GD kỹ năng sống ở học sinh
1.3 Giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học
Trang 28Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mục 2 - Điều 26 qu y đ ịn h: Giáo dục phổ thông bao gồm: Giáo dục tiểu học, Giáo dục trung học cơ sở, Giáo dục trung học phổ thông.[16]
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi;
- Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học được coi là bậc học nền tảng: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.” Luật giáo dục - Đi ều 27 Mục tiêu của giáo dục Tiểu học.[16, 16]
- Điều 28 - Điều lệ trường Tiểu học : Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng
- Nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học:
+ Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
+ Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ
em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ
em trong địa bàn trường được phân công phụ trách
+ Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương
+ Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục
+ Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
+ Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính
Trang 29theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
+ Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học
* Mục tiêu
- Mục tiêu về nhận thức:
+ Củng cố, bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện những tri thức đã được học trên lớp, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, với cộng đồng xã hội
+ Vận dụng những tri thức đã học để giải quyết những vấn đề do đời sống thực tiễn đặt ra, tạo cơ hội kiểm nghiệm những tri thức đó, làm cho nó đi vào tiềm thức của học sinh một cách chắc chắn và lâu bền, kích thích sự phát triển tư duy của các em
+ Giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hoá của đất nước Từ đó tăng thêm sự hiểu biết của các em về Bác Hồ, về Đảng,
và các tổ chức chính trị, xã hội khác
- Mục tiêu về thái độ
+ Tạo cho học sinh hứng thú và ham muốn được hoạt động
+ Từng bước hình thành cho học sinh lòng tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêm truyền thống của trường, của quê hương mình; mong muốn vươn lên thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tích cực để trở thành những công dân có ích cho đất nước sau này
+ Bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm đạo đức trong sáng với bạn
bè, với thầy cô, với những người lớn khác, với quê hương đất nước
Trang 30+ Bồi dưỡng tính tích cực, tính năng động, sẵn sàng tham gia những hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của trường, của lớp vì lợi ích chung, vì sự tiến bộ của bản thân
+ Góp phần giáo dục cho học sinh tình đoàn kết hữu nghị với các bạn thiếu nhi quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới
- Mục tiêu về kỹ năng
+ Rèn cho học sinh những kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hoá
+ Rèn cho học sinh các kỹ năng tự quản các hoạt động tập thể
+ Rèn luyện cho học sinh biết cách tự điều chỉnh hành vi phù hợp với các yêu cầu xã hội, kỹ năng sống hoà nhập và nhiều kỹ năng khác nữa
* Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
Trong tập sách Giáo dục giá trị và kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội – Năm 2011)[7, 79-91] các tác giả đã dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam những năm qua, đã đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng, bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết sau:
- Kỹ năng tự nhận thức: Tự nhận thức là khả năng hiểu biết, đánh giá được bản thân mình về tính cách, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu…
- Kỹ năng đồng cảm, chia sẻ: Đồng cảm và chia sẻ là sự cảm thông, thương xót, là sự cho đi hay giúp đỡ người khác cả về vật chất lẫn tinh thần bằng tất cả khả năng của mình giúp học vượt qua những khó khăn, hoạn nạn
mà không mong muốn được đền đáp, trả ơn
- Kỹ năng tư duy tích cực: Tư duy tích cực là những ý nghĩ lành mạnh, tích cực luôn đề cập đến niềm vui sướng, hạnh phúc và sự thành công trong mọi hành động, mọi tình huống
- Kỹ năng kiểm soát tức giận: Là khả năng, cách thức con người nhận biết, xử lý một cách tích cực, hiệu quả những tình huống gây tức giận đối với bản thân để giữ mình ở trạng thái cân bằng, tỉnh táo
Trang 31- Kỹ năng kiên định: Là khả năng giữ vững lập trường, quan điểm, ý định, không dao động trước những cám dỗ, xúi bẩy, không nản chí trước những trở ngại, khó khăn
- Kỹ năng giải quyết xung đột: Là khả năng nhận diện được các nguyên nhân gây ra xung đột và tìm kiếm được những lời nói và việc làm phù hợp để giải quyết xung đột
- Kỹ năng hợp tác: Là khả năng làm việc với các cá nhân và các nhóm
để thực hiện mục tiêu chung
- Kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ: Là khả năng nhận ra sự cần thiết của việc đề nghị giúp đỡ trong những tình huống khó khăn mà khó có thể tự mình giải quyết được
Việc giáo dục các kỹ năng sống giúp các em có lối sống lành mạnh, biết
tự khẳng định mình, biết quan tâm đến nhu cầu của người khác, sẵn sàng giúp
đỡ họ, giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình và thành công hơn trong cuộc sống
* Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống
- Hai cách tiếp cận trong giáo dục kỹ năng
+ Thứ nhất, các hoạt động tập trung vào kỹ năng sống cốt lõi như kỹ
năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương lượng theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề kỹ năng cụ thể người học sẽ hiểu kỹ năng sống đó
là gì, cách hình thành trong kỹ năng sống đó và vận dụng nó để giải quyết các tình huống giải định
+ Thứ hai, mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề hay nảy sinh trong cuộc
sống ở lứa tuổi này, và giải quyết nó thì cần phải vận dụng những kỹ năng sống khác nhau Qua đó, hình thành và rèn luyện những kỹ năng sống ấy Trong trường hợp này các kỹ năng sống được gắn liềng với các vấn đề cụ thể
- Một số phương pháp thường sử dụng trong giáo dục kỹ năng sống
Trang 32+ Phương pháp động não: Là phương pháp giúp cho người học trong thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó
+ Phương pháp nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu tình huống thường
là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay một loạt vấn đề
+ Phương pháp trò chơi: Là tổ chức cho học sinh chơi một trò chơi nào
đó để thông qua đó mà tìm hiểu một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm
+ Phương pháp nhóm: Là tổ chức để mọi người cùng tham gia trao đổi hay cùng làm về một vấn đề nào đó theo nhóm nhỏ tạo cơ hội có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến
+ Phương pháp đóng vai: Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định 1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học
Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học không thể tách khỏi các chức năng của quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, nó bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục nhằm thay đổi nhận thức hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết
1.4.1 Quản lý chương trình, nội dung
Hiện nay nội dung giáo dục KNS cho học sinh tiểu học chưa được đưa thành khung chương trình thống nhất mà mỗi trường tùy theo mục tiêu và điều kiện của trường mình mà “định hướng” đưa ra nội dung, chương trình cho riêng mình Ở trường tiểu học hiện nay nội dung giáo dục KNS dạy lồng ghép trong các môn học, bài học và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 33Đối với việc giáo dục KNS cho học sinh, lựa chọn chương trình và nội dung phù hợp là yếu tố rất quan trọng Việc quản lý chương trình, nội dung giáo dục KNS bao gồm từ việc chỉ đạo đội ngũ xây dựng chương trình, nội dung cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và đánh giá kết quả đạt được
1.4.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động
Xây dựng kế hoạch hoạt động là một bộ phận quan trọng trong nội dung quản lý họa động giáo dục KNS Kế hoạch được lập cho một thời kỳ ngắn chính là sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định: tuần, tháng, học kỳ, năm học Kế hoạch hoạt động giáo dục KNS là trình tự những nội dung hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động được bố trí, sắp xếp theo thứ
tự thời gian của năm học
Quản lý về kế hoạch hoạt động giáo dục KNS bao gồm: quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động KNS
Để quá trình giáo dục KNS cho học sinh đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình giáo dục KNS
1.4.3 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá
Nhà trường phải xây dựng được tiêu chí đánh giá, quy định thời gian đánh giá Xác định được cách kiểm tra Sau kiểm ta cần tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra
Để đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS nhà quản lý cần phải bám sát vào mục tiêu đề ra, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học Việc đánh giá thực
Trang 34hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS nên theo cách phân loại chủ thể đánh giá, đó là tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài
Tự đánh giá: Là hoạt động đánh giá của chủ thể đánh giá đối với chính
bản thân mình, tổ chức của mình trên cơ sở đối chiếu với hệ chuẩn được xác định từ trước Mỗi giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội, ban giám hiệu thực hiện tự đánh giá đối với việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS cho HS Hoạt động tự đánh giá giúp chủ thể nhận thức rõ về bản thân,
về tổ chức của mình, giúp tự khắc phục những điểm yếu, điều chỉnh các hoạt động theo chuẩn Tự đánh giá cũng giúp chủ thể có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của bản thân và nhờ vậy hoạt động của tổ chức có chất lượng và hiệu quả hơn
Đánh giá từ bên ngoài: được tiến hành bởi các cơ quan cấp trên hoặc từ
một tổ chức đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn đã được xác định từ trước Với việc đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS
có thể sử dụng đánh giá của PHHS, các lực lượng cán bộ chính quyền địa phương, BGH đánh giá Tổng phụ trách Đội, GVCN, GV bộ môn và ngược lại Kết quả đánh giá được sử dụng để điều chỉnh hoạt động của nhà trường về việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS
Về đối tượng đánh giá: Tiến hành kiểm tra đánh giá việc thực hiện
chương trình hoạt động giáo dục KNS cho HS
Về nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế
hoạch thực hiện chương trình GD KNS đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn
bị cơ sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả hoạt động
GD KNS cho HS…
Về phương pháp đánh giá: Sử dụng cả 2 phương pháp đánh giá theo
định lượng và đánh giá theo định tính Đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS cho HS thông qua phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn…kết quả đánh giá được lượng hóa qua các bảng thống kê, tỷ lệ phần trăm, biểu đồ…
Trang 35Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS góp phần đánh giá chất lượng giáo dục chung trong nhà trường, qua kiểm tra đánh giá nhà quản lý đánh giá mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên, mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để nhà quản lý xây dựng chiến lược giáo dục
về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động
1.4.4 Phối hợp các lực lượng tham gia
* Giáo viên chủ nhiệm lớp
Đối với bậc học tiểu học, GVCN tham gia dạy hầu hết các môn học trong chương trình Vì vậy GVCN có thể giúp học sinh không chỉ nắm vững, nắm chắc nội dung bài học mà còn nhận thức được các giá trị đạo đức và nhân văn cao cả, hình thành các thái độ, hành vi ứng xử tốt đẹp trong cuộc sống
Hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học, việc dạy từ kiến thức lý thuyết của bài giảng đến thực tế cuộc sống người giáo viên phải tích hợp được nội dung giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống vào bài giảng, khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền tải và lĩnh hội đầy
đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa thông qua kiến thức của bài học để học sinh nhận thức được giá trị của cuộc sống, hình thành giá trị của bản thân, biết lắng nghe, chia sẻ với người khác, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thích ứng xã hội…
Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi nhất với các em học sinh, giáo viên chủ nhiệm cũng chính là những người bạn tâm tình chia sẻ tâm tư tình cảm với các em học sinh, là người tổ chức cho các em các hoạt động tập thể, là cố vấn cho các hoạt động Đội Giáo viên chủ nhiệm chính là
vị thủ lĩnh tinh thần làm điểm tựa để tạo ra một tập thể lớp năng động, sáng tạo, biết học hết mình và chơi hết mình Một tập thể lớp năng động sẽ tạo ra rất
Trang 36nhiều thành viên năng động và sáng tạo… Giáo viên chủ nhiệm cần sáng tạo
để tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống trong các hoạt động tập thể, các giờ sinh hoạt lớp theo một kịch bản linh hoạt
Với vai trò đó giáo viên chủ nhiệm sẽ tạo ra được động lực thi đua, tạo môi trường thân thiện giữa thầy, cô và trò, giữa các thành viên trong tập thể, giữa tập thể lớp với tổ chức Đội, với hội cha mẹ học sinh Như vậy việc giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống thông qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm
sẽ giúp hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh, tạo cho các em tự tin hơn khi gặp các tình huống trong của cuộc sống, cùng với hành trang tri thức các
em vững bước vào tương lai
GVCN là lực lượng quan trọng tham gia hoạt động GD KNS cho học sinh
Để đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực thi tốt nhiệm vụ của mình, nhà quản
lý cần lý phải chỉ đạo GVCN căn cứ kế hoạch tổng thể của nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục KNS phù hợp với từng khối lớp, triển khai kế hoạch
và tổ chức hoạt động cho học sinh, quản lý phát huy hiệu quả của giờ sinh hoạt lớp, đôn đốc, kiểm tra đánh giá thi đua kết quả rèn luyện của học sinh; Quản lý tốt việc xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động thường xuyên của giáo viên như: soạn bài, giảng bài có lồng ghép GD KNS, xây dựng nội dung cho các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội (nội dung có đúng yêu cầu không, hình thức tổ chức, thời gian, vai trò của GV, ý thức tự quản của HS?)
* Đội TNTP Hồ Chí Minh
Ban phụ trách Đội TNTP HCM trong nhà trường tiểu học gồm cán bộ quản lý, tổng phụ trách và các giáo viên phụ trách chi đội, sao nhi đồng Họ chính là người trực tiếp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chương trình hoạt động của Đội TNTP HCM trong nhà trường Đó là các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm về giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, giáo dục đạo đức, GTS, KNS, các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao…
Trang 37Bằng các hoạt động tích cực và các phong trào hành động BPT Đội TNTP Hồ Chí Minh thực sự là đội ngũ tích cực trong công tác giáo dục, rèn luyện học sinh
Để nâng cao được hiệu quả hoạt động giáo dục KNS của BPT Đội, nhà quản lý cần nhận thức đầy đủ các yếu tố có ảnh hưởng tới việc giáo dục KNS thông qua các hoạt động Đội ở nhà trường, từ đó có những biện pháp quản lý
để tác động vào những yếu tố tích cực, phát huy hiệu quả giáo dục, khắc phục
và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Đồng thời quản lý tốt các giờ sinh hoạt chi đội, sinh hoạt sao nhi đồng, các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động chủ điểm, chủ đề nhân các ngày lễ lớn trong năm, các hoạt động phối hợp với PHHS, với GVCN, GV bộ môn, với các tổ chức tập thể và cá nhân trong và ngoài nhà trường Chỉ đạo BPT Đội xây dựng các tiêu chí đánh giá xếp loại thi đua về mức độ tham gia hoạt động của các chi đội và sao nhi đồng
* Phối hợp với các lực lượng giáo dục khác
Để tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và giáo dục KNS cho các em nói riêng, nhà trường cần huy động các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục như Ban đại diện cha mẹ học sinh, các cấp ủy Đảng, chính quyền nơi học sinh cư trú, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn như công an, y tế, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội chữ thập đỏ, nhà thiếu nhi, nhà văn hóa, trung tâm TDTT … Mỗi lực lượng đều có thế mạnh riêng, vì vậy quản lý tốt việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt hoạt động GD KNS chính là thực hiện xã hội hóa GD, tạo môi trường GD tốt nhất cho học sinh Có như vậy nhân cách và lý tưởng sống của các em được giáo dục và rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi, đồng thời giúp các em củng cố
bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện các tri thức đã được học trên lớp, mở rộng hiểu biết với thế giới xung quanh, biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết các vấn đề
do đời sống thực tiễn đặt ra Chính vì vậy để công tác giáo dục KNS cho học
Trang 38sinh nhà trường đạt hiệu quả cao nhà trường cần tạo dựng được sự chung tay ủng hộ và tham gia của các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục
kỹ năng sống
* Về tài liệu, sách tham khảo
Sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học - Tài liệu dùng cho giáo viên tiểu học” là cẩm nang dành cho GVCN, Ban giám hiệu, BPT Đội những lực lượng nòng cốt thực hiện chương trình GD KNS Trong thư viện của nhà trường cần phải có đầy đủ các loại sách tham khảo bổ trợ các môn học, sách GD đạo đức, pháp luật để GV lựa chọn nội dung cho các hoạt động
* Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Hoạt động giáo dục KNS rất cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để hoạt động đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn Điều kiện tổ chức
và phương tiện tốt sẽ làm tăng tính hấp dẫn của hoạt động Thiết bị tối thiểu
để tổ chức các hoạt động là: âm ly, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao
và kinh phí hoạt động Trong khi kinh phí dành cho hoạt động không nhiều thì việc GV cần có ý tưởng sáng tạo, tìm tòi các phương tiện phù hợp với điều kiện của lớp, của trường là rất cần thiết Về phía nhà trường ngoài việc quản
lý tận dụng những CSVC hiện có để phát huy hiệu quả giáo dục của hoạt động, cần phải tiết kiệm, cân đối nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm CSVC, tài liệu cho hoạt động, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của hội CMHS, của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn,
hỗ trợ cho hoạt động
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học
1.5.1 Mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục
* Mục tiêu giáo dục tiểu học là yếu tố đầu tiên có tính định hướng cho
công tác GD, rèn luyện KNS cho HS tiểu học Nếu không bám sát mục tiêu
Trang 39GD ở bậc tiểu học và không xác định được yêu cầu của việc GD KNS cho
HS thì các hoạt động GD KNS cho HS sẽ không đạt được hiệu quả như
mong muốn
Luật Giáo dục năm 2005, điều 27 đã nêu rõ:
“Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”
* Yêu cầu về nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông nói chung
và của tiểu học nói riêng
- Về nội dung giáo dục: bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp, có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh
lý lứa tuổi học sinh, đáp ứng mục tiêu ở mỗi cấp học Trong đó, giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa,
âm nhạc, mĩ thuật.”
- Về phương pháp: giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
1.5.2 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Điều 40- Điều lệ trường Tiểu học quy định về tuổi của học sinh tiểu học:
- Tuổi của học sinh tiểu học từ 6 đến 14 tuổi (tính theo năm)
- Tuổi vào học lớp 1 là 6 tuổi; trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em ở nước ngoài về nước có thể vào học lớp 1 ở độ tuổi từ 7 đến 9 tuổi
* Đặc điểm về mặt sinh học
Trang 40- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy
cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư
duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,
tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
- Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104
cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh