Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội” với mong muốn xây dựng được một số bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
ĐỖ THỊ HIẾU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TIẾNG ANH
CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Kim Thoa
HÀ NỘI - 2009
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
9 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TIẾNG ANH 8
1.1 Lý luận chung về quản lý giáo dục 8
1.1.1 Khái niệm quản lý - Chức năng quản lý 8
1.1.2 Quản lý nhà trường 13
1.2 Quản lý hoạt động dạy học 15
1.2.1 Khái niệm dạy học 15
1.2.2 Mối quan hệ giữa dạy và học 16
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học 17
1.3 Quản lý hoạt động tự học 19
1.3.1 Khái niệm tự học 19
1.3.2 Các hình thức tự học 21
1.3.3 Quản lý hoạt động tự học 22
1.3.4 Đặc điểm hoạt động học ngoại ngữ 25
Kết luận chương 1 27
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TIẾNG ANH CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI 28
2.1 Khái quát về Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội 28
Trang 32.2 Thực trạng hoạt động dạy học và hoạt động tự học tiếng Anh ở
Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội
34
2.2.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh của giảng viên 36 2.2.2 Thực trạng hoạt động tự học môn tiếng Anh của học viên 38 2.2.3 Nhận xét chung về kết quả điều tra thực trạng hoạt động tự học
tiếng Anh của học viên Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội 46 2.3 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Đại học
Văn hóa - Nghệ thuật quân đội 47 2.3.1 Thực trạng giáo dục ý thức nghề nghiệp, nâng cao nhận thức về
tự học, xây dựng động tự học cho học viên 47 2.3.2 Thực trạng xây dựng bầu không khí học ngoại ngữ tích cực 49 2.3.3 Thực trạng quản lý việc xây dựng và hình thành kỹ năng tự học
của học viên 50 2.3.4 Thực trạng việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học tiếng
Anh của học viên 52 2.3.5 Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự
học của học viên 53 2.3.6 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện - kỹ
thuật phục vụ cho học tập trên lớp và tự học 55 Kết luận chương 2 59 Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TIẾNG
ANH CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA NGHỆ
THUẬT QUÂN ĐỘI 60 3.1 Nhóm biện pháp về đổi mới quản lý hoạt động giảng dạy của giảng
viên 60 3.1.1 Đổi mới quản lý nội dung phương pháp, hình thức tổ chức dạy học 60 3.1.2 Đổi mới quản lý xây dựng kế hoạch giảng dạy 61 3.2 Nhóm biện pháp về cải tiến quản lý hoạt động tự học tiếng Anh
của học viên 62 3.2.1 Tăng cường giáo dục ý thức nghề nghiệp, động cơ, thái độ học
Trang 4tập, nâng cao nhận thức về vai trò tự học 62
3.2.2 Bồi dưỡng phương pháp tự học tích cực cho học viên 64
3.2.3 Tăng cường kiểm tra hoạt động tự học của học viên 65
3.2.4 Kiểm tra việc đọc sách và tài liệu tham khảo của học viên 67
3.3 Nhóm biện pháp về cải tiến quản lý kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học viên nhằm kích thích HV tự học, tự nghiên cứu 68
3.3.1 Vận dụng nhiều hình thức kiểm tra đánh giá 68
3.3.2 Áp dụng công nghệ tin học trong quản lý hoạt động tự học 70
3.4 Nhóm biện pháp về cải tiến quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tự học 71
3.4.1 Tăng cường và sử dụng có hiệu quả trang thiết bị tự học tiếng Anh 71
3.4.2 Củng cố và nâng cấp thư viện 71
3.5 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp quản lý 72
3.6 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Khuyến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 5- khóa VIII đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là cho sinh viên đại học" [2]
Trong quá trình dạy học, 3 thành tố: khái niệm khoa học, dạy và học có quan hệ biện chứng với nhau Học viên vừa là đối tượng tác động của quá trình dạy học, lại vừa là chủ thể của quá trình này Mỗi học viên tự hình thành và phát triển nhân cách của mình nhờ hoạt động học tập của chính họ mà không ai có thể làm thay được, cho dù trong dạy học có sự điều khiển, hướng dẫn, trợ giúp của giảng viên Học viên chỉ thực sự học khi tự họ chiếm lĩnh khái niệm khoa học và tự họ điều chỉnh quá trình lĩnh hội này cho phù hợp với bản thân mình Như vậy, có thể khẳng định rằng mọi quá trình học đều là quá trình tự học, dạy chỉ nhằm kích thích, định hướng và giảm nhẹ khó khăn của quá trình học (tự học) Mục tiêu của quá trình dạy học cũng là mục tiêu của hoạt động tự học Tự học không chỉ là con đường tạo ra tri thức bền vững cho học viên mà còn là con đường hình thành những phẩm chất nhân cách cao đẹp cho mỗi người Tự học thường xuyên và suốt đời là con đường phát triển bền vững của mỗi con người trong thời đại ngày nay
Trang 6Trong nhà trường quân đội, tự học góp phần vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo theo chức vụ quân sự, đồng thời đảm bảo trình độ học vấn tương ứng theo chuẩn đào tạo quốc gia Tự học còn là yếu tố quan trọng hình thành tài năng và nhân tài quân sự Điều đó phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 94/NQ-ĐUQSTU của Đảng ủy quân sự Trung Ương về xây dựng đội ngũ cán
bộ quân đội trong thời kỳ mới, trong đó nhấn mạnh: “Có chế độ khuyến khích
và bắt buộc đối với việc cán bộ tự học tập, tự nghiên cứu nâng cao trình độ theo yêu cầu mới…”
Trường Đại học VH-NT Quân đội là trung tâm đào tạo cán bộ, diễn viên, nhân viên hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của quân đội, những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa của Đảng Mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán
bộ, diễn viên, nhân viên ở nhà trường đặt ra yêu cầu rất cao về tự học, tự rèn luyện, chấp hành kỷ luật trong quá trình đào tạo, tức là yêu cầu rất cao về hoạt động tự lực, độc lập sáng tạo của học viên nhằm hình thành và phát triển toàn diện những phẩm chất nhân cách của họ
Nâng cao chất lượng quá trình dạy học là cốt lõi của việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở Trường Đại học VH-NT quân đội Chất lượng hoạt động tự học của học viên là một yếu tố quyết định chất lượng quá trình dạy học ấy Hoạt động tự học là hoạt động tổ chức nhận thức nhằm đạt tới mục đích nhất định, do chính học viên tiến hành trong quá trình học tập Tự học giúp học viên nâng cao chất lượng lĩnh hội tri thức, kỹ năng, thái độ và
“Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Vì vậy, phẩm chất và năng lực của người cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, nghệ sĩ trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tự học của họ ở Trường Đại học VH-NT quân đội
Thực trạng tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội còn nhiều hạn chế, dẫn tới chất lượng thấp Báo cáo tổng kết công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học của nhà trường năm học 2006- 2007 đã nhấn mạnh: “Hoạt động tự học của học viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học” Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, một
Trang 7vấn đề đặt ra là chúng ta cần xem xét, đánh giá thực trạng tự học và những yếu
tố cản trở việc nâng cao chất lượng tự học của học viên hiện nay, từ đó xác định các biện pháp nâng cao hơn nữa kết quả của hoạt động tự học Sự hạn chế của công tác quản lý hoạt động tự học là một yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng hoạt động tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội Vì vậy, việc đề ra một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Trường Đại học VH-NT quân đội
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động
tự học tiếng Anh của học viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội”
với mong muốn xây dựng được một số biện pháp khả thi và hiệu quả trên cở sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm quản lý tốt hoạt động tự học tiếng Anh của học viên để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà Trường
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề tự học từ xưa tới nay được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước
đề cập
Trong tác phẩm “Tự học như thế nào” của N.A Rubakin (1862 - 1946)
đã tập trung trình bày nhiều vấn đề về các phương pháp tự học, đặc biệt là các phương pháp sử dụng sách [28]
Trong tác phẩm "Khoa sư phạm vĩ đại" tác giả người Tiệp Khắc đã nêu
rõ "Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần
mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ" [16]
Crúp-xcai-a, người có công lớn trong việc xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa dưới ngọn cờ của Lê nin cho rằng: "Phải dạy cho thế hệ trẻ đang trưởng thành học được cách tự chiếm lĩnh kiến thức"
Từ xưa cha ông đã có quan niệm rõ ràng về sự cần thiết của việc tự học:
"Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly"; "Đi một ngày đàng học một sàng khôn"
Chương trình phát triển tự học ở Việt Nam đã và đang được đẩy mạnh
và thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều người, đơn vị Có nhiều tác giả
Trang 8nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những quan điểm khác nhau, sau đây là một số quan điểm:
Theo tác giả Phạm Viết Vượng thì "Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên Tự học thường được tiến hành tại gia đình, thư viện, kí thúc xá, cách học là hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu Nội dung công việc tự học và học bài cũ, chuẩn bị bài mới và làm các bài tập sáng tạo khác" [25, Tr.33]
Theo tác giả Nguyễn văn Đạo thì: " Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến
bộ của xã hội" [30, Tr 11]
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: ''Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả
cơ bắp, cùng các phẩm chất, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình” [23, Tr.621]
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định" [6]
Giáo sư Vũ Văn Tảo nhận định: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải có sự tự học… Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình”[29]
Trang 9Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải tự nguyện tự giác xem công việc học tập cũng là nhiệm vụ của người cách mạng, phải hoàn thành cho được, do
đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”[20]
Ngoài ra, liên quan đến các hình thức tự học tác giả Lê Thuần Duẩn có đề tài nghiên cứu “Những phương hướng thúc đẩy hoạt động tự học của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị - Quân sự” (Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục - 1998) Nguyễn Trung Sơn “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của học viên Học viện Phòng không Không quân” (Luận văn thạc
sĩ KHGD - 1999)
Tuy nhiên, về góc độ quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội hiện chưa có công trình nào nghiên cứu, do
đó các vấn đề của thực tiễn hiện đang được đòi hỏi cấp bách Chính vì vậy, đề
tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại
trường Đại học VH-NT quân đội” sẽ góp phần giải quyết một số những đòi hỏi
cấp bách hiện nay của nhà trường về đổi mới công tác quản lý hoạt động tự học
và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
Trang 104 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
5 Giả thuyết khoa học
Kết quả học tiếng Anh của học viên Trường Đại học VH-NT quân đội sẽ được nâng cao nếu áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động tự học cho học viên được đề xuất trong đề tài này
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên hệ đại học năm thứ nhất (Lớp Đại học Thanh nhạc K1) tại Trường Đại học VH-NT quân đội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Sưu tầm sách, tài liệu về vấn đề quản lý
+ Đọc, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Quan sát sư phạm
Quan sát công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên hệ đại học Trường Đại học VH-NT quân đội nhằm rút ra những điểm mạnh, yếu và nguyên nhân
7.2.2 Trò chuyện
Trò chuyện với học viên, giảng viên, cán bộ quản lý để rút ra những nhận xét về công tác quản lý hoạt động tự học, đánh giá các biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội và thăm dò tính khoa học, tính khả thi của các biện pháp mới
Trang 117.2.3 Điều tra bằng phiếu hỏi
Điều tra bằng phiếu hỏi đối với học viên, giảng viên, cán bộ quản lý về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh, đánh giá các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Bao gồm toán thống kê, xác suất để xử lý kết quả thu được
8 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đánh giá được thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội, đồng thời phát hiện ra những hạn chế cần khắc phục, từ đó đề xuất một số biện pháp góp phần vào công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội có hiệu quả hơn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của
học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học
viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC TIẾNG ANH 1.1 Lý luận chung về quản lý giáo dục
1.1.1 Khái niệm quản lý - Chức năng quản lý
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội Quản
lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và
là một nhân tố của sự phát triển xã hội Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế - xã hội Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý” Từ khi F W Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý tùy thuộc cách tiếp cận, góc
độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị của nhà quản lý, có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:
K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội từ trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [26, Tr.480]
Trang 13Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
sự phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [27, Tr 33]
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8, Tr 23]
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả
có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:
Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản
lý, đối tượng bị quản lý) gồm: con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính,… và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản
lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật”
- Quản lý là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động
có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương
Trang 14pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả Mặc dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm được
- Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người
1.1.1.2 Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản Có nhiều cách phân chia các chức năng quản
lý, chẳng hạn như cách phân chia chức năng quản lý theo giai đoạn tác động hay phân chia chức năng quản lý theo nội dung quản lý Tuy vậy, về cơ bản đều thống nhất có 4 chức năng quản lý sau đây:
Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định rõ mục đích, mục tiêu của một tổ chức và những con đường, thể thức, biện pháp chính để đạt được những mục tiêu đó Có 3 nội dung chủ yếu của lập kế hoạch:
+ Xác định, hình thành mục tiêu
Trang 15+ Xác định và đảm bảo đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu + Xác định các hoạt động (các biện pháp, giải pháp) cần thiết để đạt mục tiêu Lập kế hoạch sẽ tạo ra khả năng cho việc điều hành tác nghiệp của hệ thống, làm cho việc kiểm tra được dễ dàng, bởi vì các nhà lãnh đạo hệ thống sẽ không thể kiểm tra được công việc của các cấp dưới nếu không có mục tiêu đã được xác định làm chuẩn mực để đo lường
Căn cứ chủ thể của kế hoạch, có thể chia kế hoạch làm 2 loại: kế hoạch tập thể và kế hoạch cá nhân Căn cứ phạm vi kế hoạch, cũng có thể chia kế hoạch làm 2 loại: kế hoạch tổng quát và kế hoạch chi tiết
- Tổ chức:
Chức năng tổ chức là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng Đây là chức năng quan trọng thứ hai của các nhà lãnh đạo hệ thống sau chức năng lập kế hoạch
Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc của hệ thống cũng khác nhau Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản
lý có thể điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác Một tổ chức được cấu trúc phù hợp sẽ phát huy được năng lực nực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực
Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh và đi trước Các nhà lãnh đạo
Trang 16hành động để giúp một tổ chức đạt được các mục tiêu với sự vận động tối đa các khả năng của tổ chức đó Họ không đứng đằng sau tổ chức để đẩy và thúc giục,
họ đặt mình trong tổ chức đó khi tạo điều kiện cho sự tiến bộ và động viên tổ chức hoàn thành các mục tiêu đã xác định
- Kiểm tra:
Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và phải thực hiện chức năng kiểm tra Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo
Kiểm tra, theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng các tiêu chuẩn
+ Đo lường việc thực hiện
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn (nếu có sự chênh lệnh thì cần điều chỉnh hoạt động)
Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu
1.1.1.3 Vai trò của quản lý
Quản lý là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển hay trì trệ hoặc diệt vong của mọi tổ chức
Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có hoạt động quản lý: quản lý kinh tế, quản lý giáo dục, quản lý quá trình đào tạo v.v… Tuy mỗi lĩnh vực đều có nét đặc thù riêng, song chúng đều có những điểm chung nhất về bản chất của hoạt động quản lý Hoạt động quản lý luôn góp phần quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả của mỗi tổ chức, mỗi con người trong một
Trang 17Taylor - người Mỹ (1856 - 1915), Fayol - người Pháp (1841 - 1925), Max Weber - người Đức (1864 - 1920), đều khẳng định rằng quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng năng lực quản lý (chất xám quản lý) được xếp trong hệ thống 5 yếu tố tạo thành sự mạnh kinh tế của một quốc gia: lao động, vốn, công nghệ, năng lực quản lý và tài nguyên Khi cần tổ chức lại sự vận hành của hệ thống nói chung, của từng cơ quan, đơn vị nói riêng nhằm đạt chất lượng hiệu quả cao hơn, các biện pháp cơ bản thường được người ta đưa ra xem xét theo thứ tự ưu tiên: thay thế bộ phận / người quản lý cũ bằng bộ phận / người có năng lực quản lý tốt hơn; đầu tư vào các điều kiện, cơ
sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ; tổ chức lại hoặc thay đổi mục tiêu, thành lập mục tiêu khác Theo Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý thì trong thời đại khoa học - công nghệ ngày nay, việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới vào thực tiễn quản lý là xu hướng của quản lý hiện đại, vì vậy, “quản lý còn được xem là công nghệ - công nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [5]
1.1.2 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng và các
cơ quan quản lý cấp trên) nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Quản
lý nhà trường thực chất là quản lý trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường
Quản lý nhà trường là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Mục đích của quản lý nhà trường là: đưa nhà trường từ trạng thái đang có
Trang 18tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục
Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học
*Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
+ Quản lý mục tiêu đào tạo
+ Quản lý nội dung chương trình đào tạo
+ Quản lý phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo
+ Quản lý kết quả đào tạo
+ Quản lý toàn bộ CSVC và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh
+ Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, CBCNV và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường
+ Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của
Bộ, của nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình, cải tiến phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học
+ Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT Quản lý học sinh bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập
+ Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên nhà trường
Tóm lại, quản lý giáo dục trong nhà trường chính là quản lý các thành tố của quá trình dạy học
Trang 191.2 Quản lý hoạt động dạy học
1.2.1 Khái niệm dạy học
“Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác này giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong
đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo” [24, Tr.52]
Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm ba thành tố cơ bản: Khái niệm khoa học, dạy và học Các thành tố của quá trình dạy học luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, quy định lẫn nhau để tạo lên sự thống nhất biện chứng:
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm
khoa học bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy có hai chức năng: truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học
Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy học được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Để đạt được mục đích, người dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm chất và năng lực của người dạy và người học) để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy học phù hợp
Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của người
dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biển đổi thành nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện Hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển
Trang 20Nôi dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó, với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân Muốn vậy người học phải xác định rõ mục đích, động cơ học tập có sự say mê, tích cực, tiếp thu một cách tự giác, sáng tạo những thông tin và biết sử dụng những thông tin đó với kinh nghiệm riêng của bản thân
Nhưng để học đạt được hiệu quả và tránh được những sai lầm thì học càng cần phải có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thầy Như vậy hoạt động học của trò cần phải diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thày, mối quan hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo mức độ tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học đó là:
- Nắm vững tri thức khoa học
- Phát triển tư duy và năng lực hoạt động
- Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống
1.2.2 Mối quan hệ giữa dạy và học
Hoạt động dạy học mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy và người học Hoạt động dạy học diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển hướng dẫn, hoạt động học đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu giáo dục đã xác định
Trong quá trình dạy học, quan hệ thày trò là vấn đề quan trọng và phức tạp Thày là người điều khiển quá trình dạy học nhưng trò là chủ thể nhận thức cũng như điều khiển hoạt động nhận thức của mình Quá trình điều khiển của thày có mang lại hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp nhận
Trang 21của trò Thày phải luôn hướng đến tư tưởng “dạy học lấy trò làm trung tâm” Như vậy, nguyên tắc “phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập của trò dưới sự hướng dẫn của thầy” đã và đang là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục hiện nay
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học “Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thày và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học
Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó”[24, Tr.23]
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định (điều
lệ, chế độ, nội quy…) về hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên, đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nề nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao
Chức năng chủ yếu của nhà trường là dạy học và giáo dục học viên Chức năng đó cần được quy chế hóa một cách chặt chẽ thông qua kế hoạch dạy học,
và các chương trình, tài liệu chuẩn… Việc xây dựng nề nếp dạy và học nhằm mục đích đảm bảo các quy chế về đào tạo, trên cơ sở các quy chế đó, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, hấp dẫn với kỷ luật tự giác và tình cảm trách nhiệm cao, xây dựng mối quan hệ cộng tác, giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau của giảng viên và học viên, cũng như khơi dậy và khuyến khích tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học viên Mục đích cuối cùng của hoạt động này là nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục - đào tạo
Các nhiệm vụ và nội dung cơ bản của quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường đảm bảo các quy chế về đào tạo bao gồm
+ Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch và chương trình dạy học theo thời khoá biểu và các quy định hiện hành về dạy học
+ Theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện sổ sách, hồ sơ chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 22+ Tổ chức chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn và công tác sư phạm
1.2.3.1 Hoạt động dạy học ngoại ngữ (tiếng Anh)
* Mục tiêu
Mục tiêu dạy ngoại ngữ là người học có thể phát triển khả năng hiểu và
sử dụng ngôn ngữ được học Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ được chia làm 2 loại:
kỹ năng thu nhận gồm kỹ năng nghe, đọc và kỹ năng tái tạo bao gồm kỹ năng viết, nói Người dạy cần phân biệt yêu cầu của từng kỹ năng để có phương pháp dạy học thích hợp và người học có phương pháp học tương ứng
Đối với môn học ngoại ngữ, ngoài các kỹ năng ngôn ngữ người học phải đạt được để sử dụng nó làm phương tiện giao tiếp, người học còn được trang bị thêm kiến thức về ngôn ngữ, văn hoá của thứ tiếng đó
Mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy ngoại ngữ ở trường đại học là dạy cách học cho HV, trang bị cho họ những phương pháp và kỹ năng cơ bản
để tăng cường khả năng tự học, thói quen học suốt đời Sau khi học xong chương trình đào tạo ngoại ngữ ở trường đại học, HV sẽ sử dụng được ngoại ngữ để giao tiếp thông thường, đọc sách, báo và những tài liệu có liên quan đến chuyên ngành mà mình được đào tạo Giúp người học có thể tiếp tục học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động, công tác
* Nội dung
Nội dung dạy học ngoại ngữ bao gồm 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết trong đó kỹ năng đọc hiểu giữ vai trò vị trí trung tâm Cả 4 kỹ năng đều hình thành trên cơ sở hiểu nội dung thông điệp và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau
Nội dung tri thức ngoại ngữ người dạy cung cấp cho người học phải là những tri thức khoa học cơ bản, tối thiểu để giúp họ nhận thức được và có thể vận dụng chủ động, tự giác chúng như một công cụ giao tiếp Ngoài ra, GV cần củng cố và phát triển kiến thức ngoại ngữ đó để giúp HV có thể tiếp tục học lên hoặc vận dụng vốn ngoại ngữ của mình vào cuộc sống
* Đặc điểm
Trang 23Trong hoạt động dạy tiếng Anh, người dạy truyền thụ thứ tiếng (ngoại ngữ) là ngôn ngữ vốn có sẵn, đã và đang được dân tộc đó sử dụng Điều này khác với hoạt động nghiên cứu khoa học hay hoạt động sáng tạo nghệ thuật
Hoạt động dạy tiếng Anh là truyền thụ thứ tiếng đó không phải để cho bản thân người dạy, mà là để tổ chức quá trình này cho hoạt động học (tự học) tiếng Anh của học viên Nói cách khác, hoạt động dạy tiếng Anh của giảng viên tạo ra nội dung cho hoạt động học (tự học) của học viên; còn hoạt động học (tự học) tiếng Anh của học viên là điều kiện duy trì hoạt động dạy tiếng Anh của giảng viên
1.3 Quản lý hoạt động tự học
1.3.1 Khái niệm tự học
Tự học là học khi có thầy và cả khi không có thầy, người học biết tự xác định mục tiêu, tự lập kế hoạch, tự đánh giá việc học tập của bản thân Tự học là học mà không cần sự giám sát bên ngoài Tự học là “tự động học tập”, nó thể hiện tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao trong quá trình lĩnh hội khái niệm khoa học của người học
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình” [23, Tr.621]
Giáo sư Vũ Văn Tảo nhận định: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải có sự tự học… Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh
Trang 24"Không ai có thể đưa một kiến thức vào đầu óc người học từ ngoài nếu người đó không tích cực học tập Sự lĩnh hội kiến thức luôn luôn là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức riêng của từng sinh viên, mặc dù hoạt động này được giảng viên chỉ đạo, hướng dẫn" (Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngành Tâm lý học Đại học sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Nhà giáo dục John Lubbuck nói: "Cái gì ta tự học được thì mới thực sự là của ta, hơn những cái người khác dạy cho ta"
Trong bất kỳ hình thức học nào, người học đều phải tự học, theo nghĩa là khi tiếp thu những khái niệm khoa học do thầy truyền đạt (trực tiếp hay gián tiếp), người học phải tự mình xử lý những thông tin thu nhận được để tiến tới tự mình chiếm lĩnh được những khái niệm khoa học đó
Crúp-xcai-a, người có công lớn trong việc xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa dưới ngọn cờ của Lê nin cho rằng: "Phải dạy cho thế hệ trẻ đang trưởng thành học được cách tự chiếm lĩnh kiến thức"
Bằng hoạt động tự học, học viên bổ sung, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp quân sự theo yêu cầu đảm nhiệm được chức vụ ban đầu và có khả năng đảm nhiệm được chức vụ tiếp theo
Bằng hoạt động tự học, học viên nâng cao trình độ học vấn để dự các kỳ
Trang 25thi tuyển sinh ở bậc đào tạo cao hơn (đào tạo cao học, nghiên cứu sinh, cán bộ chỉ huy)
Tự học là nội lực của người học, là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề, nhờ đó mới
có tư duy sáng tạo Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Nhờ có tự học, người học mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học cách học, cách tư duy Thầy dạy cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của người thầy là ngoại lực đối với sự phát triển của người học Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện Nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân sự vật Sự vật đó phát triển đến trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau
Như vậy, tự học là tự mình suy nghĩ, tự mình sử dụng các năng lực và phẩm chất cùng với cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan của bản thân để chiếm lĩnh được một lĩnh vực tri thức nào đó của nhân loại
1.3.2 Các hình thức tự học
Hoạt động tự học diễn ra với ba hình thức sau:
- Hình thức thứ nhất: Có sách có tài liệu người học tự tìm kiếm tri thức
để thỏa mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường Đây là tự học ở mức
độ cao
- Hình thức thứ hai: Có sách, có tài liệu, và có thêm cả thầy ở xa hướng
dẫn tự học thông qua các phương tiện viễn thông Hướng dẫn tự học từ xa là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức Đây là tự học có hướng dẫn
Trang 26-Hình thức thứ ba: Có sách, có tài liệu, có thầy trực tiếp hướng dẫn một
số buổi trong tuần Tự học diễn ra dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể trước của thầy và chịu sự kiểm tra kết quả sau tự học Đây là hình thức trực tiếp có thầy trên lớp và về nhà tự học theo hướng dẫn
Trong đề tài này, căn cứ vào mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ
đề cập đến hoạt động tự học theo hình thức thứ ba
1.3.3 Quản lý hoạt động tự học
1.3.3.1 Mục tiêu và nội dung quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học của học viên nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên và đạt được nhiệm vụ của hoạt động dạy học đề ra Vì vậy, nội dung quản lý hoạt động tự học của học viên nội trú bao gồm những nội dung chính sau:
- Xây dựng động cơ tự học cho học viên:
Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, có động cơ Động cơ là nhân tố thúc đẩy, định hướng và duy trì hành vi của con người Hoạt động tự học của người học nhằm mục đích hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã xác định Hoạt động học tập của học viên cũng như các hoạt động khác sẽ diễn ra hiệu quả hơn nếu học viên có thái độ đúng đắn, động cơ rõ ràng, có nhu cầu lĩnh hội kỹ năng, kỹ xảo
Thuyết “nhu cầu” của A Maslow đã xếp bậc thang nhu cầu như sau: nhu cầu sinh học cơ bản, nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được thể hiện Nhu cầu là một trong những nguồn gốc sinh ra động cơ Từ đó, động cơ tự học của học viên cũng có những thứ bậc khác nhau như: nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự khẳng định mình, cơ hội có việc làm và công danh sự nghiệp, hoặc là học để biết, học
vì hứng thú, học vì lòng khao khát tri thức
Động cơ tự học tích cực sẽ tạo nên hứng thú, niềm tin của học viên trong quá trình tự học Động cơ tự học chịu tác động của những người xung quanh
Trang 27như giảng viên, bạn bè và những điều kiện thực tiễn của nhà trường, nhưng bản thân mỗi người là yếu tố quyết định
Muốn nâng cao nhận thức của học viên về vai trò của hoạt động tự học,
từ đó giúp họ có những hành động tự học nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, nhà trường phải thường xuyên, đồng thời tiến hành nhiều biện pháp và hình thức giáo dục truyền thống, giáo dục nâng cao nhận thức về mục tiêu, yêu cầu đào tạo, các chế độ, quy chế, quy định về giáo dục - đào tạo, xây dựng bầu không khí học tập tích cực trong tập thể học viên Hoạt động tự học của học viên bình đẳng như các hoạt động khác, song nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung và động cơ tự học nói riêng
Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động tự học tiếng Anh của học viên Phải xây dựng cho học viên động cơ tự học tích cực, mong muốn trở thành người có khả năng sử dụng thành thạo tiếng Anh, mong muốn tạo ra được những sản phẩm nghề nghiệp có giá trị và có nguyện vọng phát triển tri thức cũng như kỹ năng nghề nghiệp của mình đáp ứng được với các yêu cầu của sự phát triển nghề nghiệp trong xã hội hiện đại Đây là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên
- Quản lý kế hoạch tự học của học viên:
Quản lý kế hoạch tự học của học viên bao gồm quản lý việc lập kế hoạch
và việc thực hiện kế hoạch đó
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý, phù hợp với phương pháp tự học từng nội dung môn học, dựa trên yêu cầu, mục tiêu đào tạo của từng môn học, nhiệm vụ tự học trong từng giai đoạn cụ thể, khả năng tự học của bản thân và các điều kiện được đảm bảo thực
tế để tiến hành việc tự học
Kế hoạch tự học càng rõ ràng bao nhiêu thì càng giúp cho học viên thực hiện nhiệm vụ tự học một cách khoa học và hiệu quả bấy nhiêu Kế hoạch tự
Trang 28học của học viên còn giúp cho giảng viên và cán bộ quản lý có cơ sở để kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tự học, tự đào tạo của học viên, từ đó, đưa việc xây dựng kế hoạch tự học của học viên vào nề nếp
Việc xây dựng kế hoạch tự học phải do chính bản thân học viên thực hiện nhằm đảm bảo phù hợp với quỹ thời gian và khả năng của học viên
- Quản lý nội dung tự học:
Nhằm mục đích hướng cho nội dung tự học của học viên phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đào tạo, mục tiêu và yêu cầu môn học, bài học, đảm bảo tính hiện thực và có hiệu quả cao, giảng viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho học viên Nội dung tự học bao gồm:
+ Nội dung tự học mang tính bắt buộc do giảng viên yêu cầu để nắm vững tri thức Nội dung này đối với môn tiếng Anh chủ yếu là làm các bài tập thực hành, đóng vai hội thoại, hỏi đáp những câu giao tiếp thường ngày
+ Nội dung tự học xuất phát từ gợi ý, định hướng của giảng viên căn cứ vào yêu cầu môn học và khả năng của từng học viên Đây là quá trình phát hiện
và tạo điều kiện bồi dưỡng năng khiếu tiếng Anh cho học viên
Nội dung tự học do học viên tự chọn xuất phát từ nhu cầu muốn hiểu biết thêm, muốn mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung bài học, môn học trong chương trình học Đây là nội dung quan trọng nhất đối với môn học, giúp cho sinh viên tìm tòi, sáng tạo, rèn luyện nâng cao và thể hiện kỹ năng tiếng nước ngoài của mình
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học:
Vấn đề tự kiểm tra, tự đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của học viên là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của việc học tập nói chung,
tự học nói riêng; mọi sự tác động từ bên ngoài như từ phía thầy, bạn, v.v… chỉ đóng vai trò hỗ trợ Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học viên bao gồm:
+ Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học viên (hàng tuần, hàng tháng, năm học)
Trang 29+ Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học, phát hiện sai lệch, giúp học viên điều chỉnh hoạt động tự học
+ Quản lý việc tổ chức thi, đánh giá kết quả học tập của học viên
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học viên còn có hoạt động phát hiện, lựa chọn những sáng kiến của học viên trong quá trình tự học để giới thiệu cho các học viên khác học tập lẫn nhau
Để đảm bảo việc tự học, người học viên cần đạt được các yêu cầu nội dung sau:
+ Phải có nhận thức sâu sắc về vai trò quyết định của hoạt động tự học đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập, có mục đích và có thái độ học tập đúng đắn, có lý tưởng và hoài bão khoa học, có tầm nhìn xa cùng những mục tiêu trước mắt, trước hết phải có ý chí lớn thì mới có năng lực tự học sáng tạo
+ Phải huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay trước khi sử dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài (phương trâm cơ bản của tự học)
+ Có lòng tin vào khả năng tự học của mình, khắc phục bệnh tự ty, đồng thời cũng phải biết tránh tâm lý dễ thỏa mãn
+ Hình thành được phương pháp tự học phù hợp, phải dành thời gian thích đáng cho việc tự học
+ Có thói quen học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi người và với mọi nội dung nhằm rèn luyện được các loại tư duy như tư duy logic, tư duy trìu tượng, tư duy biện chứng, tư duy quản lý, tư duy kỹ thuật, tư duy thuật toán
- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của học viên:
Nhằm thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, trong suốt thời gian đào tạo, 100% học viên Trường Đại học VH-NT quân đội được ăn, ở, học tập và sinh hoạt tại trường Do đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, nguồn học liệu có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả tự học môn tiếng Anh của học viên Các điều kiện về cơ sở vật chất cần đảm bảo để phục vụ cho hoạt động tự học của học viên phải được khái thác và quản lý để tăng cường hiệu quả của chúng
Trang 301.3.4 Đặc điểm hoạt động học ngoại ngữ
Hoạt động học ngoại ngữ (tiếng Anh) trong nhà trường khác với học tiếng Anh diễn ra trong đời sống thường ngày có tính tự phát như trẻ em học tiếng mẹ đẻ Hoạt động học tiếng Anh trong nhà trường mang tính tự giác, có mục đích, có kế hoạch, chương trình - nội dung, biện pháp tổ chức rõ ràng Bản chất việc học nói chung, học tiếng Anh nói riêng được hiểu là sự biến đổi - biến đổi từ chỗ “không có đến chỗ có”, hoặc từ chỗ “có ít đến chỗ có nhiều hơn” Đó chính là sự biến đổi về khả năng hiểu biết, thu nhận, tái tạo và sử dụng được tiếng Anh như một công cụ giao tiếp
Hoạt động học tiếng Anh theo cơ chế lĩnh hội, tái tạo chứ không phải cơ chế sáng tạo phát minh như các hoạt động khác Tiếng nước ngoài cần học, không được người học đồng hóa tạo ra cái mới về phương pháp phản ánh, khái quát hiện thực và thông báo để cho chính bản thân người học chứ không phải cho ai khác Học tiếng nước ngoài là tiếp thu, lĩnh hội những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo và việc sử dụng tương ứng với ngôn ngữ đó
Tiếng Anh cũng như bất kỳ ngoại ngữ nào đều có chức năng là công cụ giao tiếp được thể hiện ở bốn dạng hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ được chia làm hai loại: kỹ năng thu nhận gồm kỹ năng nghe, đọc và kỹ năng tái tạo bao gồm kỹ năng nói, viết
Bốn kỹ năng đều được hình thành trên cơ sở hiểu nội dung thông báo, thông tin Người đọc cũng như người nghe đều là người tiếp nhận thông báo, thông tin từ phía người viết hoặc người nói
Mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
được tóm tắt theo Hình 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa những kỹ năng cơ bảntrong học tiếng Anh
Trang 31Kỹ năng nói và kỹ năng nghe có quan hệ hai chiều hữu cơ với nhau, tạo
ra quá trình giao tiếp thực hiện
Kỹ năng nói và kỹ năng viết cũng có quan hệ hai chiều hữu cơ với nhau,
vì người nói và người viết đều là những người phát ra thông báo, thông tin trong hoạt động giao tiếp
Kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng viết có quan hệ tích cực lẫn nhau
Kỹ năng viết với kỹ năng đọc có quan hệ một chiều, tạo ra sự giao tiếp thuộc về nhận thức
Kết luận chương 1
Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên nói chung và hoạt động
tự học tiếng Anh của học viên nói riêng là những cách thức, cách giải quyết mà chủ thể thể quản lý sử dụng để quản lý hoạt động tự học của học viên nhằm giúp cho học viên tự học đạt kế quả cao
Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh cho học viên bao gồm nhiều nội dung, từ việc quản lý kế hoạch, nội dung tự học của học viên đến quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của họ Các nội dung nói trên được quản lý thông qua các biện pháp cụ thể như:
-Nâng cao nhận thức của học viên về tầm quan trọng đặc biệt của việc tự học đối với kết quả học tập môn tiếng Anh
-Xây dựng động cơ tích cực trong tự học tiếng Anh cho học viên, giúp họ
có niềm hứng thú, sự tự tin và đam mê trong tự học
-Xây dựng nội quy, quy định về hoạt động tự học nói chung và hoạt động
tự học tiếng Anh nói riêng của học viên
-Giúp học viên xây dựng kế hoạch tự học tiếng Anh và đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện kế hoạch
-Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả tự học tiếng Anh của học viên
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC TIẾNG ANH CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI
2.1 Khái quát về Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội
Trường Đại học VH-NT quân đội, tiền thân là Trường nghệ thuật quân đội, thuộc Bộ Quốc Phòng do Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo và quản lý, nhà trường được thành lập ngày 23 tháng 09 năm 1955, là trường nghệ thuật được thành lập đầu tiên của cả nước sau khi hòa bình lập lại Sự ra đời của Trường Nghệ thuật quân đội đã đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của việc xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội phục vụ kháng chiến
Từ những lớp tập huấn âm nhạc đầu tiên cho các hạt nhân văn nghệ quần chúng của các đơn vị trong những ngày đầu thành lập, đến nay Trường nghệ thuật quân đội đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cùng với sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta Ngày 24/4/1984 Thượng tướng Lê Trọng Tấn- thứ trưởng bộ quốc phòng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ký Quyết định số 117/QĐ-QP về việc Trường Nghệ thuật quân đội chính thức trở thành Trường trung cấp Nghệ thuật quân đội Vượt qua những năm tháng đầy khó khăn thử thách sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt là trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với sự cố gắng vượt bậc của đội ngũ cán bộ, giáo viên, học viên toàn Trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của quân đội và xã hội; thực hiện chủ trương “Đại học hóa đội ngũ sĩ quan”, theo tinh thần Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương Ngày 23 tháng 09 năm 1995 Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 596/ QĐ-TTg về việc thành lập Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật quân đội trên cơ sở Trường Trung cấp Nghệ thuật quân đội Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, đứng trước đòi hỏi nâng
Trang 33cao chất lượng hoạt động VH-NT, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu tình hình mới Ngày 03 tháng 01 năm 2006, Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định số 02/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội trên cơ sở Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật quân đội
Trải qua hơn 50 mươi năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Nhà trường đã đào tạo ra hàng chục nghìn cán bộ, diễn viên, nhân viên hoạt động trên lĩnh vực VH-NT, cung cấp cho các đơn vị và các đoàn nghệ thuật trong và ngoài quân đội; đào tạo gần 200 cán bộ, diễn viên VH-NT cho Quân đội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Quân đội Hoàng gia Campuchia Từ mái trường “Chiến sĩ- Nghệ sĩ”, nhiều thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên đã trở thành những nhà khoa học, nghệ sĩ, nhà giáo đầu ngành về VH-NT Hiện có
115 đồng chí là những nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà giáo được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo ưu tú; hàng trăm đồng chí được giải thưởng trong các cuộc thi ca, múa, nhạc trong nước và quốc tế Nhà trường đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 6 Huân chương, Huy chương các loại; 18 Bằng khen; 1 giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho vở kịch múa “ Ngọn lửa Nghệ Tĩnh”- vở kịch múa đầu tiên của nước Việt Nam- niềm tự hào của nền nghệ thuật cách mạng; 17 đơn vị được tặng thưởng danh hiệu đơn vị quyết thắng; hơn 100 đồng chí được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua
từ cấp cơ sở đến toàn quân Nhà trường được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và Huân chương Isala Đặc biệt, năm 1968 Nhà trường vinh dự được đón Bác Hồ về thăm
Trong những năm đổi mới, Nhà trường đã quán triệt sâu sắc đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng; các chỉ thị, nghị quyết về giáo dục đào tạo; giữ vững định hướng chính trị, năng động sáng tạo, mở rộng quy mô và hình thức đào tạo Tạo bước đột phá về số lượng, chất lượng đào tạo, đưa Nhà trường phát
Trang 34triển toàn diện, vững chắc Vị thế, uy tín và hiệu quả xã hội của Nhà trường ngày càng được nâng cao Cùng với sự trưởng thành lớn mạnh của Nhà trường, đội ngũ cán bộ lãnh đạo- chỉ huy, giáo viên, nhân viên của Nhà trường cũng không ngừng trưởng thành cả về bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn và năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý; nhiều giáo viên được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ Ưu tú, Nhà giáo Ưu tú, có những đồng chí đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, của ngành Văn hóa - Thông tin
* Đặc điểm về tổ chức biên chế và hoạt động Nhà trường
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên Nhà trường
Là một trường VH-NT, làm công tác đào tạo chiến sĩ - nghệ sĩ, do vậy đội ngũ cán bộ, giáo viên của Nhà trường cơ bản là các nghệ sĩ được đào tạo cơ bản về các chuyên ngành VH-NT ở trong nước và các nước XHCN ở Đông Âu
và Liên xô cũ Một bộ phận đã từng phục vụ chiến đấu ở các chiến trường, có bề dầy kinh nghiệm trong giảng dạy chuyên môn, phần lớn là đã thành danh trên con đường nghệ thuật; số giảng viên trẻ hiện nay cơ bản được đào tạo tại Nhà trường và được giữ lại làm giảng viên; một số cán bộ là những đồng chí sĩ quan được đào tạo cơ bản ở các trường sĩ quan trong quân đội, chủ yếu làm công tác quản lý
- Quy mô tổ chức của Nhà trường hiện nay
Nhà trường có 02 cơ sở đào tạo chính: Cơ sở 1 có vị trí đóng quân ở số
101 Nguyễn Chí Thanh - Đống Đa - Hà Nội; Cơ sở 2 đóng quân ở số 448B Nguyễn Tất Thành - Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra Nhà trường còn có: Cơ sở đào tạo Quân nhạc, địa điểm ở 99 Khương Trung - Thanh xuân
- Hà Nội; Cơ sở đào tạo nguồn lực VH-NT cho các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, địa điểm ở Số 2- Nguyễn Huệ- Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định; Khu đào tạo khối dân sự, địa điểm ở Lai xá- Hoài Đức - Hà Nội
Nhà trường có 12 khoa, gồm có: Khoa Quản lý Văn hóa; Khoa Kiến thức
Trang 35nghệ thuật cơ bản; Khoa Múa; Khoa Quân nhạc; Khoa Âm nhạc; Khoa Sư phạm Nhạc- họa; Khoa Sân khấu, Điện ảnh, Viết văn; Khoa Thanh nhạc; Khoa Văn hóa cơ bản; Khoa NTDT & MN; Khoa KHXH & NV; Khoa Quân sự - Thể chất
Có 5 phòng chức năng: Phòng chính trị; phòng đào tạo; phòng tham mưu hành chính; Phòng hậu cần - Kỹ thuật; Phòng quản lý khoa học công nghệ và môi trường
Nhà trường có 8 Tiểu đoàn, đảm nhiệm công tác quản lý giáo dục học viên gồm: Tiểu đoàn học viên Âm nhạc; Tiểu đoàn học viên Quản lý Văn hóa; Tiểu đoàn học viên Múa; Tiểu đoàn học viên Quân nhạc; Tiểu đoàn học viên Thanh nhạc; Tiểu đoàn học viên Đào tạo dân sự; Tiểu đoàn học viên NTDT&MN; Tiểu đoàn học viên Cơ sở II
Ngoài ra, trong biên chế tổ chức của Nhà trường còn có các đơn vị trực thuộc như: Nhà hát Nghệ thuật thực hành biểu diễn; Xưởng trường
- Nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường
Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, diễn viên, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực VH-NT với các chuyên ngành như: Quản lý văn hóa, Thư viện, Bảo tàng, Viết văn, Báo chí, Biên đạo múa, huấn luyện múa, Diễn viên múa, Nhạc cụ, Thanh nhạc, Sáng tác âm nhạc, chỉ huy âm nhạc, Lý luận phê bình âm nhạc, Sân khấu… ở bậc đại học, cao đẳng và trung cấp đáp ứng yêu cầu của các đoàn nghệ thuật, các nhà văn hóa, các đơn vị, các cơ quan nghiên cứu và các đơn vị sự nghiệp về văn hóa- nghệ thuật trong quân đội
Đào tạo cán bộ, diễn viên, nhân viên các chuyên ngành VH-NT cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó tập trung chủ yếu là các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nam bộ và một số huyện miền núi của tỉnh Nghệ An Góp phần xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bảo tồn và phát triển vốn văn hóa truyền thống của các dân tộc; tuyên truyền
Trang 36chủ trương, chính sách của Đảng
Đào tạo cán bộ, giáo viên, diễn viên, nhân viên các chuyên ngành VH-NT (khối dân sự), phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH; bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho các diễn viên, nhạc công, các hạt nhân văn nghệ, các cán bộ chuyên trách của các đoàn nghệ thuật, các đơn vị trong và ngoài quân đội
Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực VH-NT phục vụ cho công tác đào tạo cũng như phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động VH-NT trong quân đội; kết hợp đào tạo với việc tham gia các hoạt động VH-NT phục vụ bộ đội và nhân dân
Hợp tác với quân đội các nước bạn Lào, Campuchia, Trung Quốc… trong việc đào tạo cán bộ, diễn viên, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực VH-NT
- Nhà trường là một trường đào tạo đa ngành, đa cấp học và đa hệ đào
tạo về VH-NT Hiện Nhà trường đào tạo hơn 20 chuyên ngành khác nhau về
lĩnh vực VH-NT Có nhiều cấp học như bậc trung cấp 3 năm; bậc cao đẳng 03 năm; bậc đại học 4 năm Nhà trường đào tạo cả hệ chính quy tập trung, đào tạo tại chức, có chương trình tập huấn cho các đoàn nghệ thuật trong và ngoài quân đội Đối với các chuyên ngành nghệ thuật chuyên nghiệp, học viên phải học hết bậc học trung cấp mới được thi lên cao đẳng, và hết cao đẳng mới được dự thi vào đại học, ví dụ như các chuyên ngành Thanh nhạc, Nhạc cụ, diễn viên Múa Đối tượng tuyển sinh, đào tạo cũng đa dạng, có đối tượng học viên đào tạo theo chỉ tiêu của quân đội, đối tượng học viên đào tạo dân sự và đối tượng học viên dân tộc miền núi
- Đội ngũ học viên Nhà trường
Trường Đại học VH-NT quân đội là một trường đào tạo đa ngành, với nhiều chuyên ngành về VH-NT Chính vì vậy, tuy số lượng học viên không đông như các trường Đại học khác, nhưng lại có tính đặc thù cao
Đối tượng là học viên đào tạo theo chỉ tiêu của quân đội với các chuyên
Trang 37ngành như: cán bộ Quản lý văn hóa, nhân viên bảo tàng, thư viện, quân nhạc Đây là những quân nhân được tuyển từ các đơn vị trong toàn quân, có phẩm chất chính trị, sức khỏe và năng khiếu chuyên môn tốt, sau khi đào tạo sẽ trở về các đơn vị làm công tác tổ chức, hướng dẫn, quản lý các hoạt động văn hóa văn nghệ ở đơn vị cơ sở Bộ phận đào tạo các chuyên ngành nghệ thuật chuyên nghiệp như thanh nhạc, nhạc công, diễn viên múa, nhạc cụ dân tộc…nguồn tuyển sinh chủ yếu là diễn viên của các đoàn nghệ thuật của các Quân khu, Quân binh chủng gửi đi; số còn lại được tuyển sinh từ những thí sinh tự do từ khắp mọi miền đất nước Lựa chọn những em giỏi về năng khiếu, có sức khỏe,
cơ bản ở độ tuổi từ 13 đến 18 vào Trường vừa học chuyên môn vừa học văn hóa
Học viên ở trường ĐH VH-NT quân đội có độ tuổi không đồng đều, có trình độ nhận thức khác nhau Họ là những nghệ sĩ tương lai, những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa - nghệ thuật, hầu hết tuổi đời còn rất trẻ, nhiệt tình, năng động, say mê với nghệ thuật Hoạt động sáng tác và biểu diễn của họ mang tính độc lập, sáng tạo cao, nhạy cảm với cái mới, họ có đời sống tinh thần phong phú
và chất nghệ sĩ nổi bật Họ thường có tâm lí thích tự do, sống phóng khoáng, say mê với các hoạt động bề nổi, tiếp thu nhanh các "mốt" mới xuất hiện Nhìn chung, HV học các chuyên ngành nghệ thuật thường có kết quả học tập các môn tự nhiên và xã hội ở mức trung bình
Những đặc điểm nổi bật trên đây có tác động lớn đến hoạt động lãnh đạo của nói chung, và công tác quản lý hoạt động tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội nói riêng Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành hoạt động giảng dạy, tự học của học viên ở nhà Trường đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm vững đặc điểm tâm lý về tổ chức, hoạt động của nhà Trường, đặc điểm của đối tượng tự học, trên cơ sở đó vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp quản lý thì mới đạt hiệu quả cao
Trang 382.2 Thực trạng hoạt động dạy học và hoạt động tự học tiếng Anh ở Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội
Bảng 2.1: Ý kiến của học viên về môn tiếng Anh
ở Trường ĐH VH-NT quân đội
TT Nội dung khảo sát Mức độ đánh giá (%)
1
Động cơ học tập môn
tiếng Anh
của bạn
Yêu thích Cần cho công
việc tương lai
Để giao tiếp khi lưu diễn nước ngoài
Để hát tiếng Anh
Chưa xác định
2 Giáo trình bạn đang
được học tại trường
Khá phù hợp Phù hợp Không phù hợp Không quan tâm
3 Mức độ hứng thú của
bạn với môn học
Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú
Trao đổi với
GV giảng dạy
Hình thức khác
Nói ở mọi lúc mọi nơi
Làm bài tập trong giáo trình kết hợp tài liệu tham khảo
Hát các bài hát tiếng Anh
PP khác
Môn ngoại ngữ được giảng dạy ở trường là tiếng Anh Tiếng Anh được giảng dạy cho hai khối trong trường là: Đại học và Cao đẳng Trong phạm vi đề tài này tác giả xin được tập trung phân tích thực trạng hoạt động tự học môn
Trang 39tiếng Anh cho đối tượng là học viờn hệ đào tạo đại học chớnh quy K1, chuyờn ngành Thanh Nhạc
Học viờn đại học năm thứ nhất học 150 tiết tiếng Anh (10 đơn vị học trỡnh) được chia làm 2 kỳ, mỗi kỳ học 75 tiết Giỏo trỡnh chớnh được quy định sử dụng trong khúa học là NewHeadway - Elementary, giỏo trỡnh gồm 14 bài học trong hai kỳ; tài liệu tham khảo được sử dụng cho việc giảng dạy và học tập là English Grammar in use NewHeadway - Elementary là một trong những giáo trình A có nhiều ưu điểm đã và đang được áp dụng giảng dạy cho học viên khối đại học, đại học vừa học vừa làm tại trường Đại học VH-NT quân đội
Tính nổi trội của giáo trình này là phát huy kỹ năng nghe, nói của người học,
làm cho người học tự tin hơn trong quá trình giao tiếp tiếng Anh
Qua khảo sỏt đỏnh giỏ về mức độ phự hợp của giỏo trỡnh giảng dạy: cú 78% GV, CBQL và 50% HV cho là rất phự hợp với trỡnh độ ngành nghề đào tạo; chỉ cú 25% HV đưa ra ý kiến là khú (số HV này đến từ vựng sõu, vựng xa chưa từng được học tiếng Anh, một số khỏc là những học viờn lớn tuổi từ cỏc quõn khu, đơn vị cử đi học) Tổng hợp kết quả khảo sỏt chỳng tụi thấy rằng giỏo trỡnh tiếng Anh đang sử dụng và phõn bố chương trỡnh giảng dạy mụn tiếng Anh cho hệ đào tạo đại học chớnh quy ở Trường ĐH VH-NT quõn đội là phự hợp
Để đỏnh giỏ được thực trạng quản lý hoạt động dạy học mụn tiếng Anh một cỏch khỏch quan, chỳng tụi đó tiến hành khảo sỏt 20 CBQL, 5 GV giảng dạy mụn tiếng Anh, 92 HV (3 lớp) năm thứ nhất thuộc cỏc khoa: Thanh nhạc, Quản lý văn húa, Nghệ thuật Dõn tộc và Miền nỳi bằng phiếu hỏi ý kiến kết hợp trao đổi trực tiếp với cỏc tổ bộ mụn khoa Khoa học XH&NV, cỏn bộ quản lý nhà trường, cỏc cỏn bộ quản lý lớp, khối, Tiểu đoàn, Hệ, Cỏn bộ phũng Đào tạo, phũng Khoa học, phũng Chớnh trị Mục đớch của việc khảo sỏt là thu thập số liệu về thực trạng cụng tỏc quản lý cũng như điều kiện giảng dạy và học tập mụn tiếng Anh tại Trường ĐH VH-NT quõn đội
Trang 402.2.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh của giảng viên
* Hoạt động chuyên môn
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy
của giảng viên
Nội dung đánh giá
Yêu cầu, hướng dẫn HV khai thác, tự
Tạo cơ hội cho HV tự học, tự nghiên
Lấy ý kiến phản hồi của HV, sử dụng
kết quả KT-ĐG để điều chỉnh PP dạy
học
Tìm hiểu những khó khăn HV gặp
Có thể nói rằng hiện nay vẫn còn một số GV chưa nắm vững kỹ năng chuẩn bị bài, kỹ năng đứng lớp, kỹ năng thiết kế các hoạt động giảng dạy,
Điều đó được thể hiện qua kết quả khảo sát ở bảng 2.2 Nhìn vào bảng ta thấy
có sự chênh lệch rất lớn giữa các ý kiến của GV và HV về việc chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp Có 35% HV cho rằng GV chưa chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp trong khi đó có 15% gV tán đồng với ý kiến này
Theo điều kiện của từng lớp, từng chuyên ngành học cụ thể (trình độ, ý thức học tập, sĩ số, ) GV đã chú ý thay đổi PP giảng dạy, có những phương án chỉnh lý, bổ sung cho phù hợp với đối tượng người học Tuy nhiên chỉ ở mức độ