ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THẾ VẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TO
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THẾ VẬN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy họcbộ môn Toán
Mã số:8140111
Người hướng dẫn khoa học:TS NGUYỄN ĐỨC HUY
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện được đề tài này, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Tiến
sỹ Nguyễn Đức Huy đã cùng đồng hành, giúp đỡ và có nhiều ý kiến quý báu với tôi trong quá trình làm đề tài
Tôi xin bày tỏ sự cám ơn đến Ban giám hiệu, Khoa Sư phạm, Phòng Đào tạo trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đề tài này không thể hoàn thành nếu không có được sự giúp đõ của Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh trường THPT Lương Thế Vinh, đặc biệt
là các em học sinh lớp 9T1 và 9T2 trường THCS &THPT Lương Thế Vinh là những người đã tham gia trong quá trình thực nghiệm của đề tài Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc của mình đến tất cả sự ủng hộ giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin cám ơn các thầy cô trong hội đồng phản biện, các thầy cô trong hội đồng chấm và các thầy cô dạy cao học đã cho tôi những ý kiến quý báu và sâu sắc giúp tôi hoàn thiện đề tài của mình
Cuối cùng, rất mong được sự tiếp tục góp ý kiến của các thầy, các bạn đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện đề tài của mình
Hà Nội tháng 12 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thế Vận
Trang 4CÁC CỤM TỪ ĐƢỢC VIẾT TẮT CHỦ YẾU TRONG LUẬN VĂN
Trang 5CÁC THUẬT NGỮ ĐƯỢC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Các thuật ngữ chỉ các công cụ và các bước tư duy được viết tắt cách dùng của Edward de Bono Nó không phải là thuật ngữ viết tắt đơn thuần của tiếng Anh hay tiếng Việt Do vậy chúng tôi để các thuật ngữ này ở một bảng chú thích riêng
APC Sự thay thế, khả năng và lựa chọn
PO Âm tiết thể hiện sự kích động trong lối tư duy khác lạ
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Các cụm từ được viết tắt chủ yếu trong luận văn ii
Các thuật ngữ được viết tắt trong luận văn iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ và hình ảnh viii
Mở đầu 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1.Tính phức hợp của tư duy 9
1.1.1 Khái niệm tư duy 9
1.1.2 Một số đặc điểm của tư duy 10
1.1.3 Tính phức hợp của tư duy 12
1.2 Kỹ thuật tư duy phức hợp của Edward de Bono 15
1.3 Năng lực phán đoán 21
1.3.1 Năng lực 21
1.3.3 Phán đoán 22
1.3.4 Năng lực phán đoán 23
1.4 Phát triển năng lực phán đoán trong dạy học hình học 24
1.4.1 Xem xét các yếu tố để phán đoán đưa ra nhiều phương án giải quyết vấn đề 24
1.4.3 Khái quát hóa để phán đoán đưa ra vấn đề mới 24
1.4.4 Sử dụng kỹ thuật phân tích ngược đưa ra phán đoán giải quyết vấn đề 24
1.4.5 Phán đoán thông qua bước nhảy của tư duy 25
1.4.6 Phán đoán trong học tập hợp tác 26
1.5 Nguyên tắc thiết kế phán đoán 27
1.6 Xây dựng năm bước tư duy phát triển năng lực phán đoán trong dạy học hình học ở trường THCS 28
1.7 Thực trạng dạy học phát triển năng lực phán đoán trong dạy học hình học ở trường THCS 29
Trang 71.7.1 Nội dung môn hình học ở trường THCS 29
1.7.2 Khảo sát giáo viên về thực trạng dạy học phát triển năng lực phán đoán ở trường THCS 31
1.7.3 Khảo sát học sinh về thực trạng dạy học phát triển năng lực phán đoán ở trường THCS 33
1.7.3.1.Khảo sát sự yêu thích môn toán của học sinh 33
1.7.3.2.Học sinh tự đánh giá về sự phát triển tư duy trong học toán 336
1.8 Dạy học sử dụng phán đoán trong dạy học hình học ở trường THCS 37
1.9 Tính cấp thiết củadạy học phát triển năng lực phán đoán của học sinh 37
1.9.1.Yêu cầu phát hiện vấn đề, kiến tạo kiến thức mới 37
1.9.2 Phát huy tính sáng tạo và tư duy phức hợp 37
Kết luận chương1 38
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG THCS 39
2.1 Xem xét hết các yếu tố phán đoán đưa ra nhiều phương án giải quyết vấn đề 39
2.2 Đặc biệt hóa để phán đoán đưa ra vấn đề mới 41
2.2.1 Đặc biệt hóa bài toán theo hướng BE và CD là các đường cao 41
2.2.2 Đặc biệt hóa theo hướng đường trung tuyến 48
2.4.Sử dụng kỹ thuật phân tích ngược đưa ra phán đoán giải quyết vấn đề 58
2.6.Phát triển năng lực phán đoán thông qua dạy học hợp tác 65
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm sư phạm 67
3.1.1.Mục đích 67
3.1.2.Yêu cầu 67
Trang 83.2.1 Thời gian thực nghiệm sư phạm 68
3.2.2.Quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm 68
3.2.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 68
3.3.Tiến trình thực nghiệm sư phạm 69
3.3.1.Nội dung thực nghiệm sư phạm 69
3.3.2.Tiến trình thực nghiệm sư phạm 69
3.3.3.Kết quả thực nghiệm sư phạm 78
Kết luận chương 3 85
Kết luận 86
Kiến nghị 89
Các công trình đã công bố của luận văn 89
Tài liệu tham khảo 89
Phụ lục 90
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các kỹ thuật tư duy phức hợp của Edward de Bono 15
Bảng 1.2: Năm bước tư duy phát triển năng lực phán đoán 28
Bảng 1.3: Mẫu khảo sát giáo viên về phát triển năng lực phán đoán trong dạy học hình học 30
Bảng 1.4: Kết quả khảo sát giáo viên về quan điểm và thực trạng phát triển năng lực phán đoán cho học sinh 31
Bảng 1.5: Đánh giá tổng hợp 31
Bảng 1.6: Mẫu khảo sát học sinh về năng lực phán đoán trước thực nghiệm 33 Bảng 1.7: Kết quả khảo sát 33
Bảng 1.8: Đánh giá tổng hợp về cảm nhận của học sinh với môn toán 34
Bảng 1.9: Học sinh tự đánh giá về sự phát triển tư duy trong học toán 35
Bảng 1.10: Đánh giá tổng hợp 35
Biểu đồ 1.3: Học sinh tự đánh giá thực trạng phát triển năng lực phán đoán 36 Bảng 3.1: Tiến trình thực hiện dự án 70
Bảng 3.2: Kết quả làm việc nhóm về một số giải pháp đo gián tiếp chiều cao của một vật 74
Bảng 3.3: Hiệu quả của mô hình dạy học phát triển năng lực phán đoán theo kỹ thuật tư duy phức hợp 78
Bảng 3.4: Đánh giá thái độ của học sinh với môn toán sau thực nghiệm 80
Bảng 3.5: Tự đánh giá về sự phát triển năng lực phán đoán của mình 82
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Biểu đồ 1.1: Thực trạng dạy học phát triển năng lực phán đoán 32
Biểu đồ 1.2: Đánh giá tổng hợp về cảm nhận 34
Biểu đồ 3.1:Đánh giá cảm nhận của học sinh 81
Biểu đồ 3.2: Tự đánh giá về sự phát triển 84
Hình vẽ 2.1 41
Hình vẽ 2.2 44
Hình vẽ 2.3 44
Hình vẽ 2.4 46
Hình vẽ 2.5 51
Hình vẽ 2.6 52
Hình vẽ 2.7 52
Hình vẽ 2.8 53
Hình vẽ 2.9 53
Hình vẽ 2.10 54
Hình vẽ 2.11 55
Hình vẽ 2.12 56
Hình vẽ 2.13 57
Hình vẽ 2.14 59
Hình vẽ 2.15 59
Hình vẽ 2.16 60
Hình vẽ 2.17 61
Hình vẽ 2.18 63
Hình vẽ 2.19 64
Hình vẽ 2.20 66
Hình vẽ 2.21 68
Hình ảnh 3.1 79
Hình vẽ 3.2 80
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môn toán ngoài việc cung cấp những kiến thức nền để học các môn khoa học tự nhiên, còn là môn học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy của người học
Cácphương pháp dạy học mới được áp dụng ở các trường phổ thông hiện nay như: Dạy học giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, dạy học hợp tác giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án….đã mang lại hứng thú học tập, phát huy được nhiều năng lực của học sinh như: Năng lực tính toán, năng lực thông tin và truyền thông, năng lực làm việc nhóm, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực ứng dụng vào thực tiễn,…Nhưng các phương pháp này vẫn chưa
đi sâu vào hướng dẫn học sinh "cách thức tư duy", mà vẫn để tư duy của học sinh phát triển một cách tương đối "tự nhiên" thông qua quá trình giải quyết các nhiệm vụ được giao
Trong thực tế bùng nổ thông tin và khả năng xử lý thông tin ngày càng tốt của máy tính như hiện nay,các kỹ năng phán đoán và lựa chọn quan trọng hơn nhiều so với thông tin ta có và khả năng xử lý theo thuật toán Do vậy,chúng ta cần dạy học sinh tư duy chứ không dạy thông tin, dạy trẻ học về nhận thức chứ không chỉ học về logic Học lối tư duy song song, đồng thuận chứ không chỉ tư duy phê phán, phản hồi [9]
Người học cần học về cả cách phán đoán, cần bồi dưỡng năng lực phán đoán chứ không chỉ mình suy luận logic, cần học để hiểu biết,sự hiểu biết phụ thuộc chặt chẽ vào cách nhận thức chứ không chỉ phụ thuộc vào thông tin được cung cấp."Phán đoán và ra quyết định có thể cóđược nhờ luyện tập mỗi ngày"[17]
Hiện nay,chủ yếu chúng ta vẫn dạy tư duytheo cách truyền thống chịu
Trang 12duy chú trọng về phê phán,miêu tả mà coi nhẹ việc suy đoán
Khác biệt cơ bản của phương pháp tư duyphức hợp mà cha đẻ của nó
là Edgar Morin là hình thành nên trí tuệ đa diện, không phân chia và phát triển tư duy toàn diện cho người học Edward de Bono đưa ra kỹ thuật tư duy song song, kiến tạo Phương pháp tư duy nàyđơn giản,người học có thể học được một cách trực tiếp, cũng có thể thông qua các môn học, nó khắc phục nhược điểm của cách tư duy đối đầu, phê phán, quá nặng về logic
Trong cuộc sống hàng ngày, con người vẫn thường xuyên phải phán đoán Trước khi chứng minh hay giải quyết một vấn đề toán học, chúng ta phải phán đoán nó " Tất nhiên chúng ta sẽ học chứng minh, nhưng chúng ta cũng sẽ học cả dự đoán nữa"[11]
Trong chương trình toán phổ thông, bắt đầu từ cấp học trung học cơ sở, học sinh bắt đầu học hình học với những suy luận, lập luận chặt chẽ, đây là điều rất cần thiết.Nhưng bên cạnh việc tư duy logic chặt chẽ, sự phán đoán, phỏng đoán để đưa ra các quyết định là rất cần thiết khi giải quyết các vấn đề của môn học và trong cuộc sống Năng lực phán đoán là một trong những năng lực rất cần thiết cho con người sinh tồn và có được cuộc sống tốt, là năng lực rất cần thiết cho người lao động trong thời đại ngày nay
Trước thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài"PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁNCỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ", thông qua các biện pháp phát triển năng lực phán đoán cho học sinh theo quan điểm tư duy phức hợp, áp dụng kỹ thuật tư duy của Edward de Bono, thực hiện vai trò chủ đạo trong việc phát triển "tri thức đa diện" cho học sinh Làm cho học sinh yêu thích học toán, để giờ học toán thật sự nhẹ nhàng và hấp dẫn với học sinh thông qua quá trình dạy học phát triển năng lực phán đoán của người học Phát triển các năng lực
tư duy toàn diện cho người học không chỉ bó buộc trong môn toán, mà trong mối liên hệ hai chiều với các môn khoa học khác Như giáo sư Tạ Quang Bửu
Trang 132.Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu
Aristotelessinhnăm 384 mất năm 322 trước công nguyên.Aristoteles,cùng với Socrates và Plato là bộ ba nhà triết học ảnh hưởng lớn nhất đến phương pháp tư duy cho đến ngày nay.Socrates chưa bao giờ là một nhà kiến tạo, mục đích chính của ông là "loại bỏ rác rưởi".Socrates cho rằng đấu tranh loại bỏ cái sai thì cuối cùng bạn sẽ tìm ra cái đúng.Điều này tạo ra niềm tin rằng chỉ ra cái sai còn quan trọng hơn tìm ra và xây dựng cái đúng.Plato chịu ảnh hưởng lớn của Socrates và Pythagoras, tin rằng việc giảng dạy toán học giúp phát triển tư duy của con người và nếu chúng ta cố gắng tìm kiếm, tiên đề luôn ở mọi nơi.Aristoteles là người sáng lập ra khoa học cần thiết nhất trong hoạt động tư duy của con người logic học hình thức với quy tắc tam đoạn luận nổi tiếng Aristoteles là người liên kết mọi thứvới nhau thành một hệ thống logic chặt chẽ trên cơ sở lý thuyết "Những cái ô".Những cái ô này là các định nghĩa hoặc các nhóm được sắp xếp dựa trên những kinh nghiệm Bất cứ khi nào chúng ta phải đương đầu với điều gì, chúng
ta phải xem nó ở ô nào Nếu cần thiết chúng ta phải phân tích tình huống, chia nó thành những phần nhỏ hơn để chia vào các ô Từ sự phân tích đó mà hệ thống lôgic chặt chẽ ra đời dựa trên quy luật đồng nhất, luật bài trung và quy luật cấm mâu thuẫn
Phương pháp tư duy truyền thống tập trung nhiềuvào miêu tả mà coi nhẹ suy đoán,niềm tin rằng chỉ tư duy mới tìm ra chân lý,còn suy đoán không tìm ra chân lý đã hạn chế sự sáng tạo.Tranh luận cũng không phải là cách sáng tạo để nghiên cứu vấn đề vì nó chỉ tập trung vào chiến thắng hơn là nghiên cứu bản chất của vấn đề.Tư duy đối đầu truyền thống tạo nên một xã hội với những mâu thuẫn mà bản thân nó chưa thể giải quyết triệt để.Chính điều này tạo ra những sự xung đột từ nhỏ đến lớn mà không có cách khắc
Trang 14lỗi là không thể triệt để [6]
Tư duy phức hợp hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nhiều nghành khoa học ở thế kỷ XX, đặc biệt là điều khiển học,lý thuyết thông tin, lý thuyết hệ thống, lý thuyết tự tổ chức."Tư duy phức hợp mong muốn đạt đến một tri thức đa diện, không bị xé vụn, không bị ngăn ô, không
bị quy giản,chấp nhận tính thiếu hoàn chỉnh và bất toàn của mọi tri thức".Phương châm ngay từ đầu của nó là "toàn vẹn là phi chân lý", nó chấp nhận nguyên lý bất toàn và bất định,chấp nhận mối liên kết giữa các thực thể
mà tư duy đơn giản nghĩ rằng cần phân biệt [9]
Trong các công trình của Edward de Bono ngoài chỉ ra phương pháp tư duy song song, tác giả còn chỉ ra 5 bước tư duy hiệu quả Khác biệt cơ bản của phương pháp tư duy mà Edward de Bono đưa ra là cách tư duy song song, kiến tạo, đó là cách tư duy đơn giản mà chúng ta có thể học được một cách trực tiếp, cũng có thể thông qua các môn học Điều này khắc phục nhược điểm lớn của lối tư duy truyền thống đối đầu, phê phán, quá nặng về logic
Một số luận văn hiện tại về "Năng lực phán đoán"chú trọng đến năng lực phán đoán xác định, tuân theo logic của tư duy logic truyền thống Sự phán đoán, phỏng đoán và đề ra các giả thuyết không thoát ra khỏi hệ thống
cũ, không sáng tạo ra được những cái thực sự mới.Chính sự yêu cầu chặt chẽ, yêu cầu lý giải mọi thứ bằng tư duy logic truyền thống trong hệ thống cũ đã hạn chế việc hình thành các mẫu của sự sáng tạocủa chúng ta
Trong học toán ở trường phổ thông, năng lực phán đoán là một năng lực cần phát triển trong tổ hợp các năng lực,giúp cho việc giải quyết các vấn
đề của môn toán dễ dàng hơn Khi các thông tin có sẵn là tương đối mờ, việc
sử dụng thông tin như thế nào là rất quan trọng Khả năng phán đoán có vai trò quyết định rất lớn khi giải quyết vấn đề trong trườnghợp này
Trong đề tài này, chúng tôi nhấn mạnh đến năng lực phán đoán là một
Trang 15hiện nay chưa dành cho nó một vị trí thực sự xứng đáng Theo quan điểm không phân chia của tư duy phức hợp thì năng lực phán đoán như chúng ta thường dùng, không tách rời khỏi các năng lực khác Do vậy trong đề tài này, chúng ta sẽ thấy năng lực phán đoán được hình thành, nảy sinh và phát triển
cả trong lòng của tư duy logic,tư duy phản biện, tư duy sáng tạo và trong cả nhận thức cảm tính và lý tính
4.Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
+Nghiên cứu về năng lực phán đoán của học sinh trong dạy học hình học ở trường THCS
+Tư duy phức hợp, các kỹ thuật tư duy phức hợp theo quan điểm của Edward de Bono
+Các biện pháp phát triển, bồi dưỡng năng lực phán đoán cho học sinh trong dạy học hình học ở trường THCS
4.2.Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hình học ở trường THCS và Năng lực phán đoán theo quan điểm tư duy phức hợp trong quá trình dạy học hình học ở trường THCS
4.3 Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu nội dung chương trình hình học ở trường THCS
+Vận dụng quan điểm tư duy phức hợp, kỹ thuật tư duy của Edward de Bono để hình thành và phát triển năng lựcphán đoán của học sinh trong dạy
Trang 16Trên cơ sở đặc trưng của môn học, đặc điểm nhận thức của học sinh và yêu cầu đổi mới PPDH, nếu đề xuất được những biện pháp sư phạm nhằm áp dụng các nguyên tắc của tư duy phức hợp, các kỹ thuật tư duy của Edward de Bono vào dạy học hình học theo hướng phát triển "Năng lực phán đoán" sẽ giúp hình thành và củng cố trí tuệ đa diện, khả năng phán đoán, tính sáng tạo, tính tích cực chủ động và khả năng tư duy của người học
6.Câu hỏi nghiên cứu
+Dựa trên cơ sở khoa học nào để xác định các biểu hiện cơ bản của năng lực phán đoán trong dạy học hình học ở trường THCS?
+Phạm vi sử dụng hoạt động phán đoán trong dạy học hình học ở trường THCS?
+Cơ sở khoa học nào để xác định các hoạt động thành phần và cấu trúc hoạt động phán đoán trong dạy học hình học ở trường THCS?
+Quy trình dạy học nhằm phát triển năng lực phán đoán bằng cách vận dụng kỹ thuật tư duy phức hợp bao gồm các bước cơ bản nào?
7.Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
7.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
+Nghiên cứu về năng lực phán đoán, tư duy phức hợp, kỹ thuật tư duy
của Edward de Bono
+Các vấn đề triết học,tâm lý học,giáo dục học, logic học có liên quan +Nghiên cứu về các sách giáo khoa môn toán, sách tham khảo môn toán, sách tham khảo, tạp chí toán học tuổi trẻ, tạp chí giáo dục, internet
7.2.Nhóm phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
+Xin ý kiến và sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn trong quá trình thực hiện
Trang 17+ Điều tra bằng bảng hỏi để khảo sát thực trạng vấn đề tư duy, năng lực
phán đoán của học sinh Các kỹ năng tư duy được hình thành qua học Toán, hứng thú của học sinh đối với môn Toán, năng lực phán đoán của người học trước và sau khi thực hiện đề tài
+Khảo sát những trải nghiệm của học sinh thông qua việc tiếp cận các tính huống dạy học theo hướng phát triển năng lực phán đoán trên quan điểm tưduy phức hợp
7.4.Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhóm phương pháp này nhằm mục đích:
+ Kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
+Kiểm nghiệm tính khả thi nhằm hoàn thiện, điều chỉnh các biện pháp
+Các biện pháp đưa ra nhằm phát triển năng lực phán đoán và tư duy
đa diện, phức hợp cho học sinh.Hướng đến nâng cao chất lượng dạy học theo hướng phát triển năng lực
+Thiết kế được bài dạy ôn tập môn hình học theo quan điểm tư duy phức hợp nhằm phát triển năng lực phán đoán, tính sáng tạo và tư duy đa diện của học sinh
Trang 18+Tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp nhằm phát triển năng lực phán đoán theo định hướng tư duy phức hợp thông qua dạy học hình học ở trường THCS
10.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2:Một số biện pháp sư phạm nhằm góp phần phát triển năng lực phán đoán cho học sinh thông qua dạy học hình học ở trường THCS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Tính phức hợp của tư duy
1.1.1.Khái niệm tư duy
Tư duy là một trong những biểu hiện tâm lý bậc cao, là quá trình hoạt động nhận thức của cá thể, được đặc trưng bởi sự phản ánh hiện thực một cách khái quát và gián tiếp [2]
Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều nghiên cứu liên nghành.Triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và tư duy, khả năng
và con đường nhận thức thế giới bằng quá trình tư duy Logic hình thức nghiên cứu các hình thức cơ bản của tư duy (khái niệm, phán đoán, suy luận)
Xã hội học nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử của tư duy trong sự phụ thuộc vào cấu trúc xã hội Sinh lý học nghiên cứu cơ chế thần kinh của các thao tác tư duy Điều khiển học nghiên cứu tư duy như là một quá trình thông tin, xác định cái những cái chung và cái khác biệt trong hoạt động của máy tính và tư duy của con người Tâm lý học nghiên cứu tư duy như một hoạt động nhận thức, phân loại các dạng tư duy trên cơ sở mức độ khái quát và đặc điểm sử dụng các công cụ, phương tiện trong quá trình tư duy, những cái mới đối với chủ thể , mức độ tích cực của chủ thể, mức độ phản ánh hiện thực một cách phù hợp, chính xác nhờ tư duy [2]
Người ta phân ra các loại tư duy như sau:Tư duy ngôn ngữ logic, tư duy trực quan hình ảnh và tư duy trực quan hành động Cũng có thể phân ra tư duy lý luận và tư duy thực tiễn, tư duy khoa học và tư duy kinh nghiệm; tư duy phân tích logic và tư duy trực giác; tư duy hiện thực và tư duy dựa trên trải nghiệm cảm xúc chủ quan thoát ly hiện thực; tư duy có chủ định tư duy và
tư duy không chủ định [2]
Theo Vũ Dũng và các quan điểm tâm lý học hiện đại: Tư duy con
Trang 20đích là một phần quan trọng trong tâm lý học tư duy và tâm lý học nhân cách Người ta nghiên cứu những quá trình chuyển những yêu cầu bên ngoài thành mục đích, sự lựa chọn một trong những yêu cầu được đưa ra, mối liên hệ giữa việc hình thành mục đích có chủ định và không chủ định, động thái thời giancủa quá trình hình thành mục đích, quá trình chuyển những dự đoán vô thức thành những mục đích có ý thức, quá trình phân tách các mục đích trung gian Tư duy được nghiên cứu như là sự giải thích các phản ứng, sự hiểu ngôn ngữ, sự tác động nhóm và xung đột Tư duy còn là một phần và đối tượng của tự ý thức
1.1.2.Một số đặc điểm của tư duy
Bohm,D(1990); De Bono,E(1985) và Kahneman,D(2011) đã phát hiện rất nhiều đă ̣c điểm thú vi ̣ của tư duy Theo các tác giả này thì quá trình tư duy vừa là một quá trình mang tính sinh lý học thần kinh, vừa là một quá trình mang trính trí tuệ vừa mang tính cảm xúc Quá trình này là một phần trong hệ thống tư duy của chúng ta Toàn bộ hệ thống tư duy của chúng ta đang vận hành thông qua một tập hợp các phản xạ Tư duy là một hệ thống tự tổ chức, mọi sự sáng tạo, cải tiến nếu vẫn nằm trong logic của hệ thống thì không thể thoát ra khỏi hệ thống đó Khi chỉ sử dụng tư duy logic, chúng ta có thể cải tiến vấn đề, đề ra các giả thuyết và tìm kiếm dữ liệu để kiểm tra nó, thế nhưng không tạo ra được điều gì thực sự mới Hệ thống tư duy là một tập hợp hết sức tinh vi các phản xạ vô hạn về tiềm năng Một khi đã được nhớ thì ngay cả quá trình logic cũng là một tập hợp các phản xạ.Việc bảo vệ sự vững chắc của
hệ thống là một phản xạ tự vệ giúp ngăn ngừa những bằng chứng làm nó yếu
đi Thói quen tư duy của chúng ta là đưa ra các câu trả lời và các lời giải thích nhanh và hợp logic cho các vấn đề cần giải quyết.Trong trường học hiện nay chúng ta thường bị hối thúc phải có câu trả lời và được khen thưởng nếu có câu trả lời đúng, vì vậy nếu không có câu trả lời đúng thì chúng phải đối diện với cảm giác khó chịu ở mức độ nào đó
Trang 21chỉnh sửa những phản xạ của mình".Chúng ta được dạy tư duy theo cách mọi thứ phải được làm đứt đoạn, phân loại, bóc tách, cắt rời ra.Điều đó làm tư duy chúng ta lâm vào trạng thái hỗn độn.Do vậy bên trong hệ thống tư duy của chúng ta có một lỗi, đó là "lỗi hệ thống".Các vấn đề thường xuyên nảy sinh bởi vì mọi người không theo dõi tư duy của mình Quá trình quan sát tư duy của mình giúp ta loại bỏ những phản xạ tự vệ tiêu cực Việc quan sát đó giúp
hệ thống tư duy có lỗi của chúng ta được nới lỏng ra, làm cho hệ thống này không còn vững chắc nữa, từ đó chúng ta có thể khắc phục được các lỗi hệ thống của nó [6]
Muốn tạo ra cái thực sự mới, con người cần thực hiện bước nhảy của tư duy, suy đoán, thoát ra khỏi hệ thống cũ để có th ể quay lại khắc phục lỗi của chính hệ thống đó Khi thực hiện bước nhảy này, chúng ta không có và không cần sự chứng minh logic, mối liên hệ nhân quả cho nó Những bước nhảy của
tư duy và các mẫu tư duy, các phản xạ được hình thành có chủ đích sẽ tạo nên tiền đề cần thiết của phán đoán sáng tạo Thực hành điều này thường xuyên sẽ tạo nên các mẫu cho sự sáng tạo Khi thực hiện điều này, chúng ta không kìm nén mà cho phép tồn tại một khoảng trống cho một tư duy mới mẻ không bị ràng buộc, cho phép tư duy có được một cuộc đối thoại Chúng ta không coi hệ thống tư duy là một hệ thống vững chắc tuyệt đối mà không gì xâm nhập được [6]
Sự phán đoán, tri giác không phụ thuộc vào các phản xạ có điều kiện của tư duy tạo nên bước nhảy đột biến của sự sáng tạo [8] Phát triển các ký hiệu và hệ thống, tạo ra các mẫu không phải tự nhiên của tư duy cho phép chúng ta có thể thực hiện một cách sáng tạo những công việc đồ sộ và khó khăn Các mẫu không phải là mẫu tự nhiên của tư duy bao gồm: quan điểm, nguyên lý, thói quen, công cụ, cấu trúc của tư duy Các mẫu này được hình thành một cách có chủ đích là tiền đề, là sự tập dượt cho sự sáng tạo Điều đó
Trang 22Quá trình dạy học hợp tác sử dụng các kỹ thuật tư duy của De Bono giúp ta hình thành cơ chế ngăn ngừa những phản xạ tự vệ tiêu cực, cho phép quan sát những mâu thuẫn, sự không mạch lạc của tư duy Cho phép những phán đoán vượt ra bên ngoài hệ thống xảy ra Bằng cách tác đ ộng vào các phản xạ để làm thay đổi quá trình tư du y.Việc chấp nhận và thực hiê ̣n nh ững lựa chọn có thể loại trừ lẫn nhau của tư duy là một sự biểu hiện đúng đắn của
tư duy hiệu quả
Tôn trọng tính tất yếu của tư duy là cần thiết, nhưng không có nghĩa là loại trừ tính ngẫu nhiên của nó Cần phải có sự tự do vừa mang tính tập thể vừa mang tính cá nhân của tư duy Khi đối thoại nhóm, các cá nhân cần phải đối thoại hợp tác, gạt bỏ việc quá đề cao cái tôi của mỗi cá nhân, loại bỏ cảm giác cái tôi của mỗi cá nhân bị tổn thương khi tranh luận [6]
Chúng ta cũng không thể đào một cái giếng mới bằng cách khoét thật sâu cái giếng mà chúng ta đang có Cú nhảy của tư duy cho phép chúng ta thoát ra khỏi những ý tưởng và nhận thức đã được thiết lập để tìm ra những ý tưởng mới Thoát ra khỏi hệ thống đang mắc lỗi của chính chúng ta và bước vào một hệ thống mới [6]
1.1.3 Tính phức hợp của tư duy
Theo Edgar Morin: Tính phức hợp là từ ngữ mang tính vấn đề chứ không phải là từ ngữ mang tính giải pháp
Tư duy phức hợp có ba đặc tính cốt yếu sau:
Thứ nhất: Tính phức hợp được hiểu là những gì liên kết với nhau, đan dệt
Trang 23rằng tính toàn vẹn là bất khả dĩ, chấp nhận nguyên lý bất toàn và bất định, chấp nhận mối liên kết giữa các thực thể mà tư duy đơn giản nghĩ rằng cần phải phân định.Chấp nhận tính phức hợp cũng là chấp nhận tính mâu thuẫn nội tại của tư duy Tính phức hợp không phải là chìa khóa để nhận biết vũ trụ
mà chỉ là thách thức cần đối mặt Tư duy phức hợp không phải là nhằm để né tránh hoặc thủ tiêu thách thức, mà là để giúp bộc lộ và vượt qua thách thức
Tư duy phức hợp chấp nhận tính đa chiều, chú trọng liên kết tri thức, thống nhất trong đa dạng
Thứ hai: Tính nhất quán và tính mở của tri thức luận
Tư duy phức hợp đòi hỏi phải có tri thức luận mở và ngược lại Ta cần hiểu tri thức luận không phải là cứ điểm cần chiếm lĩnh và đặt mọi tri thức dưới quyền kiểm soát tối cao, loại bỏ mọi lý thuyết đối nghịch và nắm độc quyền về kiểm chứng và chân lý Tất cả những điều bất định được đề cập đều phải mang ra đối chứng với nhau, chỉnh lý lẫn nhau, từng cái một đối thoại với nhau Mặc dù vậy chúng không loại trừ nhau, và không hy vọng qua đó sẽ
bịt được lỗ hổng cuối cùng
Thứ ba: Chuẩn thức của tính phức hợp
Chuẩn thức đóng vai trò đặc biệt trong nhận thức và tư duy của con người Mỗi cá nhân đều nhận thức, tư duy và hành động theo những chuẩn thức
đã ăn sâu trong họ Chuẩn thức thể hiện "toàn bộ tập hợp những niềm tin, những giá trị, những kỹ thuật mà mỗi cá nhân của một cộng đồng nhất định cùng chia sẻ" (Thomas.S.Kuhn) Edgar Morin cho rằng "chuẩn thức chứa đựng những khái niệm cơ bản, những phạm trù chỉ đạo của lý tính, cùng với những loại hình những quan hệ logic về phép hội, tuyển, kéo theo giữa những khái niệm hay phạm trù ấy" [9]
Tư duy phức hợp do Edgar Morin khởi xướng, nhưng nó là sản phẩm
Trang 24ngự trị của các phương pháp kiểm chứng kinh nghiệm và logic Ánh sáng của
lý tính dường như đã nhấn chìm tâm trí huyền thoại xuống tận đáy sâu Sự lầm lạc, ngu dốt, mù lòa vẫn vẫn luôn song hành với tri thức của chúng ta Nguyên nhân sâu xa không nằm ở những sai lầm về sự kiện (tri giác sai) hoặc sai phạm về logic mà nằm ở chính phương cách tổ chức tri thức của chúng ta thành hệ thống các ý niệm [8]
Mọi tri thức đều được vận hành theo lối lựa chọn những dữ kiện có ý nghĩa và vứt bỏ những dữ kiện không có ý nghĩa Phân tách, phân cấp và định tâm vào các khái niệm chủ đạo Các thao tác này bị chi phối bởi các nguyên
lý "siêu logic" trong việc tổ chức tư duy hoặc các siêu chuẩn thức Tư duy bị cắt xén dẫn đến những hành động cắt xén và những lỗ hổng lớn trong tư duy của chúng ta Descartes là người đầu tiên nêu bật tính nhị nguyên của tư duy giữa tính chủ thể và tính khách quan, nó coi sự loại trừ lẫn nhau giữa sự vật hiện tượng khách quan và tư duy chủ quan Nguyên lý nhị nguyên thể hiện bằng sự chia tách, chối bỏ và loại trừ lẫn nhau Những điều bị chia tách đang loại trừ lẫn nhau thực tế lại không thể tách rời nhau [7] "Thế giới khách quan nào có ý nghĩa gì đối với những ai tuân theo quyết định luật tuyệt đối của quy luật đạo đức [6], hoặc những kẻ sống trong run rẩy hiện sinh và lo âu [7]"
Tư duy là một hệ thống mở tự tổ chức Khả năng vượt trội của não người so với máy tính là khả năng làm việc với cái thiếu và cái nhòe, phải luôn chấp nhận một sự mơ hồ nào đó Quan điểm phức hợp đưa lại cho chúng
ta những phương tiện tự phê phán,tự do và sáng tạo, sự biện chứng hài hòa
Sự phán đoán,sự sáng tạo ra cái mới không lặp lại đúng logic theo nghĩa truyền thống
Do vậy trong đề tài này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích và hình thành năng lực phán đoán theo kiểu lặp lại đúng quy trình logic truyền thống Chúng tôi nhấn mạnh về sự phán đoán như là những chớp lóe của sự phát kiến Giáo dục theo quan điểm này, quan trọng nhất là "gieo những dấu ấn"
Trang 25những năng lực, phẩm chất hay kỹ năng tư duy,cung cấp những kiến thức cụ thể không thể chỉnh sửa được những lỗi tư duy hệ thống của chúng ta [8]
1.2.Kỹ thuật tư duy phức hợp của Edward de Bono
Các kỹ thuật này được tổng hợp lại từ các tài liệu [7]và [16] qua bảng 1.1 Các kỹ thuật này được sử dụng phù hợp giúp hình thành và phát triển tư
duy phức hợp, năng lực phán đoán của người học
Bảng 1.1: Các kỹ thuật tư duy phức hợp của Edward de Bono
Công cụ Đặc điểm Câu hỏi tình huống tư
duy
Vai trò khi áp dụng tronghoạt động tư duy Các thói quen tư duy
Khám phá và xem xét các khả năng:Thống nhất các giải pháp, quan điểm trái ngược khi giải quyết vấn
đề Giá trị Khi tư duy về
Khi đánh giá, phát triển và khai thác vấn đề
Cần có cái nhìn mới, cần
có nhiều hơn một phương án,cần thống nhất các quan
Trang 26Tiến lên Đi đến mô ̣t vị
Đi đến một giải pháp hay kết luận:Khi cần giải quyết vấn đề mà đã có cách giải quyết,cần xâu chuỗi, kết hợp các yếu tố đã có để tìm cách giải quyết vấn đề Tình
Khi cần thực thi các ý tưởng,tạo ra các khả năng thay thế
Khi xác định yếu tố chính của vấn đề,xem xét lại các cách giải quyết đã sử dụng
Các công cụ tư duy
Trang 27Khi cần xác lập mục tiêu
và mục đích của tư duy một cách tổng quát: Xác định mục tiêu, các thói quen tư duy cần hình thành, các kỹ năng làm việc cần có, mở rộng, khai thác vấn đề Xác lập các vấn đề cần giải quyết khi
Khi cần xem xét các khả năng, giải pháp đồng thuận, cần sự thay thế về mặt nhận thức và cách tiếp cận,khi bắt đầu và kết thúc vấn đề cần giải quyết: Nhìn nhận vấn đề theo nhiều cách khác nhau khi không
có hướng giải quyết hoặc cần khai thác thêm Chỉ ra cái chung của các cách giải quyết
CAF Cân nhắc mọi
gì đã bị bỏ qua? Ta còn
gì khác, có thể đưa thêm các nhân tố nào vào quá trình đang xét?
Khi cần đưa thêm yếu tố vào danh sách thông tin để giải quyết vấn đề:Xem xét lại những gì đã có,phát hiện các yếu tố đã bị bỏ qua,bổ sung, tạo ra các mối liên hệ mới chưa được phát hiện
Trang 28C&S Kết quả và
ảnh hưởng
Liệu nó có khả thi không?Lợi ích ở đây là gì? Những vấn đề nguy hiểm, chi phí ở đây là gì?
Xem xét kết quả và ảnh hưởng của mỗi quyết định, hành động: Xem xét lại kết quả thu được, áp dụng kết quả, cách làm vào giải
gì mà ta đang có
Khi chưa nhìn ra cách giải quyết vấn đề, bài toán và cần xác định rõ chìa khóa, những ưu tiên hàng đầu: Phát hiện ra vấn đề ưu tiên, chìa khóa, các cụm từ chủ chốt để tạo ra sự liên tưởng, tạo ra bước nhảy tư duy
PMI Ưu thế, điểm
yếu và sự chú
ý
Ưu điểm, nhược điểm của cái đang xét là gì là gì? Những điểm cần lưu
ý ?
Khi chưa lựa chọn, cần khám phá thêm trước khi đưa ra quyết định: Xem xét các yếu tố, các điểm cần lưu ý, khám phá, khai thác
Khi có nhiều ý kiến, giải pháp trái ngược nhau mà chưa có được sự thống nhất, hoặc có mâu thuẫn trong các giải pháp khác nhau
Sáu chiếc nón tư duy
Khi cần thông tin để:Phát hiện, tìm hiểu vấn đề, tìm hiểu thông tin để giải quyết vấn đề
Trang 29Khi cần sự phê phán để lựa chọn giải pháp hoặc đánh giá giải pháp:Phân tích, nhận xét về các giải pháp
đã có,đánh giá để hoàn thiện cách giải quyết vấn
Khi cần khám phá, đưa ra các ý tưởng mới, thực hiện
cú nhảy của tư duy: Phát triển, khai thác,đề ra các hướng đi mới Liên tưởng, tạo cú nhảy đột phá khi giải quyết vấn đề
Trang 30đi quá xa mục tiêu? Khi nào nên cho phép xảy ra
cú nhảy tư duy?
Khi cần lãnh đạo một nhóm làm việc, vạch ra kế hoạch làm một công việc lớn: Định hướng tổng thể, vạch ra quy trình làm việc,
sử dụng các công cụ hợp lý
để giải quyết vấn đề.Điều khiển làm việc hợp tác giải quyết vấn đề.Phát triển, khai thác vấn đề
Năm bước tư duy
TO Chỉ mục đích
tư duy
Chúng ta sẽ đi đâu? Ta đang hướng tới điều gì?
Đích của ta là gì? Ta muốn kết thúc thế nào, với điều gì?
Khi bắt đầu và kết thúc công việc: Xác lập các vấn
đề cần giải quyết khi tư duy mũ trắng Xác định mục tiêu,các thói quen tư duy, các kỹ năng làm, mở rộng, khai thác khi giải quyết vấn đề
là gì?Hoàn cảnh tư duy là gì?
Khi tìm kiếm thông tin, lựa chọn thông tin: Tìm hiểu thông tin, khác với tư duy
mũ trắng thuần túy là thu thập thông tin, ở đây có sự lựa chọn, phân loại, tìm thông tin theo chủ đích.Xác định các thông tin
mà mình cần
Trang 31PO Suy đoán,tạo
sinh, cú nhảy
tư duy
Chúng ta thực hiện nó như thế nào?Giải pháp gì? Phương án thay thế là gì?
Khi cần sựđột phá, sáng tạo: Liên tưởng, đề xuất các giải pháp mang tính đột phá, sáng tạo, đề xuất giải pháp mới, phát triển, khai thác vấn đề
Khi cần quyết định và lựa chọn:Lựa chọn cách giải quyết vấn đềphù hợp
Cụ thể các ý tưởng được đề
xuất ở bước PO
GO Đây là bước
hành động
Tôi sẽ làm gì với nó?Cái
gì tiếp theo?Từ suy nghĩ của ta, điều gì sẽ xảy ra?Từ đây có thể đi đến đâu?Kế hoạch hành động là gì?Làm thế nào
để thực hiện ý tưởng, kiểm soát sự phát triển?
Khi chuẩn bị hành động giải quyết vấn đề, khai thác, phát triển bài toán:Lập kế hoạch hành động, đánh giá về những gì đạt được.Hành động giải quyết vấn đề sau khi đã có lựa chọn ở bước PO Phát triển, khai thác vấn đề
1.3.Năng lực phán đoán
1.3.1.Năng lực
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo hay các phẩm chất tâm lý của cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một hoạt động nhất định [2]
Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê thì "Năng lực là phẩm chất tâm
lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào
đó với chất lượng cao"
Trang 32nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa, khái quát hóa, tưởng tượng, suy luận, suy đoán, linh cảm, đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề.
1.3.2.Năng lực tư duy toán học
Năng lực suy luận cho phép giải quyết các nhiệm vụ mà không cần các thao tác thử nghiệm ban đầu Năng lực suy luận cho phép hiểu được mối liên
hệ giữa những nhân tố khác nhau của hoàn cảnh và từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn bằng con đường suy luận[2]
Năng lực tư duy toán học là năng lực nhận biết ý nghĩa và vai trò của toán học trong cuộc sống, khả năng vận dụng tư duy toán học giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt
Theo Nguyễn Bá Kim:Môn Toán có khả năng to lớn trong phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh Phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh trong môn toán thể hiện ở bốn mặt sau:
Thứ nhất: Rèn luyện tư duy logic và tư duy ngôn ngữ
Thứ hai: Phát triển khả năng suy đoán và tường tượng
Thứ ba: Rèn luyện những hoạt động trí tuệ cơ bản
Phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, đặc biệt hóa, tương tự
Thứ tư: Hình thành những phẩm chất trí tuệ
Tính linh hoạt, độc lập, sáng tạo, khả năng hợp tác [5]
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung vòa việc phát triển khả năng suy đoán, năng lực phán đoán của người học
1.3.3.Phán đoán
Tác giả Mason cho rằng" Dự đoán là một ý kiến, một nhận định có lý nhưng tính đúng đắn vẫn chưa được kiểm chứng, hoặc đi đến một kết luận, một quan điểm từ những chứng cứ không đầy đủ"
Theo Macleod Clark và Hockey(1981) thì "giả thuyết là phát biểu hoặc sự giải thích được đề xuất bởi sự quan sát hoặc tri thức chưa được chứng minh"
Phán đoán là hình thức logic của tư duy,trong đó các khái niệm được liên kết với nhau để khẳng định hay phủ định một dấu hiệu nào đó của đối
Trang 33báo.Do đó phán đoán chưa được xác định về mặt giá trị logic của nó
Phán đoán ở đây được chúng tôi sử dụng theo nghĩa bao hàm cả "dự đoán", "suy đoán", "giả thuyết".Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê thì "Dự đoán có nghĩa là khả năng đoán trước tình hình, sự việc nào có thể xảy ra"
Chúng tôi theo quan điểm là xét về bản chất logic thì dự đoán, giả thuyết, suy đoán đều là phán đoán
1.3.4.Năng lực phán đoán
TheoKant,I thì "Năng lực phán đoán là một năng lực nhận thức, là cái tạo nên khâu trung gian giữa giác tính và lý tính trong trật tự của các quan năng nhận thức của chúng ta" [8]
Cũng theo Kant,I thì năng lực phán đoán được chia thành hai loại:
Thứ nhất: Năng lực phán đoán xác định
Năng lực phán đoán nói chung là khả năng suy tưởng cái đặc thù như là được chứa đựng bên dưới cái phổ biến Nếu cái phổ biến (quy tắc, nguyên tắc, quy luật) đã được mang lại, thì năng lực phán đoán làm công việc thâu gồm cái đặc thù vào dưới cái phổ biến ấy được gọi là năng lực phán đoán xác định
Thứ hai: Năng lực phán đoán phản tư
Ngược lại nếu chỉ cái đặc thù được mang lại và còn phải đi tìm cái phổ biến cho nó, thì năng lực phán đoán được gọi là năng lực phán đoán phản tư
Do vậy năng lực phán đoán phản tư có nhiệm vụ đi từ cái đặc thù trong
tự nhiên tiến lên cái phổ biến lại cần đến những nguyên tắc riêng của nó Các nguyên tắc này không thể vay mượn từ kinh nghiệm, không thể phục tùng hệ thống có sẵn Năng lực phán đoán phản tư chỉ có thể sử dụng quy luật từ chính mình và cho chính mình, nó không thể vay mượn từ nơi nào khác như năng lực phán đoán xác định [8]
Ở đây chúng tôi tuân theo các khái niệm chung về năng lực phán đoán của Kant,I Nhưng chúng tôi tuân theo quan điểm là: Khi sử dụng năng lực
Trang 34hoặc cả hai theo tính hợp mục đích [8]
Năng lực phán đoán theo chúng tôi là"Hành động của chủ thể tìm ra giả thuyết, biện pháp , dự đoán mới để giải quyết vấn đề"
1.4.Phát triển năng lực phán đoán trong dạy học hình học
1.4.1.Xem xét các yếu tố để phán đoán đưa ra nhiều phương án giải quyết vấn đề
Để đưa ra được các phán đoán thì năng lực quan sát, tri giác, khả năng thu thập và xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng Đôi khi sự bế tắc được giải quyết bằng cách xem xét lại các yếu tố đã bị bỏ qua (Sử dụng công cụ CAF, )
Khả năng nhìn lại vấn đề, khai thác hết những tài nguyên mà mình có Khai thác những gì tưởng như sai lầm một cách khéo léo là một trong những kỹ năng tư duy cần thiết để có năng lực phán đoán tốt Việc tận dụng các ý tưởng, xem xét lại các giải pháp mà ta đã bỏ đi nhiều khi lại mang lại các lợi ích to lớn
mà các con đường tưởng như đúng đắn ban đầu không mang lại được
1.4.2.Đặc biệt hóa để phán đoán đưa ra vấn đề mới
Kỹ thuật đặc biệt hóa là một trong các kỹ thuật cơ bản của tư duy để giải quyết vấn đề Kỹ thuật tư duy này là một trong các cách hiệu quả nhất để đưa ra giải pháp ở bước "Đề xuất" và "Khai thác" trong 5 bước tư duy
Đưa ra vấn đề khi sử dụng kỹ thuật đặc biệt hóa trong phán đoán thuộc năng lực phán đoán xác định.Kỹ thuật này giúp ta đưa ra các giải pháp dựa theo quy luật nhân quả, quy luật logic Là một trong các kỹ thuật được sử dụng nhiều và ứng dụng rộng rãi
1.4.3.Khái quát hóa để phán đoán đưa ra vấn đề mới
"Những người có tư duy tốt có khả năng chuyển từ cái khái quát thành cái chi tiết, từ cái chung thành cái cụ thể và cả điều ngược lại bất cứ lúc nào Khả năng chuyển từ cái chi tiết sang cái khái quátlà một trong những năng lực quan trọng của tư duy" [7]
Trang 35Kỹ thuật phân tích ngượclà một trong các kỹ thuật đầu tiên và cơ bản nhất mà của tư duy để giải quyết vấn đề
Các kỹ thuật tư duy này là một trong các cách hiệu quả nhất để đưa ra giải pháp ở bước "Đề xuất" và "Lựa chọn", "Thực hiện" trong năm bước tư duy mà chúng tôi sẽ nói đến ở phần sau Đặc biệt hữu ích trong việc "Đề xuất" và "Lựa chọn" các phương án giải quyết vấn đề
Kỹ thuật này là một trong những kỹ thuật thuộc nhóm năng lực phán đoán xác định.Việc sử dụng tốt kỹ thuật này giúp người học hình thành và củng cố tư duy logic Giúp người học nhìn vấn đề một cách sáng tỏ và có tính
hơn các con đường ngắn nhất để đi đến đích [7]
1.4.5.Phán đoán thông qua bước nhảy của tư duy
Theo Edward de Bono:
Giả thuyết, tiên đoán và khiêu khích là những kỹ năng tư duy quan trọng với bất kỳ sự tiến bộ, thay đổi, sáng tạo nào Cho phép tạo ra các giả thuyết, tiên đoán và khiêu khích giúp học sinh được "chơi" trong tâm trí của chúng Chúng ta thực hiện những suy nghĩ thí nghiệm trong tâm trí
Theo kiểu tư duy logic thông thường, chúng ta tiến lên từ vị trí hiện tại đến vị trí tiếp theo với đầy đủ lý do hợp logic Chúng ta cứ tiến dần từ A đến
B sau đó từ B đến C Với kiểu tư duy logic thông thường thì vị trí của ta tại bất kỳ một thời điểm nào đều được xác định bởi vị trí trước đó theo quy luật nhân quả Mỗi vị trí được xác định một cách rõ ràng bởi vị trí trước đó và sự trợ giúp logic rõ ràng
Trang 36Chúng ta có thể đề ra một kho những giả thuyết và các dữ liệu để kiểm tra các giải thuyết ấy, thế nhưng tất cả những điều ấy không tạo ra điều gì mới mẻ
Chúng ta cần những cú nhảy của tư duy và các mẫu cho phép các cú nhảy đó xảy ra, đó chính là sự phán đoán sáng tạo
Khi tiến lên phía trước theo những bước nhảy, ta có thể nhảy từ A đến
D sau đó kéo theo B và C Ở đây chúng ta có thể nhảy đến bất kỳ bước nào, nhiều khi chúng ta có mặt tại một vị trí A mà nó hoàn toàn không thể xác định được bởi các vị trí trước đó theo luật nhân quả, theo các quy tắc logic thông thường Mọi sự lý giải cho hợp lý sau này chỉ là một cách hợp thức hóa cho phù hợp với tư duy logic thông thường của chúng ta Bước nhảy này được thực hiện bởi sự liên tưởng, tiên đoán, khiêu khích, suy đoán và quan trọng hơn nữa bởi các "mẫu" được hình thành cho kiểu tư duy này [7]
Do vậy trong kiểu tư duy này, ta "mô phỏng lại"quá trình sáng tạo, tạo nên các bước nhảy lượng tử của của sự sáng tạo Trong thực tế, rất nhiều khi công việc cần ta đưa ra những hành động không dựa trên sự chắc chắn logic
mà dựa trên sự suy đoán hợp lý
Bước nhảy tư duy cho phép ta mở ra các khả năng mới Cho phép ta tiến lên phiá trước với những điều mới mẻ Bước nhảy này cho phép ta thoát
ra khỏi hệ thống những gì đang có, từ đó có thể quay lại khắc phục chính những lỗi hệ thống của hệ thống tư duy mà chúng ta đã sử dụng Nếu không
có bước nhảy này, một vấn đề vẫn có thể được cải tiến Nhưng thực chất sự cải tiến vẫn là trong hệ thống cũ, chúng ta không thể tạo ra được một điều gì
đó thực sự mới mẻ
Khi chúng ta thực hiện bước nhảy với sự suy đoán, chúng ta không có được sự chứng minh cho cú nhảy đó Với sự khiêu khích, chúng ta cũng không cần phải có lý do Không có một mối liên hệ nhân quả nào thực sự rõ ràng để làmlý do hợp logic cho cú nhảy, cho sự suy đoán của chúng ta
1.4.6.Phán đoán trong học tập hợp tác
Quá trình dạy học hợp tác sử dụng các kỹ thuật tư duy của De Bono
Trang 37quan sát những mâu thuẫn, sự không mạch lạc của tư duy Cho phép những phán đoán vượt ra bên ngoài hệ thống xảy ra Bằng cách tác đ ộng vào các phản xạ để làm thay đổi quá trình tư duy Việc chấp nhận và thực hiê ̣n nh ững lựa chọn có thể loại trừ lẫn nhau của tư duy là một sự biểu hiện đúng đắn của
tư duy hiệu quả
Tôn trọng tính tất yếu của tư duy là cần thiết, nhưng không có nghĩa là loại trừ tính ngẫu nhiên của nó Cần phải có sự tự do vừa mang tính tập thể vừa mang tính cá nhân của tư duy Khi đối thoại nhóm, các cá nhân cần phải đối thoại hợp tác, gạt bỏ việc quá đề cao cái tôi của mỗi cá nhân, loại bỏ cảm giác cái tôi của mỗi cá nhân bị tổn thương khi tranh luận [6]
1.5.Nguyên tắc thiết kế phán đoán
Lin, Hsu, Yang và cộng sự (2011), từ nguyên tắc thiết kế liên quan đến phán đoán của Canadas và cộng sự, đã đề xuất các nguyên tắc chủ yếu liên quan đến thiết kế phán đoán như sau:
Nguyên tắc 1:Nguyên tắc quan sát
Các nhiệm vụ phán đoán mang đến cho học sinh cơ hội quan sát các trường
hợp riêng để có thể phát hiện ra quy tắc, quy luật, đề ra giả thuyết nào đó
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc xây dựng
Các nhiệm vụ phán đoán nên tạo điều kiện để học sinh xây dựng kiến
thức mới dựa trên kiến thức cũ
Nguyên tắc 3:Nguyên tắc biến đổi
Nhiệm vụ quan sát nên tạo điều kiện cho học sinh biến đổi các thuật toán, quy tắc, phát biểu, công thức thành cái mới
Nguyên tắc 4:Nguyên tắc suy xét
Các phán đoán được đưa ra có thể thiếu tin cậy.Do đó trong thiết kế nhiệm vụ phán đoán cần chú ý đến việc suy xét nhằm điều chỉnh các phán đoán chưa chính xác, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì và tư duy phản biện
Trang 38định và nặng về tư duy logic Chưa có sự chú trọng cần thiết đến năng lực phán đoán phản tư và tư duy phức hợp Xuất phát từ điều đó, chúng tôi đưa thêm các nguyên tắc sau khi thiết kế phán đoán
Nguyên tắc 5:Bước nhảy của tư duy
Nhiệm vụ phán đoán nên chú trọng nhất đến việc tạo ra bước nhảy của
tư duy, tạo điều kiện để người học lóe lên những ánh chớp của tư duy
Nguyên tắc 6:Nguyên tắc đa diện
Nhiệm vụ phán đoán nên đưa ra để người học có thể có nhiều phán đoán khác nhau Những kiểu quan sát, tư duy khác nhau có thể đưa ra các
phán đoán khác nhau Càng nhiều phán đoán khác nhau càng tốt
Nguyên tắc 7:Nguyên tắc tôn trọng và hợp nhất
Nhiệm vụ phán đoán đưa ra theo nguyên tắc 6 càng có nhiều phán đoán càng tốt Nhưng chúng ta nên thiết kế nhiệm vụ theo cách mà người học chấp nhận những phán đoán có thể trái chiều nhau, cùng thảo luận và đưa ra được các phán đoán bao trùm tất cả những vấn đề tưởng như là mâu thuẫn, trái
Bảng 1.2: Năm bước tư duy phát triển năng lực phán đoán
TO
LO
Trọng tâm và mục đích
Xác định vấn đề, yêu cầu, trọng tâm
và mục tiêu cần giải quyết Tìm kiếm thông tin về vấn đề cần giải quyết
Trang 39Đề
xuất
lá cây, đỏ PMI
APC OPV
PO logic, nhận
thức
nhiều góc nhìn khác nhau.Đề ra các giải pháp giải quyết vấn để Xem xét vấn đề theo các tình huống khác nhau
huống
Lựa chọn giải pháp.Thống nhất các giải pháp để tạo ra giải pháp mới
và chi tiết Thực thi các giải pháp, giải quyết vấn đề
PO
Kết quả và kết luận, giá trị, đồng thuận
Đánh giá, bài học kinh nghiệm, vận dụng kết quả vào giải quyết các vấn
đề khác.Đề xuất hướng khai thác, cách giải quyết khác
1.7.Thực trạng dạy học phát triển năng lực phán đoán trong dạy học Hình học ở trường THCS
1.7.1.Nội dung môn Hình học ở trường THCS
Trước khi bắt đầu học hình học theo một hệ thống chặt chẽ tiên đề, học sinh
đã được làm quen với các hình hình học ở trường Tiểu học
Chương trình Hình học ở trường THCS gồm:
+ Một số khái niệm ban đầu về Hình học phẳng
+ Góc giữa hai đường thẳng: Vị trí tương đối giữa hai đường thẳng, hai đường thẳng song song, các góc tạo bởi 1 đường thẳng cắt hai đường thẳng
+ Các kiến thức về Tam giác: Khái niệm về tam giác, hai tam giác bằng nhau Các trường hợp bằng nhau của tam giác Quan hệ giữa cạnh và góc trong tam giác Tính chất các đường đồng quy của tam giác Tam giác đồng dạng, các trường hợp đồng dạng của hai tam giác Khái niệm tỷ số lượng giác của góc nhọn, định lý Pythagoras và hệ thức lượng trong tam giác vuông
+ Tứ giác và Đa giác: Khái niệm đa giác, tứ giác Định nghĩa và tính chất, dấu hiệu nhận biết: Hình thang, hình thang cân, hình bình hành, hình
Trang 40của đường thẳng và đường tròn, vị trí tương đối của hai đường tròn.Tiếp tuyến của đường tròn Các loại góc trong đường tròn: Góc ở tâm, góc nội tiếp, góc tạo bởi tiếp tuyến và dây cung, góc có đỉnh ở trong và ngoài đường tròn
Đa giác nội tiếp và ngoại tiếp đường tròn Công thức tính chu vi đường tròn
và độ dài cung tròn Công thức tính diện tích hình tròn và diện tích hình quạt tròn
+ Nhận biết một số vật thể trong không gian(Hình lăng trụ, hình lăng trụ đứng, hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình chóp đều, hình chóp cụt đều, hình trụ,hình nón , hình cầu).Qua đó dần hình thành một số khái niệm cơ bản của hình học không gian
Mạch ứng dụng của Hình học là: Biết sử dụng các dụng cụ đo, có kỹ năng vẽ hình, kỹ năng sử dụng kiến thức hình học để thực hành đo đạc, giải các bài toán thực tế Không xây dựng hình học như một khoa học suy diễn đơn thuần[1]
1.7.2.Khảo sát giáo viên về thực trạng dạy học phát triển năng lực phán đoán ở trường THCS
Khảo sát trên 35 giáo viên dạy môn toán khối THCS tại trường THPT Lương Thế Vinh về dạy học phát triển năng lực phán đoán qua bảng hỏi G (xem phần phụ lục).Với nội dung phiếu nhằm mục đích khảo sát thực trạng về:
+ Quan điểm liên quan đến dạy học phát triển năng lực phán đoán
+ Thực trạng, cách làm để phát triển năng lực phán đoán cho người học trong quá trình dạy học
Bảng 1.3: Mẫu khảo sát giáo viên về phát triển năng lực phán đoán trong
dạy học hình học
Khảo sát quan điểm, thực trạng dạy học phát triển NLPĐ
Phân bố Giới tính Độ tuổi Trình độ được đào tạo
Nam Nữ Dưới 45 Trên 45 Đại học Trên đại học