1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử ( Sách giáo khoa ngữ văn 11, tập 2) : Luận văn ThS. Quản lý giáo dục: 60 14 10

109 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng với đề tài này chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa giá trị thơ ca của Hàn Mặc Tử trong nền văn học Việt Nam cũng như hướng tiếp cận đúng đắn cho những tác phẩm thơ được chọn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

MÃ SỐ: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ái Học

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Hà Nội 12/2013

Tác giả

Phạm Thị Hồng Quyên

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các bảng vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương 8

1.1.2 Các hướng tiếp cận chủ yếu 9

1.1.3 Mối quan hệ giữa ba hướng tiếp 13

1.2 Thực trạng việc giảng dạy bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” ở trường phổ thông 14

1.2.1 Khảo sát 14

1.2.2 Kết luận về thực trang 18

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” THEO HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ 26

2.1 Những yêu cầu khi dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” theo hướng tiếp cận đồng bộ 26

2.1.1 Phải đảm bảo phù hợp với trình độ tếp nhận văn chương và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động của người học 26

Trang 4

2.1.2 Phải vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (văn hoá, nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, phong cách nghệ thuật của nhà

văn ) để cắt nghĩa tác phẩm 29

2.1.3 Phải nắm được cấu trúc nội tại đặc biệt của bài “ Đây thôn Vĩ Dạ” 45

2.3 Những đề xuất về biện pháp dạy học bài thơ «Đây thôn Vĩ Dạ » theo hướng tiếp cận đồng bộ 58

2.3.1 Phương hướng chung 58

2.3.2 Các biện pháp cụ thể 59

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Giáo án thực nghiệm 67

3.2 Quá trình thực nghiệm 89

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 89

3.2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 89

3.2.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 90

3.2.4 Kết quả thực nghiệm, nhận xét, đánh giá 91

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 101

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thống kê số lƣợng học sinh nắm đƣợc kết cấu và đặc trƣng

nghệ thuật của bài thơ 91 Bảng 3.2 Thống kế số lƣợng học sinh nắm đƣợc diễn biến tâm trạng của

nhân vật trữ tình 92 Bảng 3.3 Tổng kết điểm kiểm tra ngắn của học sinh 92 Bảng 3.4 Phân loại kết quả 92

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết số 49/2000/QH10, ngày 19/12/2000 của Quốc hội khóa X

về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông với chủ trương “xây dựng nội

dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” được ban

hành đã thúc đẩy ngành giáo dục tiến hành nhiều cải cách, đổi mới Một trong những mũi nhọn được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đó là đổi mới

chương trình sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học

Qua thực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông cũng như tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy việc dạy học tác phẩm văn học

nói chung và tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng còn chưa thực sự hiệu

quả Những hạn chế cơ bản cả về lí luận và thực tiễn đã làm cho những tiết học văn ở nhà trường phổ thông chưa mang lại hiệu quả cao Riêng với tác

phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử - chương trình ngữ văn sách giáo

khoa 11 tập 2 thì việc dạy tác phẩm có nhiều hạn chế do cách nhìn sai lệch về thơ Hàn Mặc Tử dẫn đến phương pháp tiếp cận và giảng dạy bài thơ chưa thật sự hợp lý Điều dễ dàng nhận thấy nhất trong giảng thơ Hàn Mặc Tử ở trường phổ thông hiện nay là giáo viên nhiều khi chỉ chú trọng đến ý với những lời miêu tả, nhận xét chung chung hơn là xuất phát từ văn bản, từ hình tượng, từ cảm xúc của nhà thơ Trường hợp quá thiên về hoàn cảnh sáng tác bài thơ, và mối tình với Hoàng Thị Kim Cúc cũng khiến cho cách hiểu văn bản thơ có phần khiên cưỡng, làm giảm giá trị nghệ thuật, giá trị tư tưởng của bài thơ Bên cạnh đó một lỗi cũng khá phổ biến trong việc dạy văn nói chung

và tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng là giáo viên ít hướng vào đáp ứng

Trang 7

nhu cầu của học sinh, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của học

sinh nên kết quả đạt được sau bài học không thật sự hiệu quả

Với mong muốn góp phần nhỏ bé nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, tăng hiệu quả cho việc giảng dạy văn bản tác phẩm thơ nói riêng

đặc biệt là khi dạy bài “Đây thôn Vĩ Dạ” chúng tôi đã chọn đề tài “ Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ vào dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn

Mặc Tử, sách giáo khoa 11 tập 2 Đây cũng là đề tài phù hợp và thiết thực với chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học văn của chúng tôi Cũng với

đề tài này chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa giá trị thơ ca của Hàn Mặc Tử trong nền văn học Việt Nam cũng như hướng tiếp cận đúng đắn cho những tác phẩm thơ được chọn dạy trong chương trình phổ thông - đó là hướng tiếp cận đồng bộ: Tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh, tiếp cận văn bản và tiếp cận hướng vào đáp ứng nhu cầu của người học

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Kể từ khi cải cách giáo dục năm 1991, Hàn Mặc Tử được đưa vào

giảng dạy phổ thông với hai bài thơ tiêu biểu “ Đây thôn Vĩ Dạ” (ngữ văn 11)

và “Mùa xuân chín” (Ngữ văn 8) Vậy là Hàn Mặc Tử xuất hiện với tư cách

là một trong những nhà thơ mới tiêu biểu của giai đoạn 1930 - 1945 Trong số những nhà thơ đã làm nên “một cuộc cách mạng trong thi ca” Hàn Mặc Tử đã làm một cuộc vượt ngưỡng ngoạn mục và đạt được những thành tựu to lớn

Chỉ trong vòng hơn chục năm xuất hiện trên thi đàn, từ Lệ Thanh thi

tập đến Gái quê, qua Đau thương đến Xuân như ý, Thượng Thanh khí,

rồi Cẩm Châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội, thơ Hàn Mặc Tử đã trải

qua một hành trình từ cổ điển đến lãng mạn, từ lãng mạn đến tượng trưng và cập bờ siêu thực, góp một phần quan trọng trong tiến trình hiện đại hoá thi ca dân tộc Là người cùng thời với thi tài Hàn Mặc Tử, ngay từ những năm bốn

mươi của thế kỷ, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã khẳng định: “Hàn Mặc

Tử là người đầu tiên trong thế kỷ XX mở ra một cuộc cải cách lớn cho văn chương Việt Nam và thành công một cách vinh quang rực rỡ” (Hàn Mặc Tử

Trang 8

thân thế và thi văn Huế 1941) Còn Chế Lan Viên, là người của nhóm thơ

Bình Định, cùng Hàn Mặc Tử lập ra Trường thơ Loạn đã tiên đoán ngay từ

khi Hàn Mặc Tử qua đời: “Những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan

đi và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử” (Người mới, 23/11/1940) Là một hiện tượng độc đáo, một hồn thơ lạ của phong trào

thơ mới nên ngay từ sớm người ta đã viết về ông, về thơ ca của ông Trần Thanh Mại viết cuốn sách đầu tiên, xuất bản hai năm sau khi Hàn Mặc Tử qua đời Là nhà phê bình văn học, Trần Thanh Mại đã tập hợp được khá nhiều văn bản về Hàn Mặc Tử, qua tư liệu của Trần Thanh Địch, người em, và Trần Tái Phùng, người cháu, cả hai đều là bạn thân của Hàn Mặc Tử Nguyễn Bá Tín

viết: «Tôi biết anh gửi cho Trần Thanh Địch và Trần Tái Phùng nhiều hơn

hết, coi như gần đủ bộ thơ anh» (trích Hàn Mặc Tử, anh tôi, trang 64) Năm

1942, có Tập Thơ Hàn Mặc Tử do Quách Tấn và Chế Lan Viên sưu tập, Đông

Phương xuất bản tại Sài Gòn 1959 Tân Việt tái bản, tập hợp một số thơ Hàn

Mặc Tử, nhưng còn thiếu nhiều Năm 1944, tập thơ văn xuôi Chơi giữa mùa

trăng, được Ngày Mới in ở Hà Nội (An Tiêm tái bản tại Sài Gòn 1969) Đó là

tất cả những gì được in trước 1945 Ở Sài Gòn, Báo Văn làm hai số tưởng niệm Hàn Mặc Tử (1967 và 1971), Báo Văn Học, cũng có hai số đặc biệt năm

1974 Đến 1987, Chế Lan Viên sưu tập và viết bài tựa cho Tuyển tập Hàn

Mạc Tử, (nxb Văn học Hà Nội) Tuyển tập này đầy đủ hơn những tập thơ

trước Gồm một số thơ Đường luật, và trích các tập thơ Gái quê, Đau thương,

Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Chơi giữ mùa trăng

1993 Phan Cự Đệ soạn «Hàn Mặc Tử tác phẩm phê bình và tưởng niệm» (nxb

Giáo Dục) tập hợp các bài viết về Hàn Mặc Tử, và tìm thêm được một số thơ

nữa in trên báo cũ 1994, Lại Nguyên Ân soạn Thơ Hàn Mặc Tử, (nxb Hội Nhà văn), gồm các tập Gái quê, Chơi giữa mùa trăng, Đau thương và Xuân

như ý 1996, Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên soạn Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay (nxb Hội nhà văn), tập hợp ba cuốn sách của Trần Thanh Mại,

Quách Tấn và Ngyễn Bá Tín và một số bài viết khác Tóm lại, nhờ những tác

Trang 9

phẩm của Trần Thanh Mại, Quách Tấn, Nguyễn Bá Tín, nhờ những bài viết của các bạn thân như Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Trần Tái Phùng hoặc của những nhà nghiên cứu như Võ Long Tê, Phạm Đán Bình, v.v mà chúng ta biết rõ tiểu sử và tác phẩm của Hàn Mặc Tử, biết những mối tình, những người yêu, biết về bệnh tật, về sự nghèo khó, và những ngày sau cùng của Hàn Mặc Tử Nhưng viết về thơ Hàn Mặc Tử thì có lẽ chỉ có Trần Tái Phùng,

Võ Long Tê và Trọng Miên là hiểu thơ Hàn hơn cả

Về thơ Hàn Mặc Tử mà cụ thể là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng có rất

nhiều nhà nghiên cứu, nhà phương pháp, nhà giáo đã có những tìm tòi phát hiện nhằm tìm ra cách hiểu đúng nhất, con đường giảng dạy bài thơ trong trường phổ thông sao cho hiệu quả nhất Các bài nghiên cứu về tác phẩm

“Đây thôn Vĩ Dạ” của các nhà phê bình văn học như “ Tình yêu và tình quê

trong “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hà Bình Trị, “ Đặc điểm lời thơ” của Lê Huy Bắc,

“vài suy nghĩ xung quanh bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Trương Tham, “Đây

thôn Vĩ Dạ” - Bài thơ tạ cố nhân”- của Trần thị Huyền Trang, “Đây thôn Vĩ Dạ” và nỗi niềm của Hàn Mặc Tử - Phan Huy Dũng, Đây thôn Vĩ Dạ bản tốc

kí nỗi niềm tâm trạng, niềm khát vọng ngàn đời - Lã Nguyên vvv có giá trị

tham khảo rất lớn cho việc hiểu, bình, dạy bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” Cùng

chung mối quan tâm và niềm say mê thơ ca Hàn Mặc Tử nói chung, bài thơ

“Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng nhiều bài nghiên cứu, luận án tiến sĩ, luận văn

thạc sĩ và cả khóa luận tốt nghiệp của sinh viên sư phạm đã chọn “Đây thôn

Vĩ Dạ” làm đề tài nghiên cứu.Luận án Tiến sĩ của Chu Văn Sơn “Thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử” đã nghiên cứu một cách toàn diện và khá sâu

sắc về thi pháp thơ Hàn Mặc Tử, thế giới thơ Hàn Mặc Tử, thi pháp thơ điên

và đề xuất cách hiểu bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” Đây là một công trình nghiên

cứu khá đồ sộ, cách tiếp cận khá mới mẻ và hữu ích giúp cho người đọc có cái nhìn chung nhất về thế giới thơ Hàn Mặc Tử Luận văn thạc sĩ năm 2002

“Tìm hiểu ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử” của Đậu Thị Hương đi sâu tìm hiểu về

mảng ngôn ngữ thơ trong đó có đề cập đến ngôn ngữ thơ của “Đây thôn Vĩ

Trang 10

Dạ” tuy còn sơ lược Luận văn thạc sĩ “Thế giới Hàn Mặc Tử trong hướng

dạy học mới ở nhà trường hiện đại” (Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín) - Ngô

Thị Tú Oanh -ĐHSPHN 2003 đề cập và có thiết kế giáo án cho tác phẩm

“Đây thôn Vĩ Dạ” bằng cách hướng dẫn học sinh khai thác mạch cảm xúc

ngầm trong mối quan hệ với tính nhật kí của bài thơ Luận văn này đã chỉ ra được những yêu cầu cũng như cá biện pháp cụ thể để dạy học “Đây thôn Vĩ Dạ” theo hướng khai thác mạch cảm xúc nhưng hướng tiếp cận này còn chưa thật hiệu quả và thiếu đồng bộ

Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy và học có một số tài liệu hỗ trợ như

“Thẩm bình văn chương trong nhà trường” - tập 3, (NXB ĐHQG HN 2001)

do Lê Huy Bắc tuyển chọn, giới thiệu “ Đây thôn Vĩ Dạ” Ba đỉnh cao thơ

mới” - Chu Văn Sơn (NXB GD 2003) Cuốn “ Đọc văn và hiểu văn” của giáo

sư Nguyễn Thanh Hùng đề cập đến vấn đề “ Hàn Mặc Tử - một quan niệm,

một kiểu tư duy thơ” Cuốn “Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn”

của tiến sĩ Nguyễn Ái Học trong đó có bài viết “ Từ cấu trúc kép của Đây thôn

Vĩ Dạ”…Đó là những tài liệu bổ ích, đã góp phần hỗ trợ thêm cho việc dạy và

học tác phẩm của Hàn Mặc Tử trong chương trình được thuận lợi hơn

Bên cạnh những tài liệu nói trên còn phải kể đến những bài thiết kế ứng

dụng như cuốn “ Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn chương ở nhà trường

phổ thông” của phó giáo sư Nguyễn Thanh Hương có bài ứng dụng “Đây

Thôn Vĩ Dạ” Người soạn đã tìm ra phương pháp và biện pháp tích cực để hướng dẫn học sinh nắm được giá trị đích thực của bài thơ và giáo dục các

em: “Lòng cảm thông trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn, những khát vọng của

một con người bị bệnh tật hiểm nghèo nhưng luôn hướng về cuộc sống, về quê hương và con người” (Nguyễn thanh Hương) Cuốn “Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông” tập 2 của Giáo sư Phan Trọng

Luận (NXB Giáo Dục), nhà giáo Hoàng Mai (CĐSP Thanh Hóa) đã đưa ra

bản thiết kế bài “Đây thôn Vĩ Dạ” theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy

học văn Bản thiết kế này đã làm nổi bật được tư tưởng đổi mới hiện nay Đó

Trang 11

là người giáo viên phải biết tổ chức cho học sinh tự giác, chủ động trong việc

chiếm lĩnh tri thức Cuốn “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy - học tác

phẩm văn chương” (nhà xuất bản Giáo Dục 2001) của Nguyễn Trọng Hoàn

có bài thiết kế thử nghiệm “Đây thôn Vĩ Dạ” Bản thiết kế này cũng thể hiện

được tinh thần đổi mới về nội dung và phương pháp, có giá trị tham khảo hữu ích cho giáo viên đứng lớp trong giai đoạn hiện nay Tài liệu gần gũi nhất có

tính chất định hướng hiện nay là sách giáo viên và thiết kế bài giảng Hai tài

liệu này đã trình bày một cách khá cụ thể từ xác định kiến thức trọng tâm, yêu cầu về kĩ năng thái độ cũng như tiến trình của bài học và cách tiếp cận Đây là một chỉ dẫn quan trọng giúp giáo viên có cách tiếp cận văn bản hợp lý và khoa học Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy người soạn sách vẫn chưa bám sát vào thi pháp thơ Hàn Mặc Tử, chưa tạo ra hướng khai thác bài thơ theo mạch ngầm cảm xúc Sách có đưa ra những gợi ý cụ thể về một vài điểm sáng thẩm mỹ nhưng còn rất sơ lược, chưa có tính thuyết phục cao

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các nhà phương pháp, các nhà giáo đã đạt được những thành tựu quan trọng, có đóng góp lớn đối với việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông nói chung và thơ thơ ca Hàn Mặc Tử nói riêng.Tuy nhiên những công trình nghiên cứu cùng với những thiết kế ứng dụng này dù chỉ ra được hướng tiếp sự hiểu quả (tiếp cận văn bản, tiếp cận lịch sử phát sinh ) nhưng lại thiếu đồng bộ và chưa xây dựng được những yêu cầu cũng như biện pháp cụ thể cho việc dạy học “Đây thôn Vĩ Dạ” Vì vậy luận văn thạc sĩ của chúng tôi đã

chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử (sách giáo khoa ngữ văn 11, tập 2) với mong muốn sẽ khắc phục những hạn chế

nêu trên góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng và một số tác phẩm trong chương trình phổ thông nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 12

Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc dạy học tác phẩm văn chương trong

nhà trường mà cụ thể là “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu chung về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”

- Tìm hiểu, điều tra khảo sát thực trạng dạy tác phẩm “ Đây thôn Vĩ Dạ” trong nhà trường trung học phổ thông

- Đề xuất, xây dựng phương pháp dạy “ Đây thôn Vĩ Dạ” theo hướng

tiếp cận đồng bộ

- Thiết kế giáo án và đưa vào thực nghiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” - sách giáo khoa 11 tập 2

- Các nội dung tiếp cận đồng bộ trong dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ

Dạ”- Hàn Mặc Tử

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt tới mục đích nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dựa trên hai nhóm phương pháp cơ bản:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu về mặt lí thuyết với những phương

pháp cơ bản như: Phân tích, tổng hợp tài liệu…

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tế như: Điều tra, khảo sát, thống

kê, thực nghiệm sư phạm

(Nguồn số liệu được sử dụng lấy từ việc khảo sát cụ thể qua việc điều tra khảo sát tại trường mà chúng tôi đang tham gia công tác giảng dạy.)

6 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở trên, ngoài phần mở đầu và kết thức, luận văn của chúng tôi chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Tổ chức dạy học bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn mặc Tử

theo hướng tiếp cận đồng bộ

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương

Trong việc dạy và học hiện nay, vị trí của người học đã hoàn toàn thay đổi Nếu như trước kia, mối liên hệ giữa giáo viên và học sinh là mối quan hệ giữa người giảng và người nghe, người truyền thụ và người tiếp thu, người đưa thông tin và người tiếp nhận, người trình bày và người ghi nhớ Như vậy

là năng lực chủ quan của học sinh không được phát huy Học sinh chỉ cần nghe, ghi nhớ và gặp lại những điều đã được nghe Giáo viên sẽ kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập của học sinh theo những gì mình đã thuyết trình

Nói như cố thủ tướng Phạm văn Đồng là: học sinh chỉ cần múa chữ Hệ lụy

của vấn đề này là học sinh không cần học sách giáo khoa, hoặc không cần tiếp xúc với tác phẩm, thói quen đọc sách và năng lực độc lập phát hiện kiến tức, tác phong cụ thể trong học tập không được hình thành mà còn bị thay thế bằng bệnh đại khái, hời hợt.Ngày nay quan điểm học sinh là chủ thể nhận thức đã xác lập lại cơ chế dạy văn và học văn trong trường phổ thông Học sinh không còn là khách thể thụ động mà trở thành chủ thể sáng tạo trong hoạt động nhận thức và cảm thụ Học sinh trong quá trình đến với tác phẩm có những hoạt động tương tác nhiều chiều với giáo viên và nhà văn Người giáo viên không phải là nguồn kiến thức duy nhất, là người cung cấp cho học sinh những kiến thức có sẵn để học sinh ghi nhớ và làm theo khuân mẫu Học sinh được hướng dẫn, tổ chức để tìm tòi, phát hiện, lựa chọn kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Sách giáo khoa hay bài văn cùng với vốn hiểu biết của bản thân học sinh là những nguồn kiến thức quan trọng mà giáo viên hướng dẫn, khai thác, vận dụng Mục đích cao nhất của giờ dạy học tác phẩm văn theo phương pháp mới là làm sao để chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của

Trang 14

thầy, cảm nhận, khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm Do đó tạo được sự phát triển

toàn diện về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách và năng lực

Với một quan điểm về mục đích và cơ chế học văn như trên thì việc đổi mới phương pháp dạy học và hướng tiếp cận tác phẩm văn chương là điều rất cần được quan tâm Nói riêng về hướng tiếp cận tác phẩm văn học nếu chúng

ta độc tôn một khuynh hướng e rằng sẽ còn rất nhiều thiếu sót Những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương luôn biến đổi và chao đảo dưới ảnh hưởng của các phương pháp lịch sử, xã hội, văn bản học, phê bình mới hoặc thuyết giao dịch đáp ứng….Có những hướng tiếp cận chú trọng hoàn cảnh phát sinh hay tuyệt đối hóa yếu tố tác phẩm; khám phá cấu trúc văn bản một cách khoa học hay biệt lập văn bản khỏi hoàn cảnh phát sinh; hướng vào bạn đọc không khép kín trong văn bản hay cường điệu hóa sở thích cảm thụ chủ quan của người học đi đến thoát li văn bản…Người ta đã phê phán từ lâu khuynh hướng tiếp cận “ Phi văn bản” “ngoài văn bản” „trên văn bản” hoặc khuynh hướng phân tích không địa chỉ Một sự cường điệu hay máy móc trong phương pháp luận tiếp cận các tác phẩm văn chương nhất định sẽ đưa đến hậu quả thiếu khách quan và phản khoa học Hướng tiếp cận khoa học

nhất theo Giáo sư Phan Trọng Luận: “Một kết luận khoa học quan trọng và cơ

bản đối với người nghiên cứu và giảng dạy văn học là là phải luôn luôn nắm vững quan điểm tiếp cận đồng bộ, một sự vận dụng hài hòa các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương.Một phương pháp tiếp cận như vậy được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của tác phẩm văn chương, đó cũng là sự vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm khách quan và khoa học về sáng tác và tiếp nhận văn chương vào việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể” [ 25]

1.1.2 Các hướng tiếp cận chủ yếu

1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh

Tiếp cận theo khuynh hướng phát sinh là cách tiếp cận hình thành sớm

Trang 15

hơn cả và chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các phương hướng tiếp cận Đó là cách vận dụng những hiểu biết ngoài tác phẩm để hiểu tác phẩm.Phương hướng này đi sâu vào tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, thời đại, xuất xứ của tác phẩm và cuộc đời và con người của tác giả.Điều này cũng dễ hiểu bởi mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử và đều chịu sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử Mỗi nhà văn đều có khuynh hướng khẳng định tài năng và nhân cách riêng, khẳng định vị thế của mình trong dòng chảy văn học Do vậy, việc nghên cứu văn học phải dựa vào lịch

sử là một tất yếu Mặt khác, mỗi nhà văn là một bản thể văn hoá, là một cá nhân trong cộng đồng xã hội, nên việc tìm hiểu cá nhân văn hoá của nhà văn

ở một mức độ nào đó sẽ giúp cho người đọc hiểu hơn tác phẩm của họ.Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể; những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm Thế nên muốn nghiên cứu cụ thể một tác phẩm, chúng ta phải tìm đến bối cảnh lịch sử cũng như hoàn cảnh cụ thể mà tác phẩm ra đời

Trước đây không ít người dã lấy những hiểu biết về lịch sử phát sinh (những yếu tố ngoài văn bản) để giải thích và tìm hiểu tác phẩm mà không cần tìm hiểu chính bản thân tác phẩm Đó là một sai lầm bởi nếu lạm dụng hướng tiếp cận này dễ đưa đến chỗ thoát li tác phẩm, bàn luận, giải thích một cách áp đặt, suy diễn theo hướng chủ quan Vẫn biết tác phẩm văn học

là sản phẩm của một con người cụ thể, một hoàn cảnh cụ thể, một thời đại cụ thể nhưng chúng ta cũng chỉ nên coi đây là một kênh thông tin quan trọng giúp ta có thể hiểu đúng, hiểu sâu hơn về văn bản tác phẩm trên căn cứ cảm nhận, phân tích văn bản

1.1.2.2 Quan điểm tiếp cận cấu trúc bản thể tác phẩm (tiếp cận văn bản)

Hiểu biết ngoài văn bản cực kì quan trọng nhưng vẫn không thay thế cho việc khám phá bản thân văn bản Văn bản là thông điệp, là đề án nhà văn gửi tới bạn đọc Đặc trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm

Trang 16

mĩ Nhà văn gửi đến bạn đọc niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về cuộc sống con người Đây là điểm mấu chốt nhất phân biệt phương pháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường Quan điểm tiếp cận văn bản giúp cho người đọc, người nghiên cứu, giảng dạy không thoát ly văn bản vốn là đề án tiếp nhận mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc Hướng tiếp cận này quan tâm đến thế giới bên trong tác phẩm để xác nhận vị trí riêng và giá trị độc lập của tác phẩm Đây là hướng tiếp cận quan trọng nhất mà không một hướng tiếp cận nào có thể thay thế Tiếp cận theo hướng bản thể xem văn bản như đối tượng chủ yếu để khai thác các giá trị của tác phẩm từ tiêu đề, bố cục, kết cấu, giọng điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ Thực chất của tiếp cận văn bản chính là dùng văn bản tác phẩm để hiểu về tác phẩm Tuy nhiên ở đây cũng cần ngăn ngừa một khuynh hướng cực đoan chỉ nhìn nhận giá trị tác phẩm ở phương diện thẩm mĩ.Tác phẩm văn chương chứa đựng trong nó muôn mặt, muôn vẻ của đời sống xã hội, con người mà chúng ta không thể bỏ qua, không thể không biết đến.Chính các yếu tố văn hoá của văn bản lại càng làm nổi rõ hơn yếu tố thẩm mĩ của văn bản Cho nên không có lý do gì chúng ta lại làm nghèo nàn đi một văn bản văn học, làm hạn hẹp tầm nhìn của học sinh về xã hội, về con người, về chính bản thân mình Hướng tiếp cận văn bản cũng đòi hỏi sự nếm trải hay trải nghiệm cần thiết của người đọc mới có hi vọng giải mã được những thông tin thẩm mĩ trong tác phẩm Đặc biệt người đọc phải có một khả năng ngô ngữ tối thiểu để tri giác văn bản, để thấu hiểu ngôn từ và đời sống của nó trong văn bản.Thiếu vốn văn hoá cần thiết thì việc cảm thụ văn chương cũng dễ bị sai lệch hoặc thiếu sâu sắc Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựng lên một thé giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong những quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phân và toàn thể, giữa yếu tố hữu hình và yếu tố vo hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiềm văn bản Chính vì vậy mà khi giảng văn, cần chú trọng tính

Trang 17

nhất quán, cảm hứng chủ đạo của nhà văn, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và đặc biệt là tính chỉnh thể của tác phẩm

1.1.2.3 Quan điểm tiếp cận hướng lịch sử chức năng

Trước đây,khi phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường thường chỉ chú trọng đến hai khuynh hướng tiếp cận chính và quen thuộc đó là tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh và tiếp cận cấu trúc Lí luận văn học những thập kỉ gần đây đã nhấn mạnh thêm hướng lịch sử chức năng trong tiếp cận tác phẩm văn chương Lí luận về tác động chức năng của văn học làm sinh động, phong phú hơn cách hiểu, cách cắt nghĩa tác phẩm văn chương đồng thời cũng làm cho việc phân tích giảng dạy văn trong nhà trường hiệu quả hơn Mỗi tác phẩm

là một thế giới nghệ thuật, việc tiếp cận nó thực sự có sự tác động vào nó, biến tác phẩm thành một đối tượng và biến chủ thể người đọc thành chủ thể văn học Người đọc trở thành đồng sáng tạo với tác giả Người đọc có khả năng điền khuyến những khoảng trống cuả tác giả làm cho thông điệp của nhà văn trở nên có hồn, có số phận Chừng nào chưa có quá trình tiếp nhận, chứng đó tác phẩm còn ở ngoài chủ thể Tác phẩm văn chương là một hệ thống mở Vòng đời tác phẩm văn chương cũng được nhận diện lại trong nhiều quan hệ hữu cơ biện chứng hơn Tác phẩm văn chương thực sự đi hết vòng đời trong mối quan hệ với bạn đọc để trở lại với cuộc sống vốn là xuất phát điểm Chính

vì thế việc dạy học văn theo lối truyền thụ một chiều là dạy học áp đặt không đem lại hiệu quả Công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở trung học theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo cũgn là sự vận dụng sáng tạo kịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học hiện đại Việc dạy học tác phẩm văn chương phải bắt đầu từ thói quen tự đọc của học sinh, từ thói quen tự khám phá trên cơ sở gợi ý của giáo viên Khi đó tác phẩm là tình huống

có vấn đề trước người đọc là học sinh giáo viên phải là người kiểm soát được quá trình đọc, hoạt đồng tiếp nhận của học sinh Bằng cách ra đề, kiểm tra thường xuyên, giáo viên từng bước hướng dẫn học sinh tiếp nhận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường

Trang 18

Khi tiếp cận một tác phẩm văn học cần chú ý đến mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc, xem xét ảnh hưởng, tác động của tác phẩm vào tình cảm, tư tưởng, nhận thức thẩm mĩ của bạn đọc Tuy nhiên khi nhấn mạnh quan điểm đến quan điểm người đọc, người học, đến phản ứng và đáp ứng của học sinh trong giờ văn, chúng ta vẫn không tuyệt đối hóa hay cường điệu hóa sở thích của học sinh Trong nhà trường luôn luôn kết hợp hài hòa giữa cảm thụ cá nhân học sinh với định hướng sư phạm của người thầy.Một quan điểm tiếp cận đồng bộ văn bản, ngoài văn bản và đáp ứng của người học là sự kết hợp cân mực, hài hòa, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả vững chắc cho việc nghiên cứu

và dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Trong luận văn của mình chúng tôi cũng sử dụng đồng thời ba hướng tiếp cận này để tiến hành giảng dạy bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

1.1.3 Mối quan hệ giữa ba hướng tiếp

Đặt vấn đề tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương, tức là phải xem xét tác phẩm trên tất cả các mặt một cách đồng thời và hợp lý, đúng mức vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm, không quá nghiêng lệch về một hướng tiếp cận nào Các mặt đó là: Lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch

sử chức năng Nếu phương pháp tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử phát sinh xem xét tác phẩm trong mối quan hệ với xã hội thì khuynh hướng cấu trúc văn bản nhìn tác phẩm ở chính bản thân nó, còn tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử chức năng đánh giá tác phẩm trong mối quan hệ tác động tới bạn đọc Mối quan hệ giữa chúng được giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng khái quát

trong cuốn “ Đọc và tiếp nhận văn chương” - Nhà xuất bản giáo dục 2002 cũng khẳng định: “Hoạt động tiếp cận tác phẩm văn chương là thao tác đầu

tiên của cơ chế tiếp nhận Hoạt động này cần tiến hành một cách đồng bộ không thể quá nặng, quá nhẹ với bất cứ một khuynh hướng nào Khuynh hướng tiếp cận phát sinh quan tâm đến tính chất xã hội của tác phẩm, đến nguồn gốc nhận thức của văn học với đời sống.Hướng tiếp cận bản thể tác phẩm đào sâu vào cơ cấu hình thức được sáng tạo của tác phẩm Đây là

Trang 19

hướng tiếp cận mang tính thẩm mỹ văn học Khuynh hướng tiếp cận chức năng - Tác động tuy không bao hàm nhiều thao tác trí tuệ phức tạp nhưng lại phải vận dụng sự sáng suốt của trái tim để sự cộng thông giữa những vấn đề của con người trong quá trình tiếp nhận diễn ra tốt đẹp” [ 10] Như vậy

hướng tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương theo ý kiến của cá nhân tôi là một hướng tiếp cận đúng dắn và cần thiết Nó vừa là một phương pháp khoa học quan trọng để tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm, vừa giải quyết được băn khoăn nên hiểu tác phẩm thế nào cho hợp lý khi mà có nhiều cách lý giải khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau Vận dụng tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương

trong nhà trường nói chung, cho bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng là một

phương án tối ưu cho giờ giảng văn ở trường Trung học phổ thông

1.2 Thực trạng việc giảng dạy bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” ở trường phổ thông

1.2.1 Khảo sát

1.2.1.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát tình hình học và dạy tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” ở nhà trường

phổ thông hiện nay sẽ giúp chúng ta đánh giá được những việc đã làm được cũng như những tồn tại của nó để tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp tối ưu nhất cho việc dạy, học tác phẩm này

1.2.1.2 Đối tượng khảo sát

Để tìm hiểu tình hình dạy tác phẩm “ Đây thôn Vĩ Dạ” trong nhà

trường phổ thông hiện nay chúng tôi tiến hành khảo sát ba đối tượng cơ bản tham gia vào quá trình dạy và học trong nhà trường đó là giáo viên, học sinh

và sách giáo khoa, sách giáo viên Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tại trường THPT Nam Đông Quan - Đông Hưng - Thái Bình, nơi tôi tham gia giảng dạy

- Tổ văn trường Nam Đông Quan - 13 giáo viên

- Học sinh lớp 11A, 11C, 11K của trường (120 học sinh)

1 2.1.3 Tư liệu khảo sát

- Tư liệu mà chúng tôi tiến hành khảo sát là:

+ Phiếu điều tra

Trang 20

+ SGK, SGV ngữ văn 11 tập 2

+ Giáo án của giáo viên

+Vở ghi và bài kiểm tra về bài thơ

1.2.1.4 Quá trình khảo sát

* Thời gian khảo sát Học kỳ 2 năm học 2012-2013

* Hình thức khảo sát:

+ Đối với giáo viên: chúng tôi tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra,

dự giờ tiết giảng và xem giáo án thiết kế để nắm được sự chuẩn bị của các thầy cô, hướng tiếp cận tác phẩm, phương pháp dạy học và hiệu quả của giờ dạy Câu hỏi được đưa ra như sau:

Câu 1: Mức độ hứng thú của thầy (cô) khi dạy tác phẩm “ Đây thôn Vĩ Dạ”?

A □ Rất hứng thú

B □ Bình thường

C □ Không hứng thú

Câu 2:Khi dạy tác phẩm “ Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử, thầy cô dựa

vào những yếu tố nào sau đây:

A □ Văn bản tác phẩm và câu hỏi sách giáo khoa

B □ Hướng dẫn trong sách giáo viên

C □ Kết hợp các tài liệu khác có liên quan đến văn bản

D □ Các ý kiến khác:

Câu 3: Khi dạy học sinh tác phẩm “ Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử, các thầy cô thường yêu cầu học sinh làm những việc gì? A □ Đọc văn bản tác phẩm và trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa B □ Soạn, đọc thêm những vấn đề có liên quan đến tác giả, tác phẩm C □ Tìm hiểu trước về tác phẩm và nêu những cảm nhận, suy nghĩ của riêng bản thân về bài thơ và những vấn đề trong tác phẩm D □ Ý kiến khác

Trang 21

Câu 4: Phương pháp chủ yếu khi thầy cô dạy học bài thơ “ Đây thôn Vĩ

Dạ” là gì?

A □ Giáo viên thuyết giảng, học sinh tiếp nhận

B □ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản qua hệ thống câu hỏi gợi mở

C □ Giáo viên tổ chức cho học sinh đối thoại để tìm hiểu tác phẩm

D □ Ý kiến khác

Câu 5: Hướng tiếp cận được thầy cô sử dụng khi dạy học bài thơ là gì? A □ Tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh B □ Tiếp cận theo văn bản C □ Tiếp cận đồng bộ theo cả ba hướng: lịch sử chức năng, tiếp cận văn bản và iếp cận theo lịch sử chức năng D □ Ý kiến khác

Câu 6: Khi giảng dạy bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” (SGK Ngữ văn 11 tập 2) các thầy (cô) cần nhấn mạnh cho học sinh những điều gì?

+ Đối với học sinh:

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các em trước và sau khi học bài thơ “

Đây thôn Vĩ Dạ” để nắm được sự chuẩn bị bài cũng như đánh giá mức độ tiếp

nhận tác phẩm của các em Ngoài ra chúng tôi cũng khảo sát bằng cách xem

vở ghi của các em, làm trắc nghiệm nhanh bằng phiếu và khảo sát một số bài làm văn để đánh giá thái độ, hiệu quả học tập

Trang 22

Câu hỏi được đặt ra như sau:

Câu 1: Các em có thấy hứng thú khi học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”-

Câu 3: Trước mỗi giờ học văn các em thường chuẩn bị những gì?

A □ Đọc và tìm hiểu trước tác phẩm và những tài liệu có liên quan

B □ Chuẩn bị theo những câu hỏi trong sách giáo khoa

C □ Không chuẩn bị gì cả

D □ Ý kiến khác………

………

………

Câu 4: Trong giờ học tác phẩm này các em có cách học thế nào?

A □ Nghe giáo viên giảng kết hợp ghi chép

B □ Ghi chép theo những phần chốt của giáo viên

C □ Lắng nghe, trao đổi thảo luận để khám phá tác phẩm

Trang 23

Câu 6: Em thu hoạch được gì sau bài học?

+ Đối với sách giáo khoa: Chúng tôi chú ý khảo sát các câu hỏi mà người viết sách sử dụng, phần tiểu dẫn, chú thích của tác phẩm

+ Đối với sách giáo viên Chúng tôi quan tâm đến việc xác định kiến thức trọng tâm của tác phẩm, những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng thái độ mà sách yêu cầu đối với bài học.Cách trả lời các câu hỏi được nêu ra trong sách giáo khoa, cách tổ chức dạy học, yêu cầu về phương pháp đối với từng mục

1.2.2 Kết luận về thực trang

1.2.2.1 Kết quả khảo sát và phân tích kết quả

Qua khảo sát tìm hiểu thực trạng việc dạy bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ”

chúng tôi có thể đi đến nhận định rằng: Việc dạy và học tác phẩm này chưa thành công, hiệu qur tác động đối với học sinh sau giờ học còn mờ nhạt, năng lực tiếp nhận của học sinh vẫn chưa được nâng cao, số lượng học sinh hiểu đúng và sâu văn bản vẫn còn thấp so với yêu cầu.Cụ thể

- Về phía giáo viên: Khi phỏng vấn hầu hết các giáo viên đều công

nhận “ Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ rất hay, thế nhưng để giúp học sinh

nhận ra cái hay, cái đẹp của bài thơ lại là điều không Về hướng tiếp cận bài thơ, hầu hết các giáo viên được khảo sát đều sử dụng hai hướng tiếp cận là lịch sử phát sinh và tiếp cận văn bản Tuy nhiên trong hướng tiếp cận lịch sử phát sinh chỉ chú trọng đến hoàn cảnh sáng tác của bài thơ mà chưa hướng dẫn học sinh tìm hiểu về phong cách thơ Hàn Mặc Tử Điều này thể hiện ngay

Trang 24

trong phần giáo án của giáo viên và cả trong cả tiết học Có rất ít giáo viên tiếp cận đồng bộ cả ba hướng tiếp cận trên nên dẫn đến kết quả là sự chuẩn bị của giáo viên dù rất chu đáo, bài giảng đảm bảo kiến thức trọng tâm, nhiều phần bình giảng rất hay, rất sâu sắc nhưng lại chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh dẫn đến hiệu quả giờ học không cao

Kết quả cụ thể qua phiếu trả lời như sau

Trang 25

- Về phía học sinh: Khi được phỏng vấn, điều tra bằng phiếu, xem vở

ghi, và bài kiểm tra kết quả nhận được là: Đa số các em đều thấy “ Đây thôn

Vĩ Dạ” là bài thơ hay nhưng hơi khó bởi phong cách nghệ thuật của nhà thơ

các em không nắm vững Điều các em hứng thú nhất lại là vấn đề ngoài văn bản (mối tình đơn phương với Hoàng Kim Cúc của nhà thơ) Chính vì được định hướng chưa đúng và do hứng thú các nhân đa số học sinh đều dùng hoàn cảnh sáng tác bài thơ để giải thích cho nhiều chi tiết, hình ảnh xuất hiện trong bài Điều này làm thu hẹp ý nghĩa của bài thơ và khó tránh khỏi tình trạng

gượng ép, khiên cưỡng trong cảm thụ nghệ thuật Số khác lại cho rằng “ Đây

thôn Vĩ Dạ” viết về tình yêu và thiên nhiên thôn Vĩ tươi đẹp cho thấy lòng

yêu đời, yêu con người của nhà thơ….Qua đó ta thấy học sinh chưa nắm được đặc sắc nghệ thuật của bài thơ, mạch cảm xúc, thông điệp của nhà thơ… Khi xem đến vở ghi văn của các em chúng tôi thấy một số em đã có cách ghi chép khoa học, mạch lạc theo hướng dẫn của giáo viên và mạch tư duy của bản thân Bên cạnh đó nhiều em còn ghi chép sơ sai, thiếu khoa học và không trọng tâm do theo dõi bài học chưa tốt, chưa sáng tạo, và thiếu nhiệt tình trong học tập Về bài kiểm tra kết quả không được khả quan Đa số các em mới chỉ hiểu bài thơ ở tầng “lộ thiên” Tình trạng suy diễn từ hoàn cảnh sáng tác bài thơ diễn ra ở nhiều bài kiểm tra

Kết quả cụ thể của phiếu trả lời như sau:

Trang 26

chứ chưa chú ý đến việc, suy nghĩ, phát biểu ý kiến riêng và thảo luận để tự tìm ra vấn đề

- Về sách giáo khoa:

Trước hết chúng tôi nói đến phần tiểu dẫn: Phần tiểu dẫn này chúng tôi

khảo sát theo sách giáo khoa 11 tập 2(Nhà xuất bản giáo dục 2000)

Trong phần này khi giới thiệu về Hàn Mặc Tử và những sáng tác của ông, các nhà biên soạn sách đã chú ý đến 3 nét chủ yếu: Tiểu sử (Tên, bút danh, gia đình, nơi sinh, mất); giới thiệu sáng tác chính và đặc điểm bút pháp của nhà thơ Tuy nhiên cũng thật khó thỏa đáng khi nói những kiến thức trên

là đủ về Hàn Mặc Tử Dù việc giới thiệu về một tác giả có tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường phổ thông chắc chắn không thể đầy đủ như trong giới nghiên cứu nhưng nó cũng phải là những nét cơ bản nhất vừa đủ để làm sống dậy ở học sinh hình dung về một con người với những cá tính và tài năng sáng tạo kì lạ như nhà thơ mà chúng ta đang nói đến Để bù đắp phần thiếu hụt này giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh tìm những tài liệu có liên quan hoặc trong quá trình giảng dạy giáo viên cung cấp thêm những thông tin

về con người, quan niệm thơ, phong cách thơ Hàn Mặc Tử để trước khi đến với tác phẩm học sinh đã có những ý niệm ban đầu, những tiếp xúc quan trọng để góp phần hiểu bài thơ ở tầng sâu hơn

Trong phần hướng dẫn học bài người viết sách đưa ra 3 câu hỏi để định hướng cho giáo viên và học sinh:

Câu 1: Những kỉ niệm đẹp thơ mộng về Huế được diễn tả qua tâm hồn giàu tư tưởng và cũng đầy thơ mộng của nhà thơ như thế nào? Phân tích từng đoạn thơ theo hướng này?

Câu 2: Mối tình xa xăm vô vọng của nhà thơ đối với cô gái thôn Vĩ dạ được gửi gắm một cách kín đáo như thế nào qua bài thơ?

Câu 3: Anh chị thích nhất hình ảnh nào? Câu thơ nào trong bài thơ? Vì sao?

Nhìn chung các câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài này đã định hướng được cho học sinh vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ

Trang 27

và phát huy cảm nhận chủ quan của học sinh về tác phẩm.Tuy nhiên hệ thống câu hỏi này vẫn chưa thật phù hợp và khoa học, chưa giúp giáo viên và học sinh có thể hiểu được mạch cảm xúc ngầm của bài thơ, chưa chú trọng đến dặc điểm thi pháp của thơ Hàn Mặc Tử (mà điều này khá quan trọng) Chính

vì vậy 3 câu hỏi trên chủ yếu mới chú ý đến phần “lộ thiên” chứ chưa khai thác được mạch ngầm văn bản

- Về sách giáo viên: Chức năng của sách giáo viên là đưa ra những định hướng có tính chất tham khảo cho người dạy Tùy theo trình độ, khả năng, tâm huyết của người dạy mà mỗi giáo viên có sự tham khảo, vận dụng khác nhau.nhìn vào định hướng giảng dạy trong sách giáo viên ngữ văn 11 tập

2 về bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc tử chúng tôi thấy rằng sách đã định hướng cho giáo viên tiếp cận hợp lý bài thơ “ Có thể tiếp cận bài thơ như

một thi phẩm được gợi cảm hứng từ một bức bưu thiếp (kèm theo lời hỏi thăm hỏi) do Hoàng thị Kim Cúc gửu cho - Người mà ông thầm yêu trộm nhớ bằng một tình yêu đơn phương, vô vọng qua một khoảng cách thời gian, không gian

xa vời Và quá trình sáng tác bài thơ là quá trình nhà thơ đối thoại âm thầm với tấm ảnh (mà ông tưởng tượng là bến Vĩ Dạ) Tuy nhiên cuộc đối thoại giữa nhà thơ và tấm ảnh thực sự diễn ra như thế nào và tình cảm, cảm xúc của nhà thơ thực sự nảy sinh và diễn biến thế nào? Căn cứ có ý nghĩa quyết định nhất để phán đoán vẫn chính là văn bản thơ - Tránh suy diễn một cách chr quan, tùy tiện” (sách giáo viên trang 122) Đây là một chỉ dẫn quan trọng

giúp giáo viên có cách tiếp cận văn bản hợp lý và khoa học (Đó là cách tiếp cận lịch sử phát sinh và tiếp cận văn bản) Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy người soạn sách vẫn chưa bám sát vào thi pháp thơ Hàn Mặc Tử, chưa tạo ra hướng khai thác bài thơ theo mạch ngầm cảm xúc Sách có đưa ra những gợi ý cụ thể về một vài điểm sáng thẩm mỹ nhưng còn rất sơ lược, chưa có tính thuyết phục cao

1.2.2.2 Nguyên nhân

Nguyên nhân của thực trạng trên theo chúng tôi có nhiều lý do Trước

Trang 28

hết là do bản thân tác phẩm thơ này vốn có nhiều cách hiểu, nhiều luồng ý

kiến khác nhau trong cách cảm thụ “ tác phẩm tự nó tạo ra nhiều tầng ý nghĩa

bởi các đại lượng” - Khrapchenko Tính đa nghĩa là một đặc trưng của tác

phẩm văn học Nó “ Bắt nguồn từ tiềm năng dồi dào của nội dung tác phẩm

cho phép có thể lý giải, đánh giá theo những khía cạnh khác nhau, bắt nguồn

từ tính nhiều đề tài, chủ đề, tính phức điệu của cảm hứng và tính điệu không một chiều của sự lý giải ” [19] Cụ thể với bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” có

người cho là lời tỏ tình với Hoàng Cúc, có người cho rằng bài thơ hướng nội,

có người lại cho rằng hướng ngoại Ngay cái hình ảnh “ Khuân mặt chữ điền”

ở khổ thơ thứ nhất, hình ảnh “ Sương khói mờ nhân ảnh” ở khổ 3 cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Đúng là “ Hiếm có bài thơ nào trong trẻo thế mà

cũng bí ẩn đến thế” - Chu Văn Sơn [45; 248]

Giờ học chưa thành công còn bởi nhiều giáo viên chưa nắm chắc thi pháp thơ Hàn Mặc Tử trong quá trình dạy Lỗi phổ biến mà chúng tôi muốn nói ở đây là giáo viên vẫn khai thác, giảng dạy bài thơ này theo quy trình thông thường giống như các thi phẩm khác của văn học lãng mạn Khi dạy giáo viên chỉ tập trung làm nổi bật bức tranh thiên nhiên xứ Huế đẹp và thơ mộng như là một quan sát trực tiếp của nhà thơ.Thứ nữa là các yếu tố nghệ thuật rất tiêu biểu cho phong cách thơ Hàn Mặc Tử như kết cấu, biểu tượng, ngôn ngữ…lại hầu như không được quan tâm Chính vì thế nhiều tiết học sa

đà vào tán dương theo những cách dập khuân, sao rỗng, áp đặt

Ở một vài tiết học mà chúng tôi trực tiếp tham gia, khảo sát cho thấy,

dù giáo viên chuẩn bị giáo án rất công phu, có sự đầu tư kĩ lưỡng nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn là do người giáo viên bỏ qua khâu quan trọng là tạo tâm thế cho người học Khác với môn học khác, văn chương

là một bộ môn nghệ thuật Nói đến văn chương là nói đến thế giới của những cảm xúc tình cảm, những rung động trong tâm hồn Cho nên để hiểu và học văn nhất thiết phải có một tâm thế thoải mái, đồng điệu với tác phẩm Người giáo viên không nên lên lớp với những thao tác đơn thuần, quen thuộc, những

Trang 29

hiệu lệnh khô khan trong một bầu không khí hoàn toàn trầm lắng, đơn điệu Thay vào đó giáo viên nên tạo dựng một bầu không khí cởi mở, lôi cuốn say

mê cho người học Một cách vào bài đầy ấn tượng, liên hệ một cách hợp lý những uẩn khúc đời tư, những câu hỏi được nêu ra đúng lúc châm ngòi cho những cuộc tranh luận, khuyến khích học sinh nói lên những suy nghĩ cảm xúc của cá nhân mình….đều là những biện pháp hữu hiệu tăng thêm sự yêu thích và hứng thú để các em chủ động, tích cực khám phá tác phẩm góp phần làm nên thành công cho giờ học

Nguyên nhân cuối cùng mà cũng là một trong những nguyên nhân chủ

yếu nhất dẫn đến việc dạy tác phẩm “ Đây thôn Vĩ Dạ” khác nhau và chưa

đạt được hiệu quả như mong muốn là do phương pháp tiếp cận tác phẩm chưa thực sự hiệu quả Như đã nói ở trên hầu hết đến với bài này giáo viên chỉ sử dụng hai hướng tiếp cận quen thuộc là: Tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh

và tiếp cận văn bản Việc sử dụng dẫn đến lạm dụng hướng tiếp cận theo hướng lịch sử phát sinh khiến cho bản thân người giáo viên đôi khi mất phương hướng dẫn đến tình trạng thu hẹp ý nghĩa tác phẩm, suy diễn, tùy tiện còn học sinh sau khi học xong bài thơ cũng không đọng lại gì ngoài vấn đề không liên quan đến văn bản là mối tình đơn phương vô vọng của nhà thơ với người con gái thôn Vĩ Mặt khác hướng tiếp cận theo lịch sử chức năng hướng vào đáp ứng của học sinh lại chưa được xem xét hay chú trọng Người học vẫn như kẻ “ngoài cuộc”, thụ động trong giờ học văn

1.2.2.3 Kết luận về thực trạng

Từ khảo sát việc dạy bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ hay, có

một vị trí và ý nghĩa quan trọng ở trường phổ thông nhưng vẫn đề giảng dạy còn tồn tại nhiều bất cập như phương pháp dạy học chưa hợp lý và đặc biệt là hướng tiếp cận còn phiến diện nên giá trị của bài thơ chưa được khai thác hết

Để khắc phục tình trạng này chúng tôi đề xuất phương án dạy tác phẩm theo hướng tiếp cận đồng bộ nhằm khắc phục những thiếu sót kể trên Với hướng tiếp cận này giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh sử dụng một cách hợp lý những

Trang 30

uẩn khúc đời tư, hoàn cảnh sáng tác, phong cách nghệ thuật và những yếu tố ngoài văn bản khác để hiểu sâu hơn về bài thơ Cùng với đó giáo viên phải đặc biệt chú ý đến việc tạo tâm thế cho người học, khuyến khích học sinh tích cực chủ động, sáng tạo trong giờ học để kiến thức sẽ là kiến thức của học sinh

tự khám phá trên cơ sở là sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên Phương hướng tiếp cận mà chúng tôi đề xuất này dựa trên lý thuyết tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương mà chúng tôi đã trình bày ở trên

Trang 31

dạy học Để làm được điều này giáo viên cần chú ý bám sát các yêu cầu sau: 2.1.1 Phải đảm bảo phù hợp với trình độ tếp nhận văn chương và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động của người học

2.1.1.1 Đảm bảo phù hợp với trình độ tiếp nhận văn chương và đặc điểm tâm

lý lứa tuổi học sinh phổ thông

Đây là yêu cầu đầu tiên và không phải chỉ riêng của môn học hay bài học mà chúng ta đang đề cập tới Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương rất chú trọng đến việc hướng vào đáp ứng nhu cầu của người học và phát huy được tính tích cực của chủ thể nhằm đạt được hiệu quả dạy học Thế nhưng muốn làm được điều này người giáo viên trước hết phải hiểu được tâm lý, tầm tiếp nhận của đối tượng mà mình đang giảng dạy để từ đó có những ứng xử cũng như những biện pháp phù hợp trong quá trình dạy học Đối tượng giáo dục của chương trình văn phổ thông là học sinh lứa tuổi từ 15 đến 18 Đây là lứa tuổi mới lớn, tư duy nhanh, nhạy cảm và tò mò luôn mong muốn được khám phá, tìm tòi, phát hiện những thứ mới mẻ, lạ lẫm, độc đáo Thế nhưng lứa tuổi này các em còn chưa có sự phát triển cao về tư duy, trình độ kiến

Trang 32

thức còn hạn hẹp, khả năng hứng thú say mê chỉ trong một thời gian ngắn Chính vì thế khi tiến hành dạy bài thơ này cũng như nhiều tác phẩm văn học khác là phải đảm bảo tính vừa sức cho các em Nghĩa là khi tìm hiểu khai thác tác phẩm chúng ta không nên đưa vào những vấn đề quá phức tạp, quá khó, bí hiểm hay mang tính chất đánh đố mà phải đảm bảo sự vừa tầm, tính trọng tâm, sự trong sáng của tác phẩm Ví dụ về tác giả Hàn Mặc Tử có rất nhiều vấn đề phức tạp và “kì lạ” giáo viên nên lựa chọn những thông tin cơ bản nhất, quan trọng nhất để học sinh có hình dung đúng nhất về tác giả tránh tình trạng quá tải thông tin gây “nhiễu” hoặc phản cảm Ngoài thông tin được cung cấp bởi sách giáo khoa giáo viên có thể nói thêm về cuộc đời bất hạnh đầy đau thương của nhà thơ tài hoa này cũng như sức sáng tạo kì lạ của ông trong cảnh ngộ đau thương đến tột cùng vv

Lứa tuổi này đã có chuyển biến đáng kể về năng lực văn học Quan hệ của học sinh đối với nghệ thuật mang tính thẩm mỹ có ý thức, các em đã trở thành một độc giả thực thụ Các em đã ổn định hơn trong cách phân tích, đánh giá nghệ thuật tuy còn mang màu sắc cá nhân, chủ quan theo những tiêu chuẩn, lý tưởng riêng Tư chất cá nhân trong tính cách của học sinh có ảnh hưởng có ảnh hưởng lớn đến việc cảm thụ nghệ thuật Các em thích tự khám phá văn bản văn học theo cách của riêng mình Hứng thú văn học của các em tuy có sâu sắc và ổn định nhưng do tính cá nhân đôi khi cũng tạo nên những xúc cảm nghệ thuật khá cao nhưng cũng rất khó kiểm soát nên giáo viên cần

có những định hướng, những uốn nắn kịp thời, cần thiết Vì thế trong quá trình dạy học giáo viên phải tìm được những hình thức, những biện pháp dạy học, hướng tiếp cận thích hợp sao cho hài hòa được những đánh giá cá nhân,

sự cố gắng thể hiện của học sinh với việc hình thành ở các em một cách nhìn khách quan đối với tác phẩm để phát triển năng lực văn học của học sinh một cách đúng đắn và toàn diện Ví dụ trong bài thơ có những câu thơ, những hình

ảnh gợi ra nhiều liên tưởng, nhiều cách hiểu như “ Lá trúc che ngang mặt chữ

điền” các em có thể cho rằng đó chính là gương mặt của người mà tác giả

Trang 33

thầm yêu trộm nhớ, hay hình ảnh “áo trắng” trong giấc mơ chính là Hoàng

Thị Kim Cúc thì giáo viên cũng cần có cách giải thích sao cho thật thuyết phục, tránh áp đặt cứng nhắc

Bên cạnh đặc điểm sự phát triển năng lực văn học trên, đặc điểm tâm lý cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với việc tiếp nhận văn học ở các em.Lứa tuổi này ý thức về mình, nhu cầu được khẳng định, nhu cầu được tôn trọng rất lớn nhưng tâm lý thường không ổn định, hay thay đổi và dẽ bị kích động Chính vì thế giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, cởi

mở, tạo cho học sinh một tâm thế hưng phấn khi bước vào bài học Nhận xét của giáo viên về học sinh, về hành động của học sinh cần nhẹ nhàng, tế nhị và linh hoạt để khuyến khích sự chủ động, tự tin của học sinh tránh làm mất đi không khí học tập sôi nổi và bầu không khi thoải mái cần có ở những giờ học

văn Ví dụ trong khi dạy bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” giáo viên có thể đưa ra

những tình huống hoặc những câu hỏi gợi mở để học sinh có thể tự do thảo luận, tự do nêu ý kiến và cảm nghĩ mình Trên cơ sở đó giáo viên nhận xét,

uốn nắn và chốt lại vấn đề Có thể hỏi những câu hỏi như? “ Sau khi học xong

bài thơ cảm xúc của em là gì?”, “ Nêu những nhận xét chung nhất của em về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”?

Như vậy, trong dạy văn nói chung và dạy bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm lý và trình độ tư duy tiếp nhận văn chương của học sinh, từ đó điều chỉnh nội dung, phương pháp của mình sao cho phù hợp với tâm lý tiếp nhận, sở thích của học sinh trên cơ sở những định hướng đúng đắn, khoa học của bài dạy

2.1.1.2 Phát huy được tính tích cực, chủ động của người học

Không chỉ đảm bảo phù hợp với trình độ tiêp nhận văn chương và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông mà muốn thành công bài giảng nhất thiết phải phát huy được tính tích cực, chủ động của người học Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức

Trang 34

Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động

cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá tác phẩm thơ người giáo viên phải luôn hướng tới đáp ứng nhu cầu của học sinh và chú

ý phát huy tính tích cực của người học

2.1.2 Phải vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (văn hoá, nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, phong cách nghệ thuật của nhà văn ) để cắt nghĩa tác phẩm

Dẫu biết rằng đọc thơ, hiểu thơ căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất trước sau vẫn là văn bản tác phẩm Có khi không cần biết tác giả, hoàn cảnh sáng tác như thế nào chúng ta vẫn có thể hiểu được bài thơ Thế nhưng hiểu

và hiểu thấu đáo là hai cấp độ khác nhau Những kiến thức bổ trợ mà lúc đầu

ta nghĩ là không mấy quan trọng có khi lại “làm nên chuyện”, lại trao cho ta chiếc “ chìa khóa” để ta mở ra những bí mật mà bài thơ dấu kín Với một bài

thơ không dễ hiểu mà còn gây nhiều tranh cãi như “ Đây thôn Vĩ Dạ” thì việc

mượn những yếu tố ngoài văn bản để soi sáng thêm là điều cần thiết Hướng tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương mà chúng ta đang sử dụng để dạy bài

“Đây thôn Vĩ Dạ” yêu cầu cả người dạy và người học phải có kiến thức về

những vấn đề liên quan đến văn bản như: những uẩn khúc đời tư trong mối quan hệ với thế giới nghệ thuật của Hàn, phong cách nghệ thuật của nhà thơ

và hoàn cảnh mà bài thơ ra đời

Trang 35

2.1.2.1 Vận dụng hợp lý những uẩn khúc đời tư trong mối quan hệ với thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm

1912 trong một gia đình công giáo nơi mảnh đất miền trung đầy nắng và gió Sinh quán: Thị xã Đồng Hới, Nguyên quán: Thanh Hóa Thời thơ ấu và thiếu niên của nhà thơ nằm trọn vẹn trong hành trình dịch chuyển vào Thừa Thiên, Quãng Ngãi, Bình Định… Có thể nói mảnh đất Miền Trung với thành Đồ Bàn hoang liêu, tháp Chàm bí ẩn và biển khơi đầy nắng gió đã hoài thai nên Hàn Mặc Tử và để lại dấu ấn khá sâu đậm trong thơ ông Dường như những bóng

ma Hời nơi tháp Chàm hoang liêu cùng những câu chuyện về nó cũng có ảnh hưởng không ít đến các nhà thơ trong nhóm thơ Bình Định và với riêng Hàn Mặc Tử Cái ma quái, cái dị thường cùng trí tưởng tượng không giống ai của

nhà thơ cũng có phần ảnh hưởng từ đó

Ai đi lẳng lặng trên làn nước

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

Mà sao ngầm kín thơ đầy miệng Không nói không rằng nín cả hơi?

(cô liêu)

Hay “Và ai gánh máu đi trên tuyết

Mảnh áo da cừu ngắm nở nang”

Khi nói về Hàn Mặc Tử chúng ta không thể không nói đến thảm kịch cuộc đời của nhà thơ Định mệnh nghiệt ngã đã đeo riết bên mình thi sĩ giữa tuổi thanh xuân đang tràn trề sức sống Có lẽ không có một người thơ nào trong phong trào Thơ mới nói riêng và thi ca Việt Nam nói chung lại mang trong mình một nỗi đau thương quằn quại về thân xác cũng như về tinh thần, bị dồn

ép, tàn phá khốc liệt về mọi phương diện của cuộc sống vì một trong “tứ chứng

nan y” – bệnh phong như Hàn Mặc Tử Dù đồng cảm hoặc chia sẻ đến bao

nhiêu với số phận cay nghiệt của Hàn Mặc Tử, người đồng thời hay chúng ta hôm nay đều không bù đắp được nỗi tổn thương, sự tuyệt vọng, nỗi buồn và sự

Trang 36

cô đơn mà thi nhân phải chịu đựng từ lúc mang bệnh (1936) cho đến khi giã biệt cõi trần (1940), với tuổi đời 28 Mọi người trên trái đất này đều có thể bị bệnh, đều có thể ra đi nhưng là thứ bệnh khác, không bị xa lánh, bị biệt lập với thế giới con người như căn bệnh của Hàn Mặc Tử Theo Quách Tấn- Người

bạn thân thiết của hàn Mặc Tử “ Biết mình mang bênh hiểm nghèo, Tử hết sức

đau đớn, đau đớn đến phát điên Thường ngày những cơn thác loạn nổi dậy, khi nhiều, khi ít…Nhưng ngày rồi ngày, nỗi đau khổ hết phát hiện ra ngoài một cách bồng bột, thì lại ăn sâu vào tâm hồn và ngấm ngầm nung nấu nạn nhân, nưng nấu đến tột độ” [34].Đúng là nỗi đau nhiều khi khiến Hàn Mặc Tử phát

điên, ông sống trong cõi mộng nhiều hơn trong sự thực Và cõi mộng, cõi tưởng tượng mà nhà thơ dựng lên đôi khi thật rùng rợn

“Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sau Sao bông phượng nở trong màu huyết Nhỏ xuống hồn tôi những giọt châu”?

“bình thường” nhất cũng có mạch loogic “không bình thường‟ Và cũng vì ám ảnh bởi cái chết gần kề, con đường trở về với cuộc đời cơ hồ không con nữa nên trong lòng thi sĩ và cả trong thơ nữa luôn thường trực cảm giác tuyệt vọng

và mặc cảm chia lìa

Trang 37

“Một mai kia ở bên khe nước ngọc Với sao sương anh nằm chết như trăng’

(Duyên kì ngộ)

“Ta trút linh hồn giữa lúc đây Gió sầu vô hạn nuối trong cây Còn em sao chẳng hay gì cả?

Xin để tang anh đến vạn ngày”

(Trút linh hồn)

“Bên cạnh nỗi đau vì bệnh tật, còn thêm nỗi buồn thương vì phải sống

xa gia đình, xa bạn bè trong những nơi quạnh vắng đìu hiu Cảnh bơ vơ trơ trọi cũng dày vò tâm trí Tử đến cùng cực và gây cho chàng một bầu không khí buồn chán, vừa thấm thía, vừa mênh mông”- theo Quách Tấn[ 34 ] Bị bênh

tật hành hạ, bị vứt ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi xa hết thảy mọi người giống như người cung nữ xấu số trong lãnh cung nhà thơ chỉ còn biết

trông chờ vào Trăng, Hàn tự phân định rạch ròi thế giới “ngoài kia” và “

Trong này” Nếu như ngoài kia đầy xuân tươi, mật ngọt, đầy hoa lá, niềm

trăng, ý nhạc thì “ trong này” chỉ có buồn đau, cô đơn, lạnh lẽo

“ Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa Trời ở trong đây chẳng có mùa Không có niềm trăng và ý nhạc

Có người cung nữ nhớ thương vua

(Nhớ thương)

Trong “ Đây thôn Vĩ Dạ” nhà thơ cũng tạo ra một ranh giới rạch ròi giữa “ngoài kia” và “ trong này” Vườn tược xứ Huế, sông nước, đêm trăng thơ mộng, người thôn Vĩ hợp thành thế giới “ngoài kia” đối lập với “ trong

này” đầy buồn đau, sương khói, nơi nhà thơ đang sống với bệnh tật, với nỗi

đau, sự cô đơn, và cái chết gần kề Cơ hội trở về với cuộc đời dường như không còn nữa, mối tình với người con gái “ngoài kia‟ dường như cũng quá

xa xôi diệu vợi

Trang 38

Thế nhưng như một nghịch lý không ai thiết tha với cuộc đời cho bằng một người sắp sửa lìa đời.Càng tuyệt vọng lại càng thiết tha Trong con mắt của một người sắp phải chia xa vĩnh viễn ấy cảnh sắc của trần gian này thật đẹp, thật rực rỡ Ở chỗ giao thoa giữa tuyệt vọng và hi vọng, giữa đau đớn và thiết tha đã cho ra đời những câu thơ tuyệt bút, những thi phẩm trong trẻo đến

kì lạ “ Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ ra đời trong nguồn cảm xúc ấy

Hàn Mặc Tử không chỉ nổi tiếng về thi ca mà còn nổi tiếng với những người phụ nữ đi ngang qua cuộc đời ông Cũng như các nhà thơ của phong trào Thơ mới, tình yêu là nguồn cảm hứng, là đường dẫn đến với “nàng thơ” của Hàn Mặc Tử Nhưng có lẽ không nhà thơ nào kể cả Thế Lữ, Lưu Trọng

Lư, Xuân Diệu… lại có nhiều bóng dáng người tình trong thơ như Hàn Mặc

Tử Những Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương, Thương Thương

đã tạo nguồn thi hứng với nhà thơ trong những thi phẩm vừa gần gũi vừa xa xôi, vừa tràn đầy khát khao, mộng tưởng vừa đắng cay, tuyệt vọng Nhưng tuyệt vọng không phải là chấm dứt mà tuyệt vọng để lại tiếp tục sống và yêu Tình yêu tuyệt vọng đã trở thành cảm quan nghệ thuật trong thơ tình Hàn Mặc

Tử Theo Chế Lan Viên: “Hàn Mặc Tử đã có những câu thơ tình hay vào bậc

nhất trong thi ca Việt Nam hiện đại Những câu thơ như tiếng kêu tự đáy lòng, lời thơ như dính máu, dính hồn và nước mắt thi sĩ”[49] Tập thơ Gái quê in đậm dấu ấn mối tình đầu của Hàn Mặc Tử Mối tình dở dang, vô vọng

với Hoàng Cúc đã khiến nhà thơ hụt hẫng chơi vơi Chàng thi sĩ lần đầu tiên

nếm vị của tình yêu đã tiễn biệt tình yêu đầu bằng một nỗi buồn khó tả: Ngày

mai tôi bỏ làm thi sĩ/ Em lấy chồng rồi hết ước mơ/ Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng/ Ngồi lên để thả cái hồn thơ (Em lấy chồng) Mối tình đơn phương vô

vọng ấy còn trở lại trong tập “Đau Thương” với bài “ Đây thôn Vĩ Dạ” khi

nhà thơ đã mắc bệnh hiểm nghèo

Vì vậy khi lựa chọn thơ Hàn Mặc Tử nói chung, bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” nói riêng nhất thiết phải nắm được những uẩn khúc đời tư này để có những kiến giải phù hợp trong quá trình giảng dạy Có như thể chúng ta mới

Trang 39

có thể lý giải được vì sao ngôn ngữ Hàn Mặc Tử có sức tải đến vậy? Vì sao logic trong thơ ông không giống với các nhà thơ khác? Vì sao lại có những hình ảnh, những biểu tượng mà chúng ta thấy? Vì sao lại có sự mong chờ khẩn thiết như thế với sự trở về của thuyền chở Trăng?Vì sao trong thơ ông luôn hòa quyện giữa mộng và thực, vì sao nhà thơ lại mang đầy mặc cảm, lại luôn có sự phân định rạch ròi giữa thế giới “ngoài kia‟ và „trong này‟ đến thế? Hiểu được những uẩn khúc đời tư của tác giả sẽ giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi đó

2.1.2.2 Vận dụng hợp lý những hiểu biết về đặc trưng phong cách thơ Hàn Mặc Tử trong quá trình tìm hiểu văn bản thơ

Mỗi tác giả lớn bao giờ cũng là một phong cách nghệ thuật Một tác phẩm riêng lẻ là một thành tố trong hệ thống phong cách của một nhà văn, là một bộ phận của một chỉnh thể Nếu không nắm được phong cách nhà thơ đôi khi ta không cắt nghĩa được giá trị của tác phẩm Khi tiến hành dạy học bài

thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” theo hướng tiếp cận đồng bộ giáo viên cần nắm được

đặc trưng phong cách thơ của Hàn Mặc Tử và vận dụng những hiểu biết về đặc trưng ấy trong quá trình tìm hiểu văn bản thơ.Trong luận văn của mình,

chúng tôi chỉ xin đề cập đến phong cách thơ Hàn Mặc Tử trong tập “Đau

thương” - tập thơ có bài “Đây thôn Vĩ Dạ” mà chúng ta đang xét Tập “Thơ

điên” hay là Đau thương chia làm ba phần: Phần thứ nhất là Hương thơm gồm những bài thơ trong sáng, như Đà Lạt trăng mờ, Huyền ảo, Mùa xuân chín,

Đây thôn Vĩ Dạ Phần thứ nhì: Mật đắng gồm những bài thơ buồn, tuyệt

vọng như Những giọt lệ, Cuối thu, Hãy nhập hồn em, Muôn năm sầu thảm

và phần thứ ba: Máu cuồng và hồn điên, thể hiện những thác loạn, nguyệt huyết, chết đi sống lại của Hàn với những bài: Hồn là ai, Biển hồn ta, Sáng

láng, Say trăng, Rượt trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng, Rướm máu, Cô liêu, Trút linh hồn Đau thương là tác phẩm chính của Hàn Mặc Tử, và cũng

là một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của nhà thơ

Trang 40

a, Một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại đau thương

Hàn Mặc Tử là nhà thơ của nước mắt nụ cười chen nhau: “Xin dâng

này máu đang tươi - Này đây nước mắt nụ cười chen nhau.” - Thơ Hàn Mặc

Tử là nước mắt nụ cười của một thể xác và linh hồn đau đớn “Thơ ông

thường là lời than thở nỗi đau thương” (Dương Quảng Hàm) Đau thương

đến với nhà thơ từ cả hai nguồn: đau đớn thể xác và đau khổ tinh thần Ngày ngày nhà thơ phải tận mắt chứng kiến cảnh da thịt mình sượng sần, tê điếng,

cơ thể bị tàn phá khủng khiếp, còn gì xót xa hơn

“Thịt da tôi sượng sần và tê điếng Tôi đau vì rùng rợn vô biên”

(Hồn là ai)

Thêm vào đó là nỗi đau của người mang trong mình một tình yêu quá mãnh liệt, nhưng lại vô vọng và tuyệt vọng Thiết tha sống nhưng luôn phải đối mặt với việc chia lìa sự sống, nên tuyệt vọng là trạng thái thường trực

trong tinh thần nhà thơ Đúng như nhận định: “Thơ Điên vì thế là tiếng kêu rỏ

máu của con chim sắp lìa trần, là tiếng nói của những hụt hẫng tan hoang, là tiếng nói của một thân phận bị dồn đẩy đến miệng vực của nỗi chết, chới với bên miệng vực ấy mà ngoái nhìn đời, nuối đời, níu đời”[45; 232] Thế

nhưng đau thương một mặt, nó làm thi sĩ suy nhược, hao mòn, tan loãng, mặt khác, nó khơi dậy trong ông nguồn sáng tạo vô biên Điều này giải thích được sở thích kỳ lạ của Hàn Mặc Tử, thoạt đầu có vẻ bệnh hoạn: nhà thơ muốn được nhìn thấy máu mình chảy:

"Lời thơ ngậm cứng không rên rỉ

Và máu tim anh vọt láng lai Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt Tiếng vang tha thiết dội muôn nơi"

Hàn mặc Tử có vẻ say mê cái " thú đau thương " này:

" Cứ để ta ngất ngư trên vũng huyết, Trãi niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w