Chương trình được thực hiện tại Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh để giáo dục KNS cho trẻ em ngoài trường học với các nội dung như: Phổ biến Lu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ DIỆU THÚY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SÀI ĐỒNG,
QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ DIỆU THÚY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SÀI ĐỒNG,
QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoài
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo đã giảng dạy trong chương trình cao học quản lý giáo dục – Trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tác giả những kiến thức hữu ích về quản lý giáo dục, làm cơ sở cho tác giả thực hiện tốt luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Trần Thị Hoài,
người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tác giả những kinh nghiệm quý báu trong thời gian thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, các em học sinh, các bậc phụ huynh học sinh của trường Trung học cơ sở Sài Đồng - quận Long Biên - thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập thông tin và dữ liệu trong luận văn
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Diệu Thúy
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lý 8
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Kỹ năng sống 11
1.2.4 Giáo dục kĩ năng sống 14
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống 14
1.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 15
1.3.1 Một số đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở liên quan đến hoạt động giáo dục kĩ năng sống 15
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 18
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 27
1.4.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 27
1.4.2 Tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 28
1.4.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 29
1.4.4 Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 29
1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục kĩ năng sống 30
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở 30
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 30
Trang 61.5.2 Các yếu tố khách quan 31
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SÀI ĐỒNG QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34
2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội và giáo dục của phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 34
2.1.1 Vị trí địa lý, tình hình phát triển kinh tế xã hội 34
2.1.2 Tình hình giáo dục và đào tạo của phường Sài Đồng, quận Long Biên 35
2.2 Tổ chức nghiên cứu khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 39
2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 39
2.2.2 Nội dung khảo sát thực trạng 40
2.2.3 Đối tượng khảo sát thực trạng 40
2.2.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 41
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 41
2.3.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh41 2.3.2 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 43
2.3.3 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 45
2.3.4 Con đường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 47
2.3.5 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 48
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 49
2.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục kĩ năng sống 49
2.4.2 Tổ chức giáo dục kĩ năng sống 50
2.4.3 Chỉ đạo giáo dục kĩ năng sống 51
2.4.4 Kiểm tra, đánh giá giáo dục kĩ năng sống 53
2.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ giáo dục kĩ năng sống 56
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 60
2.5.1 Những điểm mạnh 60
2.5.2 Những mặt còn yếu 60
2.6 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 61
Trang 7Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SÀI ĐỒNG, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 66
3.1.1 Đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ 66
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 66
3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 67
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 67
3.2.2 Nâng cao nhận thức về hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục kĩ năng sống 67
3.2.2 Bồi dưỡng cho giáo viên các kiến thức và kỹ năng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 70
3.2.3 Chỉ đạo giáo viên thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 77
3.2.4 Xây dựng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng sống 79
3.2.5 Phối hợp giữa các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng sống 82
3.2.6 Huy động các nguồn kinh phí, điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ cho các hoạt động giáo dục kỹ năng sống 85
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 87
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 87
3.4.3 Thang đánh giá khảo nghiệm 87
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 87
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Khuyến nghị 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lớp và sĩ số học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 36 Bảng 2.2a: Bảng xếp loại hạnh kiểm của học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 37 Bảng 2.2b: Bảng xếp loại học lực của học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 37 Bảng 2.3: Bảng số liệu và trình độ cán bộ, giáo viên, nhân viên trường Trung học cơ
sở Sài Đồng 38 Bảng 2.4: Nhận thức về bản chất của giáo dục KNS cho học sinh trường Trung học cơ
sở Sài Đồng, quận Long Biên 41 Bảng 2.5 Nhận thức về mức độ cần thiết của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên 42 Bảng 2.6 Mức độ thực hiện nội dung giáo dục kĩ năng sống của giáo viên ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên 43 Bảng 2.7 Các kĩ năng sống mà học sinh đã được giáo dục trong trường Trung học cơ
sở Sài Đồng, quận Long Biên 44 Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các phương pháp giáo dục kĩ năng sống trong trường Trung học cở sở Sài Đồng, quận Long Biên 46 Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các con đường giáo dục kĩ năng sống ở trường Trung học
cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên 47 Bảng 2.10 Đánh giá công tác xây dựng kế hoạch giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 49 Bảng 2.11 Đánh giá công tác tổ chức triển khai kế hoạch giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 50 Bảng 2.12 Tự đánh giá công tác chỉ đạo giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng của Ban chỉ đạo giáo dục KNS 51 Bảng 2.13 Đánh giá của giáo viên về mức độ chỉ đạo giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng của Ban chỉ đạo giáo dục KNS. 52 Bảng 2.14 Tự đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng của Ban chỉ đạo giáo dục KNS 53 Bảng 2.15 Đánh giá của giáo viên về mức độ kiểm tra, đánh giá giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng của Ban chỉ đạo giáo dục KNS. 55 Bảng 2.16 Đánh giá của Ban chỉ đạo giáo dục KNS về mức độ quản lý cơ sở vật chất,
Trang 9trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Sài Đồng 56 Bảng 2.17 Đánh giá của giáo viên về mức độ quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ
sở Sài Đồng 58 Bảng 2.18 Các nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 61 Bảng 2.19 Các nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Sài Đồng 62 Bảng 3.1 Kết quả đánh giá về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý 87 giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở 87 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS THCS Sài Đồng 89
Trang 10đề giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh (HS)
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội, nó cần thiết để HS có thể ứng phó một cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản thân trong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của cuộc sống Đồng thời, KNS như những nhịp cầu giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói quen lành mạnh Những người có KNS là những người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc, luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình
Mặc dù KNS có vai trò quan trọng như vậy, nhưng thật đáng tiếc lâu nay, trong nhà trường phổ thông chúng ta chỉ chú trọng giáo dục kiến thức mà chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục KNS cho HS Mấy năm gần đây, vấn đề KNS mới được quan tâm trên cả bình diện lý luận và thực tiễn và đã được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường Tuy nhiên, công tác giáo dục KNS trong nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế
Ở góc độ tâm sinh lý, lứa tuổi HS Trung học cơ sở (THCS) là lứa tuổi khá đặc biệt với hiện tượng dậy thì Các em đã bắt đầu phát triển về giới tính nên thích làm người lớn, tự cho mình là người lớn, sẵn sàng tự ý làm theo suy nghĩ chủ quan của mình, dễ
bị lôi kéo vào việc làm xấu, hoặc dễ có hành động dại dột, sai lầm, nông nổi Trong khi đó, vốn sống thực tế chưa nhiều, KNS của các em vì thế còn rất non nớt, chưa hoàn thiện nếu các em không được uốn nắn, dạy bảo kịp thời ở giai đoạn này, nhiều tính cách xấu sẽ hình thành và phát triển, khi các em trưởng thành rồi sẽ rất khó điều chỉnh Như vậy, những gì các em thu nhận được từ quá trình học tập trong nhà trường
là cực kỳ quan trọng và ý nghĩa, sẽ trở thành hành trang cho các em trên đường đời sau này
Xuất phát từ nhận thức đó, trong những năm gần đây, nhà trường phổ thông, bên cạnh việc chú trọng giảng dạy những kiến thức khoa học, chương trình sách giáo khoa cũng đặc biệt chú ý đến việc giáo dục KNS cho các em HS Bởi vì nhà trường có
Trang 11nhiệm vụ rất quan trọng trong việc đào tạo những con người không chỉ có kiến thức
mà còn phải được trang bị những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế và là nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng đã nêu rõ nhiệm vụ này: “Yêu cầu chuyển mạnh từ giáo dục tập trung vào nội dung sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [30] Nhiệm
vụ này đã đặt ra yêu cầu cho các nhà trường cần phải quản lý, chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS cùng với quản lý dạy học như thế nào để đảm bảo yêu cầu của đổi mới giáo dục
Tuy nhiên, trong thực tế, công tác giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS ở các trường THCS của Hà Nội nói chung và của trường THCS Sài Đồng nói riêng chưa đồng bộ và chưa có sự quan tâm đúng mức Nhà trường còn khá lúng túng trong việc lên kế hoạch, chỉ đạo và triển khai cụ thể việc thực hiện hoạt động giáo dục KNS cho HS; cách tổ chức hoạt động giáo dục KNS còn đơn điệu, nhàm chán, chưa thu hút được sự tham gia tích cực của HS Do vậy, chất lượng giáo dục KNS cho HS còn khá hạn chế
Từ yêu cầu và thực trạng trên, vấn đề đặt ra với những người làm công tác quản lý trong trường THCS Sài Đồng là cần có những nghiên cứu có hệ thống về thực trạng, các nguyên nhân và đề ra các biện pháp phù hợp cho công tác quản lý để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục KNS cho HS THCS Sài Đồng
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trường trung học cơ sở Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Trung học cơ sở, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho Ban giám hiệu trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho các em, góp phần giáo dục toàn diện
HS
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
a Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS
b Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 124 Giả thuyết khoa học
Quá trình quản lý hoạt động giáo dục KNS ở trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã đạt được một số thành tích nhất định song vẫn còn những bất cập
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục KNS hiện nay ở trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà
Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục KNS để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
b Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội và nguyên nhân của thực trạng
c Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội như thế nào?
- Có những biện pháp nào để quản lý tốt hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Không gian: Trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Thời gian: Từ năm 2012 đến nay
8 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Thu thập, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu liên qu.an đến hoạt động giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
b Phương pháp điều tra phiếu hỏi
Điều tra bằng phiếu hỏi để tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục KNS của Ban giám hiệu trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
c Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS của giáo viên, Ban giám hiệu để bổ sung cho kết quả nghiên cứu của phương pháp điều tra
Trang 13bằng phiếu hỏi
d Phương pháp khảo nghiệm
Được sử dụng để kiểm tra tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
e Phương pháp xử lý thông tin và số liệu
Tổng hợp, phân tích, so sánh và đối chiếu để làm rõ thực trạng và tính khả thi của
các biện pháp đề ra
Dựa trên thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục KNS của nhà trường
đã làm chỉ ra những mặt đã làm được và những mặt còn hạn chế, từ đó đề ra những biện pháp phù hợp nhất
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS ở trường
THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS ở trường THCS
Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài
Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh
1.1.1 Ở nước ngoài
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS được một số nhà tâm lý học thực hành đề cập đến Tiếp đó là những nghiên cứu ứng dụng đưa giáo dục KNS vào nhà trường Người đầu tiên phải kể đến là Gilbert J.Botvin – Giáo sư về sức khỏe cộng đồng, chuyên gia cao cấp về Tâm lý học, trưởng khoa phát triển KNS thuộc trường Đại học Cornell, Hoa Kỳ Từ năm 1979, ông và cộng sự đã lập nên một chương trình giáo dục KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 tới lớp 9 Một chương trình được lập ra nhằm giúp người học có khả năng từ chối những lời rủ rê sử dụng chất gây nghiện giúp bản thân có được sự an toàn và nâng cao giá trị của bản thân Tại
Mỹ Latinh (Costa Rica – 1996), hội thảo giáo dục sức khỏe thông qua giáo dục KNS trong các trường học đã được tổ chức…
Ở các nước khu vực Châu Á, các chương trình giáo dục KNS cũng đã được triển khai rộng khắp do có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNICEF, UNESCO…
Trong khu vực Đông Nam Á, các chương trình giáo dục liên quan đến KNS xuất hiện chủ yếu vào những năm cuối của thế kỷ XX và được triển khai ở nhiều nước Ở Lào, giáo dục KNS được lồng ghép vào chương trình đào tạo chính quy, không chính quy và trường sư phạm đào tạo giáo viên từ năm 997 Tại Campuchia, chương trình giáo dục chính quy đã thực hiện việc tích hợp giáo dục KNS vào bài học của các môn
cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12… KNS được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển khả năng lựa chọn lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lí cho thanh thiếu niên
Ngoài ra, nhu cầu vận dụng KNS một cách trực tiếp hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong Diễn đàn giáo dục Thế giới Dakar tháng 5/2000; trong việc thực hiện Công ước Quyền trẻ em; trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển giáo dục cho mọi người Đặc biệt, trong tuyên bố
về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm
2001), các nước đó đồng ý rằng “Đến năm 2005 đảm bảo rằng ít nhất có 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông
Trang 15tin, giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển KNS để giảm những tổn thương do sự lây nhiễm HIV” [28, tr 54]
Bên cạnh đó, sự ra đời của các tác phẩm cũng giúp cho người đọc có thêm được
nhiều thông tin đầy đủ hơn về giáo dục KNS Trong cuốn sách “Chương trình giảng dạỵ KNS” (2006) của tác giả Gracious Thomas đã nhấn mạnh vai trò của GV nhằm
giáo dục các KNS cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm
HIV/AIDS Còn trong cuốn “Rèn luyện KNS cho HS – thường thức an toàn” của nhà
xuất bản Quảng Tây năm 2008 để giúp trẻ nắm được những nguyên tắc cơ bản để thoát khỏi hoàn cảnh nguy hiểm như: Giữ bình tĩnh, không ngừng phát tín hiệu cầu
cứu…Còn tác giả Carre Lynn trong tác phẩm “Giúp trẻ hòa nhập với xã hội” (2008)
đã giới thiệu nhiều trò chơi vận động có tác dụng hỗ trợ phát triển một số KNS của trẻ như kỹ năng giao tiếp ứng xử xã hội, kỹ năng tự lập…[28, tr 114]
Có thể nói, ở nước ngoài, thanh thiếu niên đã được giáo dục những KNS cơ bản
về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện, đương đầu và vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người với người Đó là những KNS quan trọng để con người có thể ứng phó với những rủi ro trong cuộc sống Những KNS này có thể được trang bị trong nhà trường hoặc thông qua các chương trình do các tổ chức thực hiện Tuy vậy, các nghiên cứu về quản
lý giáo dục KNS còn ít được chú ý
1.1.2 Ở Việt Nam
Từ những năm 1995-1996, thuật ngữ “ KNS ” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam qua dự án của UNICEF phối hợp với Bộ GD&ĐT cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam với chương trình “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”
Chương trình thực nghiệm giáo dục “Sống khỏe lành mạnh và KNS” do UNICEF
hỗ trợ được triển khai tại 20 trường thuộc Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố
Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang Nội dung cụ thể của chương trình: Phổ biến về quyền trẻ em; phòng tránh thuốc lá, rượu, bia, phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; phòng tránh và ứng phó với tình huống căng thẳng Những chủ đề trên được tổ chức cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 định kỳ mỗi tháng một buổi
Trong chương trình “Giáo dục sống khỏe và KNS” đã đề cập đến các kỹ năng
cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao được triển khai, cung cấp thêm kỹ năng để đương đầu với những thách thức của xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng
Trang 16Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS ” do UNESCO phối hợp với
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn nội hàm khái niệm KNS
Năm 2003-2004, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với UNESCO
triển khai nghiên cứu về “Giáo dục KNS ở Việt Nam” đã trình bày một cách tổng
quan về nhận thức, thực trạng và định hướng giáo dục KNS ở Việt Nam
Bên cạnh các chương trình, các tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên quan đến giáo dục KNS cho các trường THCS và Trung học phổ thông khá phong phú
Trong cuốn “Hoạt động thực tiễn tìm hiểu KNS dành cho học sinh” do Trần Thời
Kiến (chủ biên) đã trình bày những cách xác lập chủ đề hoạt động, lập kế hoạch hoạt động đến những hoạt động cụ thể nhằm hình thành các kỹ năng cần thiết cho học sinh
Hay trong cuốn “Giáo dục giá trị sống và KNS” cho đối tượng là học sinh THCS của
nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh, đã trình bày những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi ảnh hưởng đến việc hình thành KNS cho học sinh Ngoài ra, nhóm tác giả đã thiết kế các nhóm chủ đề cùng với những hoạt động nhằm hình thành các KNS cho học sinh THCS [27]
Năm 2007, với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Giáo dục một số KNS cho
HS trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, kết quả
nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các em còn hạn chế Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu giáo dục KNS, đề tài đã xây dựng chương trình giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động NGLL [3]
Năm học 2010-2011, Bộ GD&ĐT có công văn về việc tăng cường thực hiện giáo dục KNS cho tất cả các bậc học và đã cho phép xuất bản bộ tài liệu tích hợp giáo dục
KNS qua các môn học Có thể kể đến “Giáo dục KNS trong môn Địa lý ở trường THCS”, “Giáo dục KNS trong môn Giáo dục công dân ở trường THCS”…xuất bản
năm 2012
Chương trình “Bạn hữu trẻ em” được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010-2016 Chương trình được thực hiện tại Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh để giáo dục KNS cho trẻ em ngoài trường học với các nội dung như: Phổ biến Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ…
Bên cạnh đó, đã có một số luận án tiến sỹ về quản lý hoạt động giáo dục KNS
như luận án “Giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động NGLL” của tác giả Phan Thanh Vân năm 2010 đã cho thấy thực trạng giáo dục KNS
Trang 17cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động NGLL và đã đề xuất một số giải pháp cải tiến hoạt động trên
Nhìn chung, các nghiên cứu về giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS trên thế giới và ở Việt Nam đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ tính cấp bách và hình thức giáo dục KNS, đã đề xuất các biện pháp giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động giáo dục KNS còn ít được quan tâm Điều đó làm hạn chế hiệu quả của giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, Paul Hersey và Ken Blanc Hard cho
rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [19,tr 64]
Theo tập thể tác giả Học viện chính trị Quốc gia (1976) thì “Quản lý là sự tác động của một cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo ra một sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, nhằm đạt một mục đích nhất định”
Tác giả Trần Ngọc Giao và nhóm biên soạn lại cho rằng “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn nhân lực tài chính và kĩ thuật…), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra” [12, tr 104]
Trang 18Các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt song đều đề cập những nội dung cơ bản là:
- Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người)
- Đối tượng quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người, sự vật, sự việc…)
- Mục tiêu quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Chủ thể tiến hành các tác động quản lý bằng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý
- Quản lý về cơ bản là tác động lên con người, sự vật để điều hành các hoạt động
có lợi cho tổ chức và đạt được những mục tiêu tổ chức đã đặt ra Để quản lý tốt trước hết cần hiểu sâu sắc về con người, sự vật với tư cách là đối tượng của quản lý, sau đó phải được đào tạo huấn luyện về cách thức tác động đến con người, sự vật
- Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới Đó chính là thực hiện các chức năng của quản lý
- Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển
- Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực của cá nhân, tổ chức theo mục tiêu mong đợi
Từ những phân tích trên có thể quan niệm về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra
1.2.2 Quản lý giáo dục
Theo tác gải Bush T (trong tác phẩm “Các học thuyết về quản lý giáo dục”, London, 1995) thì quản lý giáo dục được định nghĩa như sau: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [28, tr 84]
Các nhà lý luận Xô Viết cũng đưa ra một số khái niệm về quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả M.I.Kondacop thì quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng
Tác giả P.V.Khudonixky thì cho rằng quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,
Trang 19có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [13,
tr 21]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [33,tr 59]
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản
lý giáo dục, khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải
kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ quản lý giáo dục (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật)
Có thể thấy quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ vĩ mô và vi mô
Ở góc độ vĩ mô, chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Vì vậy, khái niệm quản lý giáo dục có thể được hiểu “là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện các mục tiêu của nền giáo dục”
Ở góc độ vi mô, chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng, Giám đốc cơ sở giáo dục), đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào quá trình đó (giáo viên, học sinh, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính…)
Trong luận văn này quản lý giáo dục được hiểu là “hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường, giúp nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành, phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [35, tr 11]
Trang 20người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Đó là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý
xã hội và giao tiếp cá nhân được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, tương tác một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh và có chất lượng
Theo UNICEF, “KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới” Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái
độ và kỹ năng Nói một cách ngắn gọn nhất thì đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào) [28, tr 64]
Theo UNESCO, “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng
và tham gia vào cuộc sống hàng ngày” [28, tr 69]
Đó là những kỹ năng cơ bản như giao tiếp ứng xử, giới thiệu bản thân, thuyết
trình trước đám đông, làm việc nhóm, khám phá những thay đổi của bản thân, tư duy hiệu quả…Đồng thời, coi kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình
Còn theo tác giả Nguyễn Thanh Bình, “KNS là năng lực, khả năng tâm lý – xã hội của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả” [4, tr 37]
Ngoài ra còn có những quan niệm nhấn mạnh năng lực điều chỉnh hành vi của con người và thay đổi để có những hành vi tích cực, nhờ đó con người có khả năng
điều chỉnh và quản lý hiệu quả những nhu cầu của mình như “KNS là khả năng điều chỉnh nhu cầu của bản thân một cách hợp lý và ứng phó trước những thách thức trong cuộc sống hàng ngày của mình” (WHO, 1983) Hay “KNS còn có nghĩa là khả năng
phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó (UNICEF, Thái Lan, 1995) [4, tr 47]…
Từ những phân tích trên, có thể hiểu KNS là các kỹ năng mang tính tâm lý – xã
hội, là khả năng để thích ứng và hành vi tích cực cho phép các cá nhân giải quyết có hiệu quả và nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày (WHO 2003)
Trang 21Bên cạnh đó, khi giáo dục KNS cho HS cần hướng tới mục tiêu lớn hơn là giáo dục cho HS các giá trị sống Giá trị sống là những thứ được cá nhân nhận thức là rất quan trọng, rất cần thiết, rất có ý nghĩa, luôn mong đợi, chúng có khả năng chi phối
thái độ, xúc cảm, tình cảm, hành vi của một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày
Tháng 8 năm 2006, các nhà giáo dục đến từ năm châu lục tiến hành một hội thảo với sự ủy quyền của UNESCO tại NewYork đã thảo luận và đi đến quyết định đưa ra 12 giá trị sống mà chúng ta cần hình thành cho trẻ đó là:
8 Khoan dung
Khoan dung là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau Khoan dung là nhìn nhận cá tính và sự đa dạng trong khi vẫn biết dàn xếp mầm mống gây chia rẽ, bất hòa
Trang 22Bộ Giáo dục và Đào tạo(GD & ĐT) Việt Nam cũng đưa các giá trị sống này vào chỉ đạo cho các nhà trường Việt Nam Ngày 17 tháng 02 năm 2012 Bộ GD&ĐT
đã có công văn số 654/BGD&ĐT-VP về việc tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục giá trị sống &KNS cho HS THCS Nội dung tập huấn gồm 3 phần cơ bản:
- Các kiến thức cơ bản về giá trị sống &KNS
- Phương pháp hình thức giáo dục giá trị sống &KNS
- Thiết kế hoạt động giáo dục giá trị sống &KNS
Ngày 31 tháng 5 năm 2012, Bộ GD&ĐT có kế hoạch số 444/KH-BGĐ &T về việc tập huấn cán bộ cốt cán trường phổ thông về giáo dục giá trị sống &KNS cho HS
Thực hiện chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục năm học 2014-2015 và công văn số 463/BGD-GDTX ngày 28 tháng 1 năm 2015
về việc hướng dẫn triển khai thực hiện hoạt động giáo dục KNS tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và thông tư số 04/2014/TT-BGD &ĐT ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục KNS và hoạt động ngoại khoá
Đối với HS cấp THCS: Tiếp tục rèn luyện những kĩ năng đã được học ở tiểu học, tập trung giáo dục những KNS cốt lõi có ý nghĩa thiết thực cho người học như: Kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phản biện và sáng tạo, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng hợp tác, kĩ năng tự nhận thức và cảm thông, kĩ năng quản lí cảm xúc và đương đầu với
áp lực, kĩ năng tự học Trong “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” (dự thảo)
Trang 23Bộ GD & ĐT cũng xác định 3 phẩm chất (giá trị sống): sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm, và 8 năng lực (KNS) cốt lõi xuyên suốt chương trình giáo dục phổ thông: tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, thẩm mĩ, thể chất, giao tiếp, hợp tác, tính toán, công nghệ thông tin và truyền thông
Từ những phân tích trên, tác giả đã chọn những giá trị sống này làm cơ sở cho việc giáo dục KNS cho HS THCS, phù hợp với đặc điểm tâm sinh học của học sinh, để từ đó xác định được các KNS tương ứng làm cơ sở cho các hoạt động giáo dục và quản lí các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS
1.2.4 Giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục KNS được thực hiện theo nhiều cách khác nhau Ở một số nơi, giáo dục
kĩ năng sống được kết hợp với các chương trình giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nơi khác, giáo dục KNS nhằm vào giáo dục hành vi, cách cư xử, giáo dục an toàn trên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS hay giáo dục lòng yêu hòa bình…
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp
Giáo dục KNS cho học sinh được hiểu là giáo dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống [27, tr 39]
Hay nói một cách khác, giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội Giáo dục KNS là hướng đến thay đổi hành vi
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống
Quản lý giáo dục KNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao giáo dục KNS trong nhà trường
Quản lý giáo dục KNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục KNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh
Trang 24Từ đó có thể nói: “Quản lý giáo dục KNS trong nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào hoạt động giáo dục KNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh” [27, tr 81]
1.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
1.3.1 Một số đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở liên quan đến hoạt động giáo dục kĩ năng sống
Học sinh THCS là HS từ lớp 6 đến lớp 9, tuổi từ 11 đến 15 Lứa tuổi này chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lý trẻ em Sự phát triển của các
em được phản ánh bằng các tên gọi khác nhau: Thời kỳ quá độ, tuổi khó khăn, tuổi khủng hoảng, tuổi bất trị, khủng hoảng tuổi dậy thì [27, tr 51] Đây là thời kỳ quá độ
từ trẻ con sang người lớn và giai đoạn này tạo nên sự phát triển đặc thù về mọi mặt: Phát triển thể chất, trí lực, đạo đức, xã hội…
Yếu tố đầu tiên của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này là tính tích cực xã hội nhằm lĩnh hội những chuẩn mực, giá trị nhất định để xây dựng những mối quan hệ thỏa đáng với mọi người xung quanh, với bạn bè và cuối cùng là hướng vào bản thân mình
Quá trình hình thành cái mới thường được kéo dài và phụ thuộc vào nhiều điều kiện do đó, nó diễn ra không đồng đều về mọi mặt Chính điều này quyết định sự tồn tại song song vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn ở lứa tuổi này
* Đặc điểm về giải phẫu sinh lý
Sự phát triên cơ thể diễn ra mạnh mẽ, sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng như tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục và tuyến thượng thận
đã tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong đó rõ ràng nhất là sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục Tuy vậy, thiếu niên thường có những cử động lúng túng, vụng về Hoạt động thần kinh cấp cao có những đặc điểm riêng: Giai đoạn này hưng phấn mạnh và lan tỏa nhanh nên trẻ rất khó tập trung dẫn đến các em có những hành vi thừa
và dễ xúc động, khó làm chủ cảm xúc của mình Việc thành lập phản xạ có điều kiện đối với hệ thống tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ) kém so với việc thành lập phản xạ có điều kiện đối với hệ thống tín hiệu thứ nhất (các giác quan), cho nên các em nói chậm, nói khó, trình bày lúng túng và hay trả lời nhát gừng
Đặc biệt, hiện tượng dậy thì khiến thiếu niên cảm thấy mình đã trở thành người lớn một cách khách quan và sự thay đổi về mặt sinh lý này cũng góp phần tạo nên
Trang 25nguồn gốc làm nảy sinh ở thiếu niên cảm giác về “tính người lớn” của mình Sự phát dục đem lại một điều gì đó mới mẻ, bỡ ngỡ trong đời sống của các em, khiến các em
có những cảm xúc và ý nghĩ mới…mà thường chính các em cũng chưa ý thức được
Sự phát dục kích thích các em quan tâm tới người khác giới, làm xuất hiện những cảm giác, những rung cảm mới, nhất là những rung cảm giới tính
* Đặc điểm giao tiếp
Ở lứa tuổi này, hoạt động giao tiếp có một ý nghĩa lớn đối với sự phát triển nhân cách của thiếu niên Bằng hoạt động giao tiếp, các em lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức, lối sống, đồng thời các em nhận thức được người khác và bản thân mình Nhờ vậy mà đời sống tình cảm của học sinh THCS ngày càng phong phú và tinh tế hơn Đặc biệt, ở lứa tuổi học sinh THCS, hoạt động giao tiếp giữa bạn bè cùng lứa tuổi phát triển mạnh Bởi qua giao tiếp với bạn bè, thiếu niên tìm thấy sự bình đẳng, tôn trọng nhau Đó cũng là cơ sở để hình thành tình bạn Ở lứa tuổi này tình bạn là sự trung thực, hồn nhiên, trong sáng Từ quan hệ rộng rãi, thiếu bền vững, càng lên lớp trên học sinh THCS càng có ý thức về tình bạn, có sự lựa chọn bạn bè theo nhận thức
và tình cảm riêng của mình, đó cũng chính là cơ sở của tình bạn lâu dài, bền vững Một nét tâm lý đáng chú ý ở lứa tuổi này là quan hệ giao tiếp giữa nam và nữ đã thể hiện màu sắc của giới tính, giữa bạn nam và bạn nữ không còn hồn nhiên như ở tiểu học mà đã xuất hiện rào cản tâm lý nhất định
* Đặc điểm nhận thức và hoạt động học tập
Nếu ở tiểu học, nhận thức của học sinh là nhận thức cảm tình, bước đầu có tư duy khoa học (tư duy lý luận) thì ở THCS, các em hình thành nhận thức lý tính (dựa trên tư duy khoa học hay còn gọi là tư duy lý luận) theo logic của đối tượng từng môn học
Bên cạnh hoạt động giao lưu bạn bè, hoạt động học tập vẫn giữ vai trò chủ đạo Tuy vậy, nội dung học tập ở lứa tuổi này khác xa với độ tuổi trước Trong lứa tuổi này việc tiếp thu kiến thức có thể vượt ra khỏi phạm vi nhà trường Trẻ mở rộng phạm vi hoạt động, tham gia vào nhiều lĩnh vực cũng như nhóm bạn khác nhau, tiếp xúc với công nghệ thông tin…Chính vì vậy hiểu biết của các em gia tăng nhanh chóng
Cách thức dạy học ở THCS cũng khác so với dạy học ở tiểu học Thay vì một giáo viên dạy hầu hết các môn học ở tiểu học, ở THCS mỗi giáo viên chỉ dạy từ một đến hai môn Mỗi giáo viên với chuyên môn riêng, trình độ riêng, phong cách dạy học riêng, cách giao tiếp riêng…đã ảnh hưởng đến môi trường nhận thức ổn định của học sinh
Khi nhiều giáo viên tham gia dạy các môn học, trẻ có dịp đánh giá, so sánh và
Trang 26nhận ra sự đa dạng về phong cách, cách giao tiếp…Sự yêu thích môn học nào đó hoàn toàn có thể bắt đầu từ sự yêu mến và quý trọng thầy cô Nếu như ở tiểu học, trẻ có thể hứng thú với quá trình học nói chung thì đến THCS, hứng thú đã được phân hóa Sự phân hóa này có nguyên nhân từ sự khác biệt giữa nhân cách người giáo viên trong dạy học và giáo dục trẻ Cách dạy học phân hóa theo từng môn cũng là cơ sở để học sinh phân biệt môn học này với môn học khác, có môn thì học sinh thấy thú vị, có môn thì thấy “chán”, có môn học thì bổ ích, môn học khác lại không có nhiều ý nghĩa…Việc phân hóa như vậy đối với học tập thường được quyết định bởi chất lượng dạy học, hứng thú và kết quả học tập môn học của học sinh
Sự phát triển tự ý thức của học sinh THCS có ý nghĩa lớn lao ở chỗ, nó thúc đẩy các em bước vào một giai đoạn mới Kể từ tuổi thiếu niên trở đi, khả năng tự giáo dục của các em được phát triển, các em không chỉ là khách thể của sự giáo dục mà còn đồng thời là chủ thể của sự giáo dục
Đời sống tình cảm của học sinh THCS phong phú và phức tạp hơn các em HS tiểu học Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, tình cảm dễ chuyển hóa (vui, buồn) dễ thay đổi, đôi khi còn mâu thuẫn Nhìn chung, tình cảm của các em còn mang tính chất bồng bột, sôi nổi, hăng say, dễ bị kích động
Dấu ấn đặc biệt trong đời sống tình cảm của học sinh THCS là ở các em đã xuất hiện tình bạn khác giới, những rung cảm đầu đời của tình yêu Điều đáng chú ý là tình cảm của học sinh THCS đã bắt đầu được hình thành trên cơ sở lý trí, có lý trí chi phối Trong đời sống tình cảm của các em thì tình cảm đạo đức, tình cảm bạn bè phát triển mạnh KNS của các em tăng lên, tính bột phát trong tình cảm giảm dần và nhường chỗ cho tình cảm có ý thức phát triển
Trang 27Về mặt tâm lý và tình cảm, các em ý thức được mình không còn là trẻ con nữa và muốn hành động, muốn thử sức mình và khám phá những điều mới lạ Các em thường quan tâm đến sự thay đổi cơ thể, quan tâm đến bạn bè, muốn tách khỏi sự bảo hộ của
bố mẹ Tuy nhiên, các em vẫn còn quá trẻ, chưa có kinh nghiệm và vẫn phụ thuộc vào
bố mẹ, vào gia đình
Ở học sinh THCS phát triển mạnh tính độc lập, ý muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính và muốn tìm kiếm những mối quan hệ bạn bè cùng lứa Tư duy trừu tượng tiếp tục phát triển mạnh nhưng chưa phát triển hoàn thiện
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Giáo dục KNS cho học sinh THCS nhằm các mục tiêu sau:
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, trong các tình huống
và hoạt động hàng ngày
- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
1.3.2.2 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Việc giáo dục KNS cho học sinh THCS tuân theo các nguyên tắc sau đây:
* Nguyên tắc tương tác:
Kĩ năng sống không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài
liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và tự
đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó Nhiều KNS
được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh (kỹ năng thương lượng, kỹ năng giải quyết vấn đề…), thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những KNS của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác
Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả
* Nguyên tắc dựa vào sự trải nghiệm:
KNS chỉ được hình thành khi người đọc được trải nghiệm qua các tình huống thực tế Học sinh chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó chứ không chỉ nói về việc
Trang 28đó Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế Thông qua trải nghiệm các tình huống thực tế, học sinh có cơ hội thể hiện các ý tưởng
cá nhân, đồng thời biết phân tích KNS của người khác và của chính mình
độ
* Nguyên tắc thay đổi hành vi
Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình
Ngoài ra, khi giáo dục KNS cần chú ý thêm về thời gian và môi trường giáo dục
Tóm lại, giáo dục KNS cần được thực hiện thường xuyên, lứa tuổi nào cũng cần học, rèn luyện và củng cố KNS
1.3.2.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông bao gồm
21 KNS cơ bản, cần thiết sau:
* Kỹ năng tự nhận thức
Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như
cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân, biết nhìn nhận, đánh giá đúng
về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,…của bản thân mình, quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân
Trang 29đang cảm thấy căng thẳng
Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt
là giao tiếp với người khác
* Kỹ năng xác định giá trị
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
Giá trị không phải là bât biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục vào nền văn hóa, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân
* Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp
Kỹ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng
xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này
* Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các kĩ năng sống khác như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, tư duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ và kỹ năng giải quyết vấn đề
* Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng Đồng thời để phát huy hiệu quả của kỹ năng này, cần kỹ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, kỹ năng ra quyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn
* Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để
Trang 30hoàn thành các nhiệm vụ
Kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm
* Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm
cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ
Kỹ năng nghe tích cực có quan hệ mật thiết với các kỹ năng giao tiếp, thương lượng, hợp tác, kiềm chế cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn
* Kỹ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc
* Kỹ năng thương lượng
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó
Kỹ năng thương lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự cảm thông, tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân
* Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
Trang 31Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết giữa các bên một cách hòa bình
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kỹ năng giải quyết vấn
đề Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với nhiều kỹ năng liên quan khác như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nhận thức, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định…
* Kỹ năng hợp tác
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như:
Tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm,
ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng…
* Kỹ năng tư duy phê phán
Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra
Một người có được kỹ năng tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với
kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị
* Kỹ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới, là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc, độc lập trong suy nghĩ
Kết hợp tốt giữa kỹ năng tư duy và phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy sẽ càng được tăng cường
* Kỹ năng ra quyết định
Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương
án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời
Để ra được quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với những KNS khác như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo….Kỹ năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kỹ năng giải quyết vấn đề
* Kỹ năng giải quyết vấn đề
Trang 32Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống Giải quyết vấn đề có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều KNS khác như: Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
* Kỹ năng kiên định
Kỹ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn
và lý do dẫn đến sự mong muốn đó Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình mong muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác
Để có kỹ năng kiên định, con người cần xác định được các giá trị của bản thân, đồng thời phải kết hợp tốt với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng thể hiện sự tự tin và kỹ năng giao tiếp
* Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ
Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm có liên quan đến kỹ năng nhận thức, kỹ năng thể hiện sự cảm thông, kỹ năng hợp tác và kỹ năng giải quyết vấn đề
* Kỹ năng quản lý thời gian
Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong thời gian nhất định
Kỹ năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu
và đạt được muc tiêu đó Đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực công việc
* Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin một cách đầy
Trang 33đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin cần kết hợp với kỹ năng tư duy phê phán và
kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ
Tóm lại:
Nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Việc hình thành những kỹ năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình thành các kỹ năng học tập như: Đọc, viết, tính toán…
Nội dung giáo dục KNS cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các KNS cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương, giáo viên có thể lựa chọn thêm một số KNS khác để giáo dục cho học sinh của trường, lớp mình cho phù hợp
1.3.2.4 Các con đường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Việc giáo dục KNS cho học sinh THCS được thực hiện thông qua 4 con đường sau đây:
* Tích hợp qua dạy học
Giáo dục KNS có thể thông qua khai thác nội dung các môn học có tiềm năng như Giáo dục công dân, Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa lý…Đồng thời, việc giáo dục KNS cho học sinh qua các môn học trong nhà trường phổ thông được thực hiện theo cách tiếp cận mới đó là sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được luyện tập, thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập môn học Trong khi tham gia hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những KNS của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác KNS cũng được phát triển khi giáo viên tạo cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích KNS của chính mình và người khác
Cách tiếp cận này sẽ không hề làm nặng nề, quá tải thêm nội dung các môn học
mà ngược lại, do sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực giáo viên còn lôi cuốn được học sinh tham gia tích cực vào quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức, làm cho việc học tập các môn học trở lên hứng thú, hấp dẫn hơn, thiết thực và bổ ích hơn đối với học sinh
Giáo dục KNS cho học sinh qua tiết học, lồng ghép trong nội dung môn học tránh khiên cưỡng, nhưng cần khai thác triệt để tiềm năng giáo dục KNS của môn học
Trang 34chú ý đến tính liên môn, tính logic và hệ thống
* Giáo dục KNS thông qua tích hợp hoặc thông qua các chủ đề chuyên biệt vào các hoạt động giáo dục NGLL
Ngoài việc nhấn mạnh phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, trường học, trong sự hợp tác với cộng đồng, có thể bố trí tổ chức các hoạt động học tập dựa trên các vấn đề cụ thể với trọng tâm và nỗ lực giải quyết các vấn đề của cộng đồng Giải quyết vấn đề là một KNS quan trọng
Hoạt động giáo dục NGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học văn hóa ở trên lớp Hoạt động giáo dục NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học ở trên lớp, là cầu nối gắn lý thuyết với thực tiễn và đời sống xã hội, tạo nên sự thống nhất giữa ý thức với hành động, góp phần hình thành tình cảm niềm tin đúng đắn ở học sinh, đồng thời góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách cho các em
Nếu giáo dục theo các chủ đề giáo dục KNS chuyên biệt sẽ tập trung vào khám phá hình thành và củng cố KNS muốn hình thành Hơn nữa hoạt động NGLL có ưu thế
về điều kiện thời gian so với giờ lên lớp cho phép vận dụng giáo dục trải nghiệm thuận lợi hơn Chính vì vậy, khi thiết kế nội dung và tổ chức giáo dục KNS qua hoạt động NGLL cần quan tâm khai thác kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng đã có của học sinh, cũng như đặt HS vào các tình huống cần giải quyết để trải nghiệm và vận dụng KNS
đã được học trong chủ đề
Thông qua tổ chức các chủ đề trong chương trình hoạt động giáo dục NGLL với các hình thức tổ chức đa dạng, sử dụng phương pháp thể hiện nguyên tắc tương tác, trải nghiệm…cùng các phương pháp có tiềm năng giáo dục KNS …có thể hình thành
và phát triển KNS cho học sinh
* Thông qua các tình huống giáo dục và các tình huống thực tiễn trong cuộc sống
Bằng cách đặt học sinh vào tình huống phải giải quyết các vấn đề nảy sinh ở trường, lớp hay trong cuộc sống và hướng các em giải quyết các tình huống đó theo quy trình của các KNS phù hợp, mang tính tích cực, xây dựng, hiệu quả…chính là đã dạy các em những KNS cần thiết
Đồng thời, cách xử lý, giải quyết các vấn đề của chính giáo viên cũng có tác dụng giáo dục KNS cho học sinh
* Thông qua hình thức tham vấn trực tiếp đối với cá nhân hoặc nhóm
Sau khi được giáo dục KNS theo những con đường nói trên bao giờ cũng có một vài học sinh (khoảng từ 5-10%) các em vẫn có những hành vi không mong đợi Khi đó
Trang 35cần sử dụng cách tiếp cận cá nhân thông qua hoạt động tham vấn
Dịch vụ tham vấn có thể tìm thấy ở các văn phòng, trung tâm tham vấn ở ngoài nhà trường nhưng cũng có thể tìm thấy ở trong nhà trường Ở các nước phát triển với mục đích vì lợi ích giáo dục tốt nhất cho mọi học sinh, làm tăng sự khỏe mạnh và kết quả học tập của học sinh …ở các trường đã có văn phòng tham vấn
1.3.2.5 Các phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Học sinh THCS thường được giáo dục KNS thông qua các phương pháp sau:
* Phương pháp hợp tác theo nhóm
Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động cùng trao đổi, thảo luận để đưa ra suy nghĩ, quan điểm, quyết định và giải quyết một vấn đề nào đó trong những nhóm nhỏ để học sinh cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh chia sẻ kinh nghiệm
và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao
Phương pháp này giúp hình thành nhóm kỹ năng giao tiếp học tập trong nhóm, hình thành nhóm kỹ năng xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫn nhau và giải quyết bất đồng
* Phương pháp giải quyết vấn đề
Sự lĩnh hội tri thức của học sinh diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động nêu và giải quyết các vấn đề Sau khi giải quyết vấn đề, học sinh sẽ thu nhận được kiến thức, kỹ năng mới hoặc thái độ tích cực Dạy học nêu và giải quyết vấn đề tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề
Phương pháp này giúp học sinh rèn luyện và phát triển các kỹ năng: Kỹ năng nhận biết và xác định vấn đề, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
* Phương pháp đóng vai
Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào
đó trong tình huống giả định Giáo viên đặt ra một tình huống thật hoặc khuyến khích nghiên cứu những tình huống đó với các nhân vật khác nhau rồi ứng biến các phản ứng của nhân vật cho các bạn trong lớp cùng theo dõi
Phương pháp này rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo, sự tự tin, khả năng lắng nghe tích cực, khích lệ sự thay đổi, thái độ, cảm xúc và hành vi của học sinh theo hướng tích cực, tạo điều kiện cho học sinh đặt mình vào vị trí của người khác và hiểu được quan điểm của người khác Sự cảm thông, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kỹ năng thương lượng hoặc kiên định tùy thuộc vào tình huống, kỹ năng quản lý thời gian
* Phương pháp trò chơi
Trang 36Là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hoặc thể hiện hành động Trò chơi gồm nhiều loại, ví dụ: Đố ô chữ, lắp ghép nội dung, tìm hiểu bí ẩn, thi giữa các đội…trò chơi có thể điều chỉnh theo nội dung bài học và được sử dụng khi ôn tập, làm bài tập hay làm bài kiểm tra Trò chơi có thể được sử dụng bởi cá nhân, trong nhóm hay với cả lớp
Phương pháp trò chơi giúp rèn luyện và phát triển kỹ năng đảm nhận trách nhiệm, sự bình tĩnh tự tin, kỹ năng tư duy sáng tạo
* Phương pháp động não (công não)
Là phương pháp nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng
Phương pháp này giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng tư duy phê phán
và tư duy sáng tạo, kỹ năng tự tin và trình bày suy nghĩ ý tưởng, kỹ năng lắng nghe tích cực
* Phương pháp nghiên cứu tình huống (nghiên cứu các trường hợp điển hình)
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện thông qua các đoạn phim mà không phải trên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực,
nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
* Phương pháp dự án
Phương pháp dự án được hiểu như là một phương pháp trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học
cơ sở
Xét theo chức năng quản lý, quản lý giáo dục KNS cho học sinh THCS bao gồm
4 nội dung: Xây dựng kế hoạch giáo dục KNS, tổ chức hoạt động giáo dục KNS, chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS và kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS Trong đó xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục KNS là khâu đầu tiên và quan trọng nhất
1.4.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học
Trang 37cơ sở
Xây dựng kế hoạch có nghĩa là xác định các mục tiêu cần đạt và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó Công việc này thường diễn ra với ba nội dung chủ yếu:
- Xác định, hình thành mục tiêu cần đạt
- Xác định và đảm bảo về các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đề ra Trong nhà trường THCS, việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục KNS cho học sinh là việc làm quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS Việc xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh giúp cho người quản lý tư duy một cách có hệ thống để tiên liệu các tình huống có thể xảy ra, đồng thời phối hợp với mọi nguồn lực trong và ngoài nhà trường để tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh có hiệu quả hơn
Qua việc xây dựng kế hoạch, cán bộ quản lý có thể nắm vững hơn mục tiêu cơ bản, các nhiệm vụ cần tiến hành trong nhà trường trong việc giáo dục KNS cho học sinh Đồng thời dễ dàng phối hợp với cán bộ, GV, nhân viên trong nhà trường sẵn sàng ứng phó với những thay đổi của môi trường bên ngoài
Kế hoạch hoạt động giáo dục KNS cho học sinh có thể được xây dựng riêng hoặc
là một bộ phận của kế hoạch năm học nhưng cần lưu ý:
- Trước hết, hiệu trưởng phải hiểu về KNS, về mục tiêu, nội dung, phương pháp
và các điều kiện cần thiết tối thiểu để giáo dục KNS
- Đảm bảo sự thống nhất giữa các mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu giáo dục trong nhà trường
- Nắm vững thực trạng hoạt động giáo dục KNS cho học sinh và công tác giáo dục đạo đức của nhà trường hiện tại
- Phối hớp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp và kế hoạch hoạt động giáo dục khác
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực và phù hợp với hoạt động tâm sinh lý của HS để đạt hiệu quả giáo dục cao
1.4.2 Tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc, các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể đề ra
Trong trường THCS, việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh được
Trang 38thể hiện thông qua các công việc:
- Triển khai việc bố trí nhân lực cho công tác giáo dục KNS cho học sinh một cách hợp lý Nếu thấy cần thì thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS để giúp hiệu trưởng thực hiện, kiểm tra hoạt động này
- Xây dựng những quy định cụ thể, phù hợp với điều kiện của nhà trường, địa phương và tâm sinh lý lứa tuổi học sinh để công tác giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường đạt kết quả tốt nhất
- Bố trí thu xếp về tài lực, vật lực để công tác giáo dục KNS cho học sinh có điều kiện triển khai hiệu quả
- Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để cùng tham gia công tác giáo dục KNS cho học sinh
1.4.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
Quá trình chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
Trong trường THCS, để công tác giáo dục KNS cho học sinh thực sự được triển khai theo đúng quy trình sư phạm, đạt yêu cầu của kế hoạch đề ra, cần hướng dẫn các lực lượng tham gia giáo dục KNS trong và ngoài nhà trường cách thức thực thi kế hoạch Luôn quan tâm, giám sát các hoạt động giáo dục KNS được thực hiện bởi các lực lượng trong và ngoài nhà trường để điều chỉnh, động viên, kích thích và uốn nắn việc thực thi kế hoạch đề ra
Đối với hiệu trưởng hoặc Ban chỉ đạo giáo dục KNS trong nhà trường công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS cho học sinh thường bao gồm:
- Tổ chức cho các lực lượng tham gia thực hiện kế hoạch, lực lượng theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục KNS hiểu rõ các công việc cần được tiến hành, cách thức tiến hành và cách thức báo cáo
- Chỉ đạo các hoạt động theo chủ điểm của từng tháng, từng hoạt động, có sự
phân công, phân nhiệm rõ ràng
1.4.4 Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học
cơ sở
Kiểm tra là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Quá trình này được diễn ra như sau:
- Cán bộ quản lý đặt ra những chuẩn mực kết quả cần đạt của hoạt động
- Cán bộ quản lý đối chiếu, đo lường kết quả so với chuẩn mực đã đặt ra
- Cán bộ quản lý tiến hành những điều chỉnh, những sai lệch
Trang 39- Cán bộ quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần
Trong trường THCS, có thể kiểm tra kết quả thực hiện, kiểm tra qua các bài thi, qua quan sát, tự kiểm tra, đánh giá các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể của từng hoạt động, kiểm tra các tình huống…
Qua kiểm tra mà đánh giá để xác nhận mức độ đạt được các mục tiêu của hoạt động giáo dục KNS và cũng từ đó rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp quản lý tốt, chưa tốt, bổ sung, điều chỉnh kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở những năm tiếp theo
Người hiệu trưởng chỉ đạo cho Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS của trường thu thập các thông tin để đánh giá kết quả hoạt động giáo dục KNS cho học sinh và đưa ra các quyết định cần thiết để điều chỉnh hoạt động giáo dục của học sinh nhà trường được hiệu quả hơn
1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục kĩ năng sống
Ngoài các chức năng quản lý trên, để giáo dục KNS có hiệu quả thì việc quản lý
cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ cho giáo dục KNS là rất cần thiết Có thể kể đến việc quản lý sử dụng các phòng chức năng; quản lý sử dụng các thiết bị cho các hoạt động giáo dục KNS; quản lý việc đầu tư bổ sung các trang thiết bị; quản lý kinh phí dành cho tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ về tổ chức giáo dục KNS cho giáo viên; quản lý kinh phí dành cho việc bồi dưỡng năng lực công tác Đội, hoạt động giáo dục KNS cho cán bộ lớp; quản lý kinh phí dành cho các hoạt động bắt buộc, hoạt động NGLL, các chuyên đề…; quản lý việc huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động giáo dục KNS
Bên cạnh đó việc quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để phát huy, khai thác những thế mạnh, tiềm năng của các tổ chức đó trong việc hỗ trợ nhà trường triển khai giáo dục KNS cho học sinh cũng là một vấn đề cần được coi trọng Tuy vậy, do thời gian có hạn, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ khảo sát thực trạng công tác quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ giáo dục KNS
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
Trước hết, đó là nhận thức của hiệu trưởng nhà trường về hoạt động giáo dục KNS Khi hiệu trưởng đã nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng và nắm rõ bản chất của giáo dục KNS, người hiệu trưởng sẽ xây dựng và đề xuất được các biện pháp thích
Trang 40hợp phù hợp với thực tế để hoạt động giáo dục KNS của nhà trường đạt được hiệu quả
và chất lượng cao nhất
Bên cạnh đó, năng lực tổ chức của hiệu trưởng cũng là một điều kiện quan trọng giúp nâng cao chất lượng của giáo dục KNS Năng lực này được thể hiện thông qua các hoạt động sau:
- Xây dựng các kế hoạch hoạt động giáo dục KNS: Bao gồm các hoạt động, các chủ đề, chủ điểm có tính tới thời điểm hoạt động, mối quan hệ giữa các nguồn nhân lực như: Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, nội dung chương trình, sự phối hợp với các lực lượng giáo dục…
- Hiện thực hóa kế hoạch: Từ kế hoạch đến hiện thực hóa là một quá trình, thường xuyên có nhiều biến đổi do những điều kiện khách quan và chủ quan chi phối
Vì vậy, khi cần thiết phải có sự điều chỉnh về kế hoạch hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường và thúc đẩy giáo viên thực hiện đúng kế hoạch đó, người hiệu trưởng cần: + Luôn bám sát các nhiệm vụ, các mục tiêu, các hoạt động chung về hoạt động giáo dục KNS để điều chỉnh và triển khai kế hoạch
+ Khơi dậy tiềm năng sáng tạo của giáo viên và các lực lượng giáo dục bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau
+ Quan tâm, tạo mọi điều kiện để các giáo viên có sự phối hợp với nhau một cách tốt nhất trong khi thực hiện các hoạt động giáo dục KNS chung
- Kiểm tra đánh giá: Khi kiểm tra, đánh giá khách quan, công bằng, chính xác, kịp thời sẽ đảm bảo cho sự sắp xếp công việc, sắp xếp đúng người, đúng năng lực, đồng thời phát huy được ý thức của các cá nhân, các tổ chức trong nhà trường đối với hoạt động giáo dục KNS
Ngoài ra, năng lực, phẩm chất, nhân cách, uy tín, giao tiếp lịch sử, hòa nhã của người hiệu trưởng cũng góp phần làm nên thành công của hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường