ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THÚY LAN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM L
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THÚY LAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THÚY LAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám hiệu, Khoa
Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lí, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn, sự kính trọng đặc biệt đến PGS TS Trịnh Thị Lan-
người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, giáo viên và học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn
và một số trường THPT của tỉnh Lai Châu đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi khảo sát, thực nghiệm đề tài nghiên cứu này
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù tôi đã cố gắng nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song luận văn có thể vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy Lan
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5mày 25
Bảng 1.5 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên 27 Bảng 1.6 Thưc trạng đặt câu hỏi của GV trong dạy học truyện dân gian cho
HS lớp 10 28 Bảng 1.7 Thực trạng việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học truyện dân gian lớp 10 bậc THPT 29 Bảng 1.8 Đánh giá về ưu điểm, lợi thế của của việc đặt câu hỏi nhằm phát triển năng lực đọc hiểu của học sinh 31 Bảng 1.9 Thực trạng học truyện dân gian của học sinh lớp 10 32 Bảng 1.10 Đánh giá về năng lực đọc hiểu truyện dân gian của học sinh lớp
10, bậc THPT 33 Bảng 3.1 Tổng hợp đánh giá ý kiến của HS về biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam 89 Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 91
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu truyện dân gian 41 Biểu đồ 3.1: Kết quả kiểm tra điểm số lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 92Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ điểm kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 92
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Đọc hiểu văn bản và việc dạy học đọc hiểu văn bản 6
1.1.2 Năng lực đọc hiểu và việc phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT 9
1.1.3 Câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học 13
1.1.4 Truyện dân gian và đặc điểm của truyện dân gian Việt Nam 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 233
1.2.1 Các bài học đọc hiểu truyện dân gian trong chương trình môn Ngữ văn 10 và hệ thống câu hỏi đọc hiểu đi kèm 233
1.2.2 Thực trạng dạy học đọc hiểu truyện dân gian và việc sử dụng hệ thống câu hỏi đọc hiểu của giáo viên 26 1.2.3 Thực trạng học truyện dân gian và năng lực đọc hiểu truyện dân gian
Trang 8của HS lớp 10 32
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM 36
2.1.Định hướng xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu truyện dân gian cho học sinh lớp 10 36
2.1.1.Hệ thống câu hỏi cần hướng tới mục tiêu của môn Ngữ văn 36
2.1.2.Hệ thống câu hỏi tạo điều kiện phát huy vai trò chủ thể của học sinh 36
2.1.3.Bám sát đặc trưng thể loại của từng thể loại truyện dân gian 37
2.2.Nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu truyện dân gian cho học sinh lớp 10 38
2.2.1 Bảo đảm tính vừa sức 38
2.2.2 Bảo đảm tính trải nghiệm và thực hành 38
2.2.3 Bảo đảm tính hiệu quả 38
2.3 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi 38
2.4 Hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu truyện dân gian cho học sinh lớp 10 40
2.4.1 Câu hỏi nhận diện thể loại truyện dân gian 41
2.4.2 Câu hỏi xác lập lại các nhân tố trong truyện dân gian 42
2.4.3 Câu hỏi tiếp nhận bối cảnh của các sự việc trong truyện dân gian 43
2.4.4 Câu hỏi tìm hiểu nhân vật trong truyện dân gian 44
2.4.5 Câu hỏi tìm hiểu về sự việc trong truyện dân gian 50
2.4.6 Câu hỏi xác định tình cảm, thái độ trong truyện dân gian 51
2.4.7 Câu hỏi đáh giá và phản hồi giá trị, ý nghĩa câu chuyện từ phía học sinh 52
2.4.8 Câu hỏi yêu cầu đọc diễn cảm 53
2.4.9 Câu hỏi vận dụng kết quả đọc hiểu giải quyết tình huống trong thực tiễn cuộc sống 54
Trang 92.4.10 Câu hỏi đọc hiểu truyện mới 55
2.5 Sử dụng hệ thống câu hỏi trong đọc hiểu truyện dân gian Việt Nam… 58
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 65
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 65
3.2 Kế hoạch thực nghiệm 65
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 65
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 65
3.3 Nội dung thực nghiệm 65
3.3.1 Quy trình thực nghiệm 65
3.3.2 Nội dung cần thực nghiệm 67
3.3.3 Điều kiện thực nghiệm 69
3.4 Phương pháp thực nghiệm 69
3.5 Giáo án thực nghiệm 70
3.5.1 Cấu trúc giáo án thực nghiệm 71
3.5.2 Nội dung giáo án thực nghiệm 72
3.6 Kết quả thực nghiệm 86
3.6.1 Tiêu chí đánh giá thực nghiệm 86
3.6.2 Kết quả thực nghiệm 86
3.6.3 Kết luận chung về dạy học thực nghiệm 93
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1 Phát triển năng lực người học là một trong những yêu cầu tất yếu, cấp thiết của thời đại, xu hướng mang tính quốc tế đồng thời còn là chiến lược giáo dục quốc gia của Việt Nam
Đáp ứng yêu cầu của xã hội về đổi mới giáo dục phổ thông, chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 của Đảng đã đặt ra vấn đề: Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giảng dạy chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng- trò ghi sang phát triển năng lực, GV đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn HS tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, rèn luyện khả năng tự học tự thu thập thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển năng lực cá nhân, năng lực cộng tác làm việc Đó là xu hướng tất yếu trong đổi mới PPDH ở mỗi nhà trường trong giai đoạn hiện nay
1.2 Trong quá trình dạy học, câu hỏi đóng một vai trò rất quan trọng
Việc xây dựng hệ thống câu hỏi như một phương pháp nhằm thực thi vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển trong qúa trình dạy học của giáo viên
Để tạo ra sự tương tác giữa giáo viên và học sinh cần tạo ra những phương tiện giao tiếp hiệu quả Do đó, đặt câu hỏi là một trong những kĩ năng cơ bản
và rất cần thiết của người giáo viên đứng lớp
Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương nói chung và truyện dân gian Việt Nam nói riêng giúp học sinh không chỉ cảm nhận tác phẩm, tìm ra cái hay cái đẹp của tác phẩm…mà qua đó còn giúp HS đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, những bài học ứng xử, những kĩ năng xử lí tình huống Vì vậy việc xây dựng một hệ thống câu hỏi để giáo viên dẫn dắt học sinh đi sâu tìm hiểu, khám phá những tầng ý nghĩa sâu xa của tác phẩm là điều hết sức cần thiết
Song hiện nay việc đặt câu hỏi cho HS trong giờ dạy đọc hiểu truyện
Trang 11dân gian chưa thực sự khai thác hết tiềm năng và phát triển năng lực đọc hiểu của HS Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng giờ học tác phẩm văn chương nói chung và giờ học truyện dân gian nói riêng sẽ thành công hơn khi người giáo viên tổ chức nội dung bài học qua hệ thống câu hỏi khoa học, hợp
lý, điều đó sẽ tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh, học sinh sẽ phát huy tư duy khi tham gia nêu câu hỏi, thảo luận và trả lời được các câu hỏi của giáo viên thông qua các hoạt động học tập Một trong những phương tiện cho học sinh tự học đó chính là CH , GV chỉ là người dẫn dắt học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “ Xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Trong phạm vi cho phép có thể đề cập đến một số nghiên cứu sau:
Từ những năm trước Công nguyên, nhà triết học Hi Lạp cổ đại Xôcrat (429 – 399 TCN) đã dùng câu hỏi để kích thích sự vận động của HS trong quá trình dạy học
Ở Liên Xô, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về phương pháp xây dựng và sử dụng câu hỏi trong dạy học Tiêu biểu là các tác giả: O.Karlinxki, P.B.Gophman, B.P.Exipop, M.A.Danilop, N.M.Veczilin
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu phương pháp xây dựng câu hỏi trong
dạy học môn Ngữ văn được đề cập trong một số công trình như: Phương pháp
dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (2009) của tác giả Nguyễn
Viết Chữ Ông đưa ra những cơ sở lí luận, những yêu cầu có tính nguyên tắc cho việc đặt câu hỏi và vận dụng cách thức đặt câu hỏi cho những thể loại văn học tiêu biểu.[5]
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Văn” của giáo sư Phan Trọng Luận
(Chủ biên), tác giả đề cập tới đặc điểm, vai trò và nguyên tắc của việc xây
Trang 12dựnghệ thống câu hỏi gắn với phương pháp dạy học [23]
Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn [11, tr.34] trong cuốn “Rèn luyện tư duy
sáng tạo trong dạy học tác phẩm vănchương”, ông đã đi sâu vào trình bày các
biện pháp nhằm rèn luyện tư duy cho HS.Theo tác giả, “Việc đặt câu hỏi đối
với học sinh trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức” Như
vậy, theo tác giả, việc xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ học Văn
có ý nghĩa tạo ra các tình huống có vấn đề cho HS tìm hiểu và giúp các em tiếp nhận bài học một cách tích cực
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền [9] với công trình nghiên cứu khoa học
“Xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc- hiểu các bài tác gia văn học
ở trung học phổ thông”, tác giả đưa ra những gợi ý cũng như nguyên tắc cho
GV xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy đọc hiểu
Nhiên cứu về câu hỏi đọc hiểu cũng phải kể đến tác giả Phạm Thị Huệ
[15] với luận án “Mô hình câu hỏi dạy đọc hiểu văn bản nghị luận trong
chương trình Ngữ văn trung học”,tác giả đã bàn đến các vấn đề lí luận về đọc
hiểu văn bản nghị luận, xây dựng hệ thống câu hỏi và mô hình câu hỏi dạy học đọc hiểu văn bản nghị luận
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng với bài báo có tiêu đề “Câu hỏi trong dạy
học tác phẩm văn chương và những cách nhìn hiện đại” (Tạp chí Khoa học
Giáo dục, số 60, tháng 9 năm 2010), tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến gợi ý trong việc đặt câu hỏi tạo cơ hội cho HS biết đối thoại, biết trả lời đúng hướng [17, tr.45]
Từ việc nghiên cứu trên, có thể khẳng định rằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học văn là vấn đề không mới Nhưng để có một giáo trình đầy đủ nhất về quan niệm câu hỏi, tiêu chí, nguyên tắc sử dụng câu hỏi trong dạy học truyện dân gian Việt Nam nhằm phát triển năng lực đọc
Trang 13hiểu cho HS thì hiện nay vẫn chưa có Đây là một vấn đề hoàn toàn mới mà
đề tài chúng tôi quan tâm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lí luận cùng thực trạng,
đề tài đề xuất mô hình xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho HS trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng về dạy học đọc hiểu văn bản,
về xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho HS lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
+ Tổ chức xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho
HS trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
+ Tiến hành dạy học thực nghiệm để kiểm chứng về tính khả thi của câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho HS lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cách thức xây dựng và các loại câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu truyện dân gian cho học sinh ở trường trung học phổ thông
- Phạm vi nghiên cứu: Các truyện dân gian được dạy học trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 10, tập một của NXB Giáo dục Việt Nam; do vậy chúng tôi nghiên cứu việc phát triển năng lực đọc hiểu trong giới hạn phạm vi
là cho HS lớp 10 gắn với các bài học về truyện dân gian trong SGK Ngữ văn
10 hiện hành (gồm: Truyện cổ tích Tấm Cám; Truyện cười Tam đại con gà và
Nhưng nó phải bằng hai mày; Truyền thuyết An Vương Vương và Mị Châu Trọng Thủy)
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài“Xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho
HS lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam”, chúng tôi đã sử dụng
Trang 14những phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng trong việc nghiên cứu
các tài liệu có liên quan đến xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học truyện dân gian Việt Nam Đồng thời nghiên cứu các tài liệu liên quan đến thực tiễn chương trình SGK Ngữ văn , SGV Ngữ văn, các tài liệu định hướng đổi mới về phương pháp dạy học ở cấp THPT
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân tích mục tiêu,
nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học đọc hiểu truyện dân gian Việt Nam, từ đó thiết kế xây dựng hệ thống câu hỏi và gợi ý cách sử dụng câu hỏi
5.3 Phương pháp điều tra: Khảo sát, điều tra về thực trạng dạy và học
truyện dân gian Việt Nam trên các đối tượng: GV, HS Điều tra về chất lượng
học sinh ở các lớp để lựa chọn lớp thực nghiệm và đối chứng
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng thử nghiệm hệ thống
câu hỏi đánh giá năng lực đọc hiểu cho HS lớp 10 khi dạy đọc hiểu truyện dân gian Việt Nam Thử nghiệm sư phạm để từ đó đưa ra các nhận xét, kết luận về tính khả thi và hiệu quả của hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu mà luận văn đề xuất
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống câu
hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
Chương 2: Tổ chức xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc
hiểu cho HS lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đọc hiểu văn bản và việc dạy học đọc hiểu văn bản
1.1.1.1 Đọc hiểu văn bản
Đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu văn bản và do
đó cũng đã có không ít định nghĩa, quan niệm khác nhau về đọc hiểu văn bản Theo Walcutt, “đọc hiểu văn bản là công việc giải mã những kí hiệu đã được viết thành văn bản và có thể nghe được âm thanh phát ra, là cái âm thanh mà
kí hiệu đó thể hiện” Còn Karlin lại cho rằng đọc là một dạng biểu hiện của tư duy, là dung nạp hay suy nghĩ về một hay những thông tin nào đó Đọc là sự sáng tạo ra những ý tưởng của người khác…
Các tác giả Tinker và McCullough thì thừa nhận rằng: Việc đọc bao gồm sự phát hiện và công nhận các kí hiệu in hoặc viết có tác dụng như những tác nhân khơi gợi nghĩa của từ vốn đã được người đọc thiết lập bằng kinh nghiệm trong quá khứ và xây dựng thêm các nghĩa mới mà người đọc tìm ra nhờ những khái niệm tương tự, sẵn có ở người đọc [Dẫn theo 22, tr.26] Theo quan điểm này, việc giải mã và việc hiểu kết quả giải mã có ý nghĩa quan trọng như nhau
Dưới góc độ ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã từng nêu khái quát về khái niệm đọc hiểu như sau: “ Dù đơn giản hay phức tạp, đều là hành
vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [10, tr.27]
Từ bình diện văn hóa, tác giả Nguyễn Thanh Hùng quan niệm “dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc”, trong đó “ đọc là một năng lực
Trang 16văn hoá có ý nghĩa cơ bản đối với vệc phát triển nhân cách; đồng thời “đọc còn là phương diện thông tin nhiều loại khác nhau về quan điểm, thái độ kinh nghiệm, tri thức” [18] Với văn bản văn học, khái niệm đọc hiểu có nội hàm khoa học phong phú, có nhiều cấp độ, gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận, tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp, thi pháp học, văn bản học,… Bởi vì, đọc hiểu không chỉ là hoạt động tái tạo âm thanh từ chữ viết mà là một tương quan năng động giữa cấu trúc tâm lí nhân cách, cấu trúc văn hoá, cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng và cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn chương
Như vậy, đọc hiểu văn bản không chỉ đơn thuần chỉ là phân tích ngôn ngữ văn bản, cũng không hoàn toàn là sự gọi tên mới cho hoạt động giảng văn Đứng ở góc độ giao tiếp bằng văn bản và giao tiếp với văn bản, đọc hiểu
là một bộ phận hợp thành của hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình: lĩnh hội và tạo lập lời nói Hoạt động đọc (đọc hiểu) thuộc quá trình lĩnh hội, đối tượng tác động của hoạt động này là các văn bản thuộc nhiều kiểu loại, động cơ của hoạt động đọc là nhu cầu hiểu biết, nhu cầu bộc
lộ và nhu cầu hành động của bản thân người đọc [22, tr.29]
Xét ở phương diện hoạt động, đọc là một hoạt động của con người Con người thực hiện việc giao tiếp bằng bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, trong đó
kĩ năng đọc là hoạt động cơ bản, thường xuyên, giúp con người nắm bắt thông tin nhanh, chính xác, biết lựa chọn và xử lí thông tin, nhờ đó mà hòa nhập xã hội
Có thể nói đọc văn bản văn học là một quá trình phát hiện và khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời đại trong cấu trúc hình tượng thẩm
mĩ của tác phẩm được đan xen giữa hoạt động nhận thức, đánh giá và thưởng thức giá trị đích thực tồn tại trong hình thức nghệ thuật độc đáo của tác phẩm
1.1.1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản
a Quan niệm dạy học đọc hiểu văn bản
Theo Phạm Thị Huệ (2014), “Dạy học đọc hiểu là quá trình sư phạm
Trang 17nhằm tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản Mục đích cuối cùng của việc dạy học đọc hiểu là học sinh hiểu được những gì đã đọc, hình thành, phát triển
kĩ năng đọc hiểu và cao hơn là năng lực đọc hiểu, vận dụng những gì đã đọc hiểu được vào học tập và cuộc sống” [15, tr.28]
Dạy học đọc hiểu không chỉ giúp cho HS cảm nhận được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà còn giúp cho HS tự cảm nhận, khám phá, tự trải nghiệm, tự tìm tòi và trả lời câu hỏi dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV Do đó đạy học đọc hiểu là GV không còn thuyết trình, áp đặt cách hiểu cho HS mà GV là người tổ chức hướng dẫn HS chủ động tìm tòi, sáng tạo, HS biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Có thể nói bản chất của dạy học đọc hiểu là dạy cho HS những kĩ năng, những thao tác để HS tự khám phá cảm nhận tác phẩm văn chương một cách tích cực
Như vậy dạy học đọc hiểu là tổ chức hướng dẫn HS hiểu nội dung, phương thức biểu đạt và phản hồi các thông tin trong văn bản, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân
b Yêu cầu của việc dạy học đọc hiểu văn bản
* Việc dạy học Ngữ văn cần đảm bảo định hướng tích hợp
Ở trường trung học, những năm gần đây, người ta bàn nhiều đến dịnh hướng tích hợp trong dạy học, trong đó có dạy học Ngữ văn Các bộ phận Văn học, Tiếng Việt, Làm văn đều có kiến thức riêng, nhưng đều được tích hợp trong việc tổ chức hoạt đọc hiểu và làm văn Những kiến thức về ngôn ngữ, Việt ngữ được cung cấp thông qua việc dạy học đọc hiểu một văn bản hoặc một văn bản cụ thể; nhờ sự nhận thức rõ ràng về các đơn vị, các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và việc hiểu văn bản trở nên đúng đắn, chắc chắn hơn; trên cơ sở đó, hình thành cho HS các kĩ năng tạo lập văn bản một cách tự giác [Dẫn theo 22, tr.44]
* Việc dạy học đọc hiểu văn bản cần xuất phát từ văn bản và bám sát văn bản
Trang 18Yêu cầu trước hết và cũng là cốt lõi của việc dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường là phải xuất phát từ văn bản, bám sát văn bản và hướng tới văn bản Văn bản ở đây chính là văn bản hình thức, văn bản ngôn từ Nói một cách hình tượng, đọc hiểu văn bản là quá trình phá vỡ bức tường ngôn ngữ từ đơn vị từ đến đơn vị văn bản để tìm ra những thông điệp nội dung mà văn bản muốn chuyển tải; do đó, việc dạy học đọc hiểu văn bản cần thiết phải trang bị cho HS một phương tiện, một cách thức để xử lí một cách hiệu quả quá trình phá vỡ bức tường ngôn ngữ
* Cần tận dụng khả năng của ngôn ngữ học văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản
Việc dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường hiện nay là quá trình tổ chức cho HS tiếp cận một văn bản đại diện cho một phương thức biểu đạt, hiểu được nội dung và hình thức thể hiện của văn bản ấy, trên cơ sở đó mà tiếp nhận và tạo lập được những văn bản khác có cùng phương thức biểu đạt Thông qua một bài học cụ thể, hình thành cho HS kĩ năng tự học các bài học tương tự, kĩ năng giải quyết các vấn đề liên quan ở một thời điểm khác, có thể không nhất thiết là ở nhà trường [22, tr.48] Điều này cũng được hiểu là việc dạy học văn bản trong nhà trường phải góp phần phát triển năng lực đọc hiểu của HS
1.1.2 Năng lực đọc hiểu và việc phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT
1.1.2.1 Năng lực
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường thì: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [24, tr.45]
Hay các tác giả Đặng Quốc Bảo và Phạm Minh Mục khi tiếp cận phạm
Trang 19trù năng lực cũng nhấn mạnh đây là một thuộc tính đặc biệt của nhân cách và mang bản chất thực hiện: “Năng lực không hiện hữu nếu không gắn với hoạt động và chỉ xác định khi con người thực hiện một công việc cụ thể (competency) Nếu chưa thực hiện, nó gọi là khả năng (tiềm ẩn)” [Dẫn theo
26, tr 8] Các tác giả cũng phân biệt hai khái niệm năng lực và năng khiếu, đồng thời bàn đến trí năng với tư cách là “thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc tổng thể của năng lực, tạo nên óc suy luận, khái quát, trừu tượng hóa khi con người tác động vào thực tiễn” [10]
Năng lực được hình thành, phát triển, thể hiện qua hoạt động Không có hoạt động, năng lực không tồn tại
Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được
mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể [18].Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn bao gồm: Năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mĩ, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác
1.1.2.2 Năng lực đọc hiểu
Theo PISA đã định nghĩa: “Năng lực đọc hiểu là sự hiểu, sử dụng, phản ánh và gắn kết với các văn bản viết nhằm đạt được các mục tiêu đọc, phát triển hiểu biết và tiềm năng của người đọc cũng như nhằm tham gia vào xã hội” [Dẫn theo 13]
Tác giả Phan Trọng Luận từng khẳng định: “Trong nhà trường phổ thông, năng lực cần nhớ nhất là năng lực tiếp nhận văn học… cho nên trong nhà trường phổ thông chúng ta chủ yếu chú ý đến năng lực tiếp nhận và năng lực bình giá tác phẩm” [23]
Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong tài liệu: “Đổi mới đánh giá kết quả học
Trang 20tập môn Ngữ văn” cho rằng: năng lực Ngữ văn là trình độ vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống Năng lực Ngữ văn gồm hai năng lực bộ phận là năng lực tiếp nhận
và năng lực tạo lập văn bản văn học” [30]
Nhận thức được “kĩ năng là đích đến, chiến thuật là cuộc đi”, tác giả Nguyễn Kim Phong đặt ra vấn đề dạy chiến thuật đọc hiểu như một biện pháp quan trọng nâng cao năng lực đọc hiểu cho HS Tác giả đưa ra và phân tích ba thời điểm cung cấp và sử dụng chiến thuật rất hiệu quả đối với bạn đọc HS:
“1 Cung cấp cho người học những chiến thuật ban đầu theo mô hình chuyển giao chiến thuật (giảm dần vai trò, trách nhiệm của GV và tăng sự chủ động, độc lập của HS như Pearson đề xuất); 2 Khi bắt gặp những khó khăn nảy sinh
cụ thể trong quá trình chiếm lĩnh các VB; 3 “Phân xuất kĩ năng ĐH thành các nhân tố để người đọc nhận thức được các thành phần này, quan sát xem chúng được tổ chức lại với nhau như thế nào và kết hợp chúng ra sao trong quá trình thực hiện kĩ năng đó ở hành động đọc” [28] - theo tác giả, thời điểm thứ ba này thực chất là yêu cầu đòi hỏi đặt ra đối với GV trong quá trình dạy học chiến thuật
Từ các quan điểm trên có thể mô tả cấu trúc năng lực đọc hiểu văn học bao gồm:
Một là:Năng lực nhận thức góp phần hình thành, phát triển năng lực tư
duy lôgic, tư duy hình tượng, tư duy tổng hợp, khái quát, tư duy phức hợp, tư duy sáng tạo… rất đa dạng của con người
Hai là: Năng lực đánh giá là năng lực tự chịu trách nhiệm trong suy
luận, phán đoán sự phản tư (như khả năng suy nghĩ để tránh định kiến và niềm tin sai lầm, thể hiện bản lĩnh cá nhân HS với những quan điểm độc lập của mình trên cơ sở vận dụng tri thức đọc hiểu vốn văn hóa, sự trải nghiệm đời sống và năng lực tư duy phê phán của HS
Trang 21Ba là: Năng lực thưởng thức cái đẹp, sự “thấu cảm thẩm mĩ" để thanh
lọc tâm hồn
Tóm lại, năng lực nhận thức, năng lực đánh giá và năng lực thưởng thức đã gắn bó với lí thuyết nhận thức (cognitive theory) lí thuyết biểu hiện (expressive theory) là hai lí thuyết chính của nghệ thuật tồn tại lâu dài trong lịch sử
Năng lực nhận thức lấy sự thật và chân lí làm nội dung hoặc đối tượng khám phá nên năng lực này thể hiện ở chỗ xác định được cái đúng cái sai, cái chân thật cái giả dối Năng lực đánh giá nhằm vào mục đích và chất lượng sáng tác văn học, nên năng lực này thể hiện ở chỗ nhận ra cái tốt, cái chưa tốt Năng lực thưởng thức cái đẹp và sự thấu cảm thẩm mĩ không có tiêu chuẩn chung phổ quát cho tất cả mọi người nên sự thể hiện của năng lực này chính
là khả năng cảm nhận cái đẹp, cái không đẹp, cái chân chính và cái dởm, hoặc
sự sinh động, hay sự nghèo nàn trong sáng tạo và khi đọc hiểu ngữ văn
Cấu trúc năng lực đọc hiểu ngữ văn mà chúng tôi đề xuất gần gũi với chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ quen thuộc trong giảng văn và tương đồng với năng lực tiếp nhận tác phẩm nhờ thành thạo các kĩ năng tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và bình giá tác phẩm Đồng thời muốn hình thành nên những năng lực ấy phải đảm bảo cho HS có những nền tảng kiến thức, kĩ năng, thái độ trong dạy và học ở trường THPT
Như vậy, năng lực đọc hiểu là năng lực cần hình thành trong dạy học tác phẩm Nó có cùng bản chất với năng lực tiếp nhận văn bản hư cấu bao gồm các kĩ năng đọc hiểu Cốt lõi của việc xác định năng lực đọc hiểu là phải tiếp thu, cải biến từ năng lực tiếp nhận và nội dung, bản chất của đọc hiểu văn học
Từ những nghiên cứu trên có thể hiểu năng lực đọc hiểu là năng lực giải mã văn bản, hiểu nghĩa văn bản, kiểm soát quá trình hiểu, phản hồi lại với
Trang 22văn bản, sử dụng văn bản để giải quyết những vấn đề của cá nhân và cuộc sống trên cơ sở sử dụng, huy động kiến thức nền của bản thân và các thao tác đọc hiểu nhằm đạt đến những mục tiêu cụ thể
1.1.3 Câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
1.1.3.1 Khái niệm câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Aristotle là người đầu tiên đã phân tích câu hỏi dưới góc độ logic, ông cho rằng: “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết” [ 16,tr 23]
Trong dạy học CH được sử dụng như là một công cụ để tổ chức hướng dẫn người học tiếp cận tư liệu học tập dưới hình thức là một mệnh lệnh, một yêu cầu mà người học cần thực hiện CH ( còn gọi là câu nghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưa biết CH thường có những từ nghi vấn: ai, gì, nào,
sao…( Thế nào?, Tại sao?, Cái gì? Như thế nào? ) Khi viết cuối CH phải có
dấu chấm hỏi CH còn tồn tại dưới hình thức các bài tập với những mệnh lệnh của GV yêu cầu HS cần giải quyết như phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận…Như vậy CH trong dạy học khá phong phú và đa dạng
CH trong dạy học thể hiện nội dung và chất lượng văn hóa trong nhà trường CH là sự cụ thể hóa, đa dạng hóa CH đời sống theo nội dung chuyên ngành môn học
Tương tự như CH trong dạy học nói chung, CH trong dạy học đọc hiểu
là công cụ được sử dụng để hướng dẫn, tổ chức các hoạt động đọc hiểu cho
HS, giúp HS học cách đọc, HS giải mã và kiến tạo nghĩa cho văn bản đồng thời là hệ thống thao tác kĩ năng giúp HS hình thành năng lực đọc hiểu CH trong dạy học đọc hiểu có thể là CH của GV nhưng cũng có thể là CH do HS đặt ra trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản như một bạn đọc độc lập
để chia sẻ sự trải nghiệm của mình với các bạn đọc khác cũng như với GV Quá trình trao đổi giữa GV với HS, giữa HS với HS sẽ làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn đồng thời giúp HS hiểu vấn đề sâu sắc hơn
Trang 231.1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Trong quá trình dạy học việc thực hiện vai trò, ý nghĩa của câu hỏi trong dạy học nói chung, câu hỏi trong dạy học đọc hiểu còn thể hiện những vai trò, ý nghĩa riêng:
CH đọc hiểu giúp người đọc hình thành hứng thú đọc, giúp HS lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống, tránh tình trạng ghi nhớ máy móc và tạo không khí học tập sôi nổi
CH là phương tiện dạy học và đồng thời cũng là nội dung theo quan điểm giao tiếp và kĩ năng đối thoại Câu hỏi có thể và gần như được dùng phối hợp trong hầu hết các phương pháp dạy học Câu hỏi là “đại sứ lưu động” trong dạy học nói chung Có thể nhận ra rằng, mối quan hệ biện chứng giữa việc đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi luôn thực hiện sự tương tác qua lại theo chiều hướng tiến triển quá trình dạy học tốt hơn, nghĩa là từng bước đi đến gần hơn mục đích tổng thể của bài học và giờ dạy học Câu hỏi và câu trả lời liên kết lại để thực hiện các bước đi của con đường dạy học đã vạch trước hay có thể xem nó là lộ trình dạy học
CH đọc hiểu khơi gợi, tổ chức hướng dẫn người đọc tham gia vào quá trình giải nghĩa và kiến tạo nghĩa cho văn bản
CH giúp GV kiểm tra đánh giá năng lực của HS để từ đó GV bồi dưỡng thêm những kiến thức, kĩ năng mà HS còn thiếu, còn yếu Bên cạnh đó CH giúp người dạy có thông tin phản hồi từ phía người học để có những điều chỉnh phù hợp đem lại hiệu quả, chất lượng trong dạy học
Như vậy CH hỗ trợ rất nhiều đối với quá trình đọc hiểu, có vai trò định hướng trong quá trình lĩnh hội văn bản đồng thời CH đọc hiểu còn có ý nghĩa tăng cường hứng thú cho người đọc, tích cực hóa vai trò của người học và hình thành năng lực cho người học
1.1.3.3 Các loại câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Tuỳ theo bản chất, mục đích, cách sử dụng mà người ta chia CH thành
Trang 24nhiều loại khác nhau:
a Dựa vào mức độ tư duy
Thang đo Bloom về cấp độ tư duy có nêu ra sáu cấp độ nhận thức:
- CH mức độ nhớ: Khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin CH yêu cầu HS nhắc lại kiến thức đã biết và học sinh trả lời câu hỏi bằng sự tái hiện
CH này thường hướng tới tìm kiếm các thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại…Để đánh giá mức độ nhớ của HS, khi đặt CH GV có thể sử dụng những động từ: liệt kê, chỉ ra, gọi tên…
- CH mức độ hiểu: Khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn CH này thường hướng đến tìm hiểu bố cục văn bản, nhan đề, nội dung tư tưởng toàn văn bản…Với mục đích đánh giá xem HS hiểu bài đến đâu, GV có thể sử dụng các động từ sau trong CH kiểm tra: trình bày, giải thích, mô tả…
- CH mức độ vận dụng Vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới CH này thường yêu cầu HS so sánh, đối chiếu, liên hệ với những tác phẩm khác cùng đề tài, cùng chủ đề…Để đánh giá khả năng vận dụng của HS, GV có thẻ sử dụng các động từ: áp dụng, chứng minh, so sánh, bày tỏ…
- CH mức độ phân tích: Khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống CH này yêu cầu HS phân tích nguyên nhân hay kết quả của một hiện tượng…Muốn đánh giá khả năng phân tích của HS, GV có thể sử dụng các động từ: phân tích, lựa chọn, phân biệt…
- CH mức độ tổng hợp: Tổng hợp là khả năng hợp nhất các thành phần
để tạo thành một tổng thể/ sự vật lớn CH này yêu cầu HS vận dụng các kiến thức đã có để giải đáp các vấn đề khái quát hơn để tạo ra hoặc sáng tạo ra một cái gì đó hoàn toàn mới Các động từ có thể dùng cho kiểm tra với mục đích đánh giá khả năng tổng hợp của HS: thảo luận, tổ chức, báo cáo…
Trang 25- CH mức độ đánh giá: Đánh giá là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp CH này yêu cầu HS nhận định, phán đoán về ý nghĩa của kiến thức, giá trị của một tư tưởng…Các động từ có thể dùng để kiểm tra ở mức độ đánh giá: kết luận, đánh giá, xếp loại…
b Dựa vào các khâu của quá trình dạy học:
Theo tiến hành dạy học có các câu hỏi tái hiện kiến thức, sáng tạo, khai thác kiến thức và phản hồi
c Dựa vào hình thức câu hỏi:
CH trắc nghiệm khách quan và CH trắc nghiệm tự luận
d Dựa vào cách thức trả lời của HS:
CH đóng và CH mở
e Dựa vào đặc trưng của bộ môn Văn trong nhà trường
Trong Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường,
TS.Nguyễn Viết Chữ đã đưa ra hệ thống câu hỏi cảm thụ để dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, gồm ba nhóm câu hỏi: CH cảm xúc, CH liên tưởng tưởng tượng, CH tìm hiểu nội dung và hình thức của tác phẩm.[5]
- Nhóm CH cảm xúc gồm CH cảm xúc vật chất (những cảm xúc như vui, buồn, sợ hãi, căm ghét, đau khổ, yêu thích …) và CH cảm xúc nghệ thuật (rung động của người đọc trước tác động của những hình thức nghệ thuật trong tác phẩm)
- Nhóm CH liên tưởng và tưởng tượng: CH hình dung, tưởng tượng tái hiện (xác định bức tranh nghệ thuật trong tâm hồn, từ đó khơi gợi trí tưởng tượng) và CH hình dung, tưởng tượng tái tạo (tập trung vào những bức tranh nghệ thuật bộ phận, sắc sảo, tinh tế, có tính chất phát hiện)
- Nhóm CH tìm hiểu nội dung (kể lại được, phân tích lí giải, phát biểu quan điểm) và hình thức của tác phẩm (khám phá các chi tiết nghệ thuật và cấu trúc của tác phẩm)
1.1.4 Truyện dân gian và đặc điểm của truyện dân gian Việt Nam
Trang 261.1.4.1.Quan niệm về truyện dân gian
Truyện cổ dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quát, truyện dân gian thường là văn xuôi nhưng cũng có khi là văn vần được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng, được nảy sinh từ cuối thời công xã nguyên thủy Là sáng tác nghệ thuật của nhân dân, truyện dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội, phản ánh đời sống nhân dân và thế giới tinh thần, thể hiện tình cảm , đạo đức, mơ ước của nhân dân theo quan điểm của nhân dân
Cùng với đặc trưng của văn học dân gian nói chung, truyện dân gian nói riêng cũng mang tính dân tộc, tính quốc tế So sánh truyện dân gian của thế giới và truyện dân gian Việt Nam đều có những điểm trùng lặp về đề tài,
về cốt truyện, hình tượng nhân vật, mô típ nghệ thuật, thi pháp…
Truyện dân gian rất phong phú với nhiều thể loại bao gồm: truyện ngụ ngôn, truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện truyền thuyết, truyện cười Thông qua những câu chuyện dân gian này ông cha ta muốn gửi gắm cho người đọc một bài học sâu sắc nào đó vừa để cười chê châm biếm hoặc cũng
để tự rút ra những kinh nghiệm riêng cho chính bản thân mình, để mỗi chúng
ta không mắc phải những sai lầm hay những đức tính xấu đó trong cuộc sống
Truyện dân gian Việt Nam không chỉ mang tính giáo dục cao mà nó còn giúp chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc, sự tích ra đời của một số hiện tượng, một số nhân vật thần kỳ tuy không có thật nhưng lại có sức sống mãnh liệt trong tâm trí của người dân Việt Nam bởi lòng anh dũng, tinh thần yêu nước, hay sự kiên cường nghị lực sống phi thường trong cuộc sống
Với mỗi người dân Việt Nam chúng ta truyện dân gian chính là một nguồn sữa ngọt ngào trong lành nuôi dưỡng trái tim và tâm hồn biết bao nhiêu thế hệ trẻ trong những tiếng ru ầu ơ, trong những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết…Qua những câu chuyện dân gian chúng ta thêm yêu cuộc sống này, yêu sự kỳ diệu của những ngôn ngữ, biết sẻ chia đồng cảm với những mảnh đời bất hạnh ở xung quanh ta
Trang 271.1.4.2 Đặc điểm và nội dung các thể loại của truyện dân gian Việt Nam
a Thần thoại
* Định nghĩa: tác phẩm tự sư dân gian thường kể về các vị thần, nhằm giải thích tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của con người thời cổ đại [3, tr.17]
* Phân loại: Gồm 3 loại: Về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên Về nguồn gốc các loài động thực vật Về nguồn gốc con người và nguồn gốc các dân tộc ở Việt Nam [34]
* Đặc điểm thể loại: Thể hiện quan niệm của người xưa về vũ trụ thông qua các vị Thần ( Thần Gió, Thần Mưa, Thần Núi, Thần Biển….) Thần thoại gắn chặt với các hình thức nghi lễ
* Nội dung: Thần thoại là phương tiện giải thích nguồn gốc tự nhiên Thông qua hoạt động các vị thần hình tượng người lao động được miêu tả một cách gián tiếp, các vị thần chính là hình tượng người lao động được suy tôn theo hướng thần thánh hóa Phản ánh ước mơ sống hòa hợp với tự nhiên và chinh phục tự nhiên của người xưa Giải thích nguồn gốc loài người và muôn loài [34]
* Nghệ thuật: Các hình tượng của thần thoại được "đồ vật hóa", chưa
sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như ẩn dụ, phúng dụ hay các hình thức chuyển nghĩa khác của văn học.[34]
b Truyền thuyết
* Định nghĩa: Tác phẩm tự sự dân gian kể về sư kiện và nhân vật lịch
sử ( hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng [3, tr.17]
* Phân loại: Dựa theo nội dung truyền thuyết Việt Nam có thể chia theo các thời kì sau: [34]
Trang 28- Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang: mang tính chất sử thi, phản ánh
không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang
- Thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc: Nước Âu Lạc của An Dương
Vương tồn tại khoảng 50 năm (257 TCN-208 TCN) Thời kỳ Bắc thuộc hơn
10 thế kỷ (207 TCN-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam Các truyền thuyết phản ánh các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc thuộc là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí
- Thời kỳ phong kiến tự chủ: Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, giai cấp phong
kiến Việt Nam xây dựng một quốc gia thống nhất, củng cố nền độc lập dân tộc Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX là sự suy sụp của các triều đại phong kiến Các truyền thuyết của thời kỳ này gồm các nhóm sau đây: Anh hùng chống ngoại xâm; Danh nhân văn hóa; Lịch sử địa danh; Anh hùng nông dân
So với truyền thuyết thời kỳ trước, yếu tố hoang đường kỳ diệu trong truyền thuyết thời kỳ này giảm đi một mức đáng kể Ðặc biệt, có những truyền thuyết về anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ (Truyền thuyết
về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi ) Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm và truyền thuyết
về anh hùng nông dân Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân
* Đặc điểm thể loại: [34]
Ra đời muộn hơn thần thoại khi các cộng đồng quốc gia dân tộc đang hình thành Nhân vật trung tâm của truyền thuyết là các vị thần và các vị anh hùng.Các nhân vật sự kiện lịch sử khi đưa vào truyền thuyết thì thường được
kì ảo hóa Truyền thuyết chịu sự chi phối của thế giới quan thần thoại trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng Truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo, thể hiện quan điểm đánh giá của quần chúng nhân dân về lịch sử
Trang 29* Nội dung [34]
- Lao động sản xuất chống thiên nhiên xây dựng cộng đồng
- Biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước Thể hiện quan niệm và ước mơ khát vọng của nhân dân về người anh hùng
- Ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo
- Phản ánh phong trào nông dân khởi nghĩa
* Nghệ thuật: Sử dụng yếu tố hoang đường kì ảo xen với yếu tố lịch sử tạo nên không khí vừa thiêng liêng vừa hào hùng
c Truyện cổ tích
* Định nghĩa: Tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động [3, tr.18]
* Phân loại: Căn cứ vào nhân vật chính và tính chất sự việc được kể lại,
có thể chia truyện cổ tích ra làm ba loại :Truyện cổ tích về loài vật ,truyện cổ tích thần kỳ,truyện cổ tích thế tục (cổ tích sinh hoạt).[34]
- Truyện cổ tích về loại vật (truyện cổ tích động vật): truyện cổ tích loài
vật nêu lên những nhận thức, hiểu biết của con người về thế giới các con vật Một bộ phận truyện cổ tích loài vật có nhân vật là con người tham gia, một bộ
phận khác nhân vật trong truyện hoàn toàn là các con vật
- Truyện cổ tích thần kỳ :Cổ tích thần kỳ kể lại những sự việc xảy ra
trong đời sống gia đình và xã hội của con người Ðó có thể là những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền, vấn đề tình yêu hôn nhân , những quan hệ xã hội ( Tấm Cám, Cây khế, Sự tích con khỉ ) Thế giới trong cổ tích thần kỳ là thế giới huyền ảo và thơ mộng, có sự xâm nhập lẫn nhau giữa thế giới trần tục và thế giới siêu nhiên Nhân vật trong truyện cổ tích thần kì gồm hai nhóm chính: nhân vật tài giỏi, dũng sĩ ( kể lại những cuộc phiêu lưu ly kỳ của nhân vật chính, cuối cùng nhân vật chính lập chiến công,
Trang 30diệt cái ác, bảo vệ cái thiện, mưu cầu hạnh phúc cho con người) và nhân vật bất hạnh (người mồ côi, người em út, người con riêng, người đi ở, người xấu
xí Nhân vật chính trải qua thử thách - thử thách của các trở lực và có khi của nhân vật trợ thủ và đổi đời, được hạnh phúc dài lâu.)
- Truyện cổ tích thế tục ( truyện cổ tích sinh hoạt): Truyện cũng kể lại
những sự kiện khác thường ly kỳ, nhưng những sự kiện này rút ra từ thế giới trần tục Gồm nhóm truyện có đề tài nói về nhân vật bất hạnh; nhóm truyện về người thông minh; nhóm truyện về người ngốc nghếch
* Đặc điểm thể loại [34]
- Ra đời sau truyền thuyết, khi xã hội đã phân chia giai cấp
- Phản ánh ước mơ về một xã hội lí tưởng, công bằng, dân chủ, hạnh phúc (ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác);
- Đều sử dụng yếu tố hoang đường kì ảo
- Lý tưởng xã hội thẩm mỹ của nhân dân :
- Triết lý sống, đạo lý làm người và ước mơ công lý của nhân dân :
* Nghệ thuật: Yếu tố hoang đường, kì ảo là yếu tố sử dụng nổi bật nhất
để xây dựng nhân vật kì ảo, đồ vật kì ảo, con vật kì ảo làm cho câu chuyện ly
kì hấp dẫn hơn
d Truyện ngụ ngôn
* Định nghĩa: tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, thông qua các ẩn dụ ( phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm về cuộc sống hoặc về triết lí nhân sinh [3, tr.18]
Trang 31* Đặc điểm thể loại: Trong lịch sử văn học, truyện ngụ ngôn ra đời từ rất sớm.Truyện ngụ ngôn mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người ta bài học nào đó trong cuộc sống [34]
* Nội dung: [34]
- Truyện ngụ ngôn có nội dung đả kích giai cấp thống trị: Truyện ngụ ngôn được nhân dân dùng làm vũ khí đấu tranh chống giai cấp thống trị Bộ phận truyện này nêu lên được những nhận xét sâu sắc về tầng lớp thống trị trong xã hội cũ: đó là thói ngang ngược của kẻ quyền thế, tội cướp của hại người, thói đạo đức giả của chúng
- Truyện ngụ ngôn phê phán thói hư tật xấu của mọi người: Truyện ngụ ngôn cũng là tiếng nói giáo dục, phê bình nhắm vào các thói hư tật xấu của con người như: thói huênh hoang đi kèm với bệnh chủ quan, tính tham lam vô
độ, thói đoán mò của người kém hiểu biết
- Triết lý dân gian trong truyện ngụ ngôn: Truyện ngụ ngôn nêu lên những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cuộc sống
* Nghệ thuật: Hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng Dùng cách
ẩn dụ Lời kể trong truyện ngụ ngôn có tính chất cô đúc như những lời châm quy, có tính chất châm biếm trong giọng điệu lời kể.[34]
e Truyện cười
* Định nghĩa: Tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích gải trí, phê phán [3, tr.18]
* Phân loại: Theo tiêu chí kết cấu thì truyện cười có hai nhóm lớn:
Truyện cười kết chuỗi và truyện cười không kết chuỗi.[34]
- Truyện cười kết chuỗi: Nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là đối tượng của tiếng cười phê phán Nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là người được ca ngợi, thán phục, đã dũng cảm, mưu trí đấu tranh chống cái xấu,
Trang 32* Nội dung [34]
- Tiếng cười mua vui giải trí : Tiếng cười trong truyện khôi hài nhằm mục đích giải trí là chủ yếu, song, nó cũng có tính chất phê phán nhẹ nhàng Truyện khôi hài phê phán cái ngược đời, cái trái lẽ tự nhiên tập trung ở những thói xấu của người bình dân, những lầm lẫn, hớ hênh
- Tiếng cười phê bình giáo dục : Tiếng cười phê bình thói hư tật xấu
trong nội bộ nhân dân
- Tiếng cười đả kích : Tiếng cười vạch trần cái ác, cái xấu có tính bản
chất của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến Đả kích từ vua chúa, quan lại đến địa chủ cường hào, thầy đồ, thầy chùa, thầy pháp, thầy lang …
* Nghệ thuật: Cách đặt tên nhân vật, lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười, tính cách đáng cười, hoàn cảnh đáng cười, kết cấu kịch tính, bất ngờ, kết cấu “tiệm tiến”, kết cấu “gói kín, mở nhanh”, nghệ thuật chơi chữ.[34]
Trang 33- Nhóm bài truyền thuyết: Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng
Thủy
- Nhóm bài truyện cổ tích: Tấm Cám
- Nhóm bài truyện cười: Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày
1.2.1.2 Hệ thống câu hỏi đọc hiểu đi kèm
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân loại CH dạy học truyện dân gian
Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một (cơ bản) và thu được như
Vận dụng
Vận dụng
Trang 34Bảng 1.3 Phân loại hệ thống câu hỏi trong văn bản Tam đại con gà
Vận dụng
Bảng 1.4 Phân loại hệ thống câu hỏi trong văn bản
Nhưng nó phải bằng hai mày
Vận dụng
- Nhìn chung số lượng các CH trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một (cơ bản) còn ít
- Với loại CH theo mức độ, số lượng CH này phân bổ chưa hợp lí, đa phần ở mức thông hiểu và vận dụng ( vận dụng thấp)
+ Bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy: có một CH
kết hợp mức độ nhận biết và thông hiểu, một CH kết hợp mức độ thông hiểu
và vận dụng, hai CH mức độ thông hiểu, một CH mức độ vận dụng thấp
+ Bài Tấm Cám: có hai CH kết hợp mức độ thông hiểu và vận dụng, có
Trang 35- Với loại CH theo hình thức cả bốn văn bản truyện dân gian đề có hình thức tự luận
- Với loại CH theo cách thức trả lời cả bốn văn bản truyện dân gian chủ yếu là CH đóng, có ba CH mở
Như vậy có thể thấy: Các CH trong sách giáo khoa phần nào cũng đã
đề cập đến những cấp độ đọc hiểu Đọc hiểu nội dung của văn bản, đọc hiểu giá trị nghệ thuật của văn bản, ý nghĩa thẩm mĩ của văn bản Song các CH này chưa khai thác được những đặc trưng thể loại của từng văn bản ( CH trong bài
Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy chưa khai thác được đặc
trưng của thể loại truyền thuyết; CH trong bài Tấm Cám chưa khai thác được đặc trưng của thể loại truyện cổ tích; CH trong bài Tam đại con gà, Nhưng nó
phải bằng hai mày chưa khai thác được đặc trưng của thể loại truyện cười)
Hệ thống CH chưa sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó, những CH liên hệ đời sống thực tế, CH vận dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới chưa được chú ý đến Do đó cần xây dựng thêm hệ thống CH vận dụng ở mức độ cao, những CH trải nghiệm, những CH liên hệ vào trong giờ học đọc hiểu để
tác động đến HS, rèn luyện năng lực đọc hiểu cho HS
1.2.2 Thực trạng dạy học đọc hiểu truyện dân gian và việc sử dụng hệ thống câu hỏi đọc hiểu của giáo viên
Để tìm hiểu thực trạng dạy học đọc hiểu truyện dân gian và việc sử dụng hệ thống câu hỏi đọc hiểu của GV chúng tôi tiến hành khảo sát qua bảng hỏi GV và HS tại các trường THPT trong tỉnh Lai Châu Cụ thể là:
Mục đích: Đánh giá thực trạng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 10 trong dạy học truyện dân gian Việt Nam
Nội dung khảo sát:
- Thực trạng dạy học đọc hiểu truyện dân gian và việc sử dụng hệ thống câu hỏi đọc hiểu của GV
- Thực trạng học truyện dân gian và năng lực đọc hiểu truyện dân gian của HS lớp 10
Trang 36Phương pháp và kĩ thuật khảo sát:
Sử dụng bảng hỏi giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn, HS tại các trường THPT trong tỉnh Lai Châu (Phụ lục 3)
Kết quả khảo sát được thể hiện qua phần dưới đây:
1.2.2.1 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học truyện dân gian lớp 10
Để đánh giá thực trạng việc sử dụng phương pháp dạy học truyện dân gian lớp 10, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của GV dạy môn Ngữ Văn qua câu hỏi số 1 – Phụ lục 3 Kết quả khảo sát được thể hiện:
Bảng 1.5 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên
Kết quả khảo sát cho thấy, đa số GV chưa vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy truyện dân gian lớp 10, chủ yếu phương pháp truyền thống như diễn giải, đàm thoại Mặc dù vậy, việc thực hiện đổi mới PPDH đặc biệt đổi mới việc đặt câu hỏi cho HS có một số chuyển biến bước đầu như:
+ Đối với bài giảng kiến thức mới: GV dùng hệ thống câu hỏi gợi
Trang 37Ít thường xuyên
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Hoàn toàn theo SGK Ngữ
2 Câu hỏi SGK chiếm phần lớn,
thêm ít bài tập liên hệ thực tế 52.5 47.5 0.0 0.0
3
Câu hỏi trong SGK chiếm phần
ít Chủ yếu là câu hỏi tự soạn 45.5 45.5 9.1 0.0
4
Bài tập hoàn toàn do GV tự soạn 50.0 0.0 30.0 20.0
Thực tế, việc sử dụng các câu hỏi đọc hiểu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bài dạy học trên lớp mà còn ảnh hưởng đến kết quả đọc hiểu của học sinh trong quá trình dạy học Qua khảo sát cho thấy, đa số giáo viên thường sử dụng với câu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa, ít khi giáo viên soạn thêm các bài tập mới, nếu có chủ yếu tập trung vào các tiết dạy mẫu, có người dự giờ thăm lớp 100% giáo viên không soạn các câu hỏi riêng cho phần tìm hiểu bài (thể hiện ở giáo án của giáo viên) Điều này cũng dễ hiểu, vì SGK đã có những bài tập sẵn, hơn nữa trình độ giáo viên cũng hạn chế không
dễ làm theo cách này Tình hình này cũng đồng nghĩa với tình trạng GV chưa quan tâm nhiều đến việc bổ sung thêm những bài tập nhằm liên hệ vận dụng thực tiễn cuộc sống cho học sinh
Qua dự giờ tập đọc của giáo viên, chúng tôi nhận thấy, việc dạy học đọc hiểu trên lớp của giáo viên đã tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quy trình dạy học, tuy nhiên nhiều tiết dạy chỉ “điểm qua” từng bước trong quy trình dạy học, chưa có trọng tâm Học sinh tỏ ra hiểu bài, trả lời được các câu hỏi
Trang 38trong SGK, song còn gượng ép, chưa thể hiện được ý kiến, quan điểm riêng của bản thân, chưa thực sự là chủ thể của hoạt động tiếp nhận, đặc biệt thiếu
“cơ hội” liên hệ thực tiễn cuộc sống
Từ bảng số liệu cho thấy, đa phần giáo viên dạy học đọc hiểu theo SGK
và hệ thống bài tập cho sẵn, chỉ khi có tiết dạy mẫu giáo viên mới bổ sung những câu hỏi tự soạn để cho học sinh liên hệ bản thân và thực tiễn cuộc sống Các bài tập đọc hiểu thiếu những bài tập mang tính vận dụng vào thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn giao tiếp trong xã hội Phần lớn giáo viên trả lời là tương đối thường xuyên liên hệ thực tiễn cuộc sống, giúp các em rút ra các bài học cho bản thân , song điều đó chưa được thể hiện trong giáo án của giáo viên Đây cũng là một chỗ trống cần giúp giáo viên bổ khuyết
1.2.2.3 Thực trạng việc sử dụng hệ thống câu hỏi của giáo viên trong dạy học truyện dân gian lớp 10 bậc THPT
Bảng 1.7: Thực trạng việc sử dụng hệ thống câu hỏi của giáo viên trong dạy
học truyện dân gian lớp 10 bậc THPT
Stt
thực hiện
Ít thường xuyên
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 CH khai thác được đặc sắc
nổi bật của các thể loại
truyện dân gian
3 CH có khả năng phân hóa
4 Cấu trúc câu hỏi ngắn gọn,
5 CH kích thích năng lực tư
Trang 396 Hệ thống câu hỏi phong
GV lựa chọn và “Câu hỏi khai thác được đặc sắc nổi bật của các thể loại
truyện dân gian” với 20% GV thường xuyên sử dụng Trong đó, để phát triển
năng lực đọc hiểu cho HS yêu cầu câu hỏi cần phải “Câu hỏi có khả năng
phân hóa đối tượng học sinh Câu hỏi kích thích năng lực tư duy của người học Hệ thống câu hỏi phong phú đa dạng, phù hợp với các khâu của quá trình đọc hiểu văn bản,” thì ít được chú trọng Điều đó cho thấy kỹ thuật đặt
câu hỏi nhằm phát triển năng lực đọc hiểu của HS mới chỉ mức độ khá khiêm tốn
Qua thực tế đứng lớp cũng như đi dự giờ đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy cách xây dựng hệ thống câu hỏi trong từng tiết dạy tác phẩm văn chương nói chung và truyện dân gian Việt Nam nói riêng của giáo viên còn rất nhiều hạn chế, chưa phát triển được năng lực đặc biệt là năng lực đọc hiểu cho học sinh Có những tiết giáo viên chỉ đặt một loại câu hỏi duy nhất, câu hỏi rất dễ, học sinh không cần suy nghĩ, suy luận mà chỉ cần nhìn SGK đọc lên Chính vì thế mà khả năng tìm hiểu, suy nghĩ, phân tích của học sinh không có và sẽ dẫn tới tình trạng khi viết văn lời văn khô khan chỉ biết sao chép theo khuôn mẫu mà không có sự sáng tạo Bên cạnh đó, có những tiết giáo viên đặt rất nhiều câu hỏi vụn vặt, thậm chí gặp đâu hỏi đó, câu hỏi quá khó, hỏi “ tấn công” HS đến khi nào không trả lời được mới thôi Điều này dẫn tới tình trạng không khí lớp nặng nề,căng thẳng, không làm cho HS hứng thú, tích cực
Trang 40mà còn lo sợ mỗi khi giáo viên đặt câu hỏi Vậy làm thế nào để xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương nói chung và truyện dân gian Việt Nam nói riêng cho phù hợp Đây là vấn đề chúng tôi băn khoăn, trăn trở, muốn tìm ra giải pháp
để giúp giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy
1.2.2.4 Đánh giá về ưu điểm, lợi thế của của việc đặt câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu của học sinh
Từ trên đánh giá của GV về kỹ thuật đặt CH nhằm phát triển năng lực đọc hiểu của HS, chúng tôi cho rằng việc đặt CH nhằm phát triển năng lực đọc hiểu của HS có vai trò rất cần thiết Chúng tôi đã khảo sát và thu được kết quả sau:
Bảng 1.8: Đánh giá về ưu điểm, lợi thế của của việc đặt câu hỏi nhằm phát
triển năng lực đọc hiểu của học sinh
Stt
Nội dung
Không quan trọng
Ít quan trọng
Quan trọng
Rất quan trọng
1 HS phân tích được đặc điểm
nổi bật của các thể loại
truyện dân gian trong những
bài học cụ thể
2 HS thể hiện quan điểm cá
nhân trong cách tiếp nhận 0.0 0.0 52.5 47.5
3 HS thể hiện tốt kỹ năng đọc
4 HS tìm hiểu, sưu tầm về văn