Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở trường trung học phổ thông qua đề tài luận văn: Vận dụng lý thuyết tự s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ LỆ HƯƠNG
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TỰ SỰ HỌC VÀO DẠY HỌC
TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP 1)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ LỆ HƯƠNG
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TỰ SỰ HỌC VÀO DẠY HỌC
TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP 1)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thời Tân
HÀ NỘI - 2013
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn những tấm lòng, sự nhiệt thành của các thầy cô giáo đang công tác tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - những người đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo chúng tôi trong suốt khóa học Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ của phòng Đào tạo và công tác sinh viên, Đại học Giáo dục
đã luôn quan tâm giúp đỡ tôi cũng như các học viên cao học khóa 2011 – 2013 trong thời gian chúng tôi học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thời Tân, người đã tận tâm chỉ dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo của Trung tâm GDTX Tứ Kỳ, GĐ Trung tâm đã tạo điều giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới cha mẹ, gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên, chăm sóc, động viên và tin tưởng tôi trong suốt khóa học
Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Vũ Lệ Hương
Trang 4ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Khái quát về lý thuyết tự sự học 8
1.1.1 Định nghĩa tự sự học (narratology) 9
1.1.2 Định nghĩa tác phẩm trần thuật 11
1.1.3 Một số luận điểm cơ bản của lí thuyết tự sự học hiện đại 11
1.1.4 Vai trò của lý thuyết tự sự học trong nghiên cứu văn học và trong dạy học tác phẩm văn chương 22
1.1.5 Yêu cầu cơ bản của việc tổ chức quá trình dạy học theo lý thuyết tự sự học 23
1.2 Vận dụng lý thuyết tự sự học vào việc dạy học tác phẩm văn chương 26
1.2.1 Khả năng vận dụng và phát triển một số hướng khai thác dạy học tác phẩm văn chương theo lý thuyết tự sự học 26
1.3 Sơ lược một vài đặc điểm về thể loại truyện ngắn 30
1.4 Vị trí truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam trong chương trình phổ thông 31
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM TỪ GÓC ĐỘ LÝ THUYẾT TỰ SỰ HỌC 34
2.1 Tìm hiểu các yếu tố tự sự trong truyện ngắn Hai đưa trẻ của Thạch Lam từ lý thuyết tự sự học 34
2.1.1 Vấn đề người kể chuyện 34
2.1.2 Điểm nhìn trần thuật ở “Hai đứa trẻ” 37
Trang 5iii
2.1.3 Bối cảnh câu chuyện và thời gian trần thuật trong “Hai đứa trẻ” 39
2.2 Kết luận về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam 43
2.3 Sử dụng các thành quả của lý thuyết tự sự học vào hoạt động dạy học tác phẩm của Thạch Lam 45
2.3.1 Tác giả Thạch Lam và đặc trưng cơ bản của truyện ngắn Thạch Lam 45
2.3.2 Quy trình vận dụng tổ chức dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ theo lý thuyết tự sự học 51
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 60
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 60
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 60
3.2 Địa bàn và đối tượng thực nghiệm 60
3.2.1 Địa bàn thực nghiệm 60
3.2.2 Đối tượng 61
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 62
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 62
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm 82
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 84
3.4.1 Biện pháp đánh giá 84
3.4.2 Kết quả thực nghiệm, nhận xét, đánh giá 84
3.4.3 Nhận xét đánh giá chung 86
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 94
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới
Chúng ta đang sống trong quá trình toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực Trong bối cảnh ấy, mối liên hệ giữa các dân tộc có xu hướng xích lại gần nhau hơn Những bước tiến của khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống con người Đổi mới nền giáo dục nước ta nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là phải hướng người học rèn luyện và phát triển khả năng tư duy, giải quyết các vấn đề độc lập, sáng tạo Kết hợp những bước chuyển biến trong dạy học hiện đại, chúng ta nhận thấy rằng, đổi mới phương pháp dạy học là giải pháp cơ bản
để nâng cao chất lượng nền giáo dục trong giai đoạn hiện nay Hiện việc vận dụng các lý thuyết vào dạy học nhằm đổi mới, hiện đại hóa dạy học Ngữ văn cũng khá phong phú như: lý thuyết đáp ứng, lý thuyết kiến tạo trong đọc văn, lý thuyết về hành vi sáng tạo, lý thuyết về ngôn ngữ hành vi, lý thuyết liên văn bản… trong đó nổi bật lên là tư tưởng đề cao sự tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, nghiên cứu văn học và lí luận văn học không ngừng được hiện đại hóa Văn học so sánh, tiếp nhận văn học, thi pháp học là những xu hướng của lý luận văn học hiện đại Lý thuyết tự sự học cũng đang được giới nghiên cứu văn học chú ý, dù xuất hiện khá muộn ở Việt Nam nhưng bước đầu đã có thể cung cấp những công cụ hữu hiệu cho người nghiên cứu văn học Dạy học văn thừa kế và được kích thích, nhận cảm hứng từ tình hình đó Nó đã đáp ứng được yêu cầu là đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học văn, phù hợp với đặc trưng của việc tiếp nhận văn học, tạo ra sự hứng thú và hấp dẫn hơn
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông
Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc xây dựng những thế hệ con người mới để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội Có thể thấy, hiện nay, nền giáo dục và đạo nước ta đang đứng trước những thử thách lớn Những Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương qua các nhiệm kỳ luôn đề cập đến nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước ở kỷ nguyên mới Đó là những thế hệ con người được trang bị tri thức về mọi mặt, luôn năng động, sáng tạo,
Trang 82
có cái nhìn bao quát, làm chủ bản thân và xã hội Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường với tư cách vừa là môn học, vừa là bộ môn nghệ thuật cũng góp phần vào vai trò giáo dục và đào tạo con người mới Đối với môn Ngữ văn, yêu cầu đổi mới phương pháp là cần thiết vì đây là môn học có tính đặc thù Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn là cần phải lựa chọn và ứng dụng những phương pháp dạy học hiện đại phù hợp nhất cho bộ môn cho cả người học và người dạy Mỗi lý thuyết dùng để vận dụng vào việc dạy học cũng đều có điểm mạnh yếu Điều quan trọng là chúng ta biết cách vận dụng một cách sáng tạo và hợp lý.Trong đó, tác phẩm văn chương, phần đọc văn rất quan trọng, rất cần đổi mới, cần được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều lý thuyết khác nhau Nhưng tựu trung lại là dạy học để sao cho học sinh có hứng thú học tập và tự tổng hợp, kiến tạo nội dung, ý nghĩa của văn bản Người thầy từ chỗ truyền đạt tri thức theo cách truyền thống thì nay chuyển sang cung cấp cho người học thu nhận, lĩnh hội một cách có hệ thống, có sáng tạo Điều cốt lõi nữa là người giáo viên có khả năng định hướng, người có thể giúp học sinh phát huy sự tự giác, rèn khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn cuộc sống Người học vừa là vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động học Trong quá trình học, người học tự tìm tòi, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Như vậy, việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông hiện nay cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh Đây là điều tất yếu thích hợp với
xu thế thời đại và phù hợp với đặc trưng môn học
Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm văn chương
Những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đều hướng tới rèn luyện tư duy cho người đọc, để người đọc để người đọc tự mình đi nhận thức, khám phá Các phương pháp dạy học như: phương pháp vấn đáp, đàm thoại, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học với lý thuyết tình huống, dạy học với lý thuyết kiến tạo…là những phương pháp dạy học theo hướng giáo dục tích cực Nhìn chung, vận dụng các phương pháp này nhằm làm cho người học tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học Mỗi phương pháp có mặt mạnh yếu, phù hợp với một số lĩnh vực tri thức, có khả năng giải quyết một số nhiệm vụ dạy học cụ thể Việc vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm văn chương để bổ sung cho việc dạy
Trang 93
học bên cạnh việc chúng ta đã từng áp dụng các phương pháp dạy học trước đó nhằm đáp ứng được yêu cầu: xem xét tác phẩm văn học trong những mối quan hệ nội tại, bởi các đơn vị ngôn ngữ được cấu thành từ các yếu tố có mối liên hệ và quy định lẫn nhau Về cơ bản, mỗi đơn vị ngôn ngữ được cấu thành bởi cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nghiên cứu ngôn ngữ là nghiên cứu mối quan hệ nội tại đó Ngôn ngữ cũng là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học, vì vậy việc nghiên cứu văn học cũng cần tuân theo một số nguyên tắc trên Trong số các nhà văn lãng mạn nổi tiếng (1930 -1945), Thạch Lam có phong cách riêng biệt không lẫn với bất kỳ nhà văn nào Văn Thạch Lam nhẹ nhàng với lối quan sát độc đáo và phân tích tâm lý tinh tế Mỗi truyện ngắn của ông giống như một bài thơ trữ tình đầy xúc cảm Việc tập trung vào chỉnh thể tác phẩm để lý giải những khía cạnh rất tinh tế, cụ thể của các phương diện hình thức nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận Vì vậy, giáo viên cần nghiên cứu, lựa chọn và phối hợp linh hoạt các phương pháp cho cả quá trình dạy học Việc ứng dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học truyện ngắn là một quan điểm dạy học hiện đại, nhấn mạnh vai trò tích cực của người học trong việc thu nhận tri thức mới cho bản thân Đồng thời, người học cũng có cái nhìn toàn cảnh để giải mã tác phẩm đầy đủ và chuyên nghiệp hơn Tìm hiểu rõ nguồn gốc và diễn biến của tự
sự học chúng ta sẽ hiểu rõ về bản chất, phương thức, lịch sử và các bí ẩn nghệ thuật trong mỗi tác phẩm Lý thuyết tự sự học tiếp cận với tác phẩm tự sự (truyện và tiểu thuyết) không chỉ như là những tác phẩm văn chương nói chung (điều mà thi pháp học đã làm) mà còn tiếp cận chúng như đúng đặc trưng thể loại của chính nó Vì vậy việc dạy học văn học theo lý thuyết tự sự học giúp cho người học khi tiếp cận tác phẩm sẽ dễ dàng định hướng và hứng thú hơn trong quá trình tiếp nhận Với lí thuyết tự sự học, chúng ta không chỉ chiêm ngưỡng các tác phẩm văn xuôi như là sản phẩm của một quá trình sáng tạo mà còn cơ hội ngoái nhìn và thưởng thức
chính bản thân quá trình sáng tạo ra sản phẩm truyện Trong bài viết: Tự sự học:
tên gọi, lược sử và một số vấn đề lý thuyết, TS Lê Thời Tân cho rằng: “phân tích
tác phẩm tự sự trong quá khứ chỉ chú trọng tình tiết – cốt truyện, nhân vật – sự kiện, nội dung – chủ đề Chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học cấu trúc luận, tự sự học quan tâm đến phân tích văn bản tác phẩm Sự phân tích văn bản tác phẩm của tự sự học bắt đầu từ chỗ nghiên cứu các thành phần hữu cơ cấu tạo nên văn bản tự sự”
[38, tr 73] Học sinh cũng là người đọc - thậm chí có thể xem là một loại hình
Trang 104
người đọc đặc biệt (đọc trong quá trình học dưới sự dẫn dắt của người dạy), do vậy khi tiếp cận với văn bản để tiếp nhận văn học, học sinh cũng có những kiến giải, đánh giá Vì thế dạy học truyện ngắn dưới góc độ lý thuyết tự sự cho thấy nhiều khả năng đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động sáng tạo cho người học
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở trường trung học phổ thông qua đề tài luận văn:
Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (chương trình Ngữ văn 11, tập 1)
2 Lịch sử vấn đề
Tự sự học mãi đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX mới chính thức xuất hiện, tự sự học đang trở thành một lĩnh vực đông đảo các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Ở Việt Nam trong những năm gần đây, tự sự học đang là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu văn học Những vấn đề lý luận này góp phần định hướng cho việc nghiên cứu văn học theo hướng tiếp cận mới, hấp dẫn và lý thú và có nhiều điểm mới mẻ Khả năng ứng dụng lý thuyết tự sự học vào tìm hiểu tác phẩm tự sự
là có cơ sở Nhìn chung, trong lịch sử dạy học văn đến nay chưa đạt tới sự thống nhất quan niệm về môn văn cũng như công việc dạy học văn Dạy học văn theo cách tiếp cận truyền thống đã làm được việc là: cung cấp kiến thức, rèn kỹ năng một cách hệ thống, bài bản, khoa học Gần đây, đã chúng ta đang tích cực đổi mới phương pháp và áp dụng một số lý thuyết mới mang lại kết quả, góp phần hiện thực hóa chiến lược giáo dục của nước ta trong thời kỳ mới Đó là: việc dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tích cực của học sinh Theo nguồn tư liệu của chúng tôi, gần đây, tác phẩm của Thạch Lam đã có một số nghiên cứu, hướng tiếp cận như:
1 Ngô Thị Lùng Em (2009), “Hệ thống câu hỏi cảm thụ trong dạy học
truyện ngắn của Thạch Lam ở lớp 11”, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh
2 Nguyễn Thị Lơ (2010), “Hướng dẫn học sinh Trung học phổ thông xác
định chủ đề tư tưởng thông qua việc phát hiện, phân tích, bình giá biểu tượng bóng
Trang 115
tối và ánh sáng trong dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam”, luận văn
thạc sĩ, Đại học Giáo dục- Đại học quốc gia Hà Nội
3 Nguyễn Thị Mộng Mơ (2011), “Hình tượng nhân vật trẻ em trong sáng
tác của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng trước cách mạng tháng 8- 1945”,
luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
4 Nguyễn Minh Ngọc (2010), “Đặc trưng phong cách nghệ thuật truyện
ngắn Thạch Lam”, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên
5 Trần Thị Thắm (2009), “Truyện ngắn Thạch Lam – Pauxtopxki: Sự gặp
gỡ của phong cách nghệ thuật”, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh
6 Lê Thị Thi (2011), “Giảng dạy tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam theo
hướng đối thoại”
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Thạch Lam và
truyện ngắn của ông Gần đây, truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam trong
chương trình phổ thông có một số luận văn nghiên cứu và đều tập trung vào những quan điểm dạy học mới, có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận thức của người học Người học cũng được phát huy sự chủ động trong quá trình xây dựng tri thức cho bản thân Các công trình nghiên cứu, ứng dụng đã làm rõ
được các vấn đề cơ bản trong truyện ngắn Thạch Lam, truyện ngắn Hai đứa trẻ
Cái nhìn trong truyện ngắn Thạch Lam với những biến thái tinh vi trong tâm hồn con người Những biến đổi trong rung động tâm lý, cái nhìn thâm trầm lặng lẽ và nâng niu vẻ đẹp cuộc đời Đồng thời, các công trình nghiên cứu cũng tìm ra được các tình huống trong truyện khi nhân vật tự ý thức về thận phận Không gian hiện thực hàng ngày và không gian hòa quyện thời gian Đề tài của tác giả Ngô Thị Lùng Em đã xây dựng được hệ thống câu hỏi cảm thụ trong dạy học truyện ngắn
Hai đứa trẻ khá phong phú Đề tài luận văn của tác giả Nguyễn Thi Lơ đã hướng
dẫn học sinh xác định chủ đề tư tưởng thông qua việc phát hiện, phân tích bình giá biểu tượng ánh sáng và bóng tối Với những bước tiến trong nghiên cứu tác giả, tác phẩm của Thạch Lam đã có ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy học như trong soạn giảng, cả việc thi cử vào tác giả, tác phẩm này Vận dụng tự sự học vào phân tích,
dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam có thể đem lại nhiều phát hiện, có
Trang 126
thêm cách tiếp cận, có thêm hứng thú mới Hiện nay, vận dụng lý thuyết tự sự vào nghiên cứu tác phẩm văn chương đã có một số công trình, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết tự sự vào dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường còn hạn chế Theo quan điểm của chúng tôi, dạy học tác phẩm văn chương dưới góc độ lý thuyết tự sự có rất nhiều tiềm năng cần được xem xét, nghiên cứu Luận văn này là thể nghiệm bước đầu việc vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Vận dụng lý thuyết tự sự học vào quá trình dạy học tác phẩm văn chương,
cụ thể là dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, góp phần đổi mới
phương pháp, nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học Ngữ văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của lý thuyết tự sự học
- Nghiên cứu đề xuất cách thức tổ chức dạy học truyện ngắn theo lý thuyết tự
sự học
- Tổ chức dạy học thực nghiệm nhằm kiểm chứng, đánh giá kết quả nghiên cứu, từ đó rút ra kết luận, đề xuất, kiến nghị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động dạy và học tác phẩm văn chương Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở trường Trung học phổ thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của lý thuyết tự sự học để ứng dụng vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi
chọn dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam và tiến hành thực nghiệm ở
trường trung học phổ thông và Bổ túc trung học phổ thông
Trang 137
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: quan sát, thống kê, phân loại, đối chiếu, so sánh…làm cơ sở đánh giá tính đúng đắn và khả thi của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích và tổng hợp những công trình, bài
viết của các nhà lý luận và nghiên cứu về lý thuyết tự sự học về dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông để hình thành cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm: Chọn mẫu, xây dựng thiết kế bài dạy thực nghiệm,
dạy thực nghiệm và phân tích kết quả thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả ứng
dụng các quy trình dạy học đã xây dựng trong thực tiễn dạy học
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: quan sát, thống kê, phân loại, đối chiếu, so sánh…làm cơ sở đánh giá tính đúng đắn và khả thi của đề tài
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam từ góc độ lý thuyết tự
sự học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 148
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát về lý thuyết tự sự học
Trong cuốn Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử gồm tập hợp những
bài viết, nghiên cứu liên quan đến tự sự học GS.TS Trần Đình Sử cho rằng tự sự học là một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng; là một ngành nghiên cứu còn non trẻ, được định hình từ những năm 60-70 của thế kỉ XX ở Pháp, nhưng đã nhanh chóng vượt ra khỏi biên giới, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được phổ biến quan tâm trên thế giới Đến những năm 80-90 của thế kỉ XX tự sự học vẫn giữ được niềm hứng thú và theo nhận định của một số học giả Mĩ, nó không ngừng được phát triển và trung tâm nghiên cứu dường như đã chuyển sang
Mĩ Năm 1993 tạp chí Tự sự ra đời và năm 1994 xuất hiện một loạt công trình mói
về tự sự học của Mĩ David Herman trong sách Tự sự học mới (1999) cho biết:
Mười năm trở lại đây, thi pháp tự sự đã có sự thay đổi đáng kinh ngạc, đến hôm nay
có thể nói tự sự học đã phục hưng, đến hôm nay có thể nói tự sự học đã từ giai đoạn
kinh điển sang chủ nghĩa cấu trúc, một giai đoạn của Saussure vốn khá cách xa với
văn học đương đại để bước sang giai đoạn hậu kinh điển
“Nếu như trước đây, tự sự học cấu trúc chỉ chú ý đến chức năng ngữ pháp truyện, ngữ nghĩa truyện ở cấu trúc bề sâu, thì nay các học giả đang chú ý đến tu từ học, tự sự học như là phương diện biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tự sự Ngoài vấn đề điểm nhìn thì kí hiệu tượng trưng khoảng cách trần thuật là những vấn đề được đặc biệt quan tâm”[38, tr 16] Tự sự học đang không ngừng mở rộng và phát triển Tự sự học (Narratology) là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lý luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng, phần nào đó tương ứng với “thi học”, nghĩa hẹp là lĩnh vực lấy nghệ thuật thi ca làm đối tượng nghiên cứu
Việc nghiên cứu lý thuyết tự sự cũng được quan tâm nhiều ở Trung Quốc, trong đó: “Tìm về truyền thống tự sự dân tộc là một hướng nghiên cứu đáng chú ý
của Trung Quốc Dương Nghĩa trong công trình Tự sự học Trung Quốc chủ trương
trở về cội nguồn, sử dụng khinh nghiệm Trung Quốc, dung hợp lý luận phương Tây, tạo ra một lý luận mang màu sắc Trung Quốc Ông khảo chứng từ tự (kể) tương thông với các từ tự (thứ tự), tự (đầu mối); tự sự tương thông với từ (lịch sử), từ đó
Trang 159
ông hiểu tự sự Trung Quốc là cái học về thứ tự, đầu mối các sự kiện, tự sự học Trung Quốc lấy sử làm trọng điểm, từ sử mà mở ra tiểu thuyết, hí kịch”[ 38, tr.16]
Ngoài ra còn phải chú ý đến tự sự học so sánh, tự sự học văn hóa cũng đang được
nhiều nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu, ứng dụng
Trong hoàn cảnh lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới để phát triển và xây dựng khả năng nghiên cứu các vấn đề văn học trong quá khứ, hiện tại và góp phần xác lập một hướng đi mới cho văn học tương lai Trên cơ sở đó vận dụng các lý thuyết mới, phù hợp để bổ sung vào dạy học Ngữ văn trong trường Trung học phổ thông Từ khi được giới thiệu vào Việt Nam, tự sự học đã được hưởng ứng rộng rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt là ở các trường đại học Đối tượng của tự sự học ngày nay không chỉ ngữ pháp tự sự nói chung mà còn là thi pháp tự sự của tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại
tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến người đọc của tự sự Tìm hiểu rõ nội hàm, nguồn gốc và diễn biến của các khái niệm tự sự học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào phân tích các tài liệu cụ thể, chúng ta tin chắc rằng sẽ hiểu thêm về bản chất, phương thức lịch sử và các bí ẩn nghệ thuật tự sự, một phương tiện hùng mạnh để biểu đạt và lý giải thế giới, góp phần hữu ích vào việc phê bình và giảng dạy văn học Con đường đi tìm những bí mật truyện kể dường như là công cuộc tìm kiếm vô cùng vô tận Những nhà nghiên cứu văn học phải đương đầu với những kỹ xảo, những trò diễn của ngôn từ của nhà văn để đi tìm tư tưởng chủ đạo của những trang truyện kể Hành trình đầy khó khăn và cũng đầy lý thú ấy chúng ta có thể lý giải được đến đâu vẫn đang là vẫn đề mà mỗi nhà nghiên cứu và dạy học văn chúng ta quan tâm Tự sự học có thể cung cấp một số công cụ hữu hiệu cho người nghiên cứu và ứng dụng trong việc tìm hiểu, giãi mã tác phẩm
Trang 1610
biến vào thập kỷ 70 Kết quả là định nghĩa về narratology đã bị rút gọn lại trong sự phân tích có tính cấu trúc, hay đúng hơn, theo xu hướng cấu trúc chủ nghĩa về trần thuật” [38, tr 18]
Chủ nghĩa cấu trúc dường như chỉ bó hẹp trong ngôn ngữ văn bản, vì vậy chủ nghĩa hậu cấu trúc ra đời đã đáp ứng được các hướng tiếp cận, mở ra hướng nghiên cứu phù hợp và được nhiều người chấp nhận Tức là ý nghĩa của văn bản không chỉ bó hẹp trong cấu trúc ngôn ngữ mà nó có cả mối quan hệ với bối cảnh xã hội đã tạo nên nó “Vào các thập kỷ 80 và 90 của narratology đã dẫn đến cách tiếp cận theo chủ nghĩa cấu trúc trước đó Một tác dụng tích cực của điều này là mở ra nhiều con đường phát triển cho narratology trong lĩnh vực nghiên cứu về giới tính,
về phân tâm học, về chủ nghĩa phê phán độc giả - phản ứng và sự phê phán tư tưởng Do đó, narratology còn có ý nghĩa rộng hơn (tự sự học) chứ không phải theo
ý nghĩa hình thức chủ nghĩa của từ ngữ này (trần thuật học)” [38, tr 18]
Các định nghĩa rộng hơn và hẹp hơn
Ngoài ra, còn một số quan niệm khác và trần thuật học nghiên cứu các phương diện có tính chất trần thuật của nhiều thể loại và diễn ngôn văn học hay phi văn học mà không được xác định một cách chặt chẽ là trần thuật, như thơ trữ tình, phim ảnh, kịch, lịch sử, quảng cáo “Một cách định nghĩa rộng rãi hơn theo kiểu Aristote về trần thuật là có thể xem trần thuật là một tác phẩm có cốt truyện (thí dụ
sử thi, bi kịch, hài kịch)” [38, tr 19]
Trần thuật xem như hành động phát ngôn trung gian
Trần thuật với nghĩa rộng như là một tác phẩm có cốt truyện và phân biệt với trần thuật có người kể chuyện cũng có một khoảng cách nhất định “Trần thuật ngôn ngữ (lịch sử, truyện dài, truyện ngắn) có thể là trần thuật theo cách mà chúng
ta đã gọi là ý nghĩa hẹp của từ này, nghĩa là, trong trường hợp này, trần thuật có hoạt động diễn ngôn của người trần thuật làm trung gian Ngoài ra, có nhiều hình thức trung gian khác: trong điện ảnh, máy quay phim là một thiết bị trung gian, phi ngôn từ” [ 38, tr 18]
Tính loại biệt của mỗi phương tiện trần thuật
“Mỗi phương tiện và mỗi thể loại cho phép có một cách trình bày loại biệt về
Trang 1711
cốt truyện (sườn trần thuật), có những chiến lược quan điểm khác nhau, có nhiều mức độ của sự xen lẫn trần thuật và nhiều cách sắp xếp thời gian Do vậy, mỗi phương tiện trần thuật đòi hỏi một cách tiếp cận có tính phân tích loại biệt đối với các cấu trúc và cấp độ trần thuật ” [38, tr 20] “Truyền thống tiểu thuyết là một quá trình tái định nghĩa không ngừng về các hình thái trần thuật, từ các hồi ký và các loại truyện viết theo kiểu thư từ, đến những người trần thuật thông suốt mọi sự, đến những nhà kinh nghiệm hiện đại với cách trình bày khách quan hay một góc độ hạn chế ”[38, tr 20] Tiểu thuyết cổ điển thường gợi lên đời sống bên trong của tính cách nhân vật và mối liên hệ giữa tính cách và hành động Trong kịch nói chung và
về sau này có quan tâm đến thời gian và tâm lý, tâm trạng của các nhân vật Nhìn chung trong kịch thường tập trung vào các hành động và cốt truyện Với truyện ngắn, không chỉ quan tâm đến cốt truyện mà còn có các yếu tố khác chi phối như bối cảnh không gian, thời gian, nhân vật với nhiều diễn biến tâm trạng, cốt truyện…
1.1.2 Định nghĩa tác phẩm trần thuật
Tác phẩm trần thuật được định nghĩa như sau:
“Một tác phẩm trần thuật là một biểu hiện ký hiệu học về một loạt các sự kiện gắn liền một cách có ý nghĩa theo thời gian và nhân quả Phim ảnh, sân khấu, hài kịch, tiểu thuyết, phim thời sự, nhật ký, ký sự niên đại (biên niên sử) và nghiên cứu địa chất, lịch sử tất cả đều là tác phẩm trần thuật theo ý nghĩa rộng Theo đó, tác phẩm trần thuật có thể được xây dựng bằng cách sử dụng một số lượng rộng rãi các phương tiện ký hiệu học: ngôn ngữ viết hoặc nói, hình ảnh trực quan, cử chỉ và động tác, cũng như bằng sự phối hợp của các phương tiện này Bất kỳ một sự kiến tạo nào bằng ký hiệu, bất kỳ một cấu trúc nào bằng dấu hiệu, đều có thể xem là một văn bản Do vậy, chúng ta nói về nhiều loại văn bản trần thuật: ngôn ngữ học, sân khấu, tạo hình, phim ảnh ” [38, tr 21] Như vậy, chúng ta thấy, nó có ít nhất hai hàm nghĩa chính: nghĩa rộng, mà chúng ta vừa xác định, và nghĩa hẹp, theo ý nghĩa này trần thuật là một hiện tượng có tính ngôn ngữ đặc biệt, một hành động nói năng, được xác định bởi sự có mặt của người trần thuật
1.1.3 Một số luận điểm cơ bản của lí thuyết tự sự học hiện đại
Theo một số công trình nghiên cứu lý thuyết tự sự học được nhìn nhận như sau: “Lí thuyết về tác phẩm tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa cấu trúc
Trang 1812
Narratology nghiên cứu hình thức, quy luật vận động, tính chất của các tác phẩm tự sự với các chất liệu khác nhau, nghiên cứu năng lực tự sự của chủ thể sản sinh và đối tượng tiếp nhận tác phẩm tự sự” Các bình diện mà nó tìm hiểu bao gồm “nội dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối quan hệ giữa hai cái đó Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu
là G.Genette) Trong nghĩa hạn định này, narratology không quan tâm bản thân câu chuyện, mà tập trung sự chú ý vào thoại ngữ tự sự” [41, tr 5] Như vậy có thể thấy, mọi tác phẩm tự sự để chỉ tất cả các loại hình và dạng thức tự sự Nó bao hàm cả hai
quá trình của người sáng tạo và của cả người tiếp nhận “Narratology trong định nghĩa
thứ nhất chính là một lí luận tổng quát liên quan đến mọi tác phẩm tự sự trong một trọn
vẹn chỉnh thể và quá trình” [41, tr 5] “Narratology trong định nghĩa thứ hai có một
sở chỉ hạn định hơn Nó nghiên cứu văn học tự sự (tiểu thuyết, truyện kể là thực liệu điển hình) Thậm chí nó còn tiếp tục giới hạn sự quan tâm trong phạm vi hình thức biểu đạt câu chuyện bằng lời văn tự Ở đây nhắc đến G Genette như là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng tự sự học ”[41, tr 5] Lý thuyết tự sự học hiện đại quan tâm đến các bình diện của tự sự Trong đó phương pháp tam phân chỉ ra ba bình diện quan trọng của tự sự, đó là:
1) câu chuyện (histoire) tức nội dung được kể;
2) thoại ngữ tự sự/trần thuật (récit) tức diễn ngôn kể, đó là văn bản tác phẩm tự
Tác giả Lucien Gold - man cho rằng, ý nghĩa của tác phẩm không chỉ khép kín
Trang 1913
trong cấu trúc ngôn ngữ của văn bản mà còn có mối quan hệ với bối cảnh xã hội đã tạo nên tác phẩm đó Vì thế theo ông, quá trình tìm hiểu một tác phẩm văn học cơ bản có hai bước: một là tìm hiểu cấu trúc ý nghĩa, hai là giải thích, tức là đặt cấu trúc ý nghĩa
đó trong bối cảnh xã hội đã sản sinh ra nó
* Giới thuyết về lý thuyết tự sự của Mieke Bal
Trong lĩnh vực tự sự học, Bal được xếp vào cùng một nhóm với các nhà nghiên cứu lấy G.Geenete làm trung tâm có xu hướng quan tâm đến lớp ngôn từ của người trần thuật Nghiên cứu tự sự của Bal ngày càng có xu hướng hòa vào tiến trình phân tích văn hóa Vì vây, tự sự là một thái độ văn hóa và nghiên cứu tự sự cũng là một quan điểm văn hóa
Trong cuốn tự sự kinh điển của mình về tự sự học, Bal đã chia việc kể chuyện thành ba tầng tương ứng với ba phạm trù: cốt truyện (fabula), câu chuyện (story) và văn bản (text) Tất nhiên sự phân chia này chỉ là một gải định mang tính chất lý thuyết Bởi thực tế các tầng này không bao giờ tồn tại một cách độc lập Nguyên tắc tam phân này dựa trên cơ sở tiến trình đọc văn bản của người đọc Người đọc chỉ có thể tiếp cận tầng văn bản được biểu hiện trong hệ thống kí hiệu ngôn ngữ, những hình ảnh thị giác Thông qua những kí hiệu của văn bản, người đọc bị hấp dẫn bởi câu chuyện mà suy ra cốt truyện văn bản
* Cấu trúc tự sự theo quan điểm của Roland barthes
Roland barthes (1915- 1980) được biết đến như một nhà văn hóa học, phê bình văn học có ảnh hưởng lớn ở Pháp thế kỉ XX Tư tưởng bao trùm toàn bộ công trình là coi văn bản như một “ngôn ngữ” Một ngôn bản bao giờ cũng được tổ chức theo một thể thức nhất định, có những quy tắc, “ngữ pháp” riêng Vì vậy có thể coi nguyên bản
là một câu lớn (mà thành tố cấu thành không nhất thiết phải là câu) Theo quan điểm cấu trúc, “bất cứ văn bản tự sự nào cũng đều được xây dựng theo mô hình của câu mặc
dù nó không phải là một tổng của các câu, bất cứ truyện nào cũng là một câu lớn và câu
kể chính là sự tỉnh lược của một truyện nhỏ Văn bản tự sự nó được xây dựng theo mô hình câu nghĩa là nó được tạo thành từ nhiều thành tố, có thể mô tả ở nhiều cấp độ có quan hệ phụ thuộc, thứ bậc Các thành tố trong văn bản tuân thủ quan hệ tích hợp theo
xu hướng phân cấp: chức năng – hành động – tường thuật Tính tuần tự tạo thành một trình tự khép kín nhưng vẫn có khả năng tạo ra một đơn vị mới có khả năng hoạt động
Trang 2014
với tư cách là một “giới hạn sơ đẳng” cho một trình tự khác lớn hơn Song các giới hạn thuộc các trình tự khác nhau có khả năng đan chặt vào nhau, trình tự này còn chưa triển khai hết thì đã mở ra một trình tự khác Vì vậy, bất kì một tác phẩm nào cũng là một trình tự các thành tố gắn với nhau một cách trực tiếp hay gián tiếp Một đơn vị có khi được đặt trong cả chiều dọc và chiều ngang là quan hệ trong hệ thống các đơn vị cùng cấp độ Nhờ thế, cấu trúc tác phẩm được bện lại, khai triển, mở ra, khép lại Và cũng chính vì thế, khám phá cấu trúc tác phẩm cần có trí tưởng tượng để tổng hợp và móc nối chúng
* Giới thuyết về lý thuyết tự sự của Hayden White
Hayden White, nhà sử học người Mĩ cho rằng : diễn ngôn tự sự và sự biểu hiện lịch sử Quan điểm của Hayden White đã tạo được anhe hưởng quan trọng trong lĩnh vực lịch sử nói riêng, nghiên cứu văn hóa nói chung Riêng đối với văn học tư tưởng của Hayden White đặc biệt có ý nghĩa trong nghiên cứu văn xuôi tự sự lịch sử
Với một số lý thuyết tự sự học hiện đại tiêu biểu được tóm lược ở trên thì còn có một số quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật, lý thuyết về người nghe, góc nhìn trần thuật, lý thuyết tự sự học hiện đại đã mở ra nhiều hướng tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu các tác phẩm văn chương
Hiện nay, lí thuyết về tự sự học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu văn học Người kể chuyện là một phần quan trọng mấu chốt trong lí thuyết tự sự học Tìm hiểu người kể chuyện sẽ giúp ta hiểu và lí giải được chủ thể của tác phẩm tự sự, từ đó ta sẽ hiểu được tác phẩm sâu sắc và trọn ven hơn
1.1.3.1 Khái niệm người kể chuyện
Những năm gần đây, sự ý thức của chủ thể văn học cùng với việc mở rộng tiếp thu các thành tựu lí luận trên thế giới đã có những tác động mạnh mẽ đến ý thức của người nghiên cứu văn học Khái niệm người kể chuyện trước đây hầu như bị bỏ qua, người ta dường như chỉ chú ý đến nghiên cứu nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ mà quên đi người kể chuyện trong văn bản Người kể chuyện
gần như vô hình hoặc đồng nghĩa với tác giả Người kể chuyện (narrator) là một
thuật ngữ công cụ của tự sự học Cũng như nhiều khái niệm khác, khái niệm người
kể chuyện cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn Tz.Todorov tuyên bố:
“Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng
Trang 2115
Không thể có trần thuật nếu thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như những nhân vật tham thoại khác mà là kể chuyện” [35, tr 116] Theo Pospelov thì người kể chuyện là: “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe, (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” Trong quan niệm của W Kayser, người kể chuyện : “đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc
về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể, không bao giờ người kể chuyện là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” Còn với Todorov thì người kể chuyện không chỉ là người kể mà còn là người định giá: “Người kể chuyện là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu Chính người kể chuyện là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá” [ 38, tr 196]
Như vậy, khái niệm người kể chuyện được hiểu đơn giản là: “người kể lại câu chuyện” Người kể chuyện là một công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện Người kể chuyện còn là một nhận vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự Người kể chuyện cũng thống nhất nhưng không đồng nhất với tác giả Chức năng của người
kể chuyện như tổ chức kết cấu tác phẩm, dẫn dắt người đọc dễ dàng tiếp cận thế giới nghệ thuật Và cũng chính người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về cuộc sống nghệ thuật Hình tượng người kể chuyện đóng vai trò trung gian giữa chủ thể sáng tạo và tác phẩm, có thể xuất hiện lộ diện hay ẩn mình
“Thông thường, người kể chuyện thường được thể hiện trong các hình thức sau: Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, và ngôi thứ ba Mỗi một tác phẩm
có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Người kể chuyện cho phép truyện kể được đọc như là một cái gì đó đã biết hơn là một cái gì đó được tưởng tượng ra, một cái gì đó được tường thuật với tư cách là sự thật hơn là kể lại một điều gì đó như là
hư cấu ” [24, tr 3]
1.1.3.2 Quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả nói chung
“Người kể chuyện là sản phẩm của quá trình hư cấu của nhà văn, nó khác với người kể chuyện thực tế trong đời sống Nếu như người kể chuyện thực tế trong đời sống là những con người cụ thể, hữu hình, có hình hài, giọng nói, điệu bộ thì đến người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, tất cả những yếu tố hữu hình, cụ thể này được chuyển vào trong văn bản thông qua các thủ pháp nghệ thuật” [38, tr 197] Tác giả và tiểu sử của tác giả, còn sống hay đã mất đều có ảnh hưởng nhất định và
Trang 22kể chuyện và cấp cho người kể chuyện tấm thẻ để kiểm soát và chi phối Trong quá trình sáng tạo và trao quyền ấy thì khi người kể thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình lại có thể diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau” [24, tr 11] Với nhiều yếu tố chi phối, trong đó quan trọng là điểm nhìn Điểm nhìn gắn chăt với người kể chuyện, và điều quan trọng, nó mang tư tưởng và ý thức hệ của nhà văn
Trang 2317
Sự lựa chọn người kể chuyện, vị trí quan sát và cách thức kể sẽ mang đậm dấu ấn của người nghệ sĩ Nếu coi chủ ý của tác giả như một giả thyết về tính nhất quán thì sợi dây liên hệ giữa tác giả với người kể chuyện, người sắp đặt và điều khiển truyện
sẽ được biểu hiện rất phong phú Tác giả có ý định bộc lộ trực tiếp tư tưởng của mình hay không? Người kể chuyện không phải là tác giả song luôn bị cái bóng của tác giả chi phối Tuy nhiên càng về sau này, chúng ta càng nhận ra rằng: Người kể chuyện do nhà văn sáng tạo ra nhưng anh ta cũng có một cuộc sống khá độc lập trong cấu trúc tác phẩm, và đôi khi vượt khỏi mong muốn và ý định của người cầm
bút Một mặt, sau khi lựa chọn người kể chuyện, tác giả sẽ bị ràng buộc bới cái
logic mà tác giả phải khám phá trong sự miêu tả, sắp đặt của mình, vì mọi sự sáng tạo cũng đều có quy luật phát triển nội tại, vì vậy hình tượng này không thể là sự
tùy tiện của tác giả Mặt khác, người kể chuyện và thế giới truyện kể được tái hiện
và tổ chức, điều khiển sẽ còn tồn tại và sống trong sự giải mã của người đọc Đây chính là yếu tố mở ra nhiều khả năng khai thác và các giá trị tiềm ẩn trong văn bản tác phẩm Tồn tại với tư cách một công cụ do nhà văn hư cấu nhằm chuyển tải một thông điệp nào đó, việc lựa chọn kiểu người kể chuyện không phải ngẫu nhiên mà hoàn toàn mang tính quan niệm của nhà văn Điều này lí giải vì sao mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử văn học xuất hiện những kiểu người kể chuyện đặc thù mang tâm lí của một nhóm người hoặc một thời đại Để thấy được mối quan hệ giữa người kể chyện và tác giả nói chung chúng ta cần làm rõ một số khái niệm như: tác giả thực, tác giả hàm ẩn, hình tượng tác giả hay là tác giả hư cấu; tập trung lại chính
là các hình thức hiện diện của tác giả trong văn bản tác phẩm
Không đồng nhất và không tách biệt hoàn toàn người kể chuyện với tác giả song để đánh giá được giá trị của người kể chuyện trước tác giả, khẳng định được người kể chuyện đại diện cho tác giả ở mức độ nào thì chúng ta cần khảo sát trên nhiều cấp độ với các mối quan hệ tương tác giữa người kể chuyện với các yếu tố trong tác phẩm và mối quan hệ giữa người kể chuyện với các cấp độ giao tiếp khác Đối với mỗi người kể chuyện khoảng cách được thiết lập giữa người kể chuyện và tác giả sẽ có những cự li nhất định Bên cạnh đó, sự cảm nhận khác nhau của độc giả cũng tạo ra nhiều cách lí giải một tác phẩm văn chương nào đó nào đó Luôn có
độ chênh và những khác biệt giữa mỗi lần đọc và mỗi người đọc Tác giả là người tạo nên một thế giới mà ở đó người kể chuyện có vai trò trần thuật và điều khiển
Trang 2418
truyện kể Tuy nhiên mối quan hệ này trở nên phức tạp hơn khi người kể chuyện được coi là một trong những nhân tố quan trọng để biểu đạt tư tưởng của tác giả Vậy chúng ta cần xác định xem người kể chuyện đại diện cho nhà văn ở mức độ nào? Để tìm hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta cần xem xét, giải quyết hai vấn đề
mấu chốt đó là: thứ nhất, xác định kiểu người kể chuyện, từ đó tìm khoảng cách giữa người kể chuyện và tác giả; thứ hai, chúng ta cần xác lập quyền năng của
người kể chuyện trong truyện kể
1.1.3.3 Khái niệm điểm nhìn trần thuật
Hiện nay, thuật ngữ điểm nhìn đã trở nên quen thuộc trong nghiên cứu văn
học nói chung và nghiên cứu tự sự học nói riêng Trong các chuyên luận bàn về kĩ thuật, thủ pháp kể chuyện, hầu hết các tác giả bàn về kĩ thuật, thủ pháp kể chuyện hầu hết các tác giả đều sử dụng điểm nhìn như một khái niệm công cụ cơ bản nhằm xác lập các mô hình truyện kể Quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật của R Scholes
và R Kellogg: “ Hiểu một cách đơn giản nhất, điểm nhìn chính là một mánh khóe
thuộc về kĩ thuật, một phương tiện để chúng ta có thể tiến đến cái đích tham vọng nhất: sức quyến rũ của truyện kể Và dù có sử dụng cách thức nào, phương pháp hay kĩ thuật nào thì mục đích cuối cùng của người sáng tạo cũng chỉ là mê hoặc độc giả, buộc anh ta phải đọc” [38, tr 135]
Henry James trong nghệ thuật văn xuôi: “Điểm nhìn là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn” Đánh dấu một bước phát triển đáng kể trong nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện, kể từ đó, điểm nhìn được coi là nhân tố bộc lộ kĩ thuật của nhà văn, một mắt xích khách quan, nội tại, duy nhất mà theo đó chúng ta có thể đánh giá được tay nghề của tác giả
Sơ lược về điểm nhìn trong các từ điển thì điểm nhìn là: “Vị trí của người kể trong mối quan hệ với câu chuyện của anh ta” Điểm nhìn tự sự thường được định nghĩa là: “Góc độ mà từ đó người ta có thể biểu hiện bối cảnh tự sự, đó cũng là lập trường biểu hiện ra trong việc phản ánh thế giới trong truyện”[40, tr 35] Theo “Từ điển văn học”: “Điểm nhìn là vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Điểm nhìn nghệ thuật có thể hiểu là điểm rơi của cái nhìn khách thể Điểm nhìn nghệ thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể, cách
Trang 2519
xưng gọi sự vật, cách dùng từ ngữ, kiểu câu Điểm nhìn cung cấp một phương diện
để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm của phong cách ở trong đó” [1, tr 113] Tác giả Trần Đình Sử quan niệm: “Điểm nhìn là vị trí của chủ thể trong không gian, thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể nhìn” [40, tr 150] Theo quan niệm của G Geenette, nhà nghiên cứu tự sự học người Pháp thì điểm nhìn tự sự là tiêu cự, từ đó ông chia ra làm ba loại hình tự sự: Tự sự với tiêu cự bằng không, tự sự với tiêu cự bên trong, tự
sự với tiêu cự bên ngoài Theo quan niệm của R Scholes và R Kellogg thì điểm nhìn là vẫn đề của chính nghệ thuật kể chuyện, nó không chia sẻ với thơ ca hoặc văn học kịch Nói chung, nghệ thuật có ba điểm nhìn: điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn của người người kể chuyện và điểm nhìn của người đọc Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu điểm nhìn trần thuật để xác lập mô hình cấu trúc tác phẩm các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến sự ước thúc của các thành tố văn hóa Nghiên cứu tự sự hay điểm nhìn trần thuật ở đây không chỉ là nghiên cứu các thao tác kĩ thuật mà còn được nhìn và cắt nghĩa từ nhiều góc độ tham chiếu văn hóa
Từ những nhận định mang tính khái quát, thì điểm nhìn là vị trí của người kể chuyện trong mối quan hệ với câu chuyện của anh ta Người ta phân biệt điểm nhìn với ba loại chính: người kể chuyện toàn tri (người kể chuyện thông suốt mọi sự), người kể chuyện ngôi thứ ba, và truyện kể ngôi thứ nhất Việc nghiên cứu điểm nhìn đã đi những bước dài trên hành trình tìm kiếm chân lí và trở nên có hệ thống, phức tạp và tinh vi hơn Như vậy, điểm nhìn trần thuật giữ một vị trí quan trọng trong tác phẩm văn chương Nó thể hiện vị trí của chủ thể khi quan sát, kể chuyện
và quan điểm của họ khi miêu tả thế giới, tái hiện qua lăng kính truyện kể để độc giả tiếp cận bằng điểm nhìn của mình Văn học hiện đại càng ngày càng có sự chuyển biến linh hoạt trong điểm nhìn đã tạo nên sự đa dạng trong truyện kể, xuất hiện các cấu trúc đa thanh, phức tạp của điểm nhìn, tạo thành nền tảng trần thuật của nghệ thuật hiện đại
1.1.3.4 Bối cảnh câu chuyện và thời gian trần thuật
* Bối cảnh câu chuyện
Bối cảnh câu chuyện là không gian, là môi trường trong tác phẩm, là bối cảnh, là nơi để diễn ra các sự kiện và cũng là nơi để các nhân vật tồn tại Đây là chất
Trang 26- Bối cảnh thiên nhiên: Bao gồm những hiện tượng thiên nhiên bao quanh
con người như: trời, đất, núi, sông là khung cảnh rộng lớn, đa dạng Thiên nhiên một mặt gắn liền với nhân vật hoạt động của nhân vật, mặt khác cũng gắn liền tâm trạng người kể chuyện Cùng viết về người nông dân trước cách mạng nhưng khung cảnh làng quê trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố khác với làng quê trong sáng tác của Nam Cao, khác với làng quê của Thạch Lam Bối cảnh của mỗi làng quê cũng gắn liền với tâm trạng khác nhau, những trải nghiệm khác nhau của từng nhân vật mà tác giả muốn thể hiện
- Bối cảnh xã hội: Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc sống của những tầng lớp
người, từng cá nhân, từng thế hệ đã tạo nên không khí xã hội đa dạng Bối cảnh xã
hội của truyện ngắn Vợ nhặt là xã hội nghèo đói, loạn lạc của Việt Nam trước Cách
Trang 2721
mạng tháng Tám, bối cảnh trong truyện ngắn Hai đứa trẻ là phố huyện nghèo buồn
tẻ chìm dần trong bóng tối
- Bối cảnh tâm trạng: Là bối cảnh tâm trạng là thế giới nội tâm của nhân vật
Đó có thể là dòng, chuỗi kí ức, ước vọng, những niềm vui, nỗi buồn, ám ảnh, băn khoăn, xao động được miêu tả trong tác phẩm Cụ thể như bối cảnh trong truyện
ngắn Hai đứa trẻ là sự cô đơn, lặng lẽ, hồi tưởng, chờ đợi và hi vọng của hai đứa trẻ nơi phố huyện nghèo, trong Chí Phèo là ước mơ, khát khao một cuộc sống lương
thiện như bao người nông dân khác trong làng Vũ Đại
* Thời gian trần thuật
“Khác với kiến trúc, điêu khắc, hội họa là nghệ thuật của không gian, văn học là loại hình nghệ thuật được triển khai và hoàn thành trong dòng thời gian Thưởng thức, tiếp xúc một tác phẩm văn chương tức là đọc trên một văn bản từ câu này đến câu khác, hàng này qua hàng khác Tự bản chất mà nói, văn học cũng như
âm nhạc đều là những nghệ thuật của thời gian Mà trong các thể tài văn học, vấn đề thời gian ở tác phẩm tự sự tỏ ra phức tạp hơn nhiều so với thơ trữ tình Tác phẩm tự
sự chứa đựng và xử lí hai trục thời gian: thời gian câu chuyện và thời gian truyện, hoặc nói thời gian của tiến trình sự kiện hiện thực và thời gian hành động trần thuật” [41, tr 14] Thời gian của chuyện là trạng thái thời gian tự nhiên của sự phát sinh câu chuyện, đó là thời gian thực tế của chuyện được kể, từ lúc chuyện phát sinh đến kết thúc Còn thời gian tự sự là trình tự trước sau của sự kể mà văn bản truyện triển khai ra, trật tự này có khởi đầu và điểm dừng nhất định
Tìm hiểu thời gian trần thuật là sự đối chiếu trật tự sắp xếp các sự kiện, đoạn thời gian trong văn bản tự sự và trật tự tiếp nối của chúng trong câu chuyện Theo các nhà nghiên cứu về tự sự học thì hầu hết các văn bản tác phẩm tự sự, đặc biệt là văn học hiện đại, đương đại, tự sự có sự lệch pha về thời gian Đó là hệ quả của các hành động “đảo thuật” và “dự thuật”, tỉ lệ tương quan trần thuật và tần suất tự sự Việc tìm hiểu, phân tích thời gian trần thuật thường chú ý đến sự lệch pha giữa thời gian câu chuyện và thời gian kể chuyện, điều này được thể hiện trong hệ thống trần thuật ở các cấp độ cơ bản sau: trật tự (đảo thuật, dự thuật), khoảng cách trần thuật ( tỉnh lược, tóm thuật, tường thuật), tần suất tự sự (số lần và số sự kiện được kể) Trong tần suất tự sự được Genette đem mối quan hệ này chia ra làm bốn loại: kể
Trang 2822
một lần chuyện xảy ra một lần, kể nhiều lần chuyện xảy ra một lần, kể mấy lần chuyện chỉ diễn ra có một lần và kể một lần chuyện xảy ra nhiều lần Các nhà văn hiện đại, đương đại đã sử dụng rất linh hoạt thời gian trần thuật trong các tiểu thuyết
và truyện ngắn, điều này đã tạo nên sức hút đối với đọc giả tiếp nhận
1.1.4 Vai trò của lý thuyết tự sự học trong nghiên cứu văn học và trong dạy học tác phẩm văn chương
Cùng với sự vận động và biến động của xã hội tư duy và sáng tác văn học cũng
có sự thay đổi và mở ra những quan điểm thẩm mĩ mới Mỗi tác phẩm văn học gồm nhiều tầng ý nghĩa mà mỗi người đọc tùy theo nhận thức của mình chỉ phát hiện ra một
số ý nghĩa nhất định Vì thế nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu và dạy học tác phẩm văn chương là phải đi tìm những tầng nghĩa còn ẩn sâu trong văn bản bằng những phương pháp thích hợp Tự sự học cũng mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống trong mỗi nền văn học Chúng ta đều thấy, mỗi nền văn học đều có một hệ thống thể loại tự
sự Các thể loại ấy nối tiếp nhau trong lịch sử Thực chất về sự khác biệt của các thể loại cũng như sự tiến triển của chúng diễn ra như thế nào thì trước nay chúng ta chỉ có thể cảm nhận một cách cảm tính Giờ đây, lý thuyết tự sự học có thể cung cấp những khái niệm về cấu trúc văn bản tự sự Cho phép chúng ta nhận ra các đặc điểm trên một cách khoa học Hiện nay, không ít học giả, nhà nghiên cứu Trung Quốc đã vận dụng tự
sự học để nghiên cứu quá trình đổi mới của tiểu thuyết Trung Quốc thế kỷ XX Lý thuyết tự sự học cũng mở ra khả năng nghiên cứu so sánh quốc tế về phương diện tự
sự, nghiên cứu loại hình và nghiên cứu ảnh hương; nó đã trở thành một bộ phận của thi pháp học so sánh Vì thế, chúng ta có thể so sánh các tác giả, các thời kỳ văn học, các nền văn học với nhau Tương tự như vậy, trong dạy học chúng ta cũng có thể vận dụng
lý thuyết tự sự học để dạy học, tìm hiểu văn bản và so sánh các tác phẩm với nhau để tìm ra những nét tương đồng hay khác biệt, tìm được những giá trị của mỗi tác phẩm văn chương một cách khoa học Tự sự học đưa ra phương pháp lý luận để có thể tìm hiểu thời gian tự sự, góc độ tự sự, phân tích lời trần thuật và lời nhân vật, cốt truyện, thời gian, không gian, ngôi kể, điểm nhìn trần thuật trong mỗi tác phẩm tự sự Đây cũng là hướng nghiên cứu và tìm hiểu khá thú vị mà nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới và Việt Nam quan tâm
Vai trò của lý thuyết tự sự học còn cho thấy không chỉ là kỹ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn mà còn cho thấy cả truyền thống văn hóa ở đằng sau nó Từ
Trang 2923
đó, thông qua việc ứng dụng lý thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học và dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường sẽ cho thấy những ưu điểm và hạn chế của truyền thống văn học đó Chúng ta sẽ có cái nhìn về nền văn học một cách tỉnh táo và sâu sắc
mà không bị rào chắn bởi cái nhìn thời đại mang tính áp đặt vào tác giả, tác phẩm Nhìn vào nền văn học Việt Nam, chúng ta thấy có truyền thống tự sự lâu đời, song việc nghiên cứu văn học dân tộc cho đến nay vẫn nặng về miêu tả các dữ kiện bên ngoài như: tiểu sử tác giả, niên đại, bối cảnh xã hội lịch sử, nội dung phản ánh, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhận đạo Ngay việc phân chia các giai đoạn văn học chủ yếu chúng ta cũng căn cứ vào các sự kiện gắn với các giai đoạn lịch sử mà chưa chú ý đến các yếu tố khác chi phối Đó là những vấn đề lớn không thể xem nhẹ, song nếu thiếu sự phân tích cấu trúc tự sự bên trong, sự vận động có tính quy luật của các yếu tố thì chúng ta vẫn chưa hiểu lịch sử văn học với tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ, lịch sử văn hóa, văn học của chính dân tộc ta Vì vậy, lý thuyết tự sự học hiện đại sẽ cung cấp cho chúng ta thấy tính liên kết đan cài của cấu trúc tự sự, và cũng chính lý thuyết tự sự
sẽ cung cấp các khái niệm, phương pháp để chúng ta ngiên cứu văn học và tìm hiểu các tác phẩm văn học trong nhà trường một cách khoa học, đúng với đặc trưng của môn nghệ thuật ngôn từ Vì thế, ngày nay, khi nghiên cứu văn học, dạy học tác phẩm văn chương chúng ta không thể bỏ qua các vấn đề của tự sự học
1.1.5 Yêu cầu cơ bản của việc tổ chức quá trình dạy học theo lý thuyết tự sự học
* Giáo viên cần chú ý đến kiến thức đã có của học sinh
Với môn Ngữ văn, khi vận dụng lý thuyết tự sự vào dạy học tác phẩm văn chương, một mặt giáo viên phải chú ý đến khả năng cảm thụ , sáng tạo và hứng thú của học sinh, mặt khác giáo viên cũng cần quan tâm đến hoạt động hợp tác của các em trong quá trình học tập Cùng với việc sử dụng linh hoạt các phương pháp trong dạy học, đồng thời người giáo viên cũng cần cung cấp và đơn giản hóa hệ thống khái niệm
để học sinh dễ dàng tiếp cận đọc văn bản và tìm hiểu theo hướng phân tích cấu trúc tự
sự, sự vận động có tính quy luật của các yếu tố theo lý thuyết tự sự học Trong quá trình học tập, kiến thức, kinh nghiệm đã có của học sinh cũng có vai trò rất quan trọng Nếu giáo viên xây dựng tình huống học tập mà hướng giải quyết đã có, đã biết trong vốn kinh nghiệm của học sinh thì quá trình tư duy không diễn ra Vì không cần phải nỗ lực các em vẫn giải quyết được các vấn đề thì tư duy không phát triển Ngược lại tình huống học tập được đặt ra quá khó, dù đã nỗ lực hết sức vẫn không tìm ra đáp án đúng
Trang 3024
thì quá trình tư duy có diễn ra nhưng lâu dần sẽ không gây hứng thú, tích cực của học sinh Vì thế, trong dạy học giáo viên cần phải tính đến vốn kinh nghiệm đã có của người học; xây dựng các tình huống học tập với những câu hỏi phải nằm trong vùng phát triển gần nhất của học sinh nhằm kích thích, phát huy sự nỗ lực tư duy của học sinh Tình huống học tập được đặt ra nằm trong vùng phát triển gần nhất thì yêu cầu giải quyết tình huống đó sẽ cao hơn trình độ hiện tại của học sinh nhưng không quá sức
và có thể tìm ra những kết quả phù hợp với sự nỗ lực cao nhất của học sinh
Hơn nữa, trước khi học tập với giáo viên về một vẫn đề nào đó, không phải học sinh hoàn toàn chưa biết gì về vấn đề đó, mà do nhiều nguồn thông tin khác nhau, và các môn học khác cũng có chức năng bổ trợ nên học sinh đã có những kinh nghiệm, kỹ năng nhất định Người học thường quan tâm trước hết đến những thông tin có liên quan với những kinh nghiệm đã biết của bản thân Do đó, dạy học theo lý thuyết tự sự học, giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh sử dụng hợp lý kinh nghiệm đã có để xây dựng kiến thức mới Bởi mọi tri thức, mọi lý thuyết mới dù mới lạ, độc đáo, vĩ đại đến đâu cũng đều bắt nguồn, mở rộng từ cái cũ Kinh nghiệm đã có sẽ tạo thuận lợi cho quá trình lĩnh hội kiến thức nếu đó là những hiểu biết đúng, nhưng nếu đó là những vấn đề chưa được kiểm chứng sẽ gây ít nhiều khó khăn cho quá trình lĩnh hội tri thức mới Bên cạnh đó, giáo viên còn phải biết xây dựng các tình huống học tập, kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với vốn kinh nghiệm để các em phát huy được tính tích cực, tự lực trong việc tiếp cận văn bản và lĩnh hội tri thức mới, đồng thời điều chỉnh những quan niệm, hiểu biết chưa đầy đủ để từng bước tích lũy và hoàn thiện tri thức cho bản thân
* Xác định vai trò, nhiệm của giáo viên và học sinh
Suốt một thời gian dài chúng ta băn khoăn với câu hỏi: cơ sở lý luận để đổi mới phương pháp dạy học văn là gì? Làm thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ dạy học văn…Đã có rất nhiều thử nghiệm như dạy học nêu vấn đề, dạy học cá thể hóa, dạy học chương trình hóa, dạy học sáng tạo, dạy học theo dự án…Và mỗi thử nghiệm đều dấy lên những phong trào sôi nổi nhưng cuối cùng chúng ta vẫn chưa tạo ra được sự chuyển biến đáng kể trong phương pháp dạy học văn Dạy học văn vẫn nặng tính áp đặt, chưa tạo được sự hứng thú của học sinh đối với một môn thuộc về nghệ thuật ngôn từ Đã là nghệ thuật nên thiên về cảm xúc hơn là lý trí, vì vậy càng đòi hỏi sự tự nguyện hơn là bắt buộc Với một tác phẩm mà học sinh không
Trang 3125
thấy hứng thú thì khó mà thấy hay được Dạy học theo lý thuyết tự sự học, thay cho việc giáo viên nỗ lực giảng giải, thuyết trình, truyền thụ cho người học, giáo viên cần chuyển hóa tri thức từ bên ngoài vào bên trong ý thức của học sinh bằng các tình huống học tập phù hợp Do đó, giáo viên là người thiết kế, tổ chức và điều khiển quá trình dạy học đóng vai trò một nhân tố quyết định Tuy nhiên, nếu học sinh không tích cực thì mọi cố gắng của giáo viên cũng trở nên vô ích Bởi chủ thể nhận thức trong học tập là học sinh Do vậy, học sinh phải tích cực, tự lực hoạt động nhận thức, xây dựng kiến thức mới Và điều này đã đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện đại là: Trong quá trình dạy học, thầy giáo là người điều khiển nhưng học sinh là chủ thể nhận thức nên sẽ tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình Và hoạt động nhận thức của mình, và hoạt động điều khiển của thầy có đem lại hiệu quả không phụ thuộc vào sự tiếp nhận của học sinh Nhờ vào quá trình tự xây dựng kiến thức đó, học sinh thực sự là người làm chủ kiến thức mình tạo nên
* Phát huy tính tích cực của học sinh
Một yêu cầu của việc vân dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học là: người học phải chủ động và tích cực trong việc huy động kiến thức, kỹ năng đã có để khám phá, đón nhận, giải quyết các tình huống học tập mới Không những thế, người học còn phải chủ động và tích cực bộc lộ những quan điểm chủ quan của mình khi tiếp nhận tình huống học tập mới cũng như trong các hoạt động trao đổi, hợp tác với bạn học và với giáo viên Điều này nhằm mang lại hiệu quả dạy học, hoạt động trao đổi này xuất phát
từ nhu cầu của người học trong việc tìm những giải pháp để giải quyết, khám phá sâu hơn những tình huống học tập mới
Trong việc tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh cũng cần có tinh thần hợp tác, độc lập, sáng tạo Trong dạy học, mối quan hệ giữa học sinh với giáo viên, học sinh với nhau đóng vai trò hết sực quan trọng Đó là mối quan hệ bình đẳng, cộng tác cùng giải quyết những nhiệm vụ nhận thức Hơn nưa, khi tiếp nhận, xây dựng kiến thức mới, học sinh còn phải hình thành khả năng đánh giá, điều chỉnh những tri thức đó cho phù hợp với mục tiêu nhận thức và yêu cầu của xã hội, để kiến thức học được trong nhà trường thực ự có ích trong thực tiễn cuộc sống Do vậy, bồi dưỡng tính tích cực nhận thức, chủ động và sáng tạo trong học tập của học sinh là một yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học góp phần đổi mới nền giáo dục
Trang 3226
* Thường xuyên kiểm tra, đánh giá
Việc kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trong, không thể thiếu trong quá trình dạy học Kiểm tra, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định được thực trạng và điều chỉnh hoạt động cho phù hợp giữa thầy và trò Ngày nay, người thầy không còn giữ vai trò độc quyền trong kiểm tra, đánh giá mà đồng thời hướng dẫn các
em phát triển kỹ năng tự đánh giá để có phương pháp học tập cho phù hợp Bên cạnh
đó, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể tham gia, kiểm tra, đánh giá lẫn nhau Với quan điểm dạy học hướng vào học sinh là trung tâm thì hoạt động tự đánh giá là cần thiết Sau việc kiểm tra, đánh giá sẽ giúp học sinh biết được khả năng học tập so với mục tiêu của chương trình và biết được nguyên nhân của những phần mình chưa nắm chắc để tìm ra phương pháp học tập phù hợp với bản thân Nếu học sinh biết cách tự kiểm tra, đánh giá kiến thức các em sẽ chủ động hơn trong quá trình hình thành kiến thức mới từ những kiến thức đã có Như vậy, việc vận dụng lý thuyết
tự sự vào dạy học cũng cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản trong quá trình dạy học
để từ đó khả năng tiếp nhận nói chung, tầm đón nhận văn học nói riêng của mỗi học sinh đều được nâng lên một trình độ mới, với những cảm xúc thẩm mỹ mới
1.2 Vận dụng lý thuyết tự sự học vào việc dạy học tác phẩm văn chương
1.2.1 Khả năng vận dụng và phát triển một số hướng khai thác dạy học tác phẩm văn chương theo lý thuyết tự sự học
Qua việc phân tích cơ sở lý luận của lý thuyết tự sự học và việc dạy học theo quan điểm tự sự học cùng với đặc trưng, vị trí, vai trò của môn Ngữ văn trong nhà trường, ta thấy khả năng vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông là một hướng dạy học tích cực và có tính khả thi Cùng với việc kế thừa một số phương pháp dạy học đã có để vận dụng vào quá trình dạy học tác phẩm văn chương
1.2.1.1 Phương pháp đọc sáng tạo
Đọc sáng tạo là phương pháp đặc biệt được sinh ra do chính đặc trưng bộ môn
Nó là hệ thống của những biện pháp khác nhau hỗ trợ nhưng trung tâm vẫn là đọc Mục đích của phương pháp này là phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và tạo được sự cảm thụ trực tiếp của học sinh với tác phẩm văn chương Phương pháp này là thông
Trang 3327
qua việc đọc hoặc các hoạt động hỗ trợ cho đọc hình thành được ở học sinh những thể nghiệm nghệ thuật, các khuynh hướng và năng khiếu nghệ thuật Điều dễ nhận thấy trong việc đọc một tác phẩm văn chương khác về chất so với việc đọc những văn bản khoa học hay văn bản hành chính Nó đòi hỏi người đọc, người nghe phải chú ý đến từ, câu, nhịp điệu, giọng điệu, chính các yếu tố này tác động đến tình cảm, xúc cảm của đối tượng tiếp nhận và kích thích hoạt động hình dung, tưởng tượng, từ đó biết phân tích, đánh giá, thưởng thức tác phẩm Người đọc, người nghe, bên cạnh những rung động sâu sắc trong tâm hồn còn chịu ảnh hưởng của cách đọc diễn cảm.Ví như cùng
một bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo nhưng mỗi lần ta được nghe một
người đọc ta sẽ có những cảm xúc khác nhau Phương pháp đọc sáng tạo, tác động đến người đọc, người nghe cùng một lúc cả âm thanh, tư tưởng Giáo viên yêu cầu học sinh đọc diễn cảm để tạo cơ hội cho các em bộc lộ khả năng cảm thụ của bản thân và phương pháp này có thể sử dụng trong các giờ đọc văn Chẳng hạn trước khi tìm hiểu
văn bản Hai đứa trẻ của Thạch Lam giáo viên cho học sinh đọc diễn cảm đoạn mở đầu
để tạo không khí, ấn tượng chung về tác phẩm Tuy nhiên việc đọc sáng tạo vẫn chưa được khuyến khích thực sự trong việc dạy học văn mà vẫn chủ yếu là yêu cầu đọc đúng
từ, đúng chữ Gần đây, thì phương pháp đọc sáng tạo được sử dụng phổ biến hơn trong các tiết dạy học văn Trung tâm của phương pháp này là đọc diễn cảm, và đỉnh cao là đọc nghệ thuật của giáo viên hoặc nghệ sĩ (bằng các phương tiện hỗ trợ) Đọc sáng tạo cũng có nhiều biện pháp nhưng tất cả đều diễn ra trên văn bản Phương pháp đọc sáng tạo có sự tham gia của cả giáo viên và học sinh Do đó, giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, để mỗi học sinh đọc sáng tạo là một yêu cầu tất yếu của việc vận dụng lý thuyết tự sự vào dạy học tác phẩm văn chương Vấn đề là sáng tạo của người đọc ấy phải phù hợp với chương trình, nội dung học tập Dạy học văn, đọc văn theo lý thuyết tự sự học không những phát huy tính chủ quan cảm thụ văn chương của học sinh, đồng thời hướng các em đến tri thức khoa học đúng đắn Bên cạnh đó, mỗi người đọc đều có một khả năng tiếp nhận và cảm thụ văn chương riêng, và việc nâng cao khả năng tiếp nhận không phải làm ngay được trong một thời gian ngắn Vốn sống và hiểu biết càng nhiều, sức liên tưởng, tưởng tượng càng dồi dào thì sự cảm thụ tác phẩm càng sâu sắc Giá trị của mỗi tác phẩm văn chương luôn thay đổi theo tầm tiếp nhận cụ thể Do vậy, người đọc phải luôn trau dồi
Trang 3428
vốn hiểu biết, kinh nghiệm, sự thích thú để nâng cao sự hứng thú trong quá trình tiếp cận và tiếp và tìm hiểu văn bản Như vây, việc xác định vai trò của học sinhtrong việc đọc sáng tạo tác phẩm văn chương là một lựa chọn đúng đắn Nó vừa thể hiện nét đặc thù của môn Ngữ văn vừa phù hợp với thực trạng của học sinh, đồng thời cũng áp dụng được những thành tựu tiến bộ của thế giới trong đó có lý thuyết tự sự học
1.2.1.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương
Lý thuyết tự sự học có thể đưa ra hệ thống những câu hỏi tập trung vào cấu trúc văn bản để từ đó giáo viên có thể dựa vào đó mà xây dựng hệ thống câu hỏi cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất Câu hỏi có tầm đặc biệt quan trọng trong hoạt động nhận thức thế giới của loài người và trong dạy học Câu hỏi là một mệnh
đề trong đó chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết Dấu hiệu bản chất của câu hỏi là phải có mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết Khi chủ thể giải quyết tốt mối quan hệ lúc đó câu hỏi mới thực sự trở thành sản phẩm của quá trình nhận thức Câu hỏi là kiểu nghi vấn nhằm làm rõ, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin, phân tích
so sánh những gì liên quan đến sự vật và về bản thân sự vật dưới hình thức trả lời đáp lại Việc đưa ra hệ thống câu hỏi trong dạy học nói chung là không thể thiếu, đặc biệt trong việc áp dụng đổi mới phương pháp
Trong mỗi giờ học, khi sử dụng câu hỏi, giáo viên phải chú ý tập trung vào
trọng tâm bài học, khai thác điểm sáng thẩm mỹ Vận dụng lý thuyết tự sự học hiện đại vào việc tìm hiểu văn bản sẽ tránh dàn trải, lan man Giờ dạy học văn chính là
sự thể hiện tài năng, nghiệp vụ sư phạm của mỗi giáo viên Giờ học cũng không chỉ
là giáo viên hỏi, học sinh trả lời mà là sự kết hợp hàng loạt các thao tác Vì vậy câu hỏi cũng phải chọn lọc, cân nhắc kỹ để học sinh lắng đọng được những điểm cốt yếu nhất Với mỗi đối tượng học sinh giáo viên sử dụng những câu hỏi phù hợp, mang tính logic để học sinh phải tư duy trong mức độ vừa sức Vì vậy trong hệ thống câu hỏi phải phân bố đồng đều mức độ từ dễ đến khó, có sự gợi mở dẫn dắt đưa học sinh từ chỗ những cái đã biết đến cái chưa biết để từ đó mỗi cá nhân tự nhận thức Các câu hỏi dựa trên lý thuyết tự sự hướng dẫn người học có thể xác lập cấu trúc hệ thống của tác phẩm; giúp học sinh xây dựng căn cứ khoa học để tự do sáng tạo trong tiếp nhận văn văn học và không rơi vào tình trạng hiểu không đúng hoặc gán ghép cho tác phẩm những tư tưởng chưa chính xác
Trang 3529
1.2.1.3 Phương pháp tư duy hệ thống
Hệ thống, theo cách hiểu thông thường là: một tổ hợp những yếu tố có những mối liên hệ nhất định với nhau Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì hệ thống
là thứ tự của sự vật có quan hệ với nhau
Hiện nay, đọc – hiểu là một vấn đề khoa học được xem là hạt nhân của tư tưởng đổi mới đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông Mục đích của quá trình dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông là dạy cách đọc; đọc để hiểu tác phẩm với những thông tin, vẻ đẹp nhân văn và thẩm mĩ để từ đó người học có thể hiểu thế giới xung quanh Trên thực
tế, quá trình tiếp nhận một văn bản văn chương phải thông qua hoạt động đọc Vì chỉ khi nào chủ thể chủ động tiếp nhận văn bản thông qua hoạt động đọc, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc, nội dung của văn bản được thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ thì mới thực sự nắm bắt được các giá trị của văn bản đó Phương pháp
tư duy hệ thống giúp bạn đọc xây dựng những căn cứ khoa học để tự do sáng tạo trong quá trình tiếp nhận mà không rơi vào tình trạng chệch hướng, hiểu sai trong tiếp nhận Với phương pháp này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xuất phát từ văn bản, dựa vào cấu trúc văn bản, kết hợp với các yếu tố ngoài văn bản để chỉ ra ý nghĩa phong phú, sâu xa của tác phẩm theo nguyên lí lí thuyết tiếp nhận văn học Lý thuyết tự sự học hiện đại đã cho thấy sự phức tạp, đan cài của cấu trúc tự sự Lý thuyết tự sự học cũng cho chúng ta thấy không chỉ là kỹ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn mà còn cho thấy cả truyền thống ở đằng sau nó Việc dạy học văn trước hết cũng đòi hỏi chính các như mọi khoa học nhưng nó cũng cần một tính chính xác khác để không làm nghèo nàn và khô cứng tác phẩm văn chương, mà phải giúp người đọc cảm thụ hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm, thâm nhập vào chiều sâu
ý tưởng và mối liên kết với cuộc sống sinh động và văn hóa Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xác lập cấu trúc hệ thống của tác phẩm để tạo nên một căn cứ khoa học cho việc hiểu ý nghĩa phong phú của tác phẩm, tạo cơ sở cho việc đinh hướng và hiểu đúng tác phẩm Văn học được nhìn nhận, đánh giá gắn với thế giới nghệ thuật do nhà văn sáng tạo trong mối liên hệ tương tác với nhận thức, cảm thụ của người đọc với văn hóa, ngôn ngữ, trong những tình huống xã hội, gắn với tính chất liên văn bản của nó; để từ đó không ngừng sản sinh những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ mới
Trang 3630
1.3 Sơ lược một vài đặc điểm về thể loại truyện ngắn
Tự sự học (Narratology) là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng Tự sự học cũng dành một sự chú ý đáng kể cho thể loại truyện ngắn Lý thuyết tự sự học cũng cung cấp cho chúng ta công cụ để tìm hiểu và giải mã trong quá trình thưởng thức tác phẩm
“Vậy, truyện ngắn là gì? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời để vừa lòng tất cả mọi người Có người ví truyện ngắn như những đám mây luôn thay hình đổi sắc trên bầu trời mênh mông Bình minh lên với những đám mây màu da cam chói lọi
in hình những vạch đỏ thắm xòe ra như nan quạt Buổi trưa bầu trời bỗng nổi cơn giông tố, các đám mây đen bị gió thổi dạt về phía chân trời Truyện ngắn luôn biến dạng, nó luôn luôn ở trạng thái lỏng vĩnh viễn chảy qua kẽ tay chúng ta” [15,tr 397] Nhà thơ Đức, J Gớt xác định “truyện ngắn là một câu chuyện lạ đang xảy ra
có thể làm ta kinh ngạc” Truyện ngắn là hình thức của văn xuôi tự sự Trong mỗi nền văn học phát triển, thể loại truyện ngắn luôn có vị trí quan trọng nhất định
“Trong Tiếng Anh truyện ngắn (short story), truyện ngắn có gốc từ tiếng Italia,
Novella, ý nghĩa căn bản của từ này không căn cứ vào tính chất ngắn, nghĩa là
không căn cứ vào dung lượng mà vào nội dung câu chuyện được kể” [43, tr 11]
Về phía các nhà văn sáng tác truyện ngắn, mỗi người quan niệm truyện ngắn thật muôn hình, muôn vẻ Theo phương pháp loại hình, truyện ngắn được chia ra
một số nhóm chính sau: Nhóm thứ nhất: Tiêu biểu là K Pauxtopxki xác định: “Tôi
nghĩ truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện
ra như một cái bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái không bình
thường” Nhóm thứ hai: Đại diện cho nhóm này là nhà văn Nguyễn Kiên: “Tôi cho rằng mỗi truyện ngắn là một trường hợp” Nhóm thứ ba: Tiêu biểu cho nhóm này là
nhà văn Nguyễn Công Hoan, ông quan niệm: “Truyện ngắn không phải là truyện
mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh một chủ đề ấy thôi” [43, tr 25]
Về truyện ngắn cũng có sự khác nhau giữa truyện ngắn truyền thống và truyện
Trang 3731
ngắn hiện đại Với truyện truyền thống thì nhân vật và cốt truyện là vấn đề then chốt, nhưng với truyện ngắn hiện đại thường có kết cấu phức tạp hơn như sự thay đổi về vai trò của người kể chuyện, nhân vật, giọng điệu, không gian, thời gian trần thuật Truyện ngắn là một đề tài văn học đòi hỏi sự công phu trong lao động của người viết, song hiện nay nó đang có lợi thế mạnh trong việc thể hiện sự đa dạng phong phú của đời sống mang tính thích ứng nhanh Truyện có dung lượng ngắn, rất ngắn, mini với tốc độ xử lí tình tiết, sự kiện, nhân vật, thời gian là những ưu thế của thể loại truyện ngắn Chính vì thế truyện ngắn luôn được đứng ở vị trí quan trọng trên văn đàn văn học hiện đại, đương đại Cùng là truyện ngắn nhưng có truyện mang đậm chất tự sự, với các tình tiết sự kiện như truyện của Nguyễn Công Hoan, truyện mang đậm chất trữ tình như trong truyện ngắn Pauxtopxki, A Đô-đê, Thạch Lam Người dung hòa chất tự sự và trữ tình tiêu biểu là truyện ngắn Nam Cao Với mỗi truyện ngắn của mỗi nhà văn lại có cách kết cấu, vận hành riêng, vì thế khi dạy học từng tác phẩm, chúng
ta cần có cách khai thác tìm hiểu sao cho phù hợp Khi vận dụng lí thuyết tự sự học vào tìm hiểu và phân tích cấu trúc truyện kể chúng ta cũng cần chú ý những đặc trưng
cơ bản của thể loại truyện cũng như phong cách nhà văn và những vấn đề văn hóa, thời đại để có cách hiểu và cảm nhận đúng
1.4 Vị trí truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam trong chương trình phổ thông
Thạch Lam là hiện tượng đặc biệt trong văn học lãng mạn 1930 – 1945 Ông
sở trường về truyện ngắn Văn phong của ông tinh tế, nhẹ nhàng, gợi cảm Đằng sau những trang văn tinh tế đầy cảm xúc ấy là tấm lòng trắc ẩn đối với những kiếp người nghèo khổ trong xã hội cũ Đương thời, tác phẩm của Thạch Lam không ăn khách bằng của các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn song những tác phẩm của ông lại là những tác phẩm để lại nhiều dư ba nhất và tồn tại lâu nhất “Văn Thạch Lam có số phận dài lâu hơn hai ông anh là Nhất Linh và Hoàng Đạo, dài lâu hơn cả người cùng thời và cùng văn đoàn với ông là Khái Hưng” [46, tr 3]
“Là một thành viên của Tự lực văn đoàn, ông có ảnh hưởng của trường phái lãng mạn Song trong cái lãng mạn của Thạch Lam có vẻ tươi sáng của ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay, nó thức tỉnh trong sâu thẳm con người một chút mộng mơ, một niềm vui sống Văn Thạch Lam càng đọc càng say, càng đọc càng
bị cuốn hút Đó là thứ “lạt mềm buộc chặt”, càng đi sâu vào đọc càng không thể dứt ra Chất giọng ấy đã diễn tả một cách tinh tế những cung bậc tình cảm của
Trang 3832
con người Một nỗi buồn khe khẽ, vơ vẩn, mơ hồ và lấp lánh niềm hi vọng” [46,
tr 4] Bằng giọng văn nhẹ nhàng, thủ thỉ, Thạch Lam đã đánh thức miền kí ức xa xôi của mỗi người, đánh thức những xúc cảm thầm kín, sâu xa nhất về những về
những kỉ niệm dấu yêu đã qua trong tâm hồn mỗi người Hai đứa trẻ là một
truyện ngắn xuất sắc trong sự nghiệp văn chương của Thạch Lam Trong chương
trình sách giáo khoa Ngữ văn 11, truyện ngắn Hai đứa trẻ có vị trí quan trọng
Nó được giới thiệu như là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho văn xuôi Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945 bên cạnh các tác phẩm Chí Phèo, của Nam Cao, Chữ
người tử tù của Nguyễn Tuân, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Thời gian dành cho
giờ học tác phẩm này là 02 tiết, với thời lượng như vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khám phá các giá trị của tác phẩm Đối tượng hướng đến ở đây là học sinh lớp 11, lứa tuổi mà năng lực văn học của các em đang phát triển, trong một chừng mực nào đó, các em có khả năng tri giác ngôn ngữ khá sắc sảo và đã được làm quen với phương pháp đọc hiểu của bậc Trung học phổ thông Các em
đã biết bộc lộ cảm xúc, tình cảm của mình và đủ nhận thức để nhận xét và nêu lên những đánh giá của bản thân về cuộc sống con người, về các vấn đề được đặt
ra trong tác phẩm Về mặt xã hội học sinh, đã có ý thức về bản thân trong mối liên hệ với thế giới xung quanh, có thể liên hệ và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Về mặt lí luận, các em cũng đã được cung cấp một số kiến thức về lí luận văn học cơ bản Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên có thể kế thừa các phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời vận dụng những lí thuyết mới vào dạy học truyện ngắn này một cách linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất Mỗi truyện ngắn của Thạch Lam như một bài thơ về những cuộc đời, những thân phận nhỏ bé, côi cút và bất hạnh, gợi sự thương cảm, xót xa sâu sắc của tình người Giản dị mà sâu sắc, chứa chan tình nhân ái, Thạch Lam hướng người đọc
tới sự thanh cao của cái đẹp, cái thiện Hai đứa trẻ là một truyện ngắn như thế Nguyễn Tuân cho rằng: Truyện Hai đứa trẻ có một hương vị thật man mác Nó
gợi một nỗi niềm về quá vãng, đồng thời cũng dóng lên một cái gì còn ở tương lai Đây là một mẩu sinh hoạt hàng ngày và kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay
mẹ trông nom một gian hàng vặt ở phố huyện, gần ga xép Đêm đêm có những bóng người bình thường lù mù đi qua trước gian hàng Nơi thế giới quan của đứa trẻ ở phố quê, hình ảnh đoàn tàu và tiếng còi tàu đã thành một thói quen của
Trang 3933
cảm xúc và của ƣớc vọng Truyện ngắn này hay thì thật là hay nhƣng để các em của thời hiện đại ngày nay, sống cách Thạch Lam gần một thế kỉ thì việc cảm nhận và đồng cảm cũng thật là khó khăn Việc chúng ta đòi hỏi các em hứng thú, say mê không phải là dễ
Trang 402.1.1.1 Hình tượng người kể chuyện trong “Hai đứa trẻ”
Hình tượng người kể chuyện đóng vai trò trung gian giữa chủ thể sáng tạo và tác phẩm Không một truyện nào có thể tồn tại nếu thiếu người kể chuyện Song người kể chuyện đã trần thuật và điều khiển các tình huống truyện kể như thế nào thì lại là vấn đề chúng ta cần lý giải Việc lựa chọn ngôi kể truyền thống nhưng vẫn phô diễn được nét độc đáo và cách tân của tác giả thông qua hình tượng người kể
chuyện Hai đứa trẻ được kể ở ngôi thứ ba Người kể chuyện ở đây không xuất hiện
hay người kể chuyện hàm ẩn, giấu mặt Đây là kiểu người kể chuyện biết tuốt, thông tỏ mọi điều và có khả năng nhìn bao quát hiện thực của tác phẩm Ngoài việc dẫn dắt câu chuyện người kể chuyện còn giữ vai trò phân tích, bình giá và làm rõ các mối quan hệ trong truyện ngắn Những con người quanh quẩn nơi phố huyện như những đốm lửa nhạt nhòa, yếu ớt Trong không gian nhạt nhòa yếu ớt ấy bỗng
có những luồng ánh sáng chói lòa và âm thanh sôi động ùa đến từ chuyến tàu đêm, nơi hai đứa trẻ vẫn ngóng chờ Hình ảnh, âm thanh, ánh sáng của đoàn tàu đã trở thành một thói quen của cản xúc, của dĩ vãng xa xôi và những ước vọng Hình tượng kể chuyện ở đây chủ yếu qua cái nhìn của nhân vật chính Liên, đồng thời cũng là cái nhìn của chính tác giả Thông qua hình tượng người kể chuyện người đọc có thể hình dung người kể chuyện là một người đã từng trải nhưng chưa phải đã quá già, có lúc gọi Liên là cô, lúc gọi Liên là chị Thạch Lam xây dựng hình tượng người kể chuyện là một người từng trải nhưng xen vào đó là những ý nghĩ về quá khứ xa xôi, là những suy nghĩ non trẻ của chính tác giả giống như cậu bé An nhìn chị gái của mình dù người đó chỉ hơn cậu một hai tuổi nhưng trong con mắt của cậu thì Liên là một người lớn thực thụ đã biết lo toan cho gia đình và quan tâm đến em trai Qua hình tượng người kể chuyện dù nhan đề truyện là Hai đứa trẻ thì Liên thực
sự là một người lớn với những suy tư, chững chạc và có chiều sâu của một người