Khái niệm công chứng theo Điều 2 Luật công chứng được hiểu như sau: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THẢO
X· HéI HãA DÞCH Vô C¤NG CHøNG, CHøNG THùC -
QUA THùC TIÔN THµNH PHè Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THẢO
X· HéI HãA DÞCH Vô C¤NG CHøNG, CHøNG THùC -
QUA THùC TIÔN THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG ĐỨC CHÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất
cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC VÀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về công chứng, chứng thực 6
1.1.1 Khái niệm công chứng, khái niệm chứng thực 6
1.1.2 Phân biệt công chứng, chứng thực 10
1.1.3 Đặc điểm của hoạt động công chứng, chứng thực 14
1.1.4 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam 18
1.2 Một số vấn đề lý luận về xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực 28
1.2.1 Khái niệm xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực 28
1.2.2 Đặc điểm XHH hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam 30
1.2.3 Sự cần thiết phải XHH hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam 30
1.2.4 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC VÀ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 35
2.1 Thực trạng pháp luật về công chứng, chứng thực ở Việt Nam hiện nay 35
2.2 Thực trạng xã hội hóa về công chứng, chứng thực ở Thành phố Hà Nội hiện nay 42
Trang 52.3 Đánh giá chung pháp luật về công chứng, chứng thực và xã hội
hóa công chứng, chứng thực ở Thành phố Hà Nội hiện nay 47
2.3.1 Đánh giá chung pháp luật về công chứng, chứng thực 47
2.3.2 Đánh giá hoạt động xã hội hóa công chứng, chứng thực ở thành phố Hà Nội hiện nay 60
2.4 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 71
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực 71
3.1.1 Một số ý kiến hoàn thiện Luật Công chứng 71
3.1.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch 75
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xã hội hóa hoạt động công chứng ở thành phố Hà Nội hiện nay 78
3.2.1 Phân bổ các Văn phòng công chứng cho phù hợp với nhu cầu công chứng tại các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 78
3.2.2 Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ công chứng viên 79
3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về công chứng 80
3.2.4 Nâng cao ý thức pháp luật của các công chứng viên và người dân 81
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 82
3.2.6 Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công chứng 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam trải qua nhiều năm thực hiện công cuộc đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Những thành tựu đó đã thúc đẩy chúng ta phải có những sự đổi mới nhanh chóng bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp, trong đó công tác xã hội hoá dịch vụ công chứng, chứng thực là vấn để được quan tâm nhiều nhất hiện nay
Trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, Đảng đã ra Nghị quyết Đại hội X chỉ rõ: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân” và “Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ công cộng”, “phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn
đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng” nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia vào hoạt động cộng góp phần xây dựng và phát triển Nhà nước Việt Nam
Nhà nước đã triển khai thực hiện và đã đạt được kết quả trong việc xã hội hoá một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, do vậy mà dịch
vụ công chứng, chứng thực được Nhà nước tiếp tục cho phép xã hội hoá Ngày 20 tháng 6 năm 2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua Luật số 53/2014/QH13 (luật công chứng) có hiệu lực ngày 01/01/2015, gồm 10 chương, 81 điều quy định về công chứng, xác lập cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá dịch vụ công chứng, chứng thực nước ta
Trong những năm vừa qua, với sự ra đời của Luật công chứng, dịch vụ công chứng, chứng thực đã đạt được kết quả khả quan: hạn chế được tình
Trang 7trạng quá tải tại các Phòng công chứng, đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hà Nội với mức độ dân cư cao và nhu cầu công chứng lớn, nâng cao chất lượng phục vụ tại các Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, đã đáp ứng được
cơ bản nhu cầu công chứng của cơ quan, tổ chức, cá nhân Bên cạnh đó, thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khiếm khuyết Để phát huy kết quả đạt được và khắc phục hạn chếcủa hoạt động công chứng hiện nay cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả xã hội hoá hoạt động này
Với lý do trên em đã lựa chọn đề tài “Xã hội hoá dịch vụ công chứng,
chứng thực – qua thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn Thạc sĩ –
Trường đại học Quốc gia Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xã hội hóa công chứng là vấn đề không còn mới ở Việt Nam nói chung, ở thành phố Hà Nội nói riêng, tuy nhiên thực tiễn áp dụng còn nhiều hạn chế, bất cập Cho đến nay vấn đề xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, đầy đủ; Chưa có một đề tài nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về xã hội hóa công chứng, chứng thực, thực trạng và giải pháp qua nhiều năm thực hiện Luật
Công chứng Ví dụ: Luận án tiến sĩ Luật học: “Tổ chức và hoạt động công
chứng nhà nước ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Khánh, 2002; Luận
văn thạc sĩ Luật học: “Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Lê Kim Hoa, 2003; Bài“Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan công chứng” của tác giả Lê Khả đăng trên báo Pháp
luật, ngày 18/2/2003; “Công chứng, chứng thực trong điều kiện cải cách
hành chính và cải cách tư pháp” của tác giả Trần Thất, đăng trên tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số 6/2004; “Công chứng, chứng thực ở việt Nam – Thực
trạng và định hướng phát triển” của tác giả Phạm Văn Lợi, đăng trên tạp chí
Trang 8Dân chủ và pháp luật, số 7/2002.Luận án tiến sĩ Luật học “Nghiên cứu pháp
luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận
cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Tuấn Đạo Thanh năm 2008; Luận văn thạc sĩ “Phân cấp quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực (Qua thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008; Luận văn thạc sĩ “Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác
giả Nguyễn Quang Minh năm 2009; Luận văn thạc sĩ “Xã hội hóa công
chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” của tác giả Phạm Thị
Mai Trang năm 2011; Bài viết “Bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây
ra” của tác giả Đỗ Văn Đại đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số
14(199), tháng 7 năm 2011; Bài viết “Kiến nghị hoàn thiện Luật Công
chứng” của tác giả Lê Quốc Hùng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số
1+2 (210+211), tháng l năm 2012; Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về quản lý
nhà nước đối với văn phòng công chứng” của tác giả Phan Hải Hồ đăng trên
tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (222), tháng 7 năm 2012
Trong một số luận án, luận văn, bài viết về công chứng, xã hội hóa công chứng, chứng thực mới chỉ được nghiên cứu trước giai đoạn luật công chứng năm 2014 có hiệu lực và đề cập đến như là một trong các giải pháp hoàn thiện pháp luật công chứng và nghiên cứu hoặc đổi mới tổ chức hoạt động công chứng ở Việt Nam cũng như thành phố Hà Nội hiện nay hoặc được đề cập đến như một trong các hoạt động bổ trợ tư pháp cần thiết phải
xã hội hóa Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu
về Xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực qua thực tiễn ở thành phố
Hà Nội hiện nay Có thể khẳng định, đề tài “Xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực – qua thực tiễn thành phố Hà Nội” là đề tài đầu tiên nghiên cứu
về khía cạnh này
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu một số vấn đề về hoạt động công chứng trong thời gian qua, luận văn đưa ra những nhận xét, đánh giá về thực tiễn dịch vụ công chứng, chứng thực,đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch
vụ công chứng, chứng thực, phục vụ tốt nhất nhu cầu, lợi ích của nhân dân Mục đích cao nhất của luận văn là đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào sự nghiệp hoàn thiện và phát triển hoạt động công chứng, chứng thực nước nhà
Nhiệm vụ nghiên cứu là làm rõ các vấn đề bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực qua thực tiễn thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: Luật công chứng, xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực; thực tiễn hoạt động công chứng chứng thực tại thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng, song dưới góc lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật và qua quá trình thực tiễn hành nghề công chứng của bản thân, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu trong phạm vi như sau:
- Về nội dung: Nghiên cứu xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực trên cơ sở luật công chứng, chứng thực và thực tiễn thành phố Hà Nội
- Về không gian: Thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Tính từ ngày Luật công chứng năm 2014 có hiệu lực đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 10của chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu, ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Những giải pháp trong luận văn được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực và nâng cao hiệu quả thực hiện xã hội hóa về công chứng, chứng thực ở Thành phố Hà Nội Những giải pháp mà tác giả đề xuất có ý nghĩa khoa học, thực tiễn, có tính khả thi
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương, gồm:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về công chứng, chứng thực và xã hội
hoá hoạt động công chứng, chứng thực
Chương 2 Thực trạng pháp luật về công chứng, chứng thực và xã hội
hoá dịch vụ công chứng ở thành phố Hà Nội
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực
và nâng cao hiệu quả xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực ở thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC VÀ
XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC
1.1 Một số vấn đề lý luận về công chứng, chứng thực
1.1.1 Khái niệm công chứng, khái niệm chứng thực
Khái niệm công chứng đâu đó đã được nhắc đến ở nước ta từ những năm 1930 dưới thời Pháp thuộc, tuy nhiên thuật ngữ này mãi đến năm 1987 mới được sử dụng rộng rãi hơn
Việc xác định chính xác khái niệm công chứng có ý nghĩa và vai trò quan trọng, nó không những ảnh hưởng đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động mà căn cứ vào nó người ta còn có thể xác định được phạm vi, nội dung công chứng và thậm chí đến cả các quyền và nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức được nhà nước giao cho quyền năng này
Theo từ điển Tiếng Việt: “Công chứng là sự chứng thực của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền nhằm xác nhận về mặt pháp lý các văn bản và bản sao từ bản gốc” [23], còn theo nghĩa thông thường thì công chứng là “công quyền làm chứng” Về mặt pháp lý, khái niệm công chứng được chính thức
quy định trong văn bản pháp luật tại thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước Theo thông tư số 574/QLTPK thì:
Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện
có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hoá các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù
Trang 12hợp với hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế
Xã hội chủ nghĩa [2]
Từ đó đến nay khái niệm công chứng được tiếp tục quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành,
đó là: Điều 1 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng
về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Điều 1 Nghị định số 3 L/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Điều 2 Nghị định số 75/2000/NĐ – CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, Điều 2 Luật công chứng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 (có hiệu lực ngày 01/07/2007) Hiện nay, khái niệm công chứng được quy định tại Điều 2 Luật công chứng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/06/2014 (có hiệu lực ngày 01/01/2015) (Sau đây được gọi là Luật công chứng năm 2014)
Khái niệm công chứng theo Điều 2 Luật công chứng được hiểu như sau:
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (Sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [10, Điều 2]
Khái niệm nêu trên đã thể hiện được đúng bản chất của hoạt động công chứng, nêu được rõ chủ thể, mục đích của hoạt động này cũng như các hành
Trang 13vi mà chủ thế tiến hành khi thực hiện hoạt động công chứng, xác định được giá trị pháp lý của văn bản công chứng Khái niệm còn thể hiện được ý muốn chủ quan của chủ thể tham gia hoạt động công chứng Theo đó kể cả trong trường hợp mà pháp luật không yêu cầu nhưng chủ thể yêu cầu công chứng đề nghị thì các hợp đồng, giao dịch đó vẫn được công chứng (nội dung hợp đồng, giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội) Cụ thể:
Chủ thể của hoạt động công chứng là các cá nhân (cụ thể là các công chứng viên) được nhà nước giao quyền trực tiếp thực hiện các hành vi đó chứ không phải là cơ quan chủ quản (Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, hay các lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước nước ngoài) của các cá nhân đó Công chứng viên tự chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện (Điều này phù hợp với nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Luật công chứng năm 2014)
Đối tượng của hoạt động công chứng là các giao dịch, hợp đồng được xác lập trong các quan hệ kinh tế, thương mại, dân sự; công chứng tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (Ví
dụ như dịch Bằng tốt nghiệp từ tiếng Việt sang Tiếng anh rồi công chứng vào bản dịch đó) Các hợp đồng, giao dịch này có thể được pháp luật yêu cầu phải công chứng hoặc tuy pháp luật không yêu cầu phải công chứng nhưng được các chủ thể yêu cầu công chứng đề nghị
Nội dung của hoạt động công chứng là chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch; tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt [10] (Ví dụ: Chứng nhận Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư) Tất cả đều nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia Hợp đồng, giao dịch … ngăn ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 14Cũng giống như công chứng, chứng thực cũng là một thể chế pháp lý xuất hiện ở nước ta từ lâu tuy nhiên không được mọi người chú ý nhiều như cụm từ công chứng
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Đà Nẵng năm 1997,
chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng chứng là đúng sự thật
Chứng thực lời khai Xác nhận là đúng Thực tiễn đã chứng thực điều đó” [9]
Còn theo nghĩa thông thường, “Chứng thực là làm chứng việc có thực”
Về mặt pháp lý, khái niệm chứng thực được chính thức quy định trong văn bản pháp luật tại Điều 2 Nghị định của Chính phủ ban hành số 75/2000/NĐ-
CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực Theo đó “Chứng thực là việc
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”[3] Khái niệm chứng thực
tiếp tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, đó là: Điều 2 Nghị định chính phủ số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 quy định về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Hiện nay, khái niệm chứng thực được quy định tại Điều 2 Nghị định của Chính phủ ban hành số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định về việc cấp bản sao
từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (có hiệu lực ngày 10/04/2015)
Khái niệm chứng thực quy định tại Điều 2 Nghị định số
23/2015/NĐ-CP cụ thể như sau:
Cấp bản sao từ sổ gốc là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao Bản sao từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc
Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao đúng vơi bản chính
Trang 15Chứng thực chữ ký là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực
Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự; ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch [4, Điều 2]
Khái niệm chứng thực cũng đã thể hiện được rõ bản chất của hoạt động chứng thực, được chia cụ thể thành 4 loại chứng thực đó là “Cấp bản sao từ sổ gốc” (hay còn hay gọi là chứng thực bản sao từ sổ gốc), “chứng thực bản sao”,
“chứng thực chữ ký”, “chứng thực hợp đồng, giao dịch” chứ không còn quy định chung chung như khái niệm quy định trong Nghị Định số 75/2000/NĐ-CP Trong khái niệm chứng thực quy định trong Nghị Định số 75/2000/NĐ-CP còn liệt kê một số các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực, quy định thẩm quyền chứng thực một cách chung, tuy nhiên theo quy định tại Điều 5 Nghị số 23/2015/NĐ-CP, thẩm quyền chứng thực đã được quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn đối với từng cơ quan, ngoài các cơ quan nhà nước ra thì còn quy định
về thẩm quyền của công chứng viên tại Khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cụ thể như sau: “Công chứng viên có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều này, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng (sau đây gọi chung là tổ chức hành nghề công chứng)” [4]
1.1.2 Phân biệt công chứng, chứng thực
Khái niệm công chứng và khái niệm chứng thực là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, nhưng không phải ai cũng biết nó khác nhau ở những điểm gì thậm chí nhiều người còn nghĩ hai khái niệm này là giống nhau Dưới đây, tác giả phân tích sự khác biệt giữa công chứng và chứng thực như sau:
Trang 16Tiêu chí Công chứng Chứng thực
Khái niệm Công chứng là việc công chứng
viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [10]
(Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng)
Là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định thực hiện 4 loại chứng thực đó
là “Cấp bản sao từ sổ gốc” (hay còn hay gọi là chứng thực bản sao từ sổ gốc),
“chứng thực bản sao”, “chứng thực chữ ký”, “chứng thực hợp đồng, giao dịch” [4] (Khoản 1,2,3,4 Điều 2 Nghị định 23/2015/NĐ-CP)
- Phòng Tư pháp (cụ thể là Trường phòng, phó trưởng phòng Tư pháp cấp huyện);[4]
- UBND xã, phường (Cụ thể
là chủ tịch, phó chủ tịch);[4]
- Cơ quan đại diện ngoại giao,
Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của
Trang 17Tiêu chí Công chứng Chứng thực
Việt Nam ở nước ngoài; [4]
- Công chứng viên của Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng
Tùy từng loại giấy tờ mà thực hiện chứng thực ở các cơ quan khác nhau [4]
Bản chất - Công chứng viên chịu trách
nhiệm về tính chính xác của nội dung, chủ thể, đối tượng của hợp đồng, giao dịch
- Mang tính pháp lý cao hơn
- Chứng nhận về thời gian, địa điểm, chữ ký của người yêu cầu Bản chính các loại giấy tờ
Giá trị
pháp lý
- Văn bản công chứng có hiệu lực
kể từ ngày được công chứng viên
ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng [10]
- Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao
- Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [4]
- Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký
đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản [4]
- Hợp đồng, giao dịch được
Trang 18Tiêu chí Công chứng Chứng thực
dịch có thỏa thuận khác [10]
- Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ;
những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên
bố là vô hiệu [10]
- Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch [10]
(Giá trị Văn bản công chứng được quy định tại Điều 5 Luật công chứng)
chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch [4]
(Giá trị văn bản được chứng thực quy định tại Điều 3 Nghị định 23/2015/NĐ-CP)
Thời hạn Đối với các giao dịch bình
thường thì thời hạn công chứng
là không quá 02 ngày làm việc
kể từ khi người có yêu cầu nộp
đủ hồ sơ Đối với các giao dịch có mức
độ khó hơn thì thời hạn công chứng là không quá 10 ngày làm việc kể từ khi người yêu cầu công chứng nộp đủ hồ sơ
Thời hạn chứng thực là không quá 02 ngày làm việc kể từ khi người yêu cầu nộp đủ hồ
sơ hoặc theo thỏa thuận với người có yêu cầu bằng văn bản
Trang 191.1.3 Đặc điểm của hoạt động công chứng, chứng thực
Qua nghiên cứu khái niệm, bản chất của hoạt động công chứng, chứng thực và từ thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta, chúng ta có thể thấy hoạt động công chứng, chứng thực có một số đặc điểm sau:
Hoạt động công chứng, chứng thực do các công chứng viên thực hiện Khoản 1 Điều 17 luật công chứng năm 2014 quy định quyền của công chứng viên:
Được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của pháp luật; Được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch
vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; Giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; trường hợp từ chối yêu cầu công chứng thì phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu công chứng; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng mà mình
là công chứng viên hợp danh [10]
Khoản 4 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP cũng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực của Công chứng viên
Như vậy ta thấy, hoạt động công chứng, chứng thực là do chính Công chứng viên thực hiện Công chứng viên có sự độc lập trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viên trực tiếp tiếp nhận hồ sơ công chứng từ người yêu cầu công chứng, thực hiện hoặc từ chối công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, công chứng viên không chịu trách nhiệm trước các cơ quan cấp trên hay trước trưởng phòng, trưởng văn phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về Văn bản công chứng, chứng thực của mình
Trang 20 Hoạt động công chứng tạo lập các văn bản có giá trị pháp lý:
Luật công chứng năm 2014 quy định:
Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký
và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng [10, Điều 5] Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác [10, Điều 5]
Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công
chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là
vô hiệu”[10, Điều 5, Khoản 3] Điều đó có nghĩa là khi hợp đồng, giao dịch đã
được công chứng thì nó đương nhiên trở thành chứng cứ, nếu có tranh chấp xảy
ra thì nó như một bằng chứng để chứng minh sự việc đó mà không cần phải chứng minh nó là chứng cứ trừ trường hợp Tòa án tuyên bố là vô hiệu
Nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch
Công chứng viên kiểm tra và chứng nhận các giao dịch, hợp đồng Tính chính xác về thời gian, địa điểm, các giấy tờ về nhân thân và tài sản, xác nhận
ý chí của các bên tham gia là đúng, không có sự đe dọa hay cưỡng bức khi tham gia Hợp đồng, giao dịch mà tham gia hoàn toàn tự nguyện Do các Hợp đồng, giao dịch có tính chất thời điểm nhất định do đó cần có sự công chứng chứng nhận của Công chứng viên mới tránh được các tranh chấp xảy ra
Các loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng
Pháp luật quy định một số hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng Ví dụ: Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư theo yêu cầu của pháp luật
Trang 21bắt buộc phải công chứng mới làm thủ tục sang tên quyền sở hữu căn hộ
chung cư đó theo luật nhà ở năm 2014 “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi,
góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” [12, Điều 122, Khoản 1]
Một số hợp đồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng mà pháp luật không bắt buộc phải công chứng Ví dụ: Hợp đồng thuê nhà theo quy định của pháp luật không bắt buộc phải công chứng vẫn có giá trị pháp lý theo Luật Nhà ở năm 2014 quy định về công chứng, chứng thực
hợp đồng về nhà ở lại quy định “đối với trường hợp cho thuê, cho mượn, cho
ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu” [12, Điều 122, Khoản 2]
Hoạt động công chứng, chứng thực chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước Cụ thể:
Quy mô của hoạt động công chứng, chứng thực dựa trên yêu cầu quản
lý của nhà nước Hiện nay nước ta có hai hình thức tổ chức hành nghề công
chứng là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng Các “Phòng công
chứng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập” [10] có các công
chứng viên là công chức, viên chức hưởng chế độ lương theo đơn vị sự nghiệp công lập và trưởng phòng Phòng công chứng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Đối với các Văn phòng công chứng, việc thành lập phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập khi có hồ sơ của công chứng viên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để nghị thành lập Văn phòng công chứng) Nhà nước kiểm soát công từ khâu xét duyệt, bổ nhiệm, bãi nhiệm công chứng viên Trong quá trình hành nghề công chứng, công chứng viên tự thực hiện công
Trang 22việc trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật Công việc của công chứng viên chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: cơ quan thuế kiểm tra việc thu phí, lệ phí, cơ quan Toà án xử lý tranh chấp trong văn bản công chứng, cơ quan công an điều tra và cơ quan kiểm sát giám sát việc tuân thủ pháp luật
Khi tạm dừng hành nghề hay thôi không cung cấp dịch vụ, tổ chức hành nghề công chứng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (Điều 21
và Điều 31 Luật Công chứng năm 2014) Ngoài ra pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho đương sự hay cho bên thứ ba do lỗi của công chứng viên (Khoản 5 Điều 33 Luật công chứng năm 2014) Để được hành nghề công chứng thì công chứng viên phải thoả mãn yêu cầu, điều kiện mà pháp luật quy định; được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm phù hợp với pháp luật (Chương II Luật công chứng năm 2014, Nghị định 02/2008/NĐ - CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng) Các Phòng công chứng và Văn phòng công chứng khi thành lập phải có hồ sơ đăng kí hoạt động và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập (Điều 20 và Điều 23 Luật Công chứng năm 2014) Ngay cả việc thu phí - yếu tố khiến cho hoạt động công chứng giống với những loại hình dịch vụ khác thì mức phí cũng phải tuân theo mức thu do pháp luật quy định chứ không dựa trên sự thoả thuận giữa người yêu cầu công chứng và công chứng viên là người cung cấp dịch vụ (Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động Văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên và Thông tư số 111/2017/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm
Trang 232017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 257/2016/TT-BTC)
Hoạt động công chứng, chứng thực là hoạt động có tính chất chuyên môn nghề nghiệp
Các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện hoạt động này bằng chính kiến thức chuyên môn nghề nghiệp của mình, hoàn toàn không bằng quyền lực hay một thứ ảnh hưởng nào Các hợp đồng, giao dịch được công chứng bởi những công chứng viên có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật (Điều 08 Luật Công chứng năm 2014 và các quy định khác), nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, cá nhân, tổ chức yêu cầu công chứng
1.1.4 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam
Cùng với quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội đất nước, kéo theo các quan hệ dân sự, thương mại, đất đai,… cũng ngày càng phát triển mãnh mẽ hơn Do đó, nhu cầu công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch, giấy tờ phát sinh trong đời sống xã hội ngày càng tăng cao Cùng với đó
là việc thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, làm cho số lượng các phòng công chứng và văn phòng công chứng ngày càng tăng Để có sự phát triển như ngày hôm nay, hoạt động công chứng, chứng thực đã trải qua quá trình hình thành và phát triển gắn liền với quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước
Theo Bộ Tư pháp, đến nay, cả nước có 1.003 tổ chức HNCC, phát triển
có lộ trình và phân bổ hợp lý gắn với địa bàn dân cư thành một mạng lưới rộng khắp cả nước để phục vụ yêu cầu công chứng, chứng thực của người dân [20] Để đạt được kết quả nêu trên, hoạt động công chứng, chứng thực đã trải qua quá trình hình thành và phát triển khó khăn, trầm bổng, cụ thể:
Trang 24Thời kỳ Pháp thuộc đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Kể từ thời kỳ Pháp thuộc, hoạt động Công chứng, chứng thực nước ta bắt đầu hình thành, tuy nhiên giai đoạn này hoạt động Công chứng, chứng thực chưa có quy định gì cụ thể mà được áp dụng theo mô hình của Pháp Theo một số tài liệu lưu trữ hiện còn lại, thì văn bản công chứng đầu tiên được lập tại Việt Nam là vào năm 1886 (văn bản này hiện còn lưu trữ tại phòng công chứng số 1 thành phố Hồ Chí Minh [16] Theo Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Pháp về tổ chức công chứng tại Pháp (được
áp dụng tại Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies), thì người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức
vụ suốt đời
Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1991
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh đầy khó khăn, phức tạp lúc bấy giờ, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn không quên việc giải quyết vấn đề về thể chế công chứng, chứng thực Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh đã ký quyết định bãi chức công chứng viên người Pháp tên là Deroche ngày 1 tháng 10 năm 1945 và bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ (cử nhân luật, luật sư tập
sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội) thay thế cho công chứng viên người Pháp tại
Hà Nội Trong nghị định này đã chỉ rõ: những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa; công chứng viên chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm tra giám sát của Ủy ban hành chính các cấp
Như vậy, có thể thấy rằng, tổ chức công chứng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là sự kế thừa tổ chức công chứng của Pháp để lại, tuy nhiên cũng chỉ còn một phòng công chứng tại Hà Nội [16] Các quy chế quy
Trang 25định về hoạt động công chứng, chứng thực thời kỳ này chủ yếu vẫn được giữ nguyên như cũ, một số quy chế quy định trái với quy định của nước ta thì bị bãi bỏ Điểm mới của thể chế công chứng này được thể hiện ở chỗ: Đó là thể chế công chứng của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, công chứng viên
là người Việt Nam và đây cũng là lần đầu tiên trong một văn bản pháp lý nhà nước ta đã sử dụng thuật ngữ “công chứng”
Để đáp ứng các nhu cầu giao kết dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng
11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59/SL ấn định thể lệ về thị thực các giấy tờ trong đó có cả các khế ước chuyển dịch quyền sở hữu bất động sản Theo Sắc lệnh này, quyền thị thực các giấy tờ trước đây giao cho lý trưởng các làng và trưởng phố ở thành thị, thì nay giao về Ủy ban nhân dân các làng hoặc Ủy ban nhân dân hàng phố Riêng ở thành thị, việc thị thực của
Ủy ban hàng phố phải có thêm Ủy ban nhân dân thị xã xác nhận Tuy nhiên,
Ủy ban làm nhiệm vụ phải là Ủy ban nơi trú quán của một hoặc các bên đương sự lập ước, nếu là bất động sản phải là Ủy ban nơi có bất động sản…[16] Sau một thời gian áp dụng, Sắc lệnh 59/SL bắt đầu bộc lộ điểm bất cập đó là áp dụng Sắc lệnh mang tính hình thức, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chủ yếu xác nhận ngày tháng năm, xác nhận chữ ký và xác nhận địa chỉ thường trú của đương sự chứ không xác nhận nội dung Tiếp đó, ngày 29 tháng 2 năm 1952, Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Chủ tịch Hồ Chí Minh) ký Sắc lệnh số 85/SL quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua bán,
cho, đổi nhà cửa, ruộng đất Tại Sắc lệnh số 85/SL quy định: “Trước khi đem
trước bạ, văn tự phải đưa UBKCHC xã hay thị xã nhận thực chữ ký của các người mua, bán, cho, nhận đổi và nhận thực những người bán, cho hay đổi là chủ những nhà cửa, ruộng đất đem bán, cho hay đổi” [5, Điều 3] Theo hai Sắc
lệnh này, có thể thấy Ủy ban hành chính các cấp sẽ thực hiện một số việc chứng nhận giấy tờ
Trang 26Hoạt động công chứng, chứng thực thời kỳ này không được phát triển
vì một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do điều kiện kinh tế – xã hội, đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh Đất nước bị chia cắt, các hoạt động kinh tế – xã hội đều nhằm mục đích phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, thống nhất đất nước
Thứ hai là do nước ta không chấp nhận sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế quốc doanh và tập thể Hoạt động công chứng chỉ mang tính chất chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân Do vậy, không nhất thiết phải thiết lập các tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực
Trên cơ sở quy định của Nghị định số 143/HĐBT ngày 22 tháng 11 năm
1981 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, tổ chức của Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK ngày
10 tháng 10 năm 1987 về công tác công chứng Nhà nước Theo đó, tại Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội đã ra Phòng công chứng, một số địa phương khác nếu có nhu cầu cũng sẽ được thành lập Sau đó, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK ngày 15 tháng 10 năm 1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng để tạo Điều kiện cho các cá nhân, tổ chức hiểu hơn
về hoạt động công chứng Tại thời điểm này, chủ thể thực hiện công chứng duy nhất là phòng công chứng
Căn cứ vào những văn bản này, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tiến hành thành lập các phòng công chứng, điều này góp phần tạo nên mạng lưới các phòng công chứng Nhà nước trên phạm vi toàn quốc
Tại miền Nam Việt Nam, sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, với âm mưu chia cắt đất nước lâu dài, cùng với việc củng cố bộ máy hành chính, chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn cũng đã quan tâm đến việc thiết lập ra thể
Trang 27chế công chứng ở Miền Nam Văn bản làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của thể chế công chứng dưới thời chính quyền Ngụy – Sài Gòn được điều chỉnh bởi Dụ 43 ngày 29 tháng 11 năm 1954 quy định về ngạch chưởng khế (chưởng khế là người Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng ban hành Về cơ bản, nội dung của Dụ số 43 nói trên là sự sao chép những quy định về tổ chức và hoạt động công chứng của Pháp ở Đông Dương (Sắc lệnh năm 1931 của Tổng thống Pháp) và gọi dưới tên Chưởng khế Nhờ vào việc ban hành Chưởng khế, nên đã thành lập được một Văn phòng Chưởng khế tại Sài Gòn (Văn phòng hoạt động đến năm 1975)
Thời kỳ từ năm 1991 đến nay
a) Từ năm 1991 đến trước khi Luật Công chứng 2014 có hiệu lực (1/1/2015)
Sang đầu thập kỷ chín mươi, sự nghiệp đổi mới toàn diện ở đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thu được nhiều thành tựu rực
rỡ Cụ thể, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 là một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển đất nước ta – Đại hội của sự đổi mới, mở cửa, chúng ta tiến hành đổi mới quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000” đã được thông qua Theo quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Đảng, ngày 27 tháng 2 năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước Nghị định 45/HĐBT đã quy định khá cụ thể về công chứng nhà nước, công chứng viên, người yêu cầu công chứng, Văn bản công chứng… Theo Điều 11 Nghị
định này thì “ Phòng Công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân
Trang 28tỉnh có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở Ngân hàng, có con dấu mang hình quốc huy” Ở những nơi chưa thành lập được phòng công chứng thì Ủy
ban nhân dân huyện, thị xã được thực hiện một số việc công chứng
Sau hơn 5 năm thực hiện (từ tháng 2/1991-5/1996) Nghị định 45/HĐBT, chúng ta đã thu được khá nhiều thành công trong việc tổ chức và hoạt động công chứng Thể chế công chứng ở nước ta đã được hình thành và phát triển khá nhanh trên thực tế do gặp được môi trường thuận lợi, đó là cơ chế thị trường Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta, nhu cầu về giao kết dân sự, hợp đồng kinh tế,… của các tổ chức, cá nhân ngày càng tăng và có nhiều thay đổi liên quan đến hoạt động công chứng và Nghị định 45/HĐBT không còn đáp ứng được Chính vì thế, ngày 18 tháng 5 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước thay thế cho Nghị định số 45/HĐBT, theo đó, Phòng công chứng thuộc Sở Tư pháp nhằm chuyên môn hóa hoạt động công chứng và giảm tình trạng quá tải cho Ủy ban nhân dân Ngày 03 tháng 10 năm 1996, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 411-TT/CC hướng dẫn thực hiện Nghị định 31/CP.Tuy nhiên, những văn bản này vừa quy định về công chứng, vừa quy định về chứng thực và sự phân biệt giữa công chứng và chứng thực là không rõ ràng
Do nhu cầu giao kết ngày càng phong phú, đa dạng về số lượng cũng như nội dung các lĩnh vực giao kết, nên Nghị định 31/CP đã bộc lệ nhiều điểm bất cập Do đó, ngày 08 tháng 12 năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch; Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực; Thẩm quyền quản lý về công chứng, chứng thực; Phòng công chứng, công chứng viên; Nhiệm vụ quyền hạn của người thực hiện công chứng, chứng thực; Hình thức văn bản, chế độ lưu trữ; Giả
Trang 29quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm … của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Cũng trong Nghị định này, thuật ngữ phòng công chứng đã được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ phòng công chứng Nhà nước, góp phần vào yêu cầu quan trọng trong việc xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta
Trước nhu cầu công chứng ngày càng lớn, để đáp ứng nhu cầu của những người yêu cầu công chứng và thực hiện hiệu quả hơn nữa chủ trương
xã hội hóa hoạt động công chứng Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ
10 Quốc hội khóa XI, Luật Công chứng đã được thông qua và có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 07 năm 2007 Theo Luật Công chứng 2006, công chứng viên được thừa nhận là một nghề, ghi nhận tổ chức hành nghề công chứng tư và công chứng viên chứng nhận các hợp đồng, giao dịch và không thực hiện các việc chứng thực như: sao y, chứng nhận chữ ký,… Để góp phần vào việc thực hiện hoạt động công chứng tốt hơn, các văn bản hướng dẫn thi hành luật công chứng cũng lần lượt ra đời như Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký giao về Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã; Nghị định số 02/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04 tháng 01 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
Việc Quốc hội khoá XI tại kỳ họp thứ 10 thông qua Luật công chứng là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá nội dung hoàn thiện thể chế
về công chứng ở nước ta trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Đến năm 2013, sau 6 năm thi hành Luật công chứng, những kết quả bước đầu đạt được đã khẳng định Luật thực sự phát huy vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế –
xã hội của đất nước Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng là hết sức
Trang 30đúng đắn Đội ngũ công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng ở nước
ta đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng So với thời điểm giữa năm 2007 khi Luật công chứng bắt đầu có hiệu lực thi hành, đội ngũ công chứng viên hành nghề đã tăng từ 393 lên 1.327 người (tăng 3,4 lần); số lượng
tổ chức hành nghề công chứng tăng từ 84 lên 704 tổ chức (tăng hơn 8 lần) Sau 6 năm, các tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng được gần 7 triệu việc, với doanh thu gần 2.780 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước gần 1.000 tỷ đồng [21] Những kết quả đạt được nêu trên giúp ta thấy rằng luật công chứng đã phát huy hiệu quả rất lớn, người dân biết đến luật công chứng nhiều hơn, nghề công chứng cũng phát triển không ngừng nhờ chính sách
xã hội hóa dịch vụ công chứng (tăng về số lượng công chứng viên cũng như tổ chức hành nghề công chứng) Đi cùng với việc tăng về số lượng thì chất lượng công chứng cũng được đẩy mạnh, đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tạo được sự tin cậy cho người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch, đồng thời góp phần cải cách bộ máy hành chính, cải cách tư pháp
Qua thực tiễn triển khai thực hiện Luật công chứng năm 2006, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn những bất cấp, tồn tại như: Luật công chứng chưa có quy định về quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng, nên tại các địa phương có nền kinh tế phát triển, số lượng giao dịch nhiều thì các tổ chức hành nghề công chứng tập trung khá đông dẫn đến cạnh tranh, một số địa phương vùng sâu vùng xa có nhu cầu công chứng thì lại không có tổ chức hành nghề công chứng nào để yêu cầu Hay một bất cập khác đó là xuất hiện dấu hiệu các công chứng viên thực hiện công chứng sai với quy định của pháp luật, nghiệp vụ công chứng viên chưa cao dẫn đến sai phạm, nguyên nhân chủ yếu do luật quy định về điều kiện bổ nhiệm còn dễ, chưa thường xuyên mở lớp tập huấn bồi dưỡng cho các công chứng viên Bất
Trang 31cập khác nữa là tổ chức hành nghề công chứng được thành lập theo mô hình doanh nghiệp tư nhân nên không có tính ổn định, lâu dài, pháp luật lại chưa
có quy định cụ thể về chuyển nhượng Văn phòng công chứng nên khi thực tế xảy ra thì việc thực hiện còn nhiều lùng túng Quản lý của nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng còn lỏng lẻo
Ngoài ra, việc Luật công chứng năm 2006 quy định Công chứng viên không được công chứng bản dịch giấy tờ mà giao cho Phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện Trong khi nhu cầu dịch thì ngày càng tăng cao, các Phòng tư pháp chưa đáp ứng kịp nhu cầu của người dân, làm cho các Văn phòng công chứng, Phòng công chứng chưa phát huy được hết các chức năng, nhiệm vụ của mình Hạn chế thành lập các công ty dịch thuật chuyên nghiệp Những điều này làm ảnh hưởng tương đối lớn đến quyền lợi của khách hàng
b) Từ khi Luật Công chứng 2014 có hiệu lực (1/1/2015) đến nay
Trước yêu cầu thực tiễn của hoạt động công chứng và để tiếp tục thể chế hoá Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấp đầy những bất cập hạn chế của Luật công chứng năm 2006 và tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh
xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực, tại Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, Kỳ họp thử bảy đã thông qua Luật công chứng số 53/2014/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/01/2015 [21] (sau đây gọi là Luật công chứng năm 2014) và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định
về việc cấp bản sao từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ
ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (có hiệu lực ngày 10/04/2015)
Sự ra đời của Luật công chứng và nghị định số 23/2015/NĐ-CP có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã góp phần tháo gỡ những khó khăn, bất cập
Trang 32của Luật công chứng năm 2006, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động công chứng, chứng thực, công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng, tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, đáp ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng đồng thời phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế đã được đề ra tại Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
Để thực hiện Luật Công chứng đạt được những thành tựu trong quá trình phát triển của hoạt động công chứng, chứng thực, Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết bao gồm: Nghị định 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (có hiệu lực ngày 1/5/2015) về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng; hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng; chính sách ưu đãi đối với Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng; niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên; Thông tư số 06/2015/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (có hiệu lực ngày 1/8/2015) về thủ tục đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, đăng ký hành nghề, cấp Thẻ công chứng viên; đào tạo nghề công chứng, khoá bồi dưỡng nghề công chứng, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm; tổ chức và hoạt động công chứng; một số mẫu giấy tờ trong hoạt động công chứng Văn bản hợp nhất số: 07/VBHN-VPQH do Văn phòng Quốc hội ban hành ngày 29/06/2019, có hiệu lực ngày 01/01/2019 (Sau đây gọi là luật công chứng năm 2018) đã xóa bỏ
“quy hoạch tổng thể nghề công chứng” đảm bảo cho các VPCC hoạt động chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của người dân
Trang 33Như vậy, có thể nói rằng: Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động công chứng, chứng thực của nước ta là một quá trình thăng trầm, thay đổi khá phức tạp, khó khăn và nó thực sự hình thành với tư cách là một hệ thống thể chế chỉ mới bắt đầu khi Nhà nước ban hành Nghị định 45/HĐBT ngày 27/1/1991 Cho đến khi Luật Công chứng 2014 ra đời, thể chế này đã tương đối hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội đất nước Để có được sự phát triển như hiện nay, ngay từ đầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đảng và Nhà nước đã chú trọng công tác hoàn thiện hơn nữa đội ngũ cán bộ làm công tác công chứng, chứng thực cũng như xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng nhằm tạo điều kiện tối đa cho người dân thực hiện đủ và tốt hoạt động pháp lý thiết yếu này [7]
1.2 Một số vấn đề lý luận về xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực
1.2.1 Khái niệm xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực
Để hiểu xã hội hoá hoạt động công chứng là gì, trước hết chúng ta cần phải hiểu thế nào là xã hội hoá
Thuật ngữ xã hội hoá trong khoa học xã hội nói chung, xã hội học nói riêng không đồng nhất với khái niệm xã hội hoá đang được sử dụng phổ biến
ở Việt Nam hiện nay như xã hội hoá các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, hay thể thao v.v (cho tư nhân đấu thầu những công trình, cơ sở của nhà nước, nhân dân và kinh phí qua sự thâu vé vào cửa các xa lộ, di tích, khu du lịch hay mua công khố phiếu, )
Xã hội hoá là quá trình tiếp nhận nền văn hóa của xã hội nhờ đó chúng
ta học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội Xã hội hoá cũng được xem là sự chuyển giao văn hoá giữa các thế hệ, và là cách thức mà các cá nhân trở thành thành viên của một xã hội, thể hiện những trải nghiệm của mình và xử sự theo những hành vi mà họ được học trong nền văn
Trang 34hoá của xã hội mà họ sống Thông qua quá trình xã hội hoá, con người chấp nhận và thích nghi với những quy tắc của xã hội, sử dụng chúng để quy định hành vi của mình [18]
Ở góc độ quản lý nhà nước, xã hội hoá lại được nhìn nhận gắn với việc xác định vai trò của nhà nước trong mỗi chế độ xã hội và cách thức nhà nước thực hiện vai trò đó Hay nói cách khác, xã hội hoá là việc chuyển giao một phần các công việc từ Nhà nước sang xã hội hoặc thu hút sự tham gia của xã hội vào các quá trình quản lý nhằm phát huy tính tự chủ của xã hội và tăng cường hiệu quả của quản lý
Dựa vào sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm xã hội hoá hoạt động công chứng như sau: Xã hội hoá hoạt động công chứng là việc huy động sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp, các cá nhân trong xã hội vào thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực và việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp trong quản lý hoạt động công chứng, chứng thực
Xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực chính là việc từng bước chuyển giao hoạt động công chứng, chứng thực cho cá nhân, tổ chức thực hiện công chứng Nhà nước chỉ đóng vai trò duy nhất là người thực hiện quản
lý nhà nước Xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực góp phần nâng cao chất lượng và đa dạng hoá dịch vụ Các ngành y tế, giáo dục đã triển khai mạnh mẽ việc xã hội hoá từ nhiều năm nay, rất nhiều bệnh viện tư, phòng khám tư và trường tư thục đã ra đời và hoạt động tốt Một số ngành khác cũng
đã thực hiện việc xã hội hoá như: vận tải bằng xe buýt, vệ sinh môi trường và hoạt động đã đem lại nhiều lợi ích cho xã hội Việc xã hội hoá công chứng đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đây là một ngành đặc thù vừa mang tính chất dịch vụ công vừa mang tính chất hành chính nhà nước nên trong những năm vừa qua, việc thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng đã trở thành một xu thế tất yếu để đáp ứng cho được các yêu cầu bức thiết của xã hội, tạo
Trang 35điều kiện để mọi người dân với địa vị xã hội, khả năng kinh tế khác nhau đều bình đẳng, dễ tiếp xúc với công chứng
1.2.2 Đặc điểm XHH hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam
- Xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội
Những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn thì nhu cầu công chứng, chứng thực nhiều hơn dẫn đến hoạt động công chứng chứng thực phát triển, làm cho quá trình xã hội hóa từ đó cũng phát triển nhanh chóng, các Phòng công chứng tăng nhanh về số lượng và chất lượng Những khu vực
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì nhu cầu công chứng, chứng thực không phát triển dẫn đến quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng chứng thực diễn ra một cách chậm chạp, thậm chí không diễn ra quá trình xã hội hóa Chỉ cần đến cơ quan nhà nước là đã giải quyết được hết nhu cầu của người dân, không đến sự phục vụ của các phòng công chứng tư nhân
- Xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam diễn ra không đồng đều
- Xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực chịu sự tác động pháp luật và ảnh hưởng lớn bởi các chính sách nhà nước
1.2.3 Sự cần thiết phải XHH hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam
Trong một thời gian dài từ khi thiết chế công chứng chính thức ra đời (từ năm 1291 theo Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước), công chứng nước ta được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước: cơ quan công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Trong khoảng thời gian này, công chứng thực sự đã góp phần tạo môi trường pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại phát triển phòng ngừa tranh chấp và vi phạm
Trang 36pháp luật, tạo sự ổn định cho xã hội, mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để người dân bước đầu tiếp cận với các quy định về công chứng, sử dụng chúng như một công cụ để bảo vệ an toàn pháp lý cho chính các giao dịch, hợp đồng mà
họ tham gia và góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân khi tham gia giao kết các Hợp đồng, giao dịch
Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế, xã hội, sự gia tăng về quy mô, số lượng của các hợp đồng, giao dịch, sự đòi hỏi của xã hội về chất lượng, về sự nhanh chóng, thuận tiện, chính xác của hoạt động công chứng,
về thái độ, trách nhiệm phục vụ cho đội ngũ công chứng viên ngày càng tăng, song tổ chức công chứng của Nhà nước ta phát triển không theo kịp đã bộc lộ những bất cập cơ bản, đó là:
- Sự phụ thuộc vào nhà nước về biên chế, ngân sách đã làm mất tính chủ động, tự chủ của cơ quan công chứng, không khuyến khích sắp xếp bộ máy hợp lý, gọn nhẹ để sử dụng lao động có hiệu quả tốt, tiết kiệm kinh phí
- Các giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng phát triển Trước nhu cầu công chứng ngày càng cao của mọi người dân trong xã hội, việc lập thêm các Phòng công chứng ở các địa phương cũng gặp nhiều khó khăn Khó khăn về nguồn bổ nhiệm công chứng viên: phải lựa chọn trong
số các viên chức thuộc biên chế nhà nước để bổ nhiệm công chứng viên Ngoài ra việc tuyển chọn bộ máy giúp việc cho công chứng viên cũng không dễ vì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, phải qua
kỳ thi tuyển Do đội ngũ công chứng viên còn mỏng, số Phòng công chứng
ít nên phần lớn Phòng công chứng ở các thành phố lớn có tình trạng quá tải, khách phải chờ đợi lâu Việc xây dựng trụ sở cho các phòng công chứng cũng gặp nan giải Tại các thành phố lớn, việc xin được đất để xây dựng trụ sở cũng là cả một vấn đề lớn vì phải được cơ quan hành chính cấp trên phê duyệt cho xây, tổ chức đấu thầu xây dựng và đấu thầu giám sát, cơ
Trang 37quan quy hoạch, kiến trúc xác định địa điểm, thiết kế, cơ quan tài chính phê duyệt kinh phí thì mới triển khai được
- Biến hoạt động dịch vụ thành hoạt động công vụ thuần tuý của các viên chức nhà nước; thu nhập của công chứng viên không bị phụ thuộc vào sản phẩm và chất lượng dịch vụ Những điều này đã không tạo ra động lực khuyến khích được tính chủ động, tích cực và ý thức trách nhiệm của công chứng viên khi thực hiện nhiệm vụ
- Là thiết chế nhà nước, trước sức ép của tinh giảm biên chế nhà nước, việc mở rộng mạng lưới công chứng đề tổ chức công chứng sát với nhu cầu của xã hội là khó có thể được thực hiện Trong thực tế công việc mang tính chất công chứng còn được giao cho Uỷ ban nhân dân thực hiện Nếu giữ nguyên mô hình công chứng nhà nước thì nhu cầu thực tế về biên chế cho hoạt động công chứng là rất lớn, nhà nước không có khả năng đáp ứng
Xuất phát từ những bất cập trên của công chứng Nhà nước và để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì đổi mới hoạt động công chứng nước ta theo hướng xã hội hoá là cần thiết, nhằm khắc phục các nhược điểm của công chứng nhà nước đồng thời tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát hoạt động công chứng, giảm chi phí về nhân lực và ngân sách nhà nước, nâng cao chất lượng hiệu quả công chứng, đồng thời hướng đến phát triển hoạt động công chứng nước ta theo hướng chuyên nghiệp hoá, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ của hoạt động công chứng khu vực và trên thế giới
1.2.4 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam
Cơ sở lý luận
Hoạt động công chứng với chức năng là chứng nhận tính xác thực,
Trang 38tính hợp pháp của giao dịch, hợp đồng bằng văn bản, Nhà nước chỉ thực hiện một phần và ở một giai đoạn nhất định khi mà xã hội chưa thể đảm nhiệm, về lâu dài hướng xã hội vào hoạt động này không những giúp đơn giản bộ máy nhà nước, giúp nhà nước tập trung vào công việc quản lý mà còn làm tăng hiệu quả của hoạt động này Mức độ xã hội hoá được xác định trên cơ sở cân nhắc giữa lợi ích xã hội hoá và không xã hội hoá Việc xã hội hoá hoạt động công chứng là đảm bảo cho hoạt động này được khách quan và cũng đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu của các hoạt động tư pháp, đồng thời giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước
Trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, Đảng đã ra Nghị quyết Đại hội X chỉ rõ:
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch
vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân và Đổi mới
cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ công cộng, phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm
lo phát triển các dịch vụ công cộng nhằm khuyến khích các tổ chức,
cá nhân có đủ điều kiện tham gia vào hoạt động cộng góp phần xây dựng và phát triển Nhà nước Việt Nam [6]
Ngày 20/06/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội thông qua luật công chứng gồm 10 chương, 81 quy định về công chứng Ngày 15/03/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng Hai văn bản pháp luật này đã xác lập cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng, tạo điều kiện để cá nhân, cơ quan và tổ chức được phục vụ tốt nhất loại hình dịch vụ công quan trọng này
Trang 39Cơ sở thực tiễn
Hoạt động công chứng, chứng thực là hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ công, không sử dụng quyền lực công Các công chứng viên không có quyền lực ban hành các mệnh lệnh hành chính, quyết định hành chính như các cơ quan chức năng của chính quyền Khi hành nghề, công chứng viên hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, hành nghề khách quan, trung thực, tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật
về hành vi công chứng của mình Mỗi Văn phòng công chứng hay Phòng công chứng là những đơn vị độc lập, chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cần xã hội hoá hoạt động công chứng để giảm tải cho các Phòng công chứng, nhằm tạo điều kiện cho người dân được sử dụng loại hình dịch vụ này một cách thuận tiện
Trong chương này, tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công chứng, chứng thực; Đặc điểm hoạt động công chứng, chứng thực; Quá trình hình thành và phát triển hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt nam; Tác giả đề cập một số vấn đề lý luận về xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực; Sự cần thiết phải xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam; Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn xã hội hóa hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam Đây là phần lý luận quan trọng làm cơ sở tiếp tục cho việc nghiên cứu phần thực trạng ở chương 2 của luận văn
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC
VÀ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về công chứng, chứng thực ở Việt Nam hiện nay
Như đã nói ở phần quá trình hình thành và phát triển dịch vụ công chứng, chứng thực ở Việt Nam, ta thấy rằng thể chế công chứng ở nước ta đã xuất hiện từ rất lâu, tuy nhiên đến khi Luật công chứng năm 2006 được thông qua thì thể chế về công chứng, chứng thực mới bước đầu được hoàn thiện, chủ trương xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực bắt đầu xuất hiện và phát triển Đây là một bước tiến quan trọng trong việc xã hội hóa dịch vụ công chứng, chứng thực ở nước ta Tuy nhiên, sau thời gian dài áp dụng và thực hiện, nhiều quy định của Luật công chứng năm 2006 đã không còn phù hợp hoặc còn thiếu so với thực tiễn cần điều chỉnh
Trước yêu cầu thực tiễn của hoạt động công chứng, chứng thực và để tiếp tục thể chế hoá Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của
Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động công chứng, đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ thành viên của Liên minh công chứng Quốc tế, Luật công chứng mới đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII,
kỳ họp thứ bảy thông qua ngày 20/6/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 [21]
Luật công chứng năm 2014 gồm 10 chương, với 81 Điều
- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 7)
Chương này quy định về những quy định chung như phạm vi điều