1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và thực tiễn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

122 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đạt ra các mục tiêu cụ thể như sau: - Phân tích pháp luật hiện hành quy định về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại NHTM ở Việt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ HOÀNG THU TRANG

Pháp luật về huy động vốn d-ới hình thức nhận tiền gửi

và thực tiễn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ HOÀNG THU TRANG

Pháp luật về huy động vốn d-ới hình thức nhận tiền gửi

và thực tiễn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam

Chuyờn ngành: Luật kinh tế

Mó số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Lấ THỊ THU THỦY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Hoàng Thu Trang

Trang 4

DƯỚI HÌNH THỨC NHẬN TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN DƯỚI HÌNH THỨC NHẬN TIỀN GỬI 8 1.1 Những vấn đề lý luận về huy động vốn dưới hình thức nhận

tiền gửi 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tiền gửi 8 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của huy động vốn dưới hình thức

nhận tiền gửi 12 1.1.3 Nguyên tắc của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 19

1.2 Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 19

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về huy động vốn dưới hình

thức nhận tiền gửi 19 1.2.2 Nội dung pháp luật về huy động dưới hình thức nhận tiền gửi 23 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

Chương 2: THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG

VỐN DƯỚI HÌNH THỨC NHẬN TIỀN GỬI TẠI AGRIBANK VIỆT NAM 28 2.1 Các quy định pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận

tiền gửi ở Việt Nam 28

2.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 28

Trang 5

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên gửi tiền 31

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận tiền gửi 34

2.1.4 Trình tự, thủ tục huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 36

2.1.5 Hợp đồng tiền gửi 41

2.1.6 Bảo hiểm tiền gửi 45

2.2 Những quy định nội bộ của Agribank về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 48

2.3 Thực tiễn thực thi pháp luật về chủ thể tham gia hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 50

2.4 Thực tiễn thực thi pháp luật về trình tự, thủ tục huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 70

2.5 Thực tiễn thực thi pháp luật về hợp đồng tiền gửi 76

2.6 Thực tiễn thực thi pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN DƯỚI HÌNH THỨC NHẬN TIỀN GỬI TẠI CÁC NHTM Ở VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI ARGIBANK 89

3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi ở Việt Nam 89

3.1.1 Bổ sung các quy định về các hình thức huy động vốn 89

3.1.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 91

3.1.3 Về hợp đồng tiền gửi 94

3.1.4 Về quy trình, thủ tục nhận tiền gửi 96

3.1.5 Về bảo hiểm tiền gửi 97

3.2 Kiến nghị đối với hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại Agribank 99

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện quy định về chủ thể tham gia hoạt động huy động vốn

dưới hình thức nhận tiền gửi 99

3.2.2 Sửa đổi Quy định về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tài khoản thanh toán trong hệ thống Agribank 100

3.2.3 Bổ sung Quy định về hợp đồng tiền gửi trong quan hệ nhận tiền gửi giữa Agribank và người gửi tiền 101

3.2.4 Bổ sung quy định quy trình, thủ tục nhận tiền gửi 102

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 112

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHTG: Bảo hiểm tiền gửi BLDS: Bộ luật dân sự BLLĐ: Bộ luật lao động CMND: Chứng minh nhân dân NHNN: Ngân hàng nhà nước NHTM: Ngân hàng thương mại NHTƯ: Ngân hàng trung ương TCTD: Tổ chức tín dụng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên hoàn toàn khác với các loại hình doanh nghiệp thông thường khác, các ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối đưa nguồn vốn tới dự

án đầu tư trong nền kinh tế bằng hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng thương mại (NHTM) sử dụng đối tượng kinh doanh đặc biệt là tiền tệ, cùng với những đặc điểm đặc trưng của NHTM và phân tích từ nhiều góc độ như:

vị trí, vai trò của các ngân hàng thương mại, yêu cầu an toàn cho nền kinh tế, tính chất rủi ro trong bản chất hoạt động của loại hình doanh nghiệp này, chính vì vậy mà NHTM trong hoạt động của mình không những chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật chung về dân sự, thương mại, doanh nghiệp mà được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật chuyên ngành với những nguyên tắc điều chỉnh hết sức khắt khe

Ngân hàng thương mại có 03 hoạt động chính, bao gồm: huy động vốn, cấp tín dụng, hoạt động thanh toán, và có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác liên quan Hoạt động kinh doanh của ngân hàng hay bất

cứ một doanh nghiệp nào cũng đều cần có vốn, bởi khi có vốn thì doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động, cũng như vậy, ngân hàng phải có vốn thì mới có thể thực hiện hoạt động cấp tín dụng, cũng như những hoạt động dịch vụ khác của NHTM Do đó, huy động vốn là hoạt động xương sống của

ngân hàng Hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng nói chung và

NHTM nói riêng là một trong những hoạt động ngân hàng đặc thù, có liên quan đến lợi ích đông đảo của người dân trong xã hội, liên quan đến sự ổn định tiền tệ quốc gia, sự an toàn của hệ thống ngân hàng, sự ổn định và phát triển của nền kinh tế xã hội Hoạt động huy động vốn của các NHTM có thể

Trang 9

được thực hiện thông qua các hình thức: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các NHTM, vay vốn của Ngân hàng Nhà nước Trong đó mang lại hiệu quả cao nhất là huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, số vốn đem lại chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số vốn của ngân hàng Hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng diễn ra thường nhật hàng ngày với số lượng giao dịch lớn, cùng với đó là những rủi ro, tranh chấp xảy ra nhiều Những tranh chấp này liên quan tới nhiều lĩnh vực trong đời sống như thế chấp, bảo đảm, thừa

kế, hợp đồng…

Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi còn sơ sài, không thống nhất, chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm chồng chéo nhau Mặc dù Luật Ngân hàng nhà nước 2010 và Luật các Tổ chức tín dụng 2010 mới được ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 thay thế cho hai đạo luật cũ đã được thi hành trong 6 năm, đã sửa đổi, điều chỉnh quy định cho phù hợp hơn với tình hình thực tế, khắc phục những điểm thiếu sót Tuy nhiên các quy phạm cụ thể về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hiện nay còn sơ sài và chưa rõ ràng Một số văn bản chưa có sửa đổi hay thay thế sau khi Luật các Tổ chức tín dụng 2010 ra đời Điển hình là Quy chế về tiết kiệm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004, và Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế về tiết kiệm tiền gửi quy định cụ thể đối với lĩnh vực tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Chính vì vậy, khi xảy ra tranh chấp thường phải áp dụng các quy định liên quan, dễ gây hiểu lầm, có thể đến gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể liên quan

Với những vấn đề nêu trên, cùng lựa chọn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là một ngân hàng thương mại lớn trên cả nước, với mạng lưới chi nhánh và số lượng khách hàng lớn, có thực tiễn huy

Trang 10

động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi phong phú nên tôi chọn đề tài “Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và thực tiễn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” để làm đề tài luận

văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, dưới góc độ pháp luật, một số nghiên cứu đã đề cập tới hoạt động huy động vốn của các NHTM như:

- Luận án Tiến sĩ Luật học: “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động

của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của tác giả Ngô Quốc Kỳ;

- Luận án “Các giao dịch thương mại chủ yếu của NHTM trong điều kiện

nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” năm 2004 của tác giả Nguyễn Văn Tuyến;

- Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về huy động vốn của NHTM – Thực

trạng và giải pháp” năm 2011 của tác giả Ma Thị Thắm, Đại học Luật Hà Nội;

Điểm lại một số công trình, bài viết có thể thấy nhiều vấn đề liên quan đến pháp luật về huy động vốn đã được đề cập Tuy nhiên, cụ thể về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và thực trạng thực thi pháp luật hiện nay kể

từ khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 về hướng dẫn mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ra đời, cũng như thực tiễn triển khai tại một NHTM cụ thể đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu Thực tế đó cho

thấy, việc nghiên cứu đề tài Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận

tiền gửi và thực tiễn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là cần thiết, hữu ích và có tính khả thi

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là hoạt động diễn ra thường nhật tại các ngân hàng thương mại, đó là giao dịch dân sự giữa ngân hàng và

Trang 11

khách hàng Tuy nhiên nhìn nhận ở góc độ pháp luật ngân hàng, đó là một trong những hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại với đối tượng đặc biệt là tiền tệ, có thể gây ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế, thị trường tài chính Mặc dù vậy nhưng pháp luật quy định đối với vấn đề này còn thiếu chặt chẽ, không điều chỉnh hết được mọi quan hệ phát sinh, nhiều bất cập trong các khâu thực hiện

Với đề tài: “Pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và

thực tiễn tại Agribank Việt Nam”, tôi đi sâu vào phân tích thực trạng pháp

luật về nhận tiền gửi hiện nay ở Việt Nam cũng như những bất cập còn tồn tại, những thiếu sót về pháp luật huy động vốn hình thức nhận tiền gửi và thực tiễn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam sau đây gọi tắt là Agribank Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Agribank

Nhằm đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đạt ra các mục tiêu cụ thể như sau:

- Phân tích pháp luật hiện hành quy định về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại NHTM ở Việt Nam;

- Nêu ra thực trạng huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại Agribank nhằm làm rõ những bất cập, vướng mắc của quy định pháp luật cũng như các qui định nội bộ của Agribank về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi;

- Qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về huy động vốn dưới hình thức tiền gửi ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả hoạt động này tại các NHTM nói chung và Agribank nói riêng

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ sau:

Trang 12

- Phân tích và làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi;

- Phân tích những quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của NHTM;

- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của NHTM và thực tiễn hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại Agribank nhằm làm rõ những bất cập cũng như nguyên nhân của thực trạng về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi;

- Qua đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của Agribank Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của NHTM, trong đó nhấn mạnh tới Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm; Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 về hướng dẫn mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Nghị định 70/2014/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một

số điều của Pháp lệnh Ngoại hối Qua đó phân tích những mặt tích cực, hạn chế của những quy phạm pháp luật này Từ đó, luận văn đánh giá được thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam và đưa ra những kiến nghị, phương hướng góp phần hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

- Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi bao gồm các quy định về: chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi, hợp đồng tiền gửi, quyền và

Trang 13

trách nhiệm của các bên, quy trình, thủ tục nhận tiền gửi, bảo hiểm tiền gửi, giải quyết tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn và tập trung phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại NHTM và thực tiễn tại Agribank, đánh giá thực trạng những quy định này dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn vận hành và so sánh với pháp luật về huy động vốn của một số quốc gia trên thế giới và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khoa học được sử dụng trong toàn bộ luận văn là phương pháp luận, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng các quy định của pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và thực tiễn áp dụng tại Agribank Việt Nam

Ngoài ra, để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận văn cũng sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, phương pháp lịch sử để làm

rõ các luận điểm nghiên cứu trong đề tài

6 Tính mới và đóng góp của đề tài

Đề tài luận văn có tính mới, thể hiện ở những điểm sau đây:

- Đề tài làm rõ hệ thống những quy phạm mới nhất được ban hành điều chỉnh về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi trong hoạt động của NHTM theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra những bất cập và hướng cần phải tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới;

- Đề tài phân tích thực tiễn thực thi những quy định pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại Agribank;

- Trên cơ sở phân tích những tồn tại, bất cập, đề tài nêu ra một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của Agribank Việt Nam

Trang 14

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo; Nội dung của Luận văn được chia làm ba chương, cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về huy động vốn dưới hình thức nhận

tiền gửi và pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

Chương 2: Thực tiễn thực thi pháp luật về huy động vốn dưới hình

thức nhận tiền gửi tại Agribank Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật huy động vốn

dưới hình thức nhận tiền gửi tại các NHTM và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank Việt Nam

Trang 15

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN DƯỚI HÌNH THỨC NHẬN TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN

DƯỚI HÌNH THỨC NHẬN TIỀN GỬI

1.1 Những vấn đề lý luận về huy động vốn dưới hình thức nhận

tiền gửi

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tiền gửi

1.1.1.1 Khái niệm tiền gửi

Thuở sơ khai (thế kỉ XVI - XVII), nghiê ̣p vu ̣ đầu tiên mà các ngân hàng thực hiê ̣n là lưu giữ bảo đảm các vâ ̣t có giá (như tài sản bằng vàng, bạc) bởi vì trong giai đoa ̣n này người dân thường lo nga ̣i về tình trạng mất mát tài sản do

an ninh hay chiến tranh Những nhà buôn cảm thấy an toàn khi gửi giữ tài sản của họ vào ngân hàng hơn là mang bên mình trên những chuyến đi dài Người chủ bảo quản phải đảm bảo trả lại chính những đồng tiền mà họ được chuyển giao để bảo quản Tất nhiên trong những điều kiện như vậy, người bảo quản không thể tiến hành các nghiệp vụ cho vay những đồng tiền nhận bảo quản

đó, và không thể thu lợi nhuận để có thể trả lợi tức cho người gửi tiền Dần dần xã hội phát triển, lúc này người gửi tiền không yêu cầu phải nhận lại chính những đồng tiền họ đã gửi, mà chỉ yêu cầu nhận tổng số tiền họ gửi, thời hạn bảo quản cũng kéo dài thêm Chính vì vậy, khi đó xuất hiện việc các nhà băng sử dụng số tiền của người gửi giữ để cho vay thu lợi tức sau đó trả lãi cho người gửi tiền Nếu như trước đó việc cho vay của các nhà băng dựa vào vốn tự có, thì bây giờ họ có thể sử dụng vốn vay mượn, đồng thời phải chú ý tới những điều kiện gửi tiền Hiện nay, thông thường người ta xem tiền gửi là số tiền do khách hàng gửi vào và để lại trong tài khoản của họ tại ngân hàng Tuy nhiên cách hiểu như vậy là chưa đầy đủ:

Trang 16

+ Đối với người gửi tiền , ý nghĩa tiền gửi phụ thuộc vào mục đích gửi của họ Có hai trường hợp sau : Thứ nhất là khách hàng mở tài khoản để sử dụng các dịch vụ, lợi ích như dịch vụ thanh toán, gửi rút tiền qua thẻ mà ngân hàng cung cấp cho họ Thứ hai là khách hàng gửi tiền để hưởng lợi ích kinh tế như gửi tiền gửi tiết kiê ̣m hoă ̣c tài khoản tiền gửi đi ̣nh kì

+ Đối với ngân hàng, tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan tro ̣ng cho hoạt động kinh doanh của mình và thông thường chiếm khoảng 50% tổng nguồn vốn – đây là mô ̣t quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm

Như vậy có nhiều quan điểm và có thể đứng trên nhiều phương diện để định nghĩa “tiền gửi” Ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một đạo luật:

Tiền gửi được coi là tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền của người gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng… hay bất cứ bằng cách nào khác; cũng thu nhập vào khoản tiền tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho người gửi [21]

Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền [26] Định nghĩa về tiền gửi của Pháp luật Việt Nam, trước đây theo Luật các TCTD 2004 sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD 1997 quy định tại khoản 20 Điều 9 định nghĩa như sau:

Trang 17

Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền

Ngoài định nghĩa tại Luật các TCTD 2004, tại Nghị định số

70/2000/NĐ-CP của Chính phủ về giữ bí mật thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản của khách hàng gửi tại các TCTD cũng đưa ra một quy định về tiền gửi như sau:

“Tiền gửi của khách hàng bao gồm tiền Đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ của các tổ chức và cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn (kể cả tiền gửi tiết kiệm) và các hình thức tiền gửi khác” Như vậy, cả hai

định nghĩa trên đều chưa rõ ràng, không nêu lên được bản chất thế nào là tiền gửi mà chỉ định nghĩa theo phương pháp liệt kê Tuy nhiên, sau khi Luật các TCTD 2010 ra đời cũng không đưa ra định nghĩa về tiền gửi

Có thể hiểu bản chất tiền gửi là khoản vay giữa một bên là người gửi tiền với một bên là các TCTD Bản chất pháp lý quan hệ tiền gửi là quan hệ vay tài sản giữa TCTD là bên đi vay và người gửi tiền là bên cho vay

1.1.1.2 Đặc điểm của tiền gửi

Hiện nay, các NHTM cung cấp cho khách hàng rất nhiều hình thức tiền gửi đa dạng nhằm thu hút nguồn vốn tiền gửi từ khách hàng gửi vào ngân hàng Tuy nhiên, về cơ bản các hình thức tiền gửi đều khác nhau về hình thức gửi rút, tính lãi, còn đặc điểm cơ bản của tiền gửi đều giống nhau, bao gồm các đặc điểm sau:

Khi khách hàng thực hiện việc gửi tiền tiết kiệm vào NHTM, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một chứng nhận về khoản tiền, có thể là sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiết kiệm (savings certificate), trái phiếu tiết kiệm (savings bonds) [21]

Trang 18

Tiền gửi phải được thanh toán khi có sự yêu cầu của khách hàng Hoạt

động nhận tiền gửi được nhìn nhận như là một nghiệp vụ kinh doanh của NHTM, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng thông qua mở cho khách hàng một tài khoản như tài khoản tiền gửi định kì (tiền gửi có kỳ hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kỳ (tiền gửi không kỳ hạn) và tài khoản tiền gửi tiết kiệm Trên thực tế, nhằm cạnh tranh thu hút người gửi tiền nên các NHTM đều cho phép người gửi tiền được rút trước hạn đối với tiền gửi có kỳ hạn với điều kiện báo trước cho NHTM ít nhất một khoảng thời gian Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì NH buộc phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng

Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác Thông thường

chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng “Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng Đây là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng

Tiền gửi là cơ sở để các NHTM phải thực hiện dự trữ bắt buộc Theo

quy định của pháp luật, khi thực hiện huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, các NHTM buộc phải trích một phần số dư tiền gửi cao hơn hoặc bằng tỷ

lệ dữ trữ bắt buộc dưới dạng tiền mặt hặc tiền gửi tại NHNN Sau khi trừ đi các khoản dự trữ, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn tiền gửi còn lại phục

vụ hoạt động kinh doanh của mình như cho vay, ngân quỹ, thanh toán, dịch

vụ Trong hoạt động kinh doanh của mình, NHTM sử dụng các khoản tiền gửi của khách hàng để cho vay hoặc đầu tư một cách khá linh hoạt Nếu như các khoản cho vay đều có thời hạn, thậm chí thời hạn có thể còn kéo dài hơn dự kiến vì đến hạn thu nợ, có thể ngân hàng vẫn không thu được nợ Trong khi

Trang 19

đó, đối với nguồn tiền gửi của khách hàng thì các ngân hàng lại rất khó khăn trong việc kiểm soát thời hạn, ngay cả khi tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng gửi tiền vẫn có thể rút tiền trước khi đến hạn; tình trạng tiền cho vay ra chưa thu hồi về nhưng khách hàng gửi tiền lại có nhu cầu rút tiền trước hạn là luôn có thể xảy ra với các NHTM Khi xảy ra trường hợp trên, ngân hàng mất khả năng thanh toán - các khoản tiền gửi ở các ngân hàng sẽ nhanh chóng “bay hơi”, không những thế nó còn làm “bay hơi” giá trị tài sản và các khoản dự trữ của ngân hàng đó và theo phản ứng dây chuyền thì rủi ro này sẽ làm chấn động toàn hệ thống ngân hàng Vì thế, các NHTM phải để dự trữ bắt buộc vì đây chính là kho dự trữ lỏng trợ giúp các ngân hàng trong thời kỳ hoảng loạn Việc bắt buộc các NHTM phải dự trữ tối thiểu lần đầu tiên được

sử dụng ở Mỹ vào năm 1913, với mục đích là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM Vào những năm 30 của thế kỷ 20, sau những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài, tỷ lệ dự trữ bắt buộc dần được sử dụng phổ biến

ở các nước khác Và lúc này, người ta nhìn nhận dự trữ bắt buộc trong một vai trò khác - là công cụ để ngân hàng trung ương (NHTƯ) các nước sử dụng

để điều tiết tiền tệ trong nền kinh tế Nói cách khác, dự trữ bắt buộc làm tăng khả năng kiểm soát của NHTƯ đối với quá trình cung ứng tiền Thông qua việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTƯ có thể tác động vào nguồn dự trữ, thay đổi vốn khả dụng của các ngân hàng để làm thay đổi tiềm năng tín dụng của các ngân hàng nhưng NHTƯ không phải là người quyết định việc sử dụng các tiềm năng ấy [25]

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

1.1.2.1 Khái niệm

NHTM với chức năng là trung gian tài chính của nền kinh tế, trung

Trang 20

gian giữa những người có đồng tiền nhàn rỗi với những người có nhu cầu sử dụng vốn, nhận tiền gửi là hoạt động sơ khai từ khi hình thành và cũng là hoạt động xương sống của các NHTM Qua lịch sử hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động huy động vốn của các NHTM ngày càng phát triển với nhiều hình thức nhận tiền gửi phong phú và

đa dạng Trong đó nguồn vốn huy động dưới hình thức nhận tiền gửi được được coi là nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM Từ nguồn vốn huy động được, các NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như thanh toán, cho vay lại cho những người cần vốn qua đó cũng góp phần giảm bớt hạn chế của tín dụng trực tiếp

Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là giao dịch thương mại phát sinh giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, theo đó NHTM đồng ý vay của người gửi tiền một khoản tiền nhất định để làm vốn kinh doanh và cam kết hoàn trả số tiền đó cho người gửi tiền vào một thời điểm nhất định kèm theo một khoản lãi do hai bên thỏa thuận

Dưới góc độ kinh tế, huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi được xem như một kênh huy động vốn của NHTM Hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của NHTM và khách hàng là hoạt động tiếp nhận các khoản tiền gửi của khách hàng thông qua việc mở các tài khoản như tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi tiết kiệm Việc NHTM mở những tài khoản tiền gửi này cho khách hàng theo đó phản ánh dòng tiền chuyển từ các tổ chức, cá nhân cho vay (người gửi tiền) sang cho NHTM để sử dụng vào hoạt động kinh doanh Trong cấu trúc tài sản của NHTM thì tiền gửi tiết kiệm được coi là một phần thuộc khối tài sản nợ của NHTM, vì đến hạn thì NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền đó cho chủ nợ là người gửi tiền [37]

Dưới góc độ pháp lý, huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi được

Trang 21

coi là mối quan hệ pháp luật phát sinh giữa NHTM (với tư cách là bên nhận tiền gửi) với khách hàng (với tư cách là bên gửi tiền) Quan hệ pháp luật này có bản chất là một quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, theo đó mỗi bên có quyền, nghĩa vụ pháp lý nhất định đối với nhau phát sinh trên cơ sở pháp luật và thỏa thuận Giao dịch nhận tiền gửi của NHTM thực chất là cam kết song phương giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua giao kết hợp đồng tiền gửi Giai đoạn đầu của hoạt động ngân hàng, hợp đồng này chỉ đơn thuần là hợp đồng dịch vụ gửi giữ tài sản, theo đó ngân hàng đóng vai trò là bên nhận gửi giữ để nhận được tiền thù lao Về sau do nhu cầu khách hàng, giữa ngân hàng và khách hàng gửi tiền có thêm điều khoản thỏa thuận về việc cho phép ngân hàng nhận tiền gửi được quyền sử dụng số tiền gửi đó vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, với điều kiện phải hoàn trả cho người gửi tiền toàn bộ số vốn đã sử dụng, kèm theo một khoản tiền lãi nhất định tùy thuộc vào thời hạn mà ngân hàng được quyền sử dụng số tiền gửi đó

Hầu hết các quốc gia trên thế giới, pháp luật đều có những quy định dành cho loại hình giao dịch nhận tiền gửi, với ý nghĩa như một loại hình giao dịch thương mại chủ yếu của các ngân hàng Nhìn chung, những quy định về giao dịch nhận tiền gửi ở các nước đều ghi nhận trước tiên trong các đạo luật

về ngân hàng và sau đó có thể được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật Ví dụ: khoản 1 Điều 3 Luật ngân hàng thương mại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định các NHTM được “nhận tiền gửi từ công cộng” như một loại hình hoạt động kinh doanh ngân hàng; điểm 1 khoản 1 tiết 1 của Luật về ngành tín dụng Cộng hòa liên bang Đức quy định các tổ chức tín dụng được quyền huy động tiền của khách hàng dưới hình thức tiền gửi có trả lãi hoặc không có lãi; khoản 2 Điều 11.1 Luật Ngân hàng Ba Lan quy định các ngân hàng được phép thực hiện hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn; điểm (i) mục 2 phần mở đầu của Luật các định chế tài chính và ngân

Trang 22

hàng là nhận tiền gửi trên tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm hoặc một tài khoản tương tự khác [18]

Pháp luật Việt Nam quy định hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi trong nhiều văn bản nhưng văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất

là Luật các TCTD Giao dịch nhận tiền gửi không được định nghĩa trong Luật các TCTD 1997, Luật các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004 Luật này chỉ đề cập đến khái niệm tiền gửi là gì Hiện nay Luật các TCTD năm 2010 đã có hiệu lực thay thế các luật cũ đã định nghĩa khái niệm nhận tiền gửi tại khoản

13 Điều 4 như sau:

Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận [30, Điều 4]

Trước đây, luật các TCTD 2004 có một phần quy định riêng về huy động vốn của các TCTD gồm nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD, vay vốn của ngân hàng nhà nước Như vậy, so với quy định trước đây, luật các TCTD 2010 đã gộp chung hoạt động nhận tiền gửi và phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu vào thành khái niệm “nhận tiền gửi”

Tóm lại dựa theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, khái niệm

“giao dịch nhận tiền gửi” được hiểu là ngân hàng thực hiện hoạt động huy động vốn thông qua việc nhận tiền của các tổ chức, cá nhân vào NHTM dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho người gửi tiền theo quy định pháp luật

1.1.2.2 Đặc điểm

Hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của NHTM có những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 23

- Về chủ thể: quan hệ tiền gửi gồm hai chủ thể đặc trưng là NHTM và người gửi tiền NHTM được pháp luật cho phép thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi của công chúng Người gửi tiền là cá nhân, tổ chức trong xã hội có nguồn tiền nhàn rỗi chưa dùng đến và có nhu cầu gửi tiền để đầu tư kiếm lời

- Về mục đích giao dịch: cả hai chủ thể đều hướng tới mục đích nhất định NHTM nhận tiền gửi để huy động vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình như việc cấp tín dụng hoặc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng Với người gửi tiền, mục đích gửi tiền để đảm bảo an toàn cho tiền vốn (tiền gửi khi gửi vào NHTM sẽ được trông giữ, bảo quản hộ) vừa để đồng vốn sinh lời khi chưa có nhu cầu sử dụng hoặc để hưởng những tiện ích do NHTM cung ứng như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền… Người gửi tiền có thể hướng tới một hoặc tất cả các mục đích trên, và mục đích của họ thể hiện rõ nhất thông qua hình thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà

họ lựa chọn

- Về thủ tục xác lập và thực hiện giao dịch: huy động tiền gửi tiết kiệm thường được thực hiện với thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện, ít tốn kém cho khách hàng gửi tiền Giao dịch nhận tiền gửi của NHTM được hiểu

là cam kết song phương giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi Giao dịch nhận tiền gửi đã được nhìn nhận là hành vi vay tiền của NHTM với cam kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi đó cùng với nghĩa vụ hoàn trả cả lãi và gốc cho người gửi tiền Việc ngân hàng giữ các khoản tiền gửi này cho khách hàng không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao (như giai đoạn khởi thuỷ của hoạt động ngân hàng) mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi vay của NHTM từ nền kinh tế

- Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là hình thức huy động vốn quan trọng nhất của các NHTM Tùy thuộc vào mục đích mà các tổ chức,

Trang 24

cá nhân có thể gửi tiền dưới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có

kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác Căn cứ vào các hình thức gửi tiền mà các NHTM phải hoàn trả đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận

Tiền gửi tiết kiệm có nhiều loại như tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn…

và có lãi suất đa dạng, phù hợp với thi trường nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của người dân Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được gửi và rút ra bất kỳ lúc nào, ngân hàng sẽ trả lãi theo số dư bình quân hàng tháng nhân với lãi suất Lãi được nhập vào gốc hàng tháng Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được rút ra khi đến hạn (cả gốc lẫn lãi) Nếu đến hạn, người gửi không có nhu cầu sử dụng thì ngân hàng tự động nhập lãi vào gốc và tiếp tục được hưởng lãi kỳ tiếp theo Khách hàng có nhu cầu rút ra trước hạn có thể được hưởng lãi suất không kỳ hạn Người gửi tiền tiết kiệm không được sử dụng séc và các dịch

vụ ngân hàng từ số tiền trên tài khoản này

Tiền gửi khác: Ngoài tiền gửi trên, các NHTM còn có các loại tiền gửi khác như: Tiền gửi của kho bạc Nhà nước; Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác; Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội khác

1.1.2.3 Bản chất của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

Nhìn nhận trên góc độ pháp lý và kinh tế có nhiều quan niệm khác nhau

về bản chất của hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tựu chung lại bản chất của hình thức nhận tiền gửi bao gồm các điểm như sau:

Thứ nhất, huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là hoạt động đi vay của ngân hàng từ khách hàng Quan hệ thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thỏa thuận giữa hai bên Nhận tiền gửi là một hợp đồng cho vay chứ không phải là hợp đồng gửi giữ tài sản như sơ khai của lịch sử ngân hàng Với bản chất là hợp đồng cho vay, bên cho vay là người gửi tiền

có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu số tiền gửi cho ngân hàng nhận tiền

Trang 25

gửi để từ đó xác lập quyền chủ nợ của mình đối với ngân hàng (quyền yêu cầu ngân hàng hoàn trả cho mình cả vốn gốc và lãi tiền gửi) Như vậy có thể nói trong suốt thời gian gửi tiền ở ngân hàng thì quyền sở hữu số tiền gửi thuộc về ngân hàng chứ không thuộc về bên gửi tiền Chính vì ngân hàng có

tư cách là chủ sở hữu số tiền gửi của khách hàng nên có toàn quyền quyết định việc sử dụng số tiền đó để cho tổ chức, cá nhân vay lại theo ý mình mà không cần phải hỏi ý kiến của khách hàng Ngược lại, vì không còn là chủ sở hữu của số tiền gửi trong thời gian gửi tiền nên người gửi tiền không thể định đoạt số tiền đó theo ý mình, mà chỉ có thể yêu cầu ngân hàng hoàn trả tiền gửi cho mình cả gốc và lãi theo thỏa thuận với tư cách là chủ nợ của ngân hàng

Thứ hai, chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi bao gồm bên nhận tiền gửi (bên vay) là tổ chức tín dụng, với tư cách là những chủ thể được phép kinh doanh ngân hàng theo giấy phép của Nhà nước Còn bên gửi tiền (bên cho vay) là tổ chức, cá nhân có tiền nhàn rỗi và có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng

để bảo đảm an toàn tài sản và hưởng lãi tiền gửi

Thứ ba, hình thức của quan hệ tiền gửi là hợp đồng tiền gửi (hợp đồng vay tiền) giữa NHTM với khách hàng Thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm là bằng chứng pháp lý ghi nhận việc cho vay giữa người gửi tiền với ngân hàng nhận tiền gửi và ghi nhận đầy đủ quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên đối với nhau trong hợp đồng tiền gửi Trên thực tế, do thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm thường được quan niệm như là một loại giấy tờ có giá nên khách hàng gửi tiền với tư cách là người sở hữu giấy tờ có giá có thể đem chính thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm đó để đảm bảo cho các nghĩa vụ tài sản của mình hoặc của người khác đối với bên có quyền

Xét về bản chất, thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm là bằng chứng pháp lý xác nhận quyền chủ nợ của người gửi tiền (người sở hữu thẻ tiết kiệm) đối với ngân hàng nhận tiền gửi (giống như người sở hữu trái phiếu hay các

Trang 26

chứng khoán nợ khác), chứ không phải là “chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền gửi” – theo như cách định nghĩa của nhà làm luật Việt Nam hiện nay [37]

1.1.3 Nguyên tắc của huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định:

Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận [30, Điều 4, khoản 13]

Như vậy, trên phương diện pháp lý thì “quan hệ tiền gửi” là quan hệ phát sinh giữa một bên là tổ chức, cá nhân gửi tiền với bên kia là tổ chức được phép nhận tiền gửi Xét về bản chất, quan hệ tiền gửi là một quan hệ hợp đồng vay nợ, bởi:

- Quan hệ này được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thỏa thuận giữa các chủ thể;

- Có sự chuyển giao một số tiền nhất định từ người gửi tiền sang tổ chức nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng Sau đó, tổ chức nhận tiền gửi có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi (nếu có) khi đến hạn hoặc khi người gửi tiền có yêu cầu;

- Quan hệ gửi tiền phát sinh trên cơ sở có sự tín nhiệm giữa các bên

1.2 Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh mối quan hệ huy động

Trang 27

vốn của các tổ chức tín dụng dưới hình thức nhận tiền gửi từ nền kinh tế nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Thông qua các quy định của pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, Nhà nước có thể tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của NHTM bằng cách tạo ra các điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát bằng những quy định lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định về bảo hiểm tiền gửi… Mặt khác, pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi điều chỉnh quan hệ huy động vốn đặc biệt giữa các tổ chức tín dụng với người gửi tiền là hình thức nhận tiền gửi để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể tham gia trong hoạt động huy động vốn của NHTM đặc biệt là khách hàng

Quan hệ huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi bản chất là quan hệ vay nợ giữa các tổ chức tín dụng và tổ chức, cá nhân trong xã hội Mối quan hệ vay nợ bản chất đã là một mối quan hệ phức tạp trong xã hội Dưới phương diện kinh tế cũng như dưới phương diện pháp luật, hoạt động vay nợ giữa tổ chức, cá nhân với các NHTM lại càng là mối quan hệ phức tạp, có tầm ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế, xã hội bởi đặc thù hoạt động và vai trò của các NHTM

Hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng đối với nghiệp vụ ngân hàng Huy động vốn quyết định đến hiệu quả trong các hoạt động khác của ngân hàng: cho vay cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán và ngược lại Mặt khác, huy động vốn cũng như hoạt động kinh doanh khác của NHTM có mối quan hệ tương quan, mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới hoạt động chung của NHTM Chính vì vậy, pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi điều chỉnh quan hệ tiền gửi (đi vay) của NHTM đối với người gửi tiền, cũng như chủ thể được phép tham gia mối quan hệ này, quyền lợi và nghĩa vụ các bên, cũng như quy trình thủ tục, hợp đồng tiền

Trang 28

gửi, bảo hiểm tiền gửi Nhằm đảm bảo điều chỉnh, quản lý chặt chẽ mỗi quan hệ nhạy cảm đối với nền kinh tế, cũng như đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền khi tham gia quan hệ cho vay với các NHTM là định chế tài chính lớn trong nền kinh tế

Hiện nay, hệ thống pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi có điều chỉnh của luật dân sự bởi bản chất của quan hệ tiền gửi là quan hệ cho vay giữa NHTM và khách hàng Ngoài ra, do một bên chủ thể là các NHTM do đó, pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi cũng được luật ngân hàng điều chỉnh Cùng với đó hoạt động này luôn tiềm ẩn sự bất ổn và nhiều rủi ro Chính vì vậy mà Nhà nước luôn đảm bảo sự hoạt động,

an toàn, bình ổn của nền kinh tế Do đó, công cụ bằng pháp luật của Nhà nước chính là phương pháp quản lý chặt chẽ, đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, tránh những hiệu ứng dây chuyền có thể xảy ra và bảo vệ lợi ích của các bên và nền kinh tế Cụ thể:

- Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:

Qua các quy định pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Với việc đưa những quy định về lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định về bảo hiểm tiền gửi, quy định về điều kiện vay vốn NHNN… Nhà nước sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của các TCTD nói chung và NHTM nói riêng bằng cách tạo ra các điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế cho huy động vốn của các NHTM

- Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của ngân hàng Hoạt động chủ yếu của các NHTM là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Do đó hoạt động NHTM rất nhạy cảm, chứa đựng nguy cơ rủi ro cao và dễ bị ảnh hưởng bởi các biến động kinh tế, chính trị và

xã hội Khi một ngân hàng gặp rủi ro sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng

Trang 29

thanh toán hoặc có thể bị phá sản Ngay lập tức, rủi ro của ngân hàng này sẽ trở thành rủi ro của các ngân hàng khác do yếu tố tâm lý của số đông người gửi tiền Khi đó niềm tin vào hệ thống ngân hàng bị giảm sút, người gửi tiền

có xu hướng rút tiền gửi hàng loạt tại ngân hàng Ngoài ra, các ngân hàng còn

có quan hệ khăng khít với nhau trên thị trường liên ngân hàng thông qua các hoạt động: vay vốn, thanh toán hộ Vì vậy khi một ngân hàng gặp sự cố về khả năng chi trả, các ngân hàng còn lại có nguy cơ đối mặt với hàng loạt khó khăn như mất vốn, mất đối tác kinh doanh dẫn đến việc triển khai các nghiệp

vụ kinh doanh trong ngân hàng bị ách tắc, không hiệu quả

Để hạn chế rủi ro có thể phát sinh và những ảnh hưởng tiêu cực mang tính dây chuyền nêu trên, nhiều biện pháp có thể được khai thác, trong đó, có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động của ngân hàng Theo

đó, pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi đưa hoạt động của các ngân hàng vào khuôn khổ, chuẩn mực nhất định và quy định những cơ chế kiểm tra, giám sát đặc biệt đối với các hoạt động này

- Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền

So sánh giữa hai bên tham gia quan hệ tiền gửi là NHTM và người gửi tiền Một bên là cá nhân, tổ chức thông thường, một bên là định chế tài chính lớn Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, pháp luật thường quy định

cụ thể về vốn điều lệ, vốn pháp định và quy mô vốn huy động của các NHTM

Từ đó, củng cố niềm tin cho cộng đồng người gửi tiền, khuyến khích các tổ chức, cá nhân gửi tiền hoặc cho các ngân hàng vay và ngân hàng nhờ đó có thể huy động vốn cho nền kinh tế, phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước Ngược lại, nếu tiền gửi không được bảo vệ thỏa đáng, người gửi tiền có xu hướng rút tiền khỏi thị trường tiền tệ để đầu tư sang thị trường khác Nguồn tiền gửi tại các ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì thế cũng bị bó hẹp

Trang 30

Qua đó, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM mà cụ thể

là điều chỉnh hoạt động huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi của các NHTM luôn cần được điều chỉnh bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng

1.2.2 Nội dung pháp luật về huy động dưới hình thức nhận tiền gửi

Để điều chỉnh quan hệ tiền gửi một cách hiệu quả, pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản:

- Các quy định về chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi của NHTM Sự cần thiết của việc quy định nội dung này của pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là do về bản chất, quan hệ tiền gửi là đối tượng điều chỉnh của pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, trong khi đó quan hệ xã hội này chỉ phát sinh giữa các chủ thể nhất định gồm bên nhận tiền gửi và bên gửi tiền

- Các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi của NHTM Trong quá trình điều chỉnh bằng pháp luật với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi nói riêng, việc yêu cầu tuân thủ và đảm bảo thực thi pháp luật được đặt lên hàng đầu, và để thực hiện tốt việc này thì quy định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ này là điều cần thiết, giúp cho pháp luật được tuân thủ một cách triệt để hơn

- Các quy định về thủ tục nhận tiền gửi của NHTM Để xác lập và thực hiện các giao dịch nhận tiền gửi, ngoài các quy định cụ thể của mỗi NHTM (quy định mang tính quy trình nghiệp vụ) thì pháp luật cần có những quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục nhận tiền gửi Trên cơ sở các quy định chung trên, từng NHTM có căn cứ pháp lý để cụ thể hóa thành những quy định riêng mang tính quy tắc nội bộ của mỗi ngân hàng mình

- Các quy định về hợp đồng tiền gửi Đây là quy định không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi Việc

Trang 31

xác lập mối quan hệ giữa NHTM với khách hàng trong giao dịch nhận tiền gửi được thực hiện qua hợp đồng tiền gửi, đây là bằng chứng pháp lý để chứng minh quan hệ này được pháp luật thừa nhận Trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng thì có cơ sở để thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện tại cơ quan giải quyết tranh chấp

- Các quy định về bảo hiểm tiền gửi NHTM huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi phải thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn cho nguồn vốn huy động từ nền kinh tế, như vậy mới tạo lòng tin cho người gửi tiền Hiện nay nhà nước đã ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 để điều về vấn đề này

Nhìn chung các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành quy định về hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của các TCTD là tương đối đầy đủ và chặt chẽ, cụ thể hóa được các nội dung như: các loại tiền gửi

mà TCTD được phép huy động; giới hạn quyền được nhận các loại tiền gửi đối với từng loại hình TCTD; quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tiền gửi; quy định trách nhiệm của TCTD khi huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi; quy định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi… Không những vậy, pháp luật hiện hành đã thống nhất quy định áp dụng đối với các loại tiền gửi tiết kiệm trong một văn bản thay vì vấn đề này từng quy định tản mát trong nhiều văn bản như trước đây Việc hợp nhất các quy chế pháp lý này là cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM nghiên cứu, tham chiếu và áp dụng trong thực

tế Ngoài ra, pháp luật cũng bổ sung quy định mới về điều kiện gửi tiền, hình thức gửi tiền, thủ tục gửi tiền… phù hợp với điều kiện thực tiễn áp dụng

Về hệ thống quy phạm pháp luật quy định hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi:

Ngoài các quy định luật chung như Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Lao động 2012, các văn bản luật riêng như Luật các Tổ chức tín dụng 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Pháp lệnh ngoại hối 2006, Pháp lệnh sửa đổi, bổ

Trang 32

sung Pháp lệnh ngoại hối 2013, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước còn ban hành một số văn bản pháp quy như Nghị định, Thông tư liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến loại hình giao dịch nhận tiền gửi hướng dẫn thi hành chi tiết như: Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Thông tư 23/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Nghị định 68/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/6/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi; Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một

số điều của Pháp lệnh Ngoại hối; Thông tư 16/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn sử dụng tài khoản ngoại tệ, tài khoản đồng Việt Nam của người cư trú và người không cư trú tại ngân hàng được phép; Thông tư 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định 96/2014/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng …

Như vậy về cơ bản Nhà nước đã thiết lập được một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho NHTM tiến hành hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi trong khuôn khổ của pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các NHTM trong tiến trình hội nhập Đồng thời pháp luật cũng hướng tới quyền lợi của mọi người dân, đáp ứng tốt hơn nhu cầu gửi tiền và sử dụng các dịch vụ ngân hàng, lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp với mục đích và yêu cầu của họ, tạo niệm tin cho người gửi tiền; tạo ra

cơ sở pháp lý cho NHNN thực hiện chức năng quản lý của mình đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Tuy nhiên, pháp luật về huy động vốn vẫn còn một số hạn chế cần được hoàn thiện hơn

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tại NHTM ở Việt Nam có thể đưa ra một số kết luận sau:

- Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi điều chỉnh quan hệ tiền gửi (đi vay) của NHTM đối với khách hàng (người gửi tiền), cũng như đảm bảo quyền lợi cho người dân khi tham gia quan hệ cho vay với các NHTM là định chế tài chính lớn trong nền kinh tế

- Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản:

+ Các quy định về chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi của NHTM Sự cần thiết của việc quy định nội dung này của pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi là do về bản chất quan hệ tiền gửi là đối tượng điều chỉnh của pháp luật huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, trong khi đó quan hệ xã hội này chỉ phát sinh giữa các chủ thể nhất định gồm bên nhận tiền gửi và bên gửi tiền

+ Các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ tiền gửi của NHTM Trong quá trình điều chỉnh bằng pháp luật với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi nói riêng, việc yêu cầu tuân thủ và đảm bảo thực thi pháp luật được đặt lên hàng đầu, và để thực hiện tốt việc này thì quy định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ này là điều cần thiết, giúp cho pháp luật được tuân thủ một cách triệt để hơn

+ Các quy định về thủ tục nhận tiền gửi của NHTM Để xác lập và thực hiện các giao dịch nhận tiền gửi, ngoài các quy định cụ thể của mỗi NHTM (quy định mang tính quy trình nghiệp vụ) thì pháp luật cần có những quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục nhận tiền gửi Trên cơ sở các quy định chung

Trang 34

trên, từng NHTM có căn cứ pháp lý để cụ thể hóa thành những quy định riêng mang tính quy tắc nội bộ của mỗi ngân hàng mình

+ Các quy định về hợp đồng tiền gửi Đây là quy định không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi Việc xác lập mối quan hệ giữa NHTM với khách hàng trong giao dịch nhận tiền gửi được thực hiện qua hợp đồng tiền gửi, đây là bằng chứng pháp lý để chứng minh quan hệ này được pháp luật thừa nhận Trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng thì có cơ sở để thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện tại cơ quan giải quyết tranh chấp

+ Các quy định về bảo hiểm tiền gửi NHTM huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi thì phải thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn cho nguồn vốn huy động từ nền kinh tế, như vậy mới tạo lòng tin cho người gửi tiền, và hiện nay nhà nước đã ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 để điều chỉnh vấn đề này

Trang 35

 Bên nhận tiền gửi:

Điều 2 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN quy định bên nhận tiền gửi là các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng Các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng được pháp luật cho phép nhận tiền gửi tiết kiệm Trong quan hệ này có thể coi TCTD nhận tiền gửi là bên đi vay Để tham gia quan hệ này, TCTD phải thỏa mãn một số điều kiện do pháp luật quy định như:

- Có giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng;

- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trong đó ghi rõ loại hình nghiệp vụ huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi);

- Có điều lệ được chuẩn y;

- Có người đại diện hợp pháp để thay mặt TCTD tham gia vào quan hệ giao dịch với khách hàng

* Bên gửi tiền:

Là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài có nhu cầu gửi tiền Để tham gia vào giao dịch gửi tiền tại ngân hàng, bên gửi tiền cũng phải thỏa

Trang 36

mãn một số điều kiện nhất định Trong đó điều kiện cơ bản là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia giao dịch và tự chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình

Tùy vào từng hình thức gửi tiền và loại tiền mà phạm vi chủ thể gửi tiền được quy định khác nhau

• Đối với hình thức tiền gửi tiết kiệm:

- Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam: đối tượng gửi tiền tiết kiệm chỉ có thể là cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (khoản 1 Điều 3 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004)

- Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ: khoản 2 Điều 3 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 quy định đối tượng được tham gia gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là cá nhân cư trú tại Việt Nam Tuy nhiên, khoản 2 Điều 13 Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh ngoại hối và khoản

14 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh ngoại hối 06/2013 quy định đối tượng được sử dụng ngoại tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm ngoại tệ tại TCTD được phép chỉ là “công dân Việt Nam” Như vậy, Pháp lệnh ngoại hối 2013 và Nghị định 70/NĐ-CP mới đây đã quy định mâu thuẫn

so với Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN về đối tượng được tham gia gửi tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ, điều này gây khó khăn cho các NHTM trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ Người nước ngoài nếu có nhu cầu gửi ngoại tệ thì nộp ngoại tệ tiền mặt vào ngân hàng theo hình thức sử dụng dịch vụ giữ hộ và khách hàng phải nộp lệ phí cho dịch vụ này

• Đối với tiền gửi thanh toán:

Theo quy định tại Điều 11 Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014

Trang 37

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCTD, đối với tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam thì đối tượng được mở và sử dụng tài khoản tiền gửi là:

1 Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:

a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong việc mở tài khoản thanh toán;

c) Người chưa đủ 15 tuổi, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không thuộc đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật

2 Tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể và các tổ chức khác được mở tài khoản tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật

Như vậy Thông tư 23/2014/TT-NHNN trên đã có sự chỉnh sửa so với quy định cũ của Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN ngày 21/11/2002 ban hành Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi, theo quy định cũ tại điểm

a khoản 2 Điều 2: “đối với người chưa thành niên, mọi thủ tục và sử dụng

tài khoản tiền gửi phải thực hiện thông qua giám hộ, người đại diện theo pháp luật” phù hợp với Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Lao động 2012 và

thực tế hiện nay

Trang 38

Tuy nhiên, quy định tại Điều 10 Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt cũng quy định mở tài khoản

thanh toán cho cá nhân và tổ chức không phải là TCTD vẫn nêu “Đối với

người chưa thành niên, khi mở tài khoản thanh toán phải có người giám hộ theo quy định của Pháp luật” Như vậy, vẫn có sự mâu thuẫn trong việc quy

định về khả năng mở tài khoản thanh toán của các cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

- Đối với tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ: khoản 14 Điều 1 Pháp

lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ngoại hối 2013 quy định “Người cư trú,

người không cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc sử dụng tài khoản ngoại

tệ của các đối tượng quy định tại khoản này” Như vậy, so với mở tiền gửi

tiết kiệm thì đối tượng được mở tài khoản thanh toán có thêm người nước ngoài cư trú tại Việt Nam trên 12 tháng Điều này mở rộng cơ chế hơn cho người nước ngoài tại Việt Nam nhằm phục vụ hoạt động làm việc, sinh sống tại Việt Nam

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên gửi tiền

Ứng với mỗi loại tiền gửi khác nhau, pháp luật lại đưa ra những quy định khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Vì vậy, các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này cũng nằm trong nhiều văn bản khác nhau Ví dụ như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tiền gửi tiết kiệm được quy định trong Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 (Từ Điều 24 – Điều 27) Còn đối với tiền gửi thanh toán thì quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được quy định trong Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (Điều 4,5) Qua việc nghiên cứu các quy định trên, có thể khái quát một số quyền và nghĩa vụ của bên gửi tiền như sau:

Trang 39

Việc mở tài khoản tiền gửi ở NHTM làm phát sinh tư cách chủ tài khoản cho khách hàng Quan hệ tiền gửi được thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng Bản chất của quan hệ này là quan hệ vay tài sản Vậy nên hợp đồng tiền gửi phát sinh hậu quả pháp lý làm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản là số tiền từ bên cho vay (khách hàng) sang bên vay (ngân hàng) Bên cho vay sẽ có quyền chủ nợ đối với bên vay, lúc này ngân hàng có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản tiền gửi hợp pháp, hợp lệ Khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng phải hoàn trả cho mình số tiền vay và khoản lãi như đã thỏa thuận Ngoài ra, đối với tiền gửi thanh toán, khách hàng còn có quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện các giao dịch thanh toán đối với người thứ ba thông qua ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thanh toán bằng thẻ ngân hàng…

Khi thực hiện giao dịch gửi tiền, khách hàng không chỉ nhằm mục đích tiếp tục duy trì quyền sở hữu đối với số tiền gửi đó mà họ còn muốn sử dụng

số tiền nhàn rỗi một cách hiệu quả nhất và đem lại nhiều lợi ích nhất Vậy nên khách hàng đem gửi tiền để thu lại khoản lãi trên số tiền gửi đó theo các kỳ hạn cụ thể và hưởng các dịch vụ của ngân hàng Đổi lại, họ phải chấp nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với số tiền gửi đó cho ngân hàng Trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận để nhận

về cho mình quyền năng mới, đó là quyền năng chủ nợ

Về quyền chủ nợ của người gửi tiền, trước hết cần xác định rằng chứng thư gửi tiền là bằng chứng xác định tư cách chủ nợ theo phạm vi số tiền gửi Do bản chất là hợp đồng vay nợ, khách hàng gửi tiền là bên cho vay

và “bên vay (ngân hàng) trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” (Điều 472 BLDS), khách hàng được nhận quyền chủ nợ với bằng chứng xác lập tư cách chủ nợ là chứng thư gửi tiền của ngân hàng phát hành (thẻ tiết kiệm, phiếu nhận nợ, sec ) Với tư cách chủ nợ, khách hàng

Trang 40

không có quyền can dự vào việc sử dụng đồng tiền đã gửi vào ngân hàng, nhưng có thể dùng quyền chủ nợ để tham gia một số giao dịch dân sự khác theo loại hình tiền gửi của hợp đồng tiền gửi, được đòi nợ hoặc nhận tiện ích theo thoả thuận với ngân hàng

Để đảm bảo việc hưởng quyền lợi thì khách hàng cũng phải thực hiện các nghĩa vụ như: thực hiện các quy định thông báo trước về yêu cầu rút tiền trước thời hạn, thông báo kịp thời việc mất thẻ,… Đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản để thực hiện các lệnh thanh toán đã lập Bên cạnh đó, khách hàng cũng phải chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình Không được cho thuê, mượn tài khoản hoặc sử dụng tài khoản của mình cho các giao dịch bất hợp pháp

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khách hàng gửi tiền có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:

- Được hưởng lãi suất theo quy định của NHTM nơi giao dịch; Mức lãi suất do NHTM ấn định và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật

- Được ngân hàng bảo hiểm tiền gửi bằng Đồng Việt Nam theo quy định của Nhà nước (trừ giấy tờ có giá vô danh);

- Được cấp sổ tiền gửi, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá và toàn quyền sử dụng tiền gửi, giấy tờ có giá của mình để thực hiện quyền tài sản theo luật định;

- Được rút tiền theo yêu cầu trong phạm vi nguồn tiền gửi của mình (kể cả bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt);

- Được hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo từng thể thức gửi đã thỏa thuận với ngân hàng;

- Được giữ bí mật và bảo vệ quyền lợi theo quy định của pháp luật;

- Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, sổ tiền gửi, giấy tờ có giá

do ngân hàng phát hành được chiết khấu, cầm cố vay vốn theo chế độ hiện hành của ngân hàng;

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w