Thậm chí có quan điểm còn cho rằng: Mặt trận Tổ quốc chỉ phát huy tính ưu việt của nó trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng giải phóng đất nước, đó là việc tập hợp sức mạnh của kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
NGUỜI HUỔNG DẨN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN ĐĂNG DƯNG
•Al h o c q u ố c G i a HÁ NO:
,<UNG ĨAV' ỊHÒryr TIN THƯ VtẸN í
ữluiầo.?'_ _ _ _ ì
HÀ NỘI - 2006
Trang 2MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 5
1.1 TÍNH THIẾT YẾU CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY 5
1.1.1 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về đại đoàn kết dân tô ̣c và sự tồn
tại tất Của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong cách mạng phản đế, phản
phong, thống nhất Đất nươ ́ c 5
1.1.2 Quan điểm cu ̉ a Đảng Cô ̣ng sản Việt Nam về nhà nước cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ
nghĩa Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân vì dân
1.1.3 và sự cần thiết của Mặt trận Tổ quốc Viê ̣t Nam trong Hê ̣ thống chính tri ̣
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRI ̣
1.4 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRI ̣ TẠI VIỆT NAM 32
1.5 CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
HIỆN NAY 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT 39
NAM TRONG HÊ ̣ THỐNG CHÍNH TRI ̣ TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.1 THỰC TRẠNG, VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC ĐỐ VỚI
Trang 32.2 Thực trạng vị trí vai trỏ của Mặt trận TỔ quốc dối với Nhà nước Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.3 Thực trạng vị trí vai trò của Mặt trận T ổ quốc trong việc lãnh dạo các tổ chức thành viên.
2.4 Những hạn c h ế và nguyên nhân của hạn c h ế trong việc thực hiện vị trí vai trò của mình trong hệ thông chính trị
3.2.2 Đổi mới và nãng cao chất lượng về tổ chức bộ máy
và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc, đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới
3.2.3 Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
3.2.4 Đổi mới về nội dung hoạt động của Mặt trận, đặc biệt chú trọng đến vai trò, chức năng giám sút của Mặt trận, xây dựng cơ chế phản biện xã hội của Mặt trận đối với Đảng và Nhà nước
3.2.5 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong cán bộ của hệ thống chính trị các cấp
K Ế T L U Ậ N
T À I L I Ệ U T H A M K H Ả O
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được coi như là phương thức, là tổ chức tập hợp lực lượng cách mạng, đã góp phần to lớn vào chiến thắng chung của dân tộc Tuy nhiên, hiện nay, khi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã thực hiện xong, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, với những nhiệm vụ kinh tế, văn hoá - xã hội, chính trị mang nội dung khác trước thì đã có những quan điểm đặt ra đối với nhiệm vụ, chức năng của Mặt trận Tổ quốc trong hộ thống chính trị sẽ thế nào Thậm chí có quan điểm còn cho rằng: Mặt trận Tổ quốc chỉ phát huy tính ưu việt của nó trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng giải phóng đất nước, đó là việc tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo thành iực lượng thống nhất chống kẻ thù chung của dân tộc, còn hiện nay, thì
vị trí vai trò đó đã không thực sự cần thiết nữa; song cũng có quan điểm cho rằng: với thể chế một Đảng cộng sản cầm quyển thì sẽ tồn tại một số mặt trái như sự độc đoán, chuyên quyền của tổ chức Đảng, tổ chức Đảng không phản ánh và bảo vệ hữu hiộu cho các giai cấp, tầng lớp không nằm trong đội ngũ của Đảng, hoặc có hiện tượng gia nhập tổ chức Đảng vì mục đích cơ hội chính trị chứ không phải vì nhất trí với cương lĩnh đường lối chính trị của chính đảng này , vì vậy lúc này, trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc cần thiết như
là một thể chế thích hợp vừa để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, vừa tránh được các nguy cơ nói trên; đồng thời là thể chế thực hiện chức năng tư vấn, phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước, góp phần làm hạn chế những nhược điểm do chế độ một đảng đem lại, làm mạnh lên chính tổ chức Đảng và Nhà nước Do vậy, thực tiễn và lý luận đều khẳng định vị trí, vai trò đó vẫn còn có ý nghĩa hết sức cần thiết trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trang 5hội, nó gắn liền với nền dân chủ ngày càng phát triển, với nền kinh tế nhiều thành phần, với nền văn hoá phát huy những giá trị nhân văn cao quý của dân tộc và nhân loại Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở nước ta bao gồm rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp tạo thành cơ sở chính trị, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trân
Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp 1992 còn quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là cơ sở chính trị của chính quyển nhân dân (điều 9)
Tuy nhiên có thể nói cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, đây là vấn đề còn ít được nghiên cứu, tổng kết một cách có hộ thống và có những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, thậm chí không đầy đủ về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị Từ đó làm hạn chế phần nào kết quả trong việc thực hiện quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng khối đậi đoàn kết toàn dân tộc trong thời gian qua
Việc nghiên cứu, phân tích đé tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm tháo gỡ, để tăng cường hơn nữa vai trò của Mặt trân Tổ quốc Viột Nam trong hệ thống chính trị đáp ứng được với yêu cầu của nhiộm vụ chính trị trong giai đoạn hiộn nay ià một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Vị trí, vai trò của Mặt trận T ổ quốc trong h ệ thống chính trị Việt Narrí' để làm đề tài luận vãn tốt nghiệp cao học Luật
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ CỦA LUẬN VĂN:
* Mục đích:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị, từ đó làm
Trang 6cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường vị trí, vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Xây dựng khái niệm, nêu lên những đặc Irưng, nội dung của hoạt dộng Mặt trận Tổ quốc để từ đó xác định vai trò, vị trí của Mặl trân Tổ quốc trong
hộ thống chính trị
- Phân tích, đánh giá khái quát những kết quả hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc trong những năm qua để từ đó tìm ra những mặt dã làm được, mặt còn hạn chế và rút ra những nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm lăng cường vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị Việt Nam
3 CO SỞ LÝ LUẬN VẢ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
* Cơ sở lý luận:
Việc nghicn cứu đề tài dựa trên những quan điểm của chủ nghTa Mác -
Lê nin và đường lối Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; quan điểm của Đảng ta về đại đoàn kết dân tộcvà tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam
Để thực hiện được yôu cầu đặt ra đối với luận văn, việc nghiên cứu dựa trcn phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp nghiên cứu khoa học thông thường khác như: phàn tích, so sánh, tổng hợp
Trang 74 N H Ũ N G Đ Ó N G G Ó P M Ớ I C Ủ A L U Ậ N V Ã N :
Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
là một vấn đề lớn, quan trọng trong lý luận xây dựng Nhà nước Pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, nhưng đến nay vấn đề này chưa được nhiều người thực sự quan tâm đến một cách có hệ thống Mặc dù đã có rất nhiều những đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cả cách mạng dân chủ nhân dân và cả cách mạng xã hội chủ nghĩa, song hiện nay, có ý kiến cho rằng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ có ý nghĩa và vai trò trong cách mạng dân chủ nhân dân, nên trong giai đoạn hiện nay, vị trí, vai trò của Mặt trận tổ quốc trong hệ thống chính trị cần xem xét lại Chính vì vậy, nghiên cứu này sẽ góp phán làm sáng tỏ các quy định đúng đắn của pháp luật; đồng thời chứng minh vị trí, vai Irò hết sức quan trọng và thiết yếu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hệ thống chính trị Việt Nam, hơn thế nữa, luận văn cũng đề cập đến một quan điểm mới về việc xây dựng vị trí, vai trò của Mặt trận như một
cơ chế phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước
5 B Ố C Ụ C C Ủ A L U Ậ N V Ã N :
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu cần tham khảo, luận vãn được bố cục Ihành 3 chương
Trang 8C ơ SỞ LÝ LUẬN V À C ơ S ỏ PHÁP LÝ CHO T ổ CHỨC VÀ
HOẠT Đ ỘNG CỦ A MẶT TRẬN T ổ QUỐC VIỆT NAM
1 1 T Í N H T H I Ế T Y Ế U C Ủ A M Ậ T T R Ậ N T ổ Q U Ố C V I Ệ T N A M
T R O N G H Ệ T H Ố N G C H Í N H T R Ị V I Ệ T N A M H I Ệ N N A Y :
1.1.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân
tộc và sự tồn tại tất yếu của Mặt trận T ổ quốc Việt Nam trong cách mạng
phản đê, phản phong, thông nhất đất nước.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta Đoàn kết
được hình thành từ đời sống cộng đồng từ xa xưa, khi mà người dân đất Việt
phải hợp sức đồng lòng để trị thủy và chống giặc ngoại xâm Trong lịch sử,
mọi kẻ thù của dân tộc, bằng mọi âm mưu và thủ đoạn hòng làm chia rẽ dân
tộc để dễ bề thôn tính, đồng hoá dân tộc ta, nhưng với tinh thổn đoàn kết, ý
chí không chịu khuất phục, thì đại đoàn kết dân tộc đã "kết thành một làn
sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó
nhấn chìm cả lũ bán nước và cướp nước"[23; tr.85] Có thể nói rằng: đoàn
kết, yêu nước thương nòi là một đức tính sẵn có đã được hình thành và bồi
đắp qua từng thế hệ cho nay trong mỗi con người Việt Nam
Truyền thống đó sớm được Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn thấy và phát huy Trong đi chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập ra Đảng
Cộng sản Việt Nam đã viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục
vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ T ổ quốc, cho nên từ ngày thành lập cho đến nay, Đảnẹ ta đ ã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái
Chương 1
Trang 9đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi klỉác”[ 17,tr.409] Từ chỗ đại đồn kết là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong đường lối chiến lược của Đang Cộng sản, đã được chuyển hố tự nhiên và sâu sắc trong đời sống chính trị và xã hội, thành động lực phát triển của cả dân tộc trong hơn nửa thế kỷ qua Chủ tịch Hồ Chí Minh khơng chỉ đúc kết, nâng cao tư tưởng đại đồn kết dân tộc thành hệ thống lý luận và đưa hộ thống lý luân ấy vào Cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Đồn kết, theo Bác Hồ, cũng như theo Đảng Cộng sản Việt Nam: “là một chính sách dân tộc, khống phái là một thủ đoạn chính //7”[25, tr.282].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: chỉ cĩ đồn kết mới đánh bại dược mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, chỉ cĩ đồn kết phấn đấu, nước ta mới được độc lập Trước những thử thách hiểm nghèo của lịch sử dân tộc thì lời kêu gọi đại đón kết tồn dân lại vang lên mạnh mẽ, thúc dục dân ta tin tưởng vào chính mình Xuất phát từ lịng yêu nước, thương dân, vì lợi ích của Tổ quốc, người dân Việt Nam cùng hiệp lực trong một khối đại đồn kết dân tộc
để giải quyết những vấn đề to ỉớn của dAn tộc Đây chính là nét chủ đạo và nhất quán trong tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đồn kết dân tộc
Trong một quốc gia dân tộc bao giờ cũng cĩ các giai cấp, tầng lớp xã hội, tộc người, tơn giáo khác nhau, cĩ lợi ích riêng khác nhau, song bao giờ cũng cĩ những lợi ích chung và cao cả của tồn dân tộc Dân tộc Việt Nam cũng vậy, dù cĩ khác nhau về giai cấp, tơn giáo song lịch sử hình thành quốc gia dân tộc, chủ nghĩa dân tộc đã cĩ từ lâu đời và cĩ lịch sử gắn bĩ chặt chẽ vĩi nhau vì lợi ích là độc lập tự do và lịng yêu nước Trong tất cả mọi người dân Việt Nam, dù sống ở trong nước hay ở nước ngồi, song trong tâm thức của họ đều ẩn chứa tinh thần đĩ Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ con người Việt Nam, quy tụ mọi lực
Trang 10lượng nhân dân thành một khối đại đoàn kéì là một thành công rất to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, song cũng là sự kết thừa của truyền thống lịch sử dân tộc.
Đoàn kết không chỉ đơn giản là phép cộng thuần tuý từng cá nhân con người lại với nhau mà là sự kết tinh của cả dân tộc và thời đại, khơi dậy những tiềm năng chưa được khai thác, phát huy những sức mạnh sẩn có Như vậy, đại đoàn kết dân tộc được biểu hiện cả ử nội dung lẫn hình thức, v ề hình thức, đại đoàn kết dân tộc yêu cầu phải quy tụ được mọi giai tầng, tôn giáo, dân tộc trong đất nước cũng như người Việt sống ở nước ngoài vào một khối thống nhất; về nội dung, đại đoàn kết dân tộc phải được biểu hiện ở những nhiệm vụ
cụ thể, ở những nội dung cụ thể của khối đại đoàn kết đó Đoàn kết không chỉ trong nhận thức, trong lời nói mà còn phải được biểu hiện bằng hành động:
“Khống phái đoàn kết ngoài miệng, mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết bằng tinh thần, đoàn kết thực A7/’f 17, tr 248]
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng mà trước hết là lực lượng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đây cũng chính là lực lượng giữ vai trò lãnh đạo, là nòng cốt, là nền tảng xã hội của khối đoàn kết toàn dân Trong cách mạng dân tộc dân chủ, cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của chính đảng của mình, liên minh vững chắc với giai cấp nông dân và táng lớp trí thức, tạo thành một lực lượng cách mạng to lớn,mạnh mẽ có thể liến hành được cuộc cách mạng, song để để đẩy nhanh cuộc cách mạng đó đi đến thành công cần phải có sự đồng thuận, ủng hộ của nhiều giai tầng khác trong xã hội Chính vì vậy, yêu cầu của cách mạng đặt ra ià cần thiết phải tập hợp các lực lượng, giai tầng nhân dân lao động khác trong xã hội thành một mặt trận rộng rãi, một lực lượng quần chúng cách mạng to lớn Có thể nói rằng: đại đoàn kết
Trang 11dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp cổng nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là nguyên tắc, là phương châm chiến lược của Đang Cộng sàn.
Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, cần đoàn kết rộng rãi, nhưng không phải đoàn kết với bất kỳ ai, bất kỳ giá nào, bất kỳ điều kiện nào, mà nội dung của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết mọi người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo người trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, không phân biệt quá khứ và ý thức hệ, vì lợi ích chung của dùn tộc tạo thành một động lực để ihực hiện các nhiệm vụ cách mạng đặt ra Đại đoàn kết dân tộc phải gắn kết mọi người vào một mặt trận chung của dân tộc, tạo thành bức tường thành làm hậu thuẫn cho Đảng Cộng sản và cho hệ thống chính trị
Đại đoàn kết dân tộc, theo quan điểm của Đảng Cộng sản, không phải
là đại đoàn kết một chiều, mà đại đoàn kết phải song song với đấu tranh để tự hoàn thiện mình và hoàn thiện đối lượng đoàn kết Đấu tranh là để đoàn kết Đây chính là một quan điểm hết sức biện chứng của Đảng Cộng san khi xác định phương châm của đại đoàn kết dân tộc Đoàn kết không làm mất đi, hoà tan những đặc trưng của mọi thanh viên trong nó, mà chỉ khơi đậy những điểm chung của các thành viên Đấu tranh trong đoàn kết là đấu tranh để tự hoàn thiện mình vì mục tiêu chung
Nói đến đại đoàn kết dân tộc là nói đến vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận
Tổ quốc Ở nhiều nước trên thế giới, vào những thời kỳ nhất định từng xuất hiện hình thức mặt trận như Mặt trận Bình dân ở Pháp, Mặt trận dân chủ chống Phát xít như ở nhiều nước trước và trong thế chiến thứ II, Chính hiệp ở Trung Quốc, hay Mặt trận xây dựng đất nước Lào Hầu hết những Mặt trận này ra đời nhằm tạo một “tuyển ” rộng rãi các lực lượng chính trị, xã hội phục
vụ cho một mục tiêu chính trị nào đó và sẽ giải tán sau khi đã hoàn thành được
Trang 12mục liêu của mình Chúng khổng giống đảng phái chính trị, cũng không phải
tổ chức kinh tế, hay tổ chức xã hội mà về bản chất Mặt trận chính là một thủ đoạn, một phương thức chính trị của lực lượng lãnh đạo cách mạng, hoặc của giai cấp cầm quyền trong việc thực thi những mục tiêu chính trị của mình Nhưna ở Việt Nam, mặc dù Mặt trận được thành lập bởi Đảng Cộng sản song
sự ra đời của Mặt trận là kết quả tất yếu của truyền thống lịch sử dân tộc
Từ khi thành lập đến nay, trong lý luận và thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc; phát huy sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế, sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại, lãnh đạo nhân đân giành được những thắng lợi vẻ vang Căn cứ vào tình hình trong nước, thế giới và yêu cẩu nguyện vọng chính dáng của nhân dân trong mỗi một thời kỳ lịch sử nhất định, Đảng đã đề xuớng lập Mặt trận Dân tộc Thông nhất với hình thức tổ chức và tên gọi phù hợp nhằpi đoàn kết, tập hợp tất cả các lực lượng có thể tập hợp được để thực hiện cuộc đấu thành giải phóng dân tộc khỏi ách phong kiến, thực dân, đế quốc Với tất cả những nội dung đó trong quan điểm về đại (loàn kếl dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời như là một tất yếu của lịch sử, để xây dựng một trận tuyến vững chắc hợp sức dấu tranh, thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi chế
độ phong kiến, ách Thực dân, Đế quốc, giành độc lập, thống nhất đất nước Có thể nói rằng, sự ra đời của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm tập hợp mọi lực lượng trong xã hội thành một khối thống nhất vì một mục tiêu chung của cách mạng dân tộc được coi như là điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi trên của dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc không phải là một sách lược xuất phát từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo cách mạng mà là sự đúc kết, hiện thực hoá nhu cầu khách quan của đời sống xã hội vì quyền lợi của bản thân nhân dân Chính vì vậy, khi nói đến việc xây dựng một Nhà nước Pháp quyền Việt Nam
Trang 13của dân, do dân và vì dân, là cần nói đến vấn đề đại đoàn kết dân tộc Đây chính là một luận điểm quan trọng và rất đặc trưng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Đáng Cộng sản Việt Nam cho rằng để xây dựng được Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân không phải là nhiệm vụ của riêng Nhà nước, cũng như không phải là nhiệm vụ của riêng chính đảng nào, mà đây là nhiệm vụ của toàn thể nhân dân, của mọi cơ quan Nhà nước và mọi tổ chức chính trị - xã hội
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay về đại đoàn kết dân tộc có mâu Ihuẫn với quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của Đảng Cộng sản không? Điều này hoàn toàn không có mâu ihuẫn bởi lẽ: trong giai đoạn hiện nay, mâu thuẫn giai cấp hiện nay biểu hiện chủ yếu và trước hết ở mâu thuẫn lợi ích kinh tế Đảng Cộng sản chủ trương dùng sách lược đại đoàn kết dân tộc để giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích trong xã hội và ngược lại, dùng chính những kết quả đạt được trong giải quyết các mâu thuẫn xã hội để củng
cố và phát triển khối đại đoàn kết dãn tộc Nói cách khác, hiện nay việc giải quyết các mâu thuẫn giai cấp phải bằng con đường phát triển cộng đồng Nếu như trước kia nỗi nhục mất nước, nỗi đau của việc phân chia giai cấp đã thôi thúc và tập hợp người dân Việt Nam yêu nước vào Mặt trận Dân tộc thống nhất để tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp giải phóng dân tộc, thống nhất nhất nước thì ngày nay, nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu và những bức xúc về mâu thuần lợi ích kinh tế đang thôi thúc và quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước tán đồng công cuộc đổi mới vì sự phát triển của đất nước do Đảng Cộng sản
đề xướng Như vậy, có thể nói rằng lý luận về đại đoàn kết dân tộc được gắn liền với lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam Đây chính là một điểm sáng tạo đặc biệt trong lý luận xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
ở Việt Nam
Trang 14Ngày nay, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phẩn, khuyến khích mọi tiềm năng sản xuất, đổi mới hệ thống chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế là nhằm tạo diều kiện cho mọi thành viên trong xã hội
có dược vị trí của mình Đó là cơ sở để thực hiện đại đoàn kết toàn dăn tộc trong thời kỳ đổi mới Dưới sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thử thách, giai quyết các mâu thuẫn xã hội, phát huy mọi tiềm năng nội lực để gắn kết mọi người dân thực hiện những nhiệm vụ phát triển về kinh tế, văn hoá - xã hội
Nói Mặt trận tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc, không có nghĩa là Mặt trộn phái chịu hoàn toàn trách nhiệm về đại đoàn kết dân tộc Muốn thực hiện dược đại đoàn kết toàn dân tộc cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị Muốn có đại đoàn kết vững chắc, có liên minh chính trị chặt chẽ, Đang Cộng sản Việt Nam phái có chủ trương, đường lối Mặt trận đúng đắn, Nhà nước cần hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với cồng nhân, nông dân, trí thức, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài Vì các chính sách đó không ngoài củng cố liên minh, không ngoài củng cố khối đại đoàn kết Hơn lúc nào hết, lúc này khi chúng ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ một nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì nhiệm vụ đặt ra đang đòi hỏi chúng ta phải làm sao kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới
Nhiệm vụ trọng tâm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay là củng
cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh; xây dựng Mặt trận thật sự là nơi hội tụ mọi trí tuệ, một trung lâm đại đoàn kết các giới đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, thật sự
Trang 15phán ánh được tập trung nhất nguyện vọng, lợi ích và quyền làm chủ của nhân
dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính
đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, hoà giải các mâu
thuẫn lợi ích trong xã hội; thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn với kỷ cương,
chống các tiêu cực xã hội; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu
nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường
xây dựng đất nước
hoà x ã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và Vỉ' dân và sự cần thiết của Mặt trận T ổ quốc Việt Nam trong
Hệ thống chính trị hiện nay.
Trước hết, phải khẳng định rằng: Nhà nước pháp quyền được xây dựng
trước hết là một học thuyết chính trị Đã có rất nhiều lý thuyết về Nhà nước
pháp quyền như học thuyết được xây dựng trên nền tảng trường phái lịch sử
pháp quyền mà đại biểu tiêu biểu là Các Xavanhi (1779 - 1861), tác giả của
cuốn "Quyền chiếm hữu", "Về trách nhiệm của chủng ta đối với luật pháp và
luật học" Theo đó, lý luận của trường phái lịch sử pháp quyền cho rằng: cần
có sự thay đổi căn bản chế độ đương đại - chế độ phong kiến - để xây dựng
nên một Nhà nước với các giá trị dân chủ được khẳng định Muốn vậy, Nhà
nước phải thông qua các đạo luật đáp ứng được những "đòi hỏi lý trí, tự nhiên
CỈUI con người", mà thực tế là những đòi hỏi đã chín muồi của xã hội ở một
luận điểm khác học giả cho rằng: Pháp luật phải là kết qủa của quyền lực lập pháp, xuất phát từ "tinh thần nhân dân", "ý thức nhân dân" chứ không như pháp luật đương thời là ý trí chủ quan của "thượng tầng". Pháp luật chính là rườne cột để quản lý xã hội Tuy nhiên, học thuyết của trường phái lịch sử pháp quyền cũng có những yếu tố hết sức phản động khi đưa ra những lý luận
về quyền lực xã hội và vấn đề về cách mạng xã hội
Trang 16Song điển hình cho các học thuyết vé Nhà nước pháp quyền đó là học thuyết chính trị của Sáclơ Lui Môngtexkio (1689-1775) - nhà tư tưởng chính trị xuất sắc, là một trong những nhà tư tưởng mở đầu phong trào giải phóng tư tướng, cổ suý cho cách mạng tư sản Pháp Trong các tác phẩm "Những bức thư Ba Tir", "Tinh thần pháp luật" Nhà tư tưởng đã kịch liệt phê phán chế độ chuyên chế Pháp (mà ông đánh đồng với chế độ bạo chúa), cũng như vạch trần bộ mặt giả dối của tu sỹ, sự mù quáng và ăn bám vào xã hội của giáo hội Ông đưa ra luận điểm coi sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật là mang tính lịch sử Luật pháp ra đời là nhằm hạn chế sự chuyên quyền của một cá nhân, cũng như sự chuyên quyền của một giai cấp, một quốc gia nào đó Trong xã hội, pháp luật có tính thượng tôn Ông đưa ra quan điểm "Tự do chính là quyền dược làm bất cứ việc gì pháp luật cho phép"[ 18, tr.271 ] Ông cho rằng: trong xã hội tự do về chính trị là sự tự do lớn nhất Tự do chính trị gắn liền với
tự do của công dân và để đảm bảo được diều đó chí có thể đạt được bằng con đường phân chia quyền lực xã hội thành lập pháp, hành pháp và tư pháp Chúng hạn chế lẫn nhau, đối trọng nhau và tập trung trong các cơ quan nhà nước khác nhau Do đó, học thuyết chính trị của Môngtexkiơ còn được gọi là học thuyết Tam quyền phân lập
Như vậy có thể thấy rằng: đặc điểm chủ đạo của các học thuyết chính trị về Nhà nước pháp quyền là việc xác định tinh thần thượng tôn của pháp luật trong đời sống xã hội, đồng thời đó là việc xác định rõ quyền lực của nhà nước được biểu hiện thông qua ba loại đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp
và quyền tư pháp; và ở trong Nhà nước đó, những giá tri con người và các quyền tự do của người dân được đề cao
Kế thừa những giá trị của các học thuyết về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị - xã hội tư sản đã xây dựng nên một mô hình Nhà nước pháp quyền với những đặc trưng sau:
Trang 17Một là, đảm bảo xây dựng trons xã hội một hệ thống pháp luật hoàn thiện Pháp luật phải được đảm bảo tính tối cao, là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai Mọi chính sách, chủ trương, quyết định của Nhà nước cũng như các mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể của các quan hệ
xã hội khác trong xã hội đều phải dựa trên cơ sở luật pháp Do vậy, pháp luật của Nhà nước pháp quyền phải vươn tới sự hoàn thiện, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Phương châm chủ đạo trong việc xác định vị trí của pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong Nhà nước pháp quyền đó là: người dân có thể làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn cơ quan Nhà nước thì chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định Việc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, hoàn thiện phải gắn liền với pháp chế tư sản Điều đó có nghĩa là phải tạo lập một cơ chế thực thi pháp luật một cách tôn trọng, đầy đủ, chính xác sao cho mọi người dăn, cơ quan Nhà nước đều phải có một tình cảm với pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc Phấp luật phải đứng trên Nhà nước, Nhà nước phái có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng: ở các Nhà nước tư sản khồng có pháp chế, bởi lẽ họ cho rằng: pháp luật của các Nhà nước tư sản thực chất là bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản, người dân không có tình cảm và thái độ tôn trọng đối với pháp luật đó, mà họ buộc phái thực hiện chúng Do vậy, không có được một Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa nếu CÒĨ1tồn tại giai cấp tư sản tại các Nhà nước tư bản chủ nghĩa Cũng có quan điểm đồng nhất pháp chế với đặc điểm thứ nhất, tức là đồng nhất phấp chế với tính thượng tôn của pháp luật trong xã hội Tuy nhiên, rõ ràng như đã phân tích ở trên hai khái niệm trên không thể đồng nhất với nhau Chỉ trong trường hợp khi Nhà nước pháp quyền đã thực sự trở Ihành hiện thực theo đúng nghĩa của nó thì khái niệm pháp chế với đặc điểm pháp luật có vị trí thượng tôn trong xã hội mới trùng khít và đồng thuận với nhau
Trang 18Hai là, Nhà nước pháp quyền được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu cao nhất là đảm bảo các quyền tự do của con người Tính tối cao của pháp luật chưa hẳn đã là đặc điểm đặc trưng nhất của Nhà nước pháp quyền VI trong lịch
sử đã từng tồn tại những Nhà nước pháp trị nhưng chuyên chế, cực đoan Trong những xã hội đó, tồn tại sự thốns trị của những đạo luật phản động, phản nhân quyền, vi phạm các quyền của công dân như các nhà nước phong kiến theo đường lối pháp trị của Trung Quốc, nhà nước của Phát xít Đức Do vậy, một trong những đặc trưng tiêu biểu của Nhà nước pháp quyền đó là việc Nhà nước thừa nhận và có nghĩa vụ đảm bảo tự do của con người, không can thiệp vô hạn vào đời sống cá nhân của con người Việc nhà nước tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của người dân không có nghĩa là việc cho người dân được tàm bất cứ việc gì mà cá nhân muốn, vì như vậy là vô hình chung đã thiết lập một xã hội vô chính phủ Việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của công dân phải được thông qua việc pháp luật quy định những điều công dân không được phép làm, và do đó là người dân có thể làm tất cả những gì
mà pháp luật không cấm, nhằm hạn chế sự xâm hại quyền tự do của người này đối với người khác, của cơ quan nhà nước đối với người dân Nhà nước pháp quyền phải là Nhà nước được xây dựng trên nền tảng của xã hội công dân Một xã hội mà ở đó công dân là chủ thể quyền lực quan trọng nhất, Nhà nước phải có trách nhiệm phục tùng lợi ích hợp pháp của công dân một cách vô điều kiện Nói cách khác, Nhà nước chỉ là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực của mình
Ba là, Nhà nước pháp quyền phải được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực Quyền lực nhà nước được phân chia làm ba loại: Quyền lập pháp - quyền xây dựng và ban hành luật, quyền hành pháp - quyền thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào điều chỉnh các quan hệ xã hội trên thực tế và quyền tư pháp - quyền giám sát và giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong
xã hội Đổng thời, các quyền này phải được tổ chức một cách độc lập với nhau
Trang 19nhằm tránh sự lạm quyền, chuycn quyền của cá nhân, cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước Trên cơ sở đó, quyền lập pháp được giao cho nghị viện, quyền hành pháp được giao cho chính phủ và quyền tư pháp được giao cho toà
án Các cơ quan này được tổ chức và hoạt động một cách hoàn toàn độc lập với nhau, nhất là toà án, tính độc lập của toà án được tuân thủ một cách nghiêm ngặt Một trong các điểu kiện cơ bản để đảm bảo cho yêu cầu đó là cho các thành viên trong mỗi một cơ quan không được làm việc trong các cơ quan còn lại và được hoạt động trên cơ sở ngân sách được cấp độc lập
Tuy nhiên trên thực tế, các đặc điểm trên của Nhà nước pháp quyền do các Nhà nước tư sản xây dựng và hướng tới không được thực hiện một cách đúng đắn theo lý thuyết Bởi lẽ, tính giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong nội
bộ xã hội các Nhà nước tư sản vẫn còn hết sức sâu sắc Mặc dù, để phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay của lịch sử loài người, giai cấp tư sản đã dùng nhiều biện pháp, thủ đoạn để người dân được có những quyền tự do dân chủ hơn trước, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nãng cao, nên tựa hồ như mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đã (lược xoá bỏ đi, song thực chất, bản chất của giai cấp tư sản bóc lột vẫn không hề thay đổi Sự ngăn cách giữa tầng lớp tư sản và người lao động ngày càng bị khoét sâu rộng hơn và thực sự giai cấp tư sản - một thiểu số trong xã hội- lại chiếm giữ phần lớn tài sản của
xã hội và do đó chi phối và nắm giữ quyền lực của xã hội Vì vậy, luật pháp của các Nhà nước tư bản bên cạnh việc quy định các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân một cách tự hồ hết sức dân chủ, song lại chứa đựng những nội dung
ra sức bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản Ví dụ những chế định về bầu cử, ứng cử và đảm nhiệm các chức vụ trọng yếu của Quốc gia, những quy định về chế độ đảm bảo bằng tài chính đối với việc thực hiện một số các quyền
Trên cơ sở tiếp thu những giá trị tiến bộ của học thuyết về Nhà nước pháp quyền của các nhà tư tưởng tư sản, và đồng thời cũng là sự khẳng định rằng Nhà nước pháp quyền là một giá trị văn minh của nhân loaị, mà mọi Nhà
Trang 20nước tiến bộ đều hướng tới, Việt Nam nói riêng và các Nhà nước Xã hội chủ nghĩa nói chung là những nước việc tổ chức quyền lực lấy nén tảng lý luận từ Chủ nghĩa Mác - Lc Nin đều đặt ra mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyén Song đặc điểm của Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác
- Lc Nin - cơ sở lý luận của các nước XHCN trong đó có Việt Nam có một số nội dung không hoàn toàn giống với quan điểm của các nhà nước tư bản, mà chủ yếu những nét khác biệt tập trung ờ đặc điểm thứ ba
Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân lao động là lực lượng đông đảo nhất của xã hội là người thực sự nắm quyền lực của xã hội Trong xã hội này, không hề có rào cản ngăn cách, hoặc phân biệt về lợi ích hay nghĩa vụ giữa người lao động này với người lao động khác Các quyền tự do dân chủ của con người dang ngày càng được mở rộng
và thực hiện một cách đầy đủ Chính vì vậy, ý nghĩa tự do công dân được hiểu một cách trọn vẹn và đúng đắn trong xã hội Xã hội chủ nghĩa hơn ở bất cứ một chế độ xã hội khác Luật pháp thực sự thuộc vồ đông đảo nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi cho người dân Trong xã hội Xã hội chủ nghĩa vẫn còn
có sự chuyên chế giai cấp, song sự chuyên chế này là sự chuyên chế của số đông với một thiểu sô' mà lợi ích của thiểu sô' này đi ngược lại với những giá trị tiến bộ của xã hội
Như vậy, về cơ bản, Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cũng thống nhất với quan điểm
về Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà nước tư bản ử đặc điểm thứ nhất và thứ hai Với đặc điểm thứ ba, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cho rằng: trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, quyền lực Nhà nước cũng được bao gồm bởi ba loại là lập pháp, hành pháp và tư pháp Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện quyền lực đó lại không giống với các Nhà nước tư sản hiện đại Chúng ta không phân làm ba hộ thống cơ quan quyền lực Nhà nước nắm giữ ba loại quyền đó một cách độc lập, mà chúng ta
.ĩ HOC Q U Ố C G IA HẢ N ộ
Trang 21kiên định với quan điểm: quyền lực của nhân dân là quyền lực tuyệt đối, quyền lực này được tập trung vào một cơ quan đại diện cao nhất đó là Quốc hội Thành viên của Quốc hội là tập hợp của tất cả các tầng lớp, giai cấp của nhân dân lao dộng trong xã hội Quốc hội giữ vai trò lập pháp và giám sát việc thực thi pháp luật của mọi cơ quan Nhà nước khác Chính vì vậy, luật pháp do Quốc hội làm ra mới thực sự phan ánh được đầy đủ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động trong xã hội Cũng chính thông qua Quốc hội, bằng hoạt động giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan Nhà nước, nhan dân mới thực sự bảo vệ được quyền lợi của mình.
Trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dùn và vì dân, việc tổ chức thực hiện ba quyền trên được biểu hiện ở chỗ, ba quyền không được tổ chức đối trọng nhau và giao cho ba cơ quan Nhà nước độc lập mà cả ba quyền đéu được tập trung thống nhất vào Quốc hội, song Quốc hội chỉ tự mình thực hiộn quyền lập pháp và giám sát, còn phân định giao cho Chính phủ thực thi quyền hành pháp và Toà án thực thi quyền tư pháp Tuy nhiên, ý nghĩa quyền lập pháp của Quốc hội cũng cần được hiểu khác so với các Nhà nước tư bản ở chỗ: Quốc hội không trực tiếp xây dựng toàn bộ các đề án luật pháp mà Quốc hội còn có thể giao nhiệm vụ này cho các cơ quan nhà nước khác và người quyết định cuối cùng và cao nhất mới là Quốc hội Chính phủ và Toà án hoạt động trong khuôn khổ pháp luật cho phép, song phải chịu sự giám sát của Quốc hội Như vậy, trong Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa không có sự
áp dụng thuyết tam quyền phân lập, nhưng phải có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan, giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp Và đây cũng chính là luận điểm quan trọng để phản bác một số quan điểm cho rằng nhà nước pháp quyền là kiểu nhà nước được tổ chức theo Học thuyết tam quyền phân lập và là biểu hiện của các nhà nước tư sản
Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác- Lê Nin thì Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là Nhà nước mà ở đó quyền lực chính trị của Nhà nước
Trang 22phải được dựa trên nén dân chủ thực sự Người dân có khả năng thực sự thực thi dược quyền lực của mình, nhất là quyén lực về chính trị Về bản chất, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Điều đó có nghĩa là: người dân làm chủ và giám sát Nhà nước; đồng thời biết và dược quyền sử dụng quyền lực đó
để đảm bảo lợi ích của mình Quyền lực chính trị thuộc về nhân dân tức là nhân dân quyết định chính sách đối nội và đối ngoại thông qua Nhà nước của mình, do mình lập ra và uỷ quyền Quyền lực đó được biểu hiện bằng hai con đường là Nhà nước và phi Nhà nước, được thông qua hai phương thức chủ yếu
là trực tiếp và gián tiếp (thông qua đại diện) Nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân là Nhà nước được tổ chức và hoạt động trcn cơ sở luật pháp
và với mục đích vì quyền lợi và bảo vệ quyền lợi của người dân Người dân trong xã hội đó được tạo điều kiện để thực thi đầy đủ những quyền và nghĩa
vụ của mình mà luật pháp quy định
Người dân trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân được chăm lo và được bảo vệ các quyền công dân của mình Đổng thời, người dãn cũng có ý thức và trách nhiệm trong việc tự giác thực thi quyền và nghĩa vụ công dân của mình Chính vì vậy, Nhà nước pháp quyền chỉ có được khi lịch
sử đã tạo được những cơ sở tồn tại vững chắc cho nó như: có một quan điểm
vé dân chủ thống nhất, tiên tiến; có một hệ thống pháp luật hoàn thiện bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền con người; có một Nhà nước thực sự lành mạnh là chỗ dựa, là bàn tay khối óc của người dân; và đồng thời mặt bằng nhận thức và ý thức trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện những quyền và nghla vụ công dân của mình trên mọi mặt của đời sống xã hội đã phát triển ở một trình độ cao
Ở Việt Nam - một quốc gia lấy Chủ nghĩa Mác - Lê Nin làm cơ sở lý luận cho việc tổ chức quyền lực của mình Vậy nên, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và của Đảng Cộng sản Việt Nam, bản chất quyền lực của
Trang 23Nhà nước Việt nam là quyên lực của toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, vì vậy, việc thiết lập một hệ thống chính trị phải được dựa trên nguyên tắc đảm bảo tốt nhất việc thực thi chế độ dân chủ Hiện nay, ờ Việt Nam, hệ thống chính trị bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ máy Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Mạt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trước hết nói về cơ cấu bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Theo quan điểm về tổ chức quyền lực của Đảng và Nhà nước ta, quyên lực nhân dân là thống nhất không thể phân chia mà cẩn tập trung thống nhất vào một cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân Việt Nam đó là Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyền lực đó là không thể phân chia, song cần có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan Nhà nước để việc thực thi và bảo vệ cho quyền lực của nhân dân được hiệu quả nhất Do vậy, trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dàn và vì dân, mà Nhà nước ta đang đặt mục tiêu hướng đển, mặc dù tồn tại những cơ quan mang chức năng như các cơ quan nhà nước trong Nhà nước tư bản song bản chất quyền lực và do đó là cách thức tổ chức thành lập cũng như mối quan
hệ giữa các cơ quan này vận hành theo một cơ chế khác hẳn
Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Quốc hội có quyền giám sát hoạt động tuân thủ pháp luật của toàn bộ bộ máy Nhà nước, song đồng thời, Quốc hội đảm nhiệm chức năng lập pháp Chính phủ được giao trách nhiệm là cơ quan hành chính cao nhất, giữ quyền hành pháp Hộ thống toà án giữ quyền tư pháp, song cả chính phủ cũng như hệ thống toà án phải chịu sự giám sát của Quốc hội
Đảng Cộng sản nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng là chính đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Chính vì vậy, Đảng Cộng sản có thể đại diện cho ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân Vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc lãnh đạo đất nước, lãnh
Trang 24đạo hệ thống chính trị đã được lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chứng minh Trong sự nghiệp xây dựng, báo vệ và phát triển đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới ngày nay, vai trò đó tiếp tục được khẳng định Trong hệ thống chính trị, Đảng là thành viên, song là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị đó Bằng chí tuệ tập thể, Đảng vạch ra chủ trương, đường lối để bảo vệ và phát triển đất nước Đáng lãnh đạo cả hệ thống chính trị, tnrớc hết bằng uy tín chính trị của mình, bằng đội ngũ đảng viên ưu tú trong hệ thống cán bộ lãnh đạo của bộ máy Nhà nước cũng như trong các thành viên khác của hộ ihống chính trị Đảng lãnh đạo chứ Đảng không bao biện, làm thay chức năng của các thành viên khác trong hệ thống chính trị Để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước vé mọi mặt, nhất là về chính trị thì sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản đối với toàn bộ hệ thống chính trị là sự lựa chọn duy nhất hiện nay của Việt Nam Đây cũng là một điểm đặc trưng của Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác
và của Đảng cộng sản Việt Nam Bởi lẽ, nếu theo các học giả tư sản thì Nhà nước pháp quyền phải được xây dựng trên một nền dân chủ thực sự Nền dân chủ này phải được biểu hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị Dân chủ trong chính trị được biểu hiện ở chỗ: mọi đảng phái chính trị với những đường lối chính sách phát triển xã hội và con người khác nhau đều có quyền và khả năng tham gia vào đời sống chính trị Tuy nhiên, chế độ một đảng cẩm quyền cũng có những nhược điểm của nó như với nguyên tắc bảo vệ nội bộ của bất kỳ chính đảng nào, Đảng Cộng sản cũng dẻ
bị sa vào chế độ độc đoán, không dễ dàng tiếp thu những ý kiến của các giai cấp đối kháng khác, tính cơ hội của các cá nhún khi tham gia vào tổ chức Đáng chính vì những nhược điểm này mà dẫn đến năng lực lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị kém đi Chính vì vậy, để không ngừng giữ vững và củng cố vững chắc được vị trí lãnh đạo đó thì Đảng Cộng sản cần thiết phải có sự đổi mới, làm mạnh lên của chính mình, để khẳng định được sự
Trang 25tất yếu của vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn bộ đời sống xã hội Để thực
hiện được điều này, Đảng cần thiết phải có một "tấm gương" để Đảng nhìn ra
những ưu khuyết điểm của chính mình để kịp thời có giải pháp "Tấm gương"
đó nên chăng được đặt vào Mặl trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - bộ phận còn lại của Hệ thống chính trị
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được coi là nưi hội tụ, phản ánh
đầy đủ nhất mọi tâm tư, nguyện vọng của nhân dân thuộc mọi giai tầng trong
xã hội Chính vì vậy, Mặt trận Tổ quốc có điều kiện để thu thập những ý kiến
tâm huyết tâm huyết của mọi cá nhân, tổ chức đóng góp vào sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước, trong đó có việc đóng góp những ý kiến dựng để
Đảng nhìn thấy những khiếm khuyết, lổn tại của mình để kịp thời sửa chữa,
làm cho vị trí lãnh đạo của Đảng được củng cố ngày càng vững chắc và làm
lành mạnh lcn hoạt động quán lý điều hành đất nước của Nhà nước Có thể nói
rằng, Mặt trộn Tổ quốc là một thiết chế thích hợp nhất để đảm nhiệm vai trò là
"tấm gương", là thiết chế giám sát, thực hiện chức năng phản biện xã hội đối
với Đảng và Nhà nước, góp phần giảm thiểu nhîrnç hạn chế bị đem lại do chế
độ một đảng tạo ra, đổng thời góp phần thực hiện tốt hơn nền dân chủ của đất
nước Chính V I vây, khi thực thi chế độ một đảng cầm quyén tại Việt Nam có thể
nói rằng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một thiết chế hết sức cần thiết trong hệ
thống chính trị nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân một cách đầy đủ nhất
1 2 L Ị C H S Ử H Ì N H T H Ả N H V À P H Á T T R I Ể N M Ặ T T R Ậ N T ổ Q U Ố C
V I Ệ T N A M :
Từ giữa thế kỷ X IX , Thực dân Pháp xâm lược và thống trị đất nước ta
Nhân dân ta chịu áp bức, bóc lột từ hai thế lực: Thực dân Pháp và tầng lớp địa
chủ phong kiến Việt Nam Trong những năm đẩu của thế kỷ X X, một số nhân
sỹ Việt Nam yêu nước đã mong mỏi và tìm cách giải phóng dân tộc mình
Song hầu hết những nhan sỹ này đều mang tư tưởng, quan điểm tìm đường
Trang 26giải phóng tlân tộc dựa vào sức mạnh từ ben ngoài (như nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh ) hay cố gắng dùng nội lực trong nước mà chủ yếu
là dùng sức mạnh của giai cấp nông dân - giai cấp đỏng đảo nhất trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (như nhà khỏi nghĩa Hoàng Hoa Thám ) song đều không thành công Có nhiều nguyên nhân làm cho nhữnc cuộc đấu tranh đó thất bại, song một nguyên nhân chủ yếu đó là những nhà yêu nước này chưa tìm thấy một cơ sở lý luận về cuộc cách mạns của mình, cũng như tìm ra một phương thức làm cách mạng hợp lý Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tìm ra con đường giải phóng dân tộc Người đã gắn vấn đề giải phóng giai cấp với vấn đề giải phóng dân tộc Trên cơ sở vận dụng những lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin về đấu tranh giải phóng giai cấp và thực tiễn ỉịch sử, cách mạng Việt Nam, Người đề ra chủ trương, sách lược về đại đoàn kết dân tộc để thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tất nhiên, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Thực dân Pháp, cuộc cách mạng đấu tranh giai cấp, lật đổ chế độ phong kiến, cuộc cách mạng thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới xây dựng đất nước thành công là kết quả của rất nhiều nguyên nhAn, song việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc
để tiến hành các nhiệm vụ cách mạng chính là nguyên nhân, điều kiện cơ bản cho các thắng lợi đó
Nói đến đại đoàn kết dan tộc là nói đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiền thân là Hội Phản đế Đồng minh được thành lập ngày 18/11/1930 với quan điểm: giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng
tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không được tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng đó cũng khó thành công Về nguyên tắc, Hội Phản đế đảm bảo tính chất công nông song đồng thời phải mở rộng tới các thành phần trong dân tộc để Mặt trận thật sự là của toàn dân Vì vậy, Hội Phản đế Đồng minh “hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, họ ở tầng lớp trên hay ở tầng lớp giữa cũng vậy và chơ tới
Trang 27cả những người địa chủ, có đầu ốc oán ghét đ ế quốc Pháp, mong muốn độc lập quốc gia, d ể đưa tất cả tầng lớp và cá nhàn dó vào trong hàìĩiị lìiỊŨ chống
đ ế quốc Pháp ”[22, tr.42] Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, với việc
mở rộng thành phần tham gia vào Hội Phản đế ỉàm cho Hội Phản đế ngày càng lớn mạnh thì có lúc, có nơi vị trí của Đang cộng sản bị lu mờ Chính vì vậy, ngày 26/6/1934 tại Hội nghị Ban Chấp hành ở ngoài và đại biểu cấp uỷ địa phương trong nước đã ra nghị quyết nêu rõ: Đảng cần giữ vững vai trò lãnh đạo Hội Phan đế và tìm mọi cách ngăn ngừa dừng đổ Mặt trận thành một tổ chức chính trị độc lập Như vậy, có thể nói rằng, khi mới hình thành, Mặt Irận cũng là một phương thức chính trị của Đảng Cộng sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, nhưng sau đó, Mặt trận dần dần khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội, và được đông đảo nhân dân ủng hộ
Nó dần thoát khỏi vai trò là một tổ chức, một phương thức chính trị của Đảng cộng sản mà có một vai trò quan trọng trong việc tập hợp nhân dân đấu tranh giải phóng dan tộc và sau này là phát triển đất nước
Trải qua các giai đoạn lịch sử, Mặt trận có nhiều tên gọi khác nhau cho phù hợp với yêu cầu cuả cách mạng, nhưng có thể kể đến một số tên gọi - mốc son điển hình như:
Mặt trận dân chủ Đông dương (tháng 8/ỉ 937). Đảng ta với chủ trương việc lập Mặt trân Dân chủ phải rất rộng rãi, bao hàm được đại đa số nhân dân (cả người bản xứ và người Pháp), chung quanh một bản chương trình hành động tối thiểu Đảng ta chủ trương cần cổ động các đảng phái công khai (như Đảng lập hiến, Đảng Dân chủ), các đoàn thể công khai (Lương Hữu, ái Hữu, Liên đoàn báo giới) của dân chúng để đoàn kết những lực lượng dân chủ lại, quy tụ vì mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc Lê Hồng Phong viết cuốn Vấn đề phòng thủ Đông Dương: “Chỉ có thực hiện Mặt trận dân chủ rộng rãi, mạnh mẽ, kiên quyết chống c h ế độ phản động thuộc địa,
Trang 28mới có thể đòi các quyền cần thiết và đời sổng dề chịu và do đó khiển cho cuộc phòng ìhỉỉ cố hiệu quc’r [22, tr.231 ] Đảng đề ra chủ trương: không chủ trương đánh đổ một giai cấp hay một đảng phái nào của người bản xứ, có như vậy mới có thể đoàn kết được lực lượng rộng rãi Trong Mặt trận, Đảng phải tôn trọng và khuyến khích mọi sáng kiến của các hạn đồng minh Đảng Cộng sản chủ trương: hoạt động của Mặt trận khôn" nên bó hẹp trong quần chúng công nông mà phải tranh thủ cả những phần tử tiến bộ ở Đông Dương như người nước ngoài, giai cấp tư sản dân tộc giữ họ trong Mặt trận và thúc đẩy
họ hành động, khi cần thiết cô lập họ về chính trị nhưng tránh để họ đứng ngoài Mặt trận; Đảng phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Địa vị lãnh đạo của Đảng giành được phải bằng chính năng lực của Đảng thể hiện trong thực tế đấu tranh hàng ngày Tuy nhiên, trên thực
tế hoạt động, việc tập hợp lực lượng mới chủ yếu ở công nhân, nông dân mà thiếu chiến sỹ hoạt động ở trong giới trí thức Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động của Mặt trận dân chủ trong việc góp phán đấu tranh chống Thực dân Pháp có phần còn hạn chế Đó chính là lý do để Đảng Cộng sản tiếp tục nghiên cứu đổi tên cũng như sửa đổi tiêu chí hoạt động của tổ chức này
Đảng lãnh đạo thành lập Mặt trận Thống nhất Dàn tộc phản đ ế Đông Dương tháng 11/1940 để lập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, Đảng Cộng sản chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tạm thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô Viết công nông binh bằng khẩu hiệu chính quyền cộng hoà dân chủ và Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế ra đời nhằm tập trung hết thảy những lực lượng phản đế ở đông Dương, không phân biệt đảng phái, giai cấp dân tộc, tôn giáo dùng hết thảy những lực lượng ấy, dù nhỏ, dù yếu, liên hiệp các lực lượng ấy lại thành Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế, cùng đảng tổ chức nhân dân tiến lên võ trang bạo động Mặt trận phải trực tiếp võ trang cho dân chúng, cùng Đảng tổ chức nhân dân tiến hành cách mạng, trực tiếp tham gia điều khiển bạo động Khi nào xứ Đông Dương hoàn toàn độc
Trang 29lập, khi nào thành lập chính phủ cộng hoà thì nhiệm vạ của Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông dương sẽ hết, Mặt trận sẽ giải tán Như vậy, từ sự chỉ đạo chuyển hướng chiến lực về hai nhiệm vụ cư bản của cách mạnh, Đảng Cộng sản đã quyết định chuyển hướng về nội dung và hình thức tổ chức, hoạt động của Mặt trận Cũng chính trong thời gian này, Đảng Cộng sản đã ra nghị quyết nêu rõ: Giai cấp công nhân vô sản phải lãnh đạo được cách mạng và lãnh đạo được Mặt trận, nếu giai cấp vô sản không cầm được quyền iãnh đạo trong Mặt trận, lực lượng chỉ huy của Mặt trận yếu thì cách mạng dân quyền
tư sản không thể giải quyết được nhiệm vụ theo phương pháp vô sản
Mặt trận Việt Minh tháng 5/1941. Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 19/5/1941 đã xác định nhiệm vụ cách mạng hiện tại ỉà cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Chính vì vậy, phải đặt quyền lợi của dân tộc lẽn trên hết do vậy, phải liên hiệp sức mạnh của toàn dân, thống nhất lực lượng không phan biệt thợ thuyền, dàn cày, phú nông, địa chủ, tư sản ai
có lòng yêu nước, thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất vào một mặt trận Nên cần thiết phải có sự thay đổi tổ chức và phương thức vận động của Mặt trận
Do vậy cần phải đổi tên gọi cho có tính dân tộc hơn, đễ hiệu triệu hơn và nhất
là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại Do vậy, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt Minh ra đời
Trước tình hình có những nhân sỹ, trí thức, quan lại cũ, những nhà điền chủ và thương gia trước đây chưa có quan hệ nào với Việt Minh nay muốn tham gia một tổ chức thích hợp nào đó để góp phẩn vào sự nghiệp củng cố nền độc lập nước nhà Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu này, ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập (được gọi tắt là Liên Việt) Đây
là mộl bước phát triển mới của Mặt trận dân tộc thống nhất Mặt trận Việt Minh vẫn là một thành viên của tổ chức này Có thể nói rằng: Hội Liên Việt là mặt trận của toàn thể quốc dân Việt Nam Như vậy, về tính chất, cùng là mặt
Trang 30trận thống nhất, song Mặt trận Việt Minh mang mầu sắc giai cấp hơn so với Hội Liên Việt.
Thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành Mặt trận Liên - Việt (3131 ỉ 951). Từ sau khi Đang Cộng sản ra hoạt dộng công khai nắm chính quyền, có những quan điểm, nhận thức còn mơ hồ về vị trí vai trò của Mặt trận Để khẳng định một lần nữa về quan điểm chủ đạo của Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc, do vậy cần thiết phải thống nhất hai tổ chức Mặt trận và Việt Minh và Liên- Việt thành một Mặt trận thống nhất duy nhất Cũng chính tại hội nghị này, đảng ta đã chỉ rõ tính chất vai Irò của Mặt trận nước ta khác với các nước khác, đó là Mặt trận dân tộc chứ không phái là Mặt trận nhân dân Mặt trận là cơ sở, là trụ cột và hậu thuẫn chứ không phải là lãnh dạo, là chủ nhân của chính quyền Chính sách liên minh giai cấp dựa trên nguycn tắc đoàn kết thành thật, nhân nhượng lần nhau, giúp dỡ lần nhau Chính sách liên minh này không có gì mùu thuẫn với thuyết đấu tranh giai cấp, bản thân cuộc kháng chiến là hình thức cao cua đấu tranh giai cấp Do vậy, Mặt trận Liên Việt chủ trương đoàn kết tất cả các đảng phái, các đoàn thể và mọi cá nhún yêu nước, không phân biệt già trẻ, gái trai, giai cấp, chủng tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, để cùng nhau kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân
Mặt trận T ổ quốc Việt Nam (9/Ỉ955). Lần đầu tiên Mặt trận có một cương lĩnh hết sức chặt chẽ, rộng rãi và thiết thực và hoạt động của Mặl trận
Tổ quốc Việt Nam có hai nhiệm vụ rõ ràng: một là ra sức củng cố Miền Bắc
về mọi mặt, hai là, vận động lực lượng cho chiến trường Miền Nam thống nhất đất nước Việc thành lập Mặt trận và công bố bản Cương lĩnh đã có ảnh hưởng chính trị rất lớn, đánh mạnh vào âm mưu chia rẽ của Mỹ - Diệm, đoàn kết them nhiều người ở vùng mới giải phóng, tranh thủ những điều kiện thuận lợi
ở nước ngoài cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Sau một thời gian hơn 30 đảng phái chính trị, đoàn thể và nhiều tổ chức, cá nhân gia nhập Mặt trận, làm
Trang 31cho Mặt trận Tổ quốc trở thành một tổ chức chính trị rộng lớn và có vị trí quan
trọng trong sự nghiệp cách mạng của toàn dân
Trong những năm 60, để phục vụ cho hoạt động đấu tranh chống Đế
quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn tay sai, tại Miền Nam đã hình thành hai tổ
chức Mặt trận là: Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam (1960), Liên minh
các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam (1968)
Tháng 1/1977, đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền (gồm
Mặt trận dân tộc giải phóng, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà
bình Việt Nam ả Miền Nam và Mặt trận tổ quốc Việt Nam ở miền Bắc) thành
một Mặt trận Dân tộc Thônç nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam Hoạt động trên nguyên tắc: đảm bảo đoàn kết rộng rãi tất cả lực lượng
ycu nước và tán thành Chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam và dựa trên cơ sở liên minh công nông Tên gọi cũng như nguyên
tắc hoạt động trên được giữ vững cho đến tận ngày nay
1 3 K H Á I N I Ệ M , Đ Ặ C T R Ư N G , V A I T R Ò C Ủ A M Ặ T T R Ậ N T ổ Q U Ố C
V I Ệ T N A M T R O N G H Ệ T H Ố N G C H Í N H T R Ị
Xuất phát từ thực tiễn hình thành và thực tế hiện nay của Mặt Irận có
thể đưa ra một khái niệm về Mặt trận Tổ quốc Đây cũng chính là "định
nghĩa" của tổ chức này được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ỉà tổ chức
liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, các tổ chức
chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai
cấp, các táng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư
ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị
của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,
nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
Trang 32nhân dân, nơi hiệp thương phối hợp, thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh
Từ khái niệm trên, ta có thổ thấy một số đặc trưng, vai trò cơ bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp của các tổ chức và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ớ nước ngoài Do vậy, cơ sở hình thành của Mặt trận được coi là rộng mở nhất trong hệ thống chính trị Có thể nói rằng bất cứ người dân Việt Nam nào cũng đểu có thể là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Cơ sở đó rộng hơn so với Đảng Cộng sản, rộng hơn so với Nhà nước nhưng giống Đảng Cộng sản ở chồ, mọi thành viên tham gia trong Mặl trận trước hết phải đảm bảo tính tự nguyện khi tham gia Chính
do đặc điểm này mà Mặt trận có những điều kiện thuận lợi để tập hợp, vận động dông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia vào tổ chức mình
Một đặc trưng nổi bạt khác của Mặt trận Tổ quốc chính là phương thức hoạt động của Mặt trận Phương thức hoạt động của Mặt trận chính là các cách thức, phương pháp tiến hành những công việc để thực hiện đúng vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Mặt trân Mặt trận là liên minh chính trị rộng lớn nhất, nên phương thức hoạt động của Mặt trận hoàn toàn khác với phưưng thức hoạt động của Đảng, chính quyền Đặc trưng cơ bản của phương thức hoạt động của Mật trận là vận động, thuyết phục, hiệp thương dân chủ đi đến thống nhất hành động Có ý kiến cho rằng, Mặt trận có nhiều phương thức hoạt động, song nói như thế là không chính xác, Mặl trận có nhiều phương pháp thuyết phục vận động, tập hợp đoàn kết Mặt trận tập hợp, đoàn kết toàn dân không chỉ bằng tổ chức mà còn thông qua các phong trào hành động cách
Trang 33mạng cụ thể Càng sử dụng nhiều phương thức hoạt động càng có thể đánh giá Mặt trận hoạt động mạnh Tính liên minh chính trị được biểu hiện ở chỗ mọi thành viên trong tổ chức Mặt trận được đảm bảo tính độc lập của mình, được hoạt động theo điều lộ của tổ chức mình, được đảm bảo giữ vững những đặc trimg của tổ chức mình và có một vị trí bình đẳns; với các thành viên khác trong Mặt trận Phương thức hoạt động của Mặt trận được dựa trên nguyên tắc hiệp thương phối hợp, tham gia tự nguyện của các thành viên, chính vì vậy, có thể nói, Mặt trận có điều kiện để khơi dậy trí tuệ của giai tầng, tôn giáo cũng như cá nhân ưu lú trong xã hội.
Bản chất của mối quan hệ giữa Mặt trận với Đảng là mối quan hệ thành viên liên minh chính trị, là lực lượng liên minh chính trị Đảng sáng lập ra Mặt trận đồng thời Đảng cũng là thành viên của Mặt trận, và là người lãnh đạo ra Mặt trận Đảng đứng trong liên minh chính trị (đứng trong Mặt trận Tổ quốc)
để Ịãnh đạo liên minh chính trị Đây là một nét độc đáo trong lý luận cách mạng của nước Viột Nam Đảng là thành viên Mặt trận nhưng với tư cách là thành viên lãnh đạo Mặt trận không phải là một lực lượng lãnh đạo, mà nó là
cơ sở, là hậu thuẫn cho lực lượng cách mạng- đó là Đảng Cộng sản Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận không phải là sự ép buộc khiên cưỡng mà phải bằng sự gương mãu của các đảng viên của Đảng đối với công việc chung của các địa phương và đất nước, cũng như bằng sự đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng và năng lực lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước được quẩn chúng rộng rãi thừa nhận Đảng lãnh đạo Mặt trận nên mục tiêu hoạt động của Mặt trận không đi trái mục tiêu, cương lĩnh của Đảng nhưng cũng không hoàn toàn dập khuôn cương lĩnh của Đảng Mục tiêu đó phải phù hợp với tất cả mọi thành viên của Mặt trận Mặt trận hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là sự lãnh đạo bằng cương lĩnh, bằng đường lối, chủ trương, nghị quyết, bằng sự gương mẫu của các tổ chức đảng, đảng viên Thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với Mặt trận, bên
Trang 34cạnh việc đổi mới không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của mình, Đảng Cộng sán phải xây dựng Mặt trận và các đoàn thể vững mạnh để vận động, tập hợp quần chúng tạo thành bức tường hậu thuần cho Đáng.
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng, quản lý, giám sát
và bảo vệ Nhà nước Nhà nước dựa vào Mặt trận để phát huy quyền làm chủ
và sức mạnh có tổ chức của nhân dân Đó cũng chính là sức mạnh của Nhà nước Nói cách khác, Mặt trận chính là nền tảng, là cơ sở xây dụng lên loàn
bộ quyền lực của Nhà nước (bao gồm cả ý nghĩa bộ máy tổ chức lẫn ý nghĩa nội dung hoạt động) Tuy nhiên, trong hệ thống chính trị, mối quan hộ giữa Mặt trận và Nhà nước là mối quan hệ bình đảng, hợp tác Nhà nước lấy lư tưởng đại đoàn kết dân tộc làm đường lối cơ bản để hoạch định chính sách Cũng như, dựa vào các chính sách, pháp luật của Nhà nước, Mặt trận mới có
cơ sở thực hiện được nội dung đại đoàn kết dân tộc của mình Mặt trận còn là hình thức làm chủ trực tiếp của nhân dân Thông qua Mặt trận, nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước, cả về tổ chức hộ máy, chính sách pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các đại biểu dân cử và cán bộ, công chức Nhà nước Thông qua hiệp thương dân chủ, Mặt trận có cơ sở đổ bày
tỏ ý kiến của nhân dân trong việc xây dụng tổ chức bộ máy chính quyền
Với tư cách là một bộ phận của hệ thống chính trị của Nhà nưởc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận có vị trí độc lập tương đối của mình trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước Do vậy, Mặt trận với tư cách là lổ chức đại điện cho tiếng nói và nguyện vọng của mọi tẩng lớp nhân dân mới có thể giám sát, "lên tiếng'' một cách dân chủ và "phi chính trị" nhất trước những vấn đề của xã hội mà liên quan hoạt động của bộ máy Nhà nước, của cán bộ, công chức Nhà nước, cũng như góp được tiếng nói của mọi tầng lớp, giai cấp (thậm chí là giai cấp mang tính đối kháng với chính đảng của giai cấp công nhân, chính đảng cầm quyền - Đảng Cộng sản Việt Nam) Chính vì vậy, đây
Trang 35chính là cơ sở để có thể xây dựng được một cơ chế phản biện xã hội đối với
Đảne, Nhà nước của Mặt trận.
Về nội dung hoạt động, Mặt trận Tổ quốc là một liên minh chính trị, có
nội dung hoạt động không nằm ngoài việc phát huy truyền thống yêu nước, ý
chí tự lực, tự cường của cả dân tộc để tạo động lực thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ chính trị do Đảng Cộng sản đề ra Mặt trận là một tổ chức chính trị -
xã hội nên theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, nội dung hoạt động của
Mặt trận và do đó nội dung hoạt động của những thành viên trong Mặt trận
cũng đều phải nằm trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Tuy nhiên, mặc
dù Mặt trận cũng giống như Nhà nước, Mặt trận cũng thực hiện những chủ
trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng đề ra trong từng giai đoạn
lịch sử nhất định song việc thực hiện của Mặt trận khác với Nhà nước ở
phương thức hoạt động.
Như vậy, có thể nói rằng: mặc dù là một tổ chức chính trị - xã hội do
Đảng thành lập soní» Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng thể hiện vị trí vai
trò hết sức quan trọng trong đòi sống chính trị - xã hội, nhưng toát iên trên tất
cả thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là trung tâm đại đoàn kết các giới
đồng bào trong và ngoài nước là nơi phản ánh tập trung nhất nguyện vọng, lợi
ích và quyền làm chủ của nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà
nước, là nơi tăng cường sự nhất trí về chính trị và động viên nhân dân sống và
làm việc theo chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp và pháp luật của
Nhà nước.
1.4 Cơ SỞ PHÁP LÝ CHO VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN T ổ QUỐC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM:
Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc được quy định trong nhiều văn bản
pháp luật như Hiến pháp, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Tổ chức
Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ưỷ
Trang 36ban nhân dân, Luật báu cử đại biểu quốc hội, luật bổu cử dại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Hiến pháp 1992 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiộp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị
- xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lóp xã hội, các cỉân tộc các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặl trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và có tinh thẩn trong nhân dân, tham gia xây dựng và chủng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo
vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, độna viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, dại biểu dân cử, cán bộ, viên chức Nhà nước.
nhiệm vụ quyền hạn của Mặt trận trong đời sống xã hội, cũng như là cơ sở pháp lý quan Irọng nhất trong việc xác định vị trí vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống ch ín h trị
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 5
thông qua ngày 12/6/1999 Luật đã cụ thể hoá Hiến pháp 1992 về vị trí, vai trò, tính chất và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc, đồng thời tổng hợp các quyền và trách nhiệm của Mặt trận đã được quy định ở một số đạo luật khác Việc Quốc hội ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có một ý nghĩa hết sức quan trọng đó là tạo cơ sở pháp lý để Mặt trộn tiếp tục củng cố và nâng cao vị trí, vai trò của mình đối với hệ thống chính trị nói riêng và trong sự nghiệp đổi mới nói chung.
Luật Tổ chức Quốc hội quy định: Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các uỷ
Trang 37ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội dựa vào sự tham gia của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các lổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác và của
công dân.
Luật Tổ chức Chính phủ quy định Chính phủ phối hợp với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các đoàn the nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân tham gia xây dựng chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ
trương, chính sách của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước,
đại biểu dân cử và các bộ, viên chức Nhà nước.
Luật Bầu cử Hội đồng nhân dàn và uỷ ban nhản dán : Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân phối hợp với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cua Mặt trận chăm lo và bảo vệ lợi
ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và
thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, giấm sát hoạt động của cơ quan Nhà
nước Hội đổng nhân dân và đại biểu dân cử Trong quá trình giám sát Mạt trận
có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bãi nhiệm các đại biểu không còn xứng
dáng với tín n h iệ m củ a nhân d ã n
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội; tham gia các
tổ chức phụ trách bầu cử, giám sát việc bầu cử
Luật Bầu cử đại biếu Hội đồng nhân dân quy định uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dãn Ưỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt
Nam ở địa phương tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại
biểu hội đồng nhân dân, tham gia phụ trách bầu cử, giám sát việc bầu cử
- Luật Ban hành vãn bản quy phạm pháp luật quy định Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam có quyền tham gia góp ý vào các dự án luật, pháp lệnh.
Trang 38Luật Tổ chức Toà án nhàn dàn quy định Toà án phối hợp với các cơ
chủ trương, biện pháp nhằm phòng ngừa và chống tội phạm, vi phạm pháp luật.
Đổng thời, Ưỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan duy nhất có
thẩm quyền giới thiệu người để Hội đổnơ nhân dân cùng cấp bầu làm Hội
thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương
vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị Ngoài
ra, trên cơ sở Hiến định và các quy định của luật pháp, tổ chức Đảng và các tổ
chức thành viên của Mặt trận đều có quy định về mối quan hệ với Mặt trận
trong Điều lệ của tổ chức mình.
1.5 Cơ CÂU T ổ CHÚC BỘ MÁY MẶT TRẬN T ổ QUỐC VIỆT NAM HIÊN NAY.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là mội hệ Ihống các cơ quan, tổ chức rộng
lớn Cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo các cấp hành
chính tương đương Theo đó, Uv ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là cơ quan thường trực Dưới đó là Ưỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp
huyện và cấp cơ sở Biên chế của cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hiện nay là 139 người; ngoài ra, Uỷ ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thành lập thêm 6 hội đồng tư vấn (Hội đồng tư vấn Dùn
chủ - Pháp luật, Hội đồng tư vấn kinh tế, Hội đồng tư vấn văn hoá - xã hội,
Hội đồng tư vấn khoa học- giáo dục, Hội đồng tư vấn dân tộc và Hội đồng tư vấn tôn giáo) với tổng số là 174 vị, trong đó có 66 vị là ngoài uỷ ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam biên chế của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh phổ biến từ 17 - 20 người, biên chế của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện phổ biến từ 3 - 5 người, còn ở cấp xã thì có 3 người.
Trang 39Ngoài hệ thống các cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nêu trên tham gia vào Mặt trận Tổ quốc còn có đông đảo các tổ chức thành viên bao gồm:
/ Đảng Cộng sản Việt Nam: là chính đảng do Chủ tịch Hổ Chí Minh
sáng lập và rèn luyện Là chính đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam tham gia Mặt trận với tư cách là thành viên lãnh đạo của Mặt trận cũng như lãnh đạo đối với toàn bộ hệ thống chính trị.
2 Quân đội nhân dân Việt Nam: là lực lượng vũ trang chủ yếu của Nhà
nước Việt Nam Là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh dạo trực tiếp và tuyệt đối vé mọi mặt của Đáng Cộng sản Việt Nam.
3 Tổng liên đoàn lao động Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội rộng
lớn của giai cấp cong nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra Tổng liên đoàn lao động Việt Nam là thành viên của Mặt trận song do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có mối quan hệ hợp tác với Nhà nước; và phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác.
4 Hội Nông dân Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp
nông dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và là CƯ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
5 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minlĩ: là tổ chức chính trị - xã hội
do Đang Cộng sản và Chủ tịch Hổ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện
6 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp
rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt nam, là thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN.
7 Hội Ci(u chiến binh Việt Nam: là đoàn thể chính trị xã hội, là một cơ
sớ chính trị của chính quyền nhân dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trang 408 Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam: là một tổ chức của trí
ihức khoa học và công nghệ nước nhà.
9 Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam: là tổ chức chính
trị, xã hội, nghề nghiệp, là mặt trận của các hội Văn học, nghệ thuật trong
cả nước.
10 Liên hiệp các Tổ chức hoà bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam: là tổ
chức chính trị - xã hội hoạt động trên phạm vi cả nước, có chức năng xây dựng
và phát triển những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và
nhân dân các nước trên thế giới.
xã hội, đoàn thể thống nhất của những công dân Việt Nam đã hoặc đang làm
công tác pháp luật trong cả nước.
ỉ 2 Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam: là tổ chức xã hội rộng rãi của
Thánh niênvà các tổ chức thanh niên yêu nước.
13 Hội Nhả báo Việt Nam: là một tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp của những người làm báo Việt Nam Hội Nhà báo Việt Nam hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước.
J4 Hội Chữ thập đỏ Việt Nam: là lổ chức chính trị - xã hội nhân đạo
quần chúng, không phan biệt tôn giáo, chính kiến, giới tính tự nguyện hoạt động vì mục đích nhân đạo, hoà bình, hữu nghị.
15 Tổng hội Y Dược học Việt Nam: là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự
nguyện của những Hội y dược có hội viên là công dân Việt Nam đã và đang làm công tác chuyên môn nghiệp vụ nghiên cứu y dược vì mục tiêu góp phần chăm sóc, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân, xây dựng và phát triển nền y dược Việt Nam.
16 Hội Đông y Việt Nam: là tổ chức xã hội nghề nghiệp của công dân
Việt Nam hành nghề đông y.