1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hướng dẫn đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11, trung học phổ thông : Luận văn ThS. Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn : 60 14 10

127 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tình hình đọc hiểu văn bản văn học nói chung và đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 nói riêng Sự ra đời của lý thuyết đọc hiểu trên thế giới và sự xâm nhập lý thuyết đó v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ PHƯỢNG

H¦íNG DÉN §äC HIÓU TH¥ TR÷ T×NH TRUNG §¹I VIÖT NAM LíP 11 TRUNG HäC PHæ TH¤NG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ PHƯỢNG

HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU THƠ TRỮ TÌNH TRUNG ĐẠI VIỆT NAM LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học

(Bộ môn Ngữ văn)

Mã số : 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hoàn

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu và tổ chuyên môn Ngữ văn trường THPT Gia Lộc II, tỉnh Hải Dương, nơi tôi dang công tác, đã động viên

và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tôi học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng hoàn thành luận văn song cũng không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để chúng tôi có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu này

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Tác giả

Đỗ Thị Phượng

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT CỦA LUẬN VĂN

GV : Giáo viên

HS : Học sinh THPT : Trung học phổ thông TPVC : Tác phẩm văn chương VHTĐ : Văn học trung đại

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt của luận văn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 11

1.1 Cơ sở lí luận 11

1.1.1 Đọc hiểu với bộ môn Ngữ văn trong nhà trường THPT 11

1.1.2 Thơ trữ tình trung đại Việt Nam 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 11 Trung học phổ thông 24

1.2.2 Tình hình dạy học tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở nhà trường THPT Việt Nam hiện nay 25

1.2.3 Khảo sát thực tiễn 30

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP ĐỌC -HIỂU THƠ TRỮ TÌNH TRUNG ĐẠI VIỆT NAM LỚP 11 36

2.1 Những định hướng tổ chức hoạt động đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 36

2.1.1 Đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 theo hướng tích hợp và tích cực 36

2.1.2 Đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 nhằm bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ nghệ thuật cho học sinh 43

2.1.3 Đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 nhằm bồi dưỡng nền tảng văn hóa trung đại cho học sinh 48

2.2 Những biện pháp đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 50

Trang 6

2.2.1 Bám sát đặc trưng thi pháp thể loại thơ trữ tình trung đại 50

2.2.2 Cắt nghĩa, chú giải, phân tích, bình giá thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 62

2.2.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi sáng tạo 76

2.2.4 Tăng cường bài tập liên hệ 80

Tiểu kết chương 2 85

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86

3.1 Mô tả thực nghiệm 86

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 86

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 86

3.2 Kế hoạch thực nghiệm 86

3.2.1 Thời gian thực nghiệm 86

3.2.2 Quy trình tiến hành thực nghiệm 86

3.3 Thiết kế thực nghiệm 87

3.3.1 Vận dụng các biện pháp đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 vào thiết kế giáo án và tổ chức dạy học bài thơ Tự tình II 87

3.3.2 Vận dụng các biện pháp đọc - hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 vào thiết kế giáo án và tổ chức dạy học bài thơ Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) 101

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 109

3.4.1 Kết quả kiểm tra các bài dạy thực nghiệm 109

3.4.2 Đánh giá thực nghiệm 112

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114

1 Kết luận 114

2 Khuyến nghị 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Kết quả bài dạy thực nghiệm 109Bảng 3.2 Kết quả bài dạy đối chứng 109Bảng 3.3 Bảng tổng hợp, so sánh kết quả bài dạy thực nghiệm với bài

đối chứng 110Bảng 3.4 Kết quả bài dạy thực nghiệm 111Bảng 3.5 Kết quả bài dạy đối chứng 111Bảng 3.6 Bảng tổng hợp, so sánh kết quả bài dạy thực nghiệm với bài

đối chứng 111

Trang 8

đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là: “Đổi mới chương trình giáo

dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật Giáo dục; khắc phục vụ những mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường tính thực tiễn,

kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường, Sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lí giáo dục”

Với định hướng đổi mới như trên, trong cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa và mục tiêu, phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn đã có sự thay đổi rõ rệt

Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông hiện nay

là bồi dưỡng và nâng cao thêm một bước năng lực văn học cho học sinh, trong

đó có năng lực đọc - hiểu văn bản Chính vì thế chương trình được xây dựng theo hai trục tích hợp: đọc văn và làm văn Với nguyên tắc tích hợp, chương trình hiện nay vẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc nhưng mỗi giai đoạn sẽ lựa chọn ra những thể loại tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn bản mẫu cho việc dạy học đọc - hiểu Theo tinh thần này dạy học văn có nhiệm vụ kép: thông qua dạy kiến thức mà trang bị và rèn luyện cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các em có thể tự mình đọc và hiểu những văn bản khác

Cùng với việc xác định lại mục tiêu của việc dạy học văn, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học một lần nữa được nhắc đến Đó là đổi mới phương pháp

Trang 9

dạy học theo những yêu cầu của quan điểm dạy học tích cực, tích hợp và tương tác của lí luận dạy học ngày nay Theo quan điểm dạy học tích cực, giáo án không còn là phương án trình diễn hoạt động giảng dạy của giáo viên, không còn

là kịch bản độc diễn của người dạy để bằng cách đó giáo viên mang tới cho học sinh những kết luận có sẵn, mà là bản thiết kế các hoạt động dạy xuất phát từ nhiệm vụ học tập của học sinh, khơi dậy năng lực tự học và giúp các em có cơ hội tự mình chiếm lĩnh các tri thức, kĩ năng trong bài học

1.2 Từ tình hình đọc hiểu văn bản văn học nói chung và đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 nói riêng

Sự ra đời của lý thuyết đọc hiểu trên thế giới và sự xâm nhập lý thuyết đó vào Việt Nam những năm gần đây đã ảnh hưởng nhiều đến phương hướng nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn chương trong nước GS.TS Nguyễn Thanh

Hùng cho rằng: “Đọc hiểu là một địa hạt mới, gợi ra nhiều vấn đề khoa học để

phương pháp dạy học văn phát triển thêm về mặt lý luận và vận dụng thực tế Đọc hiểu cần tách ra khỏi vòng kiểm soát chật hẹp của phương pháp để trở thành nội dung tri thức chung gắn liền với lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học, lý luận dạy học ngữ văn”

Quá trình đọc văn bản góp phần quan trọng bồi dưỡng tư tưởng, tình

cảm của học sinh Sách giáo khoa Ngữ văn 10 có khẳng định “Từ những văn bản

đọc, học sinh được giáo dục và tự giáo dục lòng yêu nước, tinh thần nhân văn, lí tưởng sống cao đẹp, thị hiếu thẩm mĩ tốt, có phẩm chất văn hóa cá nhân, có cá tính lành mạnh, từng bước hình thành nhân cách người lao động mới” Vì vậy,

rèn luyện năng lực đọc hiểu là một khâu then chốt của quá trình dạy học văn nhằm đáp ứng nhiệm vụ đổi mới chương trình, sách giáo khoa mới bậc phổ thông trung học Thực tiễn cho thấy, đọc là một hình thức hữu hiệu nhất để người đọc tiếp thu tri thức nhân loại, mở mang hiểu biết nhất là trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay Trong nhà trường, đọc hiểu là một cách thức quan trọng để phát huy tính tích cực chủ động của bạn đọc học sinh, biến việc dạy của một người thành việc đọc của nhiều người, thay thế phương pháp dạy truyền thống thầy giảng trò ghi

Trang 10

Xác định rõ vai trò của đọc hiểu như vậy nhưng trong nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu

rõ bản chất của đọc hiểu và có những biện pháp đọc hiểu phù hợp Vấn đề này tưởng như là mâu thuẫn, bởi chương trình sách giáo khoa mới đã đi được chặng đường hơn 10 năm

Ở phương diện lý luận, hiện nay các sách tham khảo, tài liệu chuẩn kiến thức - kĩ năng, các bài viết đăng trên tạp chí… đều đề cập đến đọc hiểu Nhưng giữa các tác giả vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về thuật ngữ này Có tài liệu

ghi là “đọc - hiểu” Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn (10, 11, 12) của Nguyễn Trọng Hoàn, Dạy học văn là dạy học sinh đọc - hiểu văn bản của Trần Đình Sử, nhưng cũng có tài liệu ghi “đọc hiểu” Mấy suy nghĩ về đọc hiểu văn bản của Quách Duy Bình, Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học nhằm hình thành khái niệm

phong cách nhà văn cho học sinh của Đỗ Tiến Sĩ Ở đây không phải là sai sót

trong cách viết hay lỗi kỹ thuật đánh máy mà xuất phát từ quan niệm của người viết Như vậy, chúng ta thấy rằng ngay cả một thuật ngữ có thể nói là phổ biến hiện nay vẫn có những quan niệm, cách viết không giống nhau

Ở phương diện thực tiễn, có thể thấy rằng từ khi vấn đề đọc hiểu được áp dụng vào dạy học văn đã xuất hiện nhiều mô hình đọc hiểu khác nhau của những tác giả có uy tín, như mô hình của Vũ Dương Quỹ, Phan Trọng Luận, Nguyễn Trọng Hoàn… Mỗi mô hình đều có những đóng góp nhất định và trở thành nguồn tài liệu tham khảo phong phú cho giáo viên Và cũng không ít giáo viên

đã vận dụng một trong những mô hình trên để soạn giảng Tuy nhiên, qua một số tiết dự giờ, tham khảo các thiết kế bài học, cũng như qua trao đổi với các đồng nghiệp trong các đợt tập huấn thay sách, chúng tôi thấy rằng vẫn còn không ít giáo viên chưa ý thức rõ về tinh thần đọc hiểu nên còn lúng túng trong thiết kế

và dạy học

Một số giáo viên cho rằng dạy học theo tình thần đọc hiểu là tăng cường hoạt động đọc cho học sinh Vì thế, họ đã tăng cường thời lượng đọc cho học sinh với nhiều hình thức khác nhau như đọc diễn cảm, đọc phân vai… nhưng đến phần khai thác, tìm hiểu văn bản thì đa số vẫn giảng bình theo lối cũ

Trang 11

Cũng có giáo viên cho rằng thiết kế bài học chỉ là sự thay đổi hình thức, còn nội dung thì vẫn như giáo án trước đây Và nếu có thay đổi về nội dung cũng chỉ là thêm vào một số câu hỏi, tăng cường thêm một số hoạt động của giáo viên

Từ suy nghĩ này, họ tăng cường số lượng câu hỏi vào bài soạn nhưng lại ít quan tâm đến chất lượng câu hỏi Có những thiết kế cho một tiết dạy mà giáo viên phát vấn trên 20 lần nhưng đa số là những câu hỏi vụn vặt, rời rạc, mang tính tái hiện, ít câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề

Do vậy trong rất nhiều giờ dạy mặc dù giáo viên khi thiết kế bài soạn là đọc hiểu, rồi lên lớp hướng dẫn học sinh đọc hiểu, nhưng việc làm này mới chỉ đơn thuần là thay đổi một thao tác chứ thực chất hiểu rõ xem có những cách thức đọc hiểu nào và hướng dẫn học sinh đọc hiểu ra sao thì hầu hết giáo viên chưa hiểu rõ nguồn gốc của nó Do vậy đây mới chỉ là việc làm thay một chiếc bình mới còn rượu trong bình vẫn là rượu cũ Nói cách khác, chúng ta đang khoác lên mình môn Ngữ văn một chiếc áo mới của đọc hiểu, còn các biện pháp sử dụng trong dạy học vẫn là của giảng văn và phân tích

Thêm vào đó có một giai đoạn văn học chiếm thì lượng khá lớn trong nội dung chương trình của bậc THPT là giai đoạn văn học trung đại Văn học trung đại nói chung và thơ trữ tình trung đại nói riêng là một trong những thời kì văn học, bộ phận văn học quan trọng làm nên diện mạo của văn học Việt Nam Văn học thời kì này không những phản ánh thế giới tâm hồn của người Việt Nam mà còn ghi lại dấu ấn đậm nét của những chặng đường lịch sử dân tộc Trong chương trình Ngữ văn hiện hành phần văn học này chiếm tỷ lệ khá lớn, riêng ở

lớp 11 THPT gồm các bài: Tự tình II (Hồ Xuân Hương), Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến), Thương vợ (Trần Tế Xương) và 2 bài đọc thêm Vịnh khoa thi

Hương (Trần Tế Xương), Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến) Các bài thơ trên

đều tập trung ở giai đoạn từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XX Đây là giai đoạn văn học mà ý thức về bản ngã dược thể hiện rõ nhất Chưa bao giờ văn học trung đại Việt Nam lại có nhiều tiếng nói cá nhân đến như vậy Mỗi nhà thơ đã tạo cho mình một phong cách - vân chữ riêng

Từ thực tế chung của dạy học đọc - hiểu văn học thì việc dạy học đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 nói riêng cũng đang rơi vào tình

Trang 12

trạng: dạy đọc hiểu thơ trữ tình trung đại cũng giống như dạy học ca dao, dạy thơ trữ tình hiện đại Nghĩa là giáo viên chỉ tập trung đi vào phân tích văn bản để xác định nội dung và nghệ thuật của bài Rồi từ đó tích hợp nội dung về môi trường,

về Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bảo vệ môi trường, Kỹ

năng sống mà chương trình yêu cầu

Từ những lí do trên, chúng tôi thấy rằng việc tìm hiểu vấn đề đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam cho học sinh lớp 11 là việc làm thiết thực, có ý nghĩa góp thêm tiếng nói về một trong những vấn đề có tính thời sự hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu về dạy học văn theo hướng đọc hiểu

Ở các nước Âu Mỹ tư những năm 1970 lý thuyết đọc hiểu đã thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục hàng đầu như K.Goodman (1970); A.Pugh (1978); P.Arson; (1984); M.Adams (1990)…

Ở Việt Nam, tài liệu dịch đầu tiên đề cập đến vấn đề này phải kể đến

cuốn sách gồm hai tập của V.A.Nhinconxki là “Phương pháp dạy học văn ở

trường phổ thông” của V.A.Nhinconxki, cuốn sách khẳng định “học sinh là độc giả của tác phẩm văn học” và “quá trình đọc tác phẩm văn học là một quá trình sáng tạo” Tác giả đã giành một phần năm chương để bàn về bình

diện tâm lí và phương pháp hoạt động đọc, đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp đọc diễn cảm

Cuốn sách “Dạy học tập đọc ở tiểu học” (NXB Giáo dục tháng 11 năm

2001) của GS.TS Lê Phương Nga đã giành một số trang bàn về đọc hiểu

Chuyên luận “Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” của PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh được công bố năm 2002 đã trình bày khá thuyết phục về “cơ sở khoa học của

việc dạy học đọc hiểu” Tác giả đã định nghĩa “Đọc hiểu là một bộ phận của nội dung dạy học Tiếng việt với tư cách là môn học tiếng mẹ đẻ trong trường tiểu học”

GS.TS Trần Đình Sử là người khởi xướng và kiên định về vấn đề đọc hiểu trong các bài viết và trong bộ SGK ngữ văn THPT nâng cao Trong tài liệu

bồi dưỡng giáo viên giáo sư nhấn mạnh “Đọc hiểu văn bản- Một khâu đột phá

trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” Đóng góp của GS.TS Trần

Trang 13

Đình Sử về đọc hiểu còn được thể hiện trong bộ sách ngữ văn THPT nâng cao trong đó tác giả đã trình bày các nội dung mục đích, yêu cầu, điều kiện đọc hiểu, các giai đoạn đọc hiểu, phương pháp đọc hiểu văn bản nói chung và văn bản văn học nói riêng

GS.TS Nguyễn Thanh Hùng là người đề cập đến vấn đề đọc hiểu sớm nhất ở nước ta và là người rất tâm huyết về vấn đề này qua hàng loạt các công

trình nghiên cứu có giá trị Tham luận “Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hoá

cho người đọc” tại hội thảo khoa học “Chương trình và SGK thí điểm THCS”

tháng 9 năm 2000, tác giả nhấn mạnh: “Đọc văn là một hoạt động cơ bản có tầm

quan trọng hết sức to lớn cần được giải quyết một cách thấu đáo Dạy đọc hiểu phải xuất phát từ văn bản, lưu ý đến đặc trưng ngôn ngữ” GS.TS Nguyễn

Thanh Hùng đã tập trung vào lý thuyết nền tảng của chính vấn đề đọc hiểu trong chuyên luận “Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường” (NXB Giáo dục,

Hà Nội 2008) Đây là công trình lý thuyết đầu tiên về đọc hiểu bao quát được

những nội dung cốt yếu về vấn đề đọc hiểu Tác giả khẳng định: “Đọc để hiểu

giá trị đích thực trong tác phẩm”

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tổ chức dạy đọc hiểu chưa nhiều, phần lớn là các giáo trình do Bộ Giáo dục đào tạo và trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh biên soạn để phục vụ cho các lớp bồi dưỡng giáo

viên về chương trình và sách giáo khoa mới Các tài liệu: Bồi dưỡng giáo viên

cốt cán trường THPT môn Văn, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Ngữ Văn, Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT, có ưu điểm là ít lí luận, nhiều thực tiễn, đưa

ra nhiều thiết kế mẫu giúp người giáo viên Ngữ văn hình dung ra các bước tổ

chức dạy đọc - hiểu Tuy nhiên do chương trình Ngữ văn mới đang triển khai ở bước đầu nên các tác phẩm trữ tình đặc biệt là thơ trữ tình trung đại được giảng dạy trong chương trình lớp 11 chưa được đề cập nhiều và có hệ thống trong các tài liệu nghiên cứu

Từ những điều đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi nhằm hướng đến vấn đề:

Trang 14

- Đề ra phương pháp tiếp cận tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong

chương trình lớp 11 phù hợp với yêu cầu đọc hiểu

- Đề ra những định hướng, biện pháp cụ thể để tổ chức một giờ dạy đọc

hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11

2.2 Tình hình nghiên cứu dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam

Văn học viết trung đại Việt Nam la một thời kì phát triển rất phong phú, kéo dài suốt mười thế kỷ (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) và đạt được những thành tựu lớn với những đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… Các tác phẩm được lựa chọn vào chương trình Ngữ văn phổ thông đề là những tác phẩm văn chương tiêu biểu, xuất sắc cho các thời đại, các giai đoạn phát triển trong lịch sử văn học dân tộc Qua những bài thơ ấy, con người Việt Nam hiện lên rất cụ thể từ tâm hồn, tư tưởng đến tính cách, và cả nỗi niềm riêng tư sâu kín Dạy thơ trữ tình trung đại để thấy được bản sắc tâm hồn, văn hóa con người Việt Nam thời trung đại - một thời kỳ gắn với hệ tư trưởng phong kiến khá lâu đời

Quan trọng là thế, nhưng việc nghiên cứu để đưa ra những cách thức, con đường đế với thơ trữ tình trung đại chưa nhiều, chưa có những công trình nghiên cứu riêng về dạy thơ trữ tình trung đại ở trường phổ thông Đặc biệt, trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá như hiện nay thì vấn đề này lại càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết

Trong hai tập của cuốn “Phương pháp dạy học văn” (NXB ĐHSP, 2004,

Phan Trọng Luận chủ biên), ngoài việc đề cập đến phương pháp dạy học văn nói chung, có đưa ra phương pháp dạy học văn học dân gian theo loại thể, dạy học văn học nước ngoài, dạy học văn học sử nhưng lại chưa đề cập đến dạy VHTĐ cũng như thơ trữ tình trung đại

Theo TS.Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm

văn chương trong nhà trường” thì TPVC là đối tượng thẩm mỹ của quá trình

dạy học vì thế người thầy dạy văn phải là người đọc đặc biệt, phải là sự hiện hữu nghệ thuật của nghệ thuật, phương pháp của phương pháp Day học văn để nhận thức cái đẹp Mọi phương pháp dạy học phải xuất phát từ đặc điểm cảm thụ văn học của các lứa tuổi học sinh Trong phần dạy học tác phẩm văn chương theo

Trang 15

loại thể tác giả quan niệm để dạy tốt thơ Đường luật (Hán và Nôm) thì “chỉ có nắm chắc được những nét tiêu biểu của “chất Đường thi” công việc dạy học thơ đường luật (Hán - Nôm) mới có thể đi đúng được” [1, tr 124]

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương trong cuốn “Để học tốt TPVC” (phần

văn học trung đại) ở trường THPT cho rằng việc dạy VHTĐ hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, rào cản về ngôn ngữ, rất ít giáo viên có đủ trình độ am hiểu về chữ Hán hay chữ Nôm đề có thể giúp học sinh tiếp nhận tác phẩm trên văn bản gốc Cho nên, nhiều giờ học văn để trở thành một giờ thuyết minh cho một giờ lịch sử hoặc xã hội, học sinh không cảm thấy hứng thú Nhận thức rõ thực trạng dạy học phần VHTĐ nên tác giả đã đưa ra một số biện pháp thích hợp cho dạy học TPVC trung đại đó là: dạy học tác phẩm thông qua đọc tác phẩm, cắt nghĩa, chú giải sâu, thông qua hệ thống câu hỏi…

GS.Nguyễn Thanh Hùng trong bài “Tác phẩm trữ tình và phương pháp giảng dạy”, đã khẳng định vị trí của thể loại trữ tình trong lịch sử, bản chất, khả năng tác động và đặc trưng riêng của thể loại trữ tình Từ đó, tác giả nêu ra những kết luận về phương pháp: “Cần phải lưu ý đặc biệt đến nhà thơ- tác giả khi dạy tác phẩm trữ tình và cần phải quan tâm đến bình diện diễn đạt ngôn ngữ nghệ thuật”

Việc dạy học văn thơ trung đại nói chung và thơ trữ tình trung đại nói riêng đã được các nhà nghiên cứu và nhiều giáo viên quan tâm Các tác giả trong các công trình nghiên cứu đã đóng góp những kiến thức bổ ích, giúp người giáo viên vận dụng, cảm thụ, giảng dạy thơ cổ một cách có hiệu quả hơn

Tuy nhiên, thơ trung đại lại chia thành thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm Thêm vào đó, thơ trung đại lại là một thời kỳ lịch sử quá dài từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX Với xu hướng phát triển chung của xã hội Việt Nam thời trung đại thì càng về giai đoạn sau thơ trữ tình trung đại Việt Nam đã không còn tuân theo thi pháp, cách thể hiện như giai đoạn đầu nữa Do vậy vấn đề đặt ra là giáo viên phải có biện pháp, cách thức dạy học như thế nào cho phù hợp với sự thay đổi này mà vẫn đảm bảo tính quy phạm của văn học trung đại Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn sẽ đưa ra nhưng định hướng và biện pháp để đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 để phát huy tính chủ động sáng tạo ở học sinh

Trang 16

mà vẫn đảm bảo sự nhất quán về tính quy phạm của văn học trung đại Việt Nam theo sự thay đổi, phát triển của tiến trình lịch sử văn học dan tộc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất cách thức, biện pháp góp phần nâng cao kỹ năng đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 Cụ thể là hướng dẫn đọc hiểu bài thơ Tự tình II (Hồ Xuân Hương), Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) trong chương trình lớp Ngữ văn lớp 11 THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề đọc hiểu, vấn

đề dạy học thơ trữ tình trung đại, đề tài nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Khảo sát tài liệu, nghiên cứu sâu sắc về vấn đề lý thuyết đọc hiểu, thơ trữ tình trung đại Việt Nam làm tiền đề khoa học cho việc ứng dụng trong thực tiễn dạy học đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam

- Nhận diện tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam, từ đó làm sáng tỏ nội dung cần đọc hiểu trong một văn bản thơ trữ tình trung đại Việt Nam

- Xác lập cách thức, biện pháp đọc hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 11

- Thiết kế giáo án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lý thuyết đọc hiểu, thi pháp thơ trữ tình trung đại, các biện pháp dạy học thơ trữ tình trung đại

- Hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh lớp 11 THPT

- Thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 THPT - cụ thể là bài Tự tình II (Hồ Xuân Hương), Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các mô hình đọc hiểu để tìm ra những cách thức, biện pháp phù hợp trong dạy học thơ trữ tình trung đại lớp 11 nhằm nâng cao kỹ năng đọc hiểu cho học sinh THPT

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích lí luận và thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp so sánh đối chiếu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương với các nội dung sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Đề xuất những định hướng tổ chức và biện pháp đọc hiểu thơ trữ tình trung đại cho học sinh lớp 11

Chương 3 Thiết kế giáo án và dạy thực nghiệm theo định hướng, biện pháp đã đề xuất

Trang 18

lí thuyết tiếp nhận và tâm lí học, hoạt động đọc cũng như quan niệm mới về đọc hiểu TPVC mới thực sự dành được sự quan tâm của nhiều người, mới thực sự trở thành một vấn đề khoa học được thảo luận ở nhiều quốc gia

Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học đầu ngành phương pháp dạy học văn đã nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động đọc trong đổi mới phương pháp dạy học văn, đã có rất nhiều ý kiến bàn về đọc TPVC được đưa ra

Đọc văn là hoạt động diễn ra trong quá trình tiếp nhận văn chương Đọc không phải chỉ là hành động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động trực quan sinh động giàu cảm xúc, có tính trực quan và sự khái quát bằng kinh nghiệm sống của mỗi người Đọc cũng là hoạt động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh thần của độc giả, bộc lộ rõ năng lực văn hoá của từng người Thực tế cho thấy rằng, văn học chỉ sống trong ý thức của các thế hệ người đọc và trình độ văn hoá đọc, sự qua tâm của người đọc quyết định số phận của văn học Mỗi độc giả đều góp phần nhỏ bé nhưng cần thiết của mình đối với sự phát triển của văn học

Theo TS.Nguyễn Trọng Hoàn: “Đọc là công việc giải mã những kí hiệu

đã được viết ra thành văn bản, là dung nạp và suy nghĩ về một hay những thông

tin nào đó, là sự tái tạo những ý tưởng của người khác ” [14, tr.196] Việc đọc

có dựa vào các quy luật phát âm và ngữ điệu đổi thay tuỳ theo giọng điệu của nhà văn, bằng ngữ điệu của mình người đọc làm nổi bật được tiếng nói và ngụ ý của nhà văn trong từng câu thơ, đoạn văn qua việc nhấn mạnh trọng âm lôgic, trọng âm tâm lí và ngữ pháp Việc đọc có ý nghĩa chắc chắn sẽ không xảy ra nếu

Trang 19

như cá nhân chỉ làm một việc đơn giản là gợi ra những từ đã được giải mã sẵn Hiểu được nghĩa của từ, hiểu các từ đó liên kết với nhau như thế nào để chuyển tải một bức thông điệp, và điều quan trọng là chúng tác động như thế nào đến tình cảm, nhận thức và hành vi của người đọc Đó là những yếu tố thiết yếu trong quá trình đọc

GS.TS Trần Đình Sử quan niệm:“Đọc là một hoạt động cơ bản của con

người để chiếm lĩnh văn hoá Đọc văn là để cảm, để sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân Đọc là tìm ra ý nghĩa cho một thông điệp được

tổ chức bằng một hệ thống tín hiệu”

Điều quan trọng là đọc văn không chỉ là nắm bắt hiện thực khách quan phản ánh vào trong tác phẩm mà phải đọc được phần chủ quan của người phản

ánh Đó chính là cái đích hướng tới của người đọc, khi “Tiếng nói của nhà văn

gửi gắm cho bạn đọc thông qua hệ thống ngôn ngữ kết dệt nên tác phẩm”

[30,tr.146], đọc phải thực hiện được công việc chuyển dậy, sống dậy tình cảm của nhà văn khi phản ánh hiện thực khách quan mà không còn cách nào khác là

thông qua sự đồng cảm với người đọc Do vậy “Không nên nghĩ rằng việc đọc là

một thao tác máy móc với việc phiên âm các kí hiệu chết, cái chết nằm ngang giữa sự im lặng giữa tác giả và người đọc Đắm mình vào trong tác phẩm với

sự quan sát tập trung, theo dõi sát sao từng từ và dòng ngữ nghĩa trầm lắng trong đó người đọc sẽ vuợt qua bên kia các từ và phóng chiếu lên bộ não một thế giới nghệ thuật trọn vẹn mà mỗi từ, mỗi câu, mỗi chi tiết có giá trị chức năng

bộ phận” [18, tr.35]

Do vậy, đọc là phương thức tồn tại của văn học, là quá trình giao lưu, đối thoại giữa tác giả, văn bản và người tiếp nhận Khi đó đọc sẽ là quá trình cung cấp giá trị cho tác phẩm - giá trị do người đọc phát hiện sau khi đọc Nói như Rober Scholer thì “Mọi sự đọc, trong một chừng mực nào đó đều là quá trình đem nguyên tác quy kết thành một ý nghĩa nhất định, chúng ta đúc rút ý nghĩa đó

từ trong tác phẩm”

1.1.1.2 Khái niệm hiểu

Trong bài viết “Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện” nay in trên tạp chí văn nghệ GS Trần Đình Sử có

Trang 20

nói “Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể

đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do

đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự” bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực,

phát triển năng lực là chủ thể của học sinh ” [46, tr.78]

“Hiểu” theo nghĩa gốc trong từ điển tiếng Việt là “nhận ra ý nghĩa, bản

chất, lí lẽ của cái gì, bằng sự vận dụng trí tuệ” [38, tr.125] “Hiểu” còn được xem

là một cấp độ trong các kỹ năng tư duy bậc cao theo phân loại của Bloom: Nhớ - Hiểu - Vận dụng - Phân tích - Đánh giá Theo quan niệm của Bloom hiểu được

xem là cấp độ tư duy cao, là khả năng diễn đạt lại những điều đã đọc, đã học

theo cách riêng của mình, bằng ngôn ngữ của mình

Nếu hiểu theo quan niệm của Bloom chỉ là cấp độ thứ hai trong sáu kỹ năng tư duy bậc cao với nội hàm hạn hẹp thì hiểu trong đọc hiểu văn chương lại mang nội hàm rộng hơn rất nhiều Theo Stenven Stahl và Jean S.chall thì “mục đích cuối cùng của hoạt động đọc là để có thể nhiều tài liệu được viết ra, để định giá và để sử dụng cho nhu cầu của một ai đó”

“Hiểu” ở đây không nên xem như một dạng của hoạt động mà chỉ kết quả mong muốn và là mục đích cuối cùng của bất cứ hoạt động nào khác Vậy phụ từ

hiểu trong cụm từ đọc hiểu là hàm ý nhấn mạnh, nói tới mục đích của hoạt động đọc nhằm hướng cho quá trình đọc và khám phá tác phẩm văn chương của học

sinh “Hiểu” có thể được hiểu là biết được và làm được, nói cách khác, hiểu cũng

có nghĩa là phải thể hiện được việc nắm hiểu của mình Vậy hiểu buộc người đọc

phải giải mã văn bản, tức là hiểu những thông tin chứa trong ngôn từ, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật “Hiểu” là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó “Hiểu” còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống

Trang 21

1.1.1.3 Khái niệm về đọc hiểu

Đọc hiểu (comprehension reading) là phạm trù khoa học trong nghiên cứu

và giảng dạy văn học, do đó có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái luận về đọc hiểu trong các công trình nghiên cứu của mình

PGS.TS.Nguyễn Thái Hoà cho rằng “Nói một cách khái quát, đọc hiểu dù

đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích giải mã và ghi

nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [11, tr.26]

Đặt đọc hiểu trong môi trường đọc, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng quan niệm đọc là một hành động của con người nhằm mục đích hình thành và nắm vững ý nghĩa từ văn bản trong quá trình nhận thức của việc đọc để mở rộng cảm giác và xúc cảm bằng sự nếm trải của người đọc Tác giả đã chia người đọc thành ba loại: Loại người đọc phổ biến hay còn gọi là người đọc thực tế, thứ hai là người đọc tinh hoa hay còn gọi là người đọc phát triển, thứ ba là loại người đọc trong nhà trưòng, bạn đọc - học sinh Loại bạn đọc này là trọng tâm chú ý của việc đào tạo giáo dục một cách bài bản, hệ thống trong quá trình dạy học đọc hiểu TPVC Theo cách sắp xếp các hành động đọc phù hợp với ba loại người đọc dựa vào mục đích đọc và tính chất riêng của họ Nhưng dù là đọc để giải trí, đọc để nghiên cứu hay đọc để học tập thì mục đích chung đọc là để nắm vững thông tin và ý nghĩa tác phẩm, đọc để vận dụng thông tin và ý nghĩa sâu xa của TPVC vào cuộc sống đương đại hay đọc chính là để học hỏi, để làm chủ cuộc sống

Con đường từ đọc hiểu văn bản đến đọc hiểu TPVC không có những khác biết đối lập, mâu thuẫn với nhau Vấn đề cốt lõi là phải chú ý sự khác nhau giữa mục đích và cách tổ chức vận dụng ngôn từ để đọc hiểu chúng phù hợp với giá trị tư tưởng và nghệ thuật xử lý ngôn ngữ khác nhau giữa chúng

Theo GS TS Nguyễn Thanh Hùng đọc hiểu là mục đích cuối cùng và là hiệu quả mong muốn để người đọc lĩnh hội được giá trị đích thực của tác phẩm Đọc hiểu TPVC trong nhà trường cần phải đào luyện và giáo dục thường xuyên cho học sinh với những yêu cầu và mức độ phù hợp với từng lớp, từng cấp học

Do đó đọc hiểu là nội dung khoa học mới, có ý nghĩa và giá trị phương

Trang 22

pháp.“Đọc hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học

Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ Đọc chính xác thì hiểu đúng Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới” [22, tr.26]

Dưới góc độ phương pháp, dạy học đọc hiểu là dạy người tiếp nhận cách thức đọc ra nội dung trong những mối quan hệ qua lại phức tạp của văn bản, là cung cấp cho người tiếp nhận cách đọc để có quan điểm, thái độ và kĩ năng đọc những sáng tạo ngôn ngữ theo quan điểm thẩm mĩ nhất định Dạy đọc hiểu là vừa dạy cách thức tiếp xúc với văn bản, thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết, các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật và cả ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, vừa tập trung hình thành cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại, để dần dần các em có thể tự đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn

1.1.1.4 Đọc hiểu tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông - Xu thế đổi mới dạy học ở THPT

Trên cơ sở quan niệm giáo dục là sự phát triển, giáo dục là quá trình học tập suốt đời và phải góp phần phát triển tối đa mọi năng lực tiềm ẩn trong mỗi con người Do đó, chương trình và sách giáo khoa phải chú trọng đến phát triển hiểu biết, năng lực nhu cầu lợi ích và định hướng giá trị tác phẩm cho người đọc hơn là truyền thụ nội dung kiến thức đã xác định trước Quan niệm đó tập trung hướng vào tổ chức các hoạt động dạy học với nhiều hình thức linh hoạt và đa dạng, tạo cơ hội cho người đọc tìm kiếm, thu thập thông tin và chiếm lĩnh tri thức, có cơ hội lựa chọn các nội dung học tập phù hợp với nhu cầu, khả năng và

sở thích Đọc hiểu tác phẩm văn chương (TPVC) là một hướng hoạt động dạy học hiện đại - đó là cách thức, là con đường để người học tự mình chiếm lĩnh giá trị TPVC, đồng thời rèn cho người học cách tự học, tự học suốt đời

Hiện nay quan niệm dạy văn là dạy đọc văn, giờ văn là giờ hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản, mặc dù còn nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu hoàn

Trang 23

thiện, nhất là phương pháp dạy học cụ thể nhưng có thể khẳng định đây là phương hướng dạy học văn đúng đắn và đã cập nhật với xu thế dạy học hiện đại của các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới Có thể so sánh với chương trình môn học Ngữ văn ở nhiều quốc gia và với yêu cầu về đánh giá kết quả học tập của nhiều tổ chức quốc tế như Unesco và những trung tâm đánh giá lớn như Pisa Một trong ba lĩnh vực mà Pisa quan tâm kiểm tra đánh giá là khả năng đọc hiểu (Reading Literacy) Pisa nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng này khi

khẳng định “đọc hiểu không chỉ còn là một yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ

trong nhà trường phổ thông, mà nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn”

Dạy học đọc hiểu TPVC theo tinh thần này được hiểu một cách khá toàn

diện “Đọc hiểu là hoạt dộng duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá

trị văn học Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu và nắm được ý chính cũng như chủ đề của tác phẩm Lí giải những đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa

xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, trong quá trình học đọc, học sinh sẽ biết cách đọc để tích luỹ kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện Học sinh sẽ học cách trích câu hay, trích chi tiết, trích

ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học” [22,tr.65]

Dạy học Ngữ văn theo yêu cầu đọc hiểu văn bản, thực chất là hình thành cho học sinh toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản (kể cả hiểu và cảm thụ), giúp học sinh cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu để dần dần các em có thể tự đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn Muốn vậy, học sinh phải được trang bị trên hai phương diện: kiến thức để đọc văn và phương pháp đọc văn Những kiến thức và phương pháp này chỉ có thể có được thông qua việc thực hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học

GS TS Nguyễn Thanh Hùng đã khẳng định “Dạy đọc hiểu là tạo nền

tảng văn hoá cho người đọc” [20, tr.46] Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nó đòi

Trang 24

hỏi phải thông qua việc đọc, hiểu, cảm nhận của người đọc thì các giá trị văn học mới được bộc lộ và phát huy tác dụng Nếu học sinh không đọc mà chỉ nhờ giáo viên giảng giải hộ cho thì học sinh chỉ học kiến thức của người giảng mà thụ động không tự mình tiếp xúc và cảm nhận được văn học Chính vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu của môn Ngữ văn là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc hiểu văn bản văn học: từ hiểu câu chữ đến hiểu hình tượng, từ hiểu hình tượng đến biết cách khái quát tư tưởng tác phẩm, nắm bắt giá trị thẩm

mĩ và giá trị lịch sử

Như vậy đọc hiểu văn bản đó là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Muốn thế học sinh phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để đọc văn và phương pháp đọc văn Việc đọc- hiểu trong nhà trường luôn có tính chất định hướng, vì thế SGK thường đưa ra những đường dẫn có tính chất gợi ý về loại thể, cung cấp thông tin về thời đại ra đời của tác phẩm và những nét chính về nhà văn, cách đọc GS Trần Đình Sử cho rằng:

“Phương pháp dạy đọc hiểu là phương pháp hướng dẫn HS đọc văn, phát hiện ý

nghĩa trong các ngữ cảnh Một, giúp HS phát hiện những chỗ không hiểu, đối thoại với HS để bộc lộ chỗ chưa hiểu, bởi quá trình hiểu đi từ không hiểu đến hiểu Giúp HS phát hiện những chỗ mâu thuẫn, phi lí, phi lôgíc, khó hiểu trong văn bản Phải tìm cái chưa hiểu thì mới kích thích hứng thú tìm hiểu của HS Hai, những điều HS đã hiểu mà cũng nêu vấn đề thì thực vô ích và nhàm chán

Vì thế không đòi hỏi cái gì cũng dạy Cần tập trung vào chỗ HS khó hiểu hay không hiểu, tô đậm hay “ lạ hoá” những chỗ ấy, tạo thành vấn đề cho HS Ba, vận dụng những điều đã cung cấp, đã biết để lí giái chỗ không hiểu đó Không bao giờ cung cấp sẵn ngay kết quả đọc - hiểu cho HS” [42, tr.178]

Vì vậy cách dạy đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức về tác phẩm mà là dạy cho học sinh cách thức, phương pháp để đi tìm kiến thức Trên phương pháp ấy thì học sinh

có thể tự tìm hiểu những tác phẩm cùng loại Như vậy thì dạy đọc hiểu tác phẩm

Trang 25

văn chương chính là dạy cho học sinh cách thức, con đường tìm ra chân lý Đọc văn là cuộc đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn của văn bản, để rồi từ đó đọc hiểu một “văn bản lớn hơn” là thế giới và cuộc đời, nói cách khác là cuộc đi tìm ý nghĩa nhân sinh qua văn bản văn học

Sau hơn 10 năm thực hiện chương trình sách giáo khoa mới cùng với việc thực hiện kĩ năng đọc hiểu có thể khẳng định đọc hiểu sẽ là sự trung chuyển đảm bảo vừa giúp học sinh hiểu được vẻ đẹp của văn chương vừa rèn cho các em cách tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và bình giá tác phẩm văn chương bằng hành động đọc và kĩ năng đọc hiểu phù hợp

1.1.2 Thơ trữ tình trung đại Việt Nam

1.1.2.1 Khái niệm thơ trữ tình trung đại

Thơ trữ tình là “thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình trong

đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự thuộc loại tự sự Tùy theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách

khác nhau” [10, tr.269]

Theo GS Trần Đình Sử “Xét về tên gọi, trong quá khứ các nhà thơ trung

đại Việt Nam chưa bao giờ tự gọi thơ mình là thơ trữ tình Trữ tình là một khái niệm hiện đại Mặc dù trong cửu chương của Khuất Nguyên có thể tìm thấy hai chữ trữ tình song nó chưa trở thành thuật ngữ trong thời trung đại Phần lớn thơ làm trong các dịp tiễn tặng, hoạ thơ người khác, đề thơ kỷ niệm, tức cảnh, tức

sự, tức là làm thơ theo sự đòi hỏi, khêu gợi của ngoại cảm Khi muốn tự bộc lộ nỗi lòng thì họ gọi là “Ngôn hoài”, “Thuật hoài”, “Ngôn chí”,“Tự tình”, “Tự thuật”, “Mạn thuật”, “ Trần tình” Những tên gọi này rất đáng chú ý: “chí”,

“tình”, “hoài”, “sự”, “cảnh”… là nội dung trữ tình, còn “thuật”, “ ngôn”,

“tự”, “trần” …là cách trữ tình Trong đó “thuật” là kể, “tự” cũng là kể,

Trang 26

“ngôn” là nói ra, là tuyên bố cho mọi người biết, “trần” là bày tỏ Có thể xem

đó là những dấu hiệu đặc trưng của ý thức trữ tình truyền thống: trữ tình bằng

cách thuật kể nỗi lòng mình, cảm xúc chí hướng của mình” [43, tr.167]

Tác giả chỉ rõ trong tập Giảng văn chinh phụ ngâm ông Đặng Thai Mai

đã có nhận xét sâu sắc về lối thơ tự tình của khúc ngâm này, đối lập tự tình với trữ tình và tự tình cũng đ ối lập với tự sự, bởi nó là một cách thức trữ tình trung đại phương Đông Thậm chí ông gọi đó là văn chương tự tình Khái niệm đó rất đúng và có thể áp dụng cho toàn bộ thơ trữ tình trung đại Việt Nam

Từ quan niệm của giáo sư Trần Đình Sử và vận dụng khái niệm đã nêu ở trên, ta có thể hiểu khái niệm thơ trữ tình trung đại Việt Nam như sau:

Thơ trữ tình trung đại Việt Nam là loại thơ do các nhà thơ trung đại Việt Nam sáng tác ra để biểu thị những cảm xúc, suy tư, tư tưởng tình cảm của họ hoặc nhân vật trữ tình trước các hiện tượng của đời sống được thể hiện một cách trực tiếp

1.1.2.2 Các thể thơ trữ tình trung đại

Thơ trữ tình trung đại Việt Nam làm theo nhiều thể khác nhau Tập tài liệu Thơ cổ điển Việt Nam - Một số vấn đề hình thức loại thể do Lê Hoài Nam biên soạn (1994) và cuốn dạy học thơ cổ của Phạm Luận và Hoàng Hữu Bội (NXBGD, HN, 1994) đã cho biết một số điều về các thể thơ thời trung đại

Có thể chia các thể thơ ấy ra làm hai loại: một loại mượn từ thơ cổ Trung Quốc, một loại do Việt Nam sáng tạo ra

* Những thể thơ mượn từ thơ cổ Trung Quốc: Bao gồm thể luật đường, thể cổ phong, thể từ

Các thể tài thơ ca gốc Trung Quốc có thơ, từ, khúc và các biến thể của thơ luật Về thơ có thơ cận thể và thơ cổ thể Thơ cận thể bao gồm thơ luật, bài luật

và tuyệt cú Thơ cổ thể còn gọi là “cổ phong” Đây không phải là thơ thời cổ mà

là thơ mô phỏng theo hình thức thơ cổ Đặc trưng cơ bản của thơ cổ thể là không

có sự hạn định chặt chẽ về số tiếng trong câu thơ, số câu trong bài thơ, về quan

hệ bằng trắc, về cách gieo vần và cách đối ngẫu Đây là lối thơ tương đối tự do hơn thơ cận thể đời Đường

Trang 27

Thơ cận thể bao gồm thơ luật, bài luật và tuyệt cú Thơ luật gồm hai loại: ngũ ngôn luật và thất ngôn luật

Cách luật ở một số bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật như sau:

- Số câu chữ: mỗi bài 8 câu, mỗi câu 7 chữ, cộng lại 56 chữ

- Về gieo vần: cả bài chỉ có một vần (độc vận) gieo ở cuối các câu 1.2.4.6.8 (chính lệ) hoặc 2.4.6.8 (ngoại lệ)

- Về đối ngẫu: thực hiện ở 4 câu giữa, gồm đối ý, đối thanh và đối từ loại

- Về luật bằng trắc: “ nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nghĩa là

ở mỗi câu, các tiếng đứng ở vị trí thứ nhất, thứ ba, thứ năm thì có thể bằng hoặc trắc, còn các tiếng nằm ở vị trí thứ hai, thứ tư, thứ sáu thì phải tuân thủ nghiêm ngặt như sau: cả bài 8 câu được chia làm 4 liên Câu lẻ gọi là xuất cú, câu chẵn gọi là đối cú Nếu ở câu lẻ, ba tiếng ở vị trí 2.4.6 là T.B.T (trắc, bằng, trắc) thì ở

ba tiếng ấy ở câu chẵn trong liên đó phải là B.T.B (bằng, trắc, bằng)

Trong mỗi liên, nếu xuất cú mở đầu bằng hai thanh bằng thì đối cú phải

mở đầu bằng hai thanh trắc

Ví dụ: “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn.”

(Bà Huyện Thanh Quan - Chiều hôm nhớ nhà)

Nếu làm sai quy định trên gọi là thất luật

- Về niêm: “Niêm” có nghĩa là dính với nhau Nếu luật là quy định bằng trắc theo chiều ngang, thì niêm là quy định bằng trắc theo chiều dọc để gắn liền các cặp câu lại và tránh đơn điệu Do có luật “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nên người ta chỉ quy định tiếng thứ hai ở câu 1 phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 8, tiếng thứ hai ở câu 2 phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 3, tiếng thứ hai ở câu 4 phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 5, tiếng thứ hai ở câu 6 phải cùng thanh với tiếng thứ hai ở câu 7

Tóm lại, niêm là tiếng thứ hai của các câu: 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 phải cùng thanh, nếu làm sai quy định này gọi là thất niêm

- Về bố cục: lâu nay sách báo đã nói nhiều về cách kết cấu 4 phần của một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật: đề, thực, luận, kết Phần đề (cặp câu 1-2) nêu một cách tổng quát chủ đề tư tưởng của bài thơ Phần thực (cặp câu 3-4)

Trang 28

trình bày thực trạng, thực chất của vấn đề, của sự vật được nói đến Phần luận (cặp câu 5-6) bình luận vấn đề, giải thích sự vật để bổ sung ý nghĩa cho cặp câu thực Phần kết là tóm tắt ý nghĩa toàn bài, bộc lộ cảm nghĩ

Trong thực tế sáng tác, không phải bài thơ nào cũng có kết cấu bốn phần một cách cứng nhắc như vậy Do đó, khi phân tích kết cấu một bài thơ luật, phải bám sát vào thực tế văn bản, không nên áp đặt cái khuôn 4 phần đó vào bất cứ bài nào

Ở thơ tuyệt cú: là thơ chỉ có 4 câu, nên thường gọi là thơ tứ tuyệt Kết cấu của một bài thơ tứ tuyệt gồm 4 phần: khởi, thừa, chuyển, hợp Các yếu tố khác như vần, luật, niêm, đối đều phải tuân theo quy định chặt chẽ như ở thể thất ngôn bát cú

* Những thể thơ có nguồn gốc từ thơ ca dân gian Việt Nam

Từ xa xưa, người bình dân Việt Nam đã sáng tạo ra những thể thơ thuần túy dân tộc rất đặc sắc Những thể thơ đó đã được các nhà thơ thuộc nhiều thế hệ dày công trau chuốt, tạo thành những thể thơ ổn định trong văn học viết Đó là thể luc bát, thể song thất lục bát, thể hát nói và thể Hàn luật

Ở thể lục bát: trong nền thơ trung đại Việt Nam, thể thơ lục bát đã góp phần quan trọng làm nên đỉnh cao của thể loại truyện thơ (tiêu biểu là truyện Kiều) Thể thơ lục bát có mấy đặc điểm cơ bản sau:

- Một đơn vị của thể thơ lục bát có hai dòng thơ: dòng trên 6 tiếng, dòng dưới 8 tiếng Có khi mỗi dòng thơ là một đơn vị về ngữ pháp, ngữ nghĩa, nói cách khác mỗi dòng thơ là một câu thơ.Song nhiều lúc, cả hai dòng sáu, tám mới tạo thành một câu thơ

Ví dụ: Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

- Về vần: Thể lục bát có cả vần chân và vần lưng, bao giờ cũng là vần bằng, và cứ sau mỗi cặp 6-8 lại đổi vần Đây là vần độc đáo của thơ lục bát Việt Nam Tiếng cuối cùng của dòng 6 bắt vần với tiếng thứ sáu của dòng 8 Rồi tiếng cuối cùng của dòng 8 ở câu trên lại bắt vần với tiếng cuối cùng của câu 6 ở câu dưới

Trang 29

- Nhịp thơ: Nhịp thơ cơ bản của câu thơ lục bát là nhịp đôi Song, trong bài thơ, nhất là trong truyện thơ, do nhu cầu miêu tả và biểu hiện, các nhà thơ đã sáng tạo ra nhiều lối ngắt nhịp khác

Ví dụ: Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong/ thu/ đã nhuốm màu quan san

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Ở thể song thất lục bát: Như tên gọi của thể thơ, một đơn vị cấu trúc của thể thơ này gồm 4 dòng thơ: hai dòng 7 tiếng, một dòng 6 tiếng và một dòng 8 tiếng

Bài thơ song thất lục bát có thể bao gồm chỉ một khổ thơ Cũng có thể bao gồm nhiều khổ, muốn đặt dài ngắn bao nhiêu tùy ý Ví dụ: Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm

- Về vần: Thể song thất lục bát có cả vần chân, vần lưng, bao gồm cả vần bằng và vần trắc Hai câu thất hiệp vần với nhau ở tiếng cuối câu trên với tiếng thứ 5 câu dưới (vần trắc) Hai câu thất hiệp vần với hai câu lục bát tiếp theo bằng

sự hiệp vần giữa tiếng cuối câu thất dưới với tiếng cuối dòng lục (vần bằng) Tiếng cuối câu lục hiệp vần với tiếng thứ 6 câu bát (vần bằng) Khổ trên gắn với khổ dưới bằng sự hiệp vần giữa tiếng cuối dòng bát khổ trên với tiếng thứ 5 câu thất đầu khổ dưới (vần bằng)

- Về nhịp: Hai câu thất đầu khổ thường được ngắt nhịp theo thứ tự 3/2/2

Ví dụ:

“Thuở trời đất/ nổi cơn/ gió bụi Khách má hồng /nhiều nỗi/ truân chuyên”

(Chinh phụ ngâm khúc) Còn cặp lục bát thì được ngắt nhịp như cách ngắt nhịp của thể lục bát

Trải qua một quá trình phấn đấu của nhiều thế hệ nhà thơ, thể song thất lục bát đến nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX đã nhanh chóng đạt tới hoàn

mỹ với Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm

Trang 30

Thể hát nói: Có nguồn gốc là một trong các lối hát ca trù ngày trước (Hát

ca trù còn được gọi là hát ả đào, hát nhà trò…) các lối hát ca trù có nguồn gốc chủ yếu từ dân gian, thường được trình diễn trong các dịp lễ hội ở đình làng hoặc trong các dịp mừng thọ, mừng danh vọng trong các gia đình giàu có; về sau biến thành lối hát chuyên nghiệp của các ca sỹ hát trong cung vua, phủ chúa hoặc tại sân đình Dần dần hát nói tách ra thành một thể riêng biệt, không phụ thuộc vào hát xướng và di sản về hát nói do ông cha ta để lại rất lớn

- Về mặt đề tài văn học: Hát nói là một sự tổng hợp của nói lối, thơ lục bát, thơ thất ngôn, ngũ ngôn và có khi cả câu đối và phú

- Về bố cục: Theo chính lệ, mỗi bài hát nói gồm 3 khổ: khổ đầu gồm bốn câu, khổ giữa 4 câu, khổ xếp 3 câu Tổng cộng là 11 câu Câu 1 và câu 2, câu 3

và câu 4 đi với nhau thành từng cặp đối thanh với nhau Các câu đầu của các khổ bao giờ cũng tận cùng bằng tiếng trắc

Hai câu đầu của khổ giữa phải là hai câu thơ thất ngôn hay ngũ ngôn luật

và thường bằng chữ Hán (có khi được thay bằng một câu đối) Câu cuối cùng bao giờ cũng là một câu 6 chữ (câu lục trong thơ lục bát) Các câu còn lại đều theo thể thức câu thất ngôn Việt Nam

- Về vần: Thể hát nói có cả vần lưng lẫn vần chân; vần chân được gieo theo lối liên câu: câu đầu không bắt vần, từ câu thứ 2 trở đi, cứ hai câu vần bằng lại hai câu vần trắc đến hết bài Vần chân thì đầy đủ còn vần lưng thì khi có khi không

Trong thực tế sáng tác, không phải bài hát nói nào cũng làm theo quy định trên Thể hát nói dành cho ngòi bút sáng tạo một khoảng tự do rộng lớn và luôn biến hóa Hát nói trở nên thể thơ tự do nhất trong các thể thơ cổ truyền

Khả năng diễn cảm: Với những đặc trưng nói trên, thể hát nói thường được dùng để nói về những điều phóng khoáng, vượt ra ngoài không khổ…Nó như là nguồn gốc của thể thơ mới

Trên đây là các thể thơ trữ tình trung đại Việt Nam, cùng với đặc điểm cấu tạo, nó có thể giúp ích cho việc khám phá tìm hiểu chiếm lĩnh thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11

Trang 31

4 Khóc Dương Khuê - Nguyễn Khuyến

5 Vịnh khoa thi Hương - Trần Tế Xương

6 Bài ca ngất ngưởng - Nguyễn Công Trứ

7 Bài ca ngắn đi trên bãi cát - Cao Bá Quát

8 Lẽ ghét thương (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu)

9 Chạy giặc - Nguyễn Đình Chiểu

10 Bài ca phong cảnh Hương Sơn - Chu Mạnh Trinh

1.2.1.2 Đặc điểm, mục đích và yêu cầu của tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 11 trung học phổ thông

Theo cấu trúc chương trình môn Ngữ văn bậc THPT thì phần văn học trung đại Việt Nam được sắp xếp học ở lớp 10 và hết tuần 7 của lớp 11 Với cách phân kì giai đoạn văn học trung đại thì văn học trung đại Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn Giai đoạn từ thế kỉ X - XIV, từ thế kỉ XVI - thế kỉ XVII, từ thế

kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, và cuối cùng là văn học nửa cuối thế kỉ XIX Với cách phân kì này thì hai giai đoạn đầu được bố trí dạy và học ở lớp 10, hai giai đoạn sau ở lớp 11 Như vậy là văn học trung đại Việt Nam ở lớp 11 bắt đầu từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX

Tuy là phần văn học trung đại thuộc hai giai đoạn sau nhưng các tác phẩm được lựa chọn chủ yếu được viết bằng chữ Nôm Giai đoạn văn học thế kỉ XVIII

- nửa đầu XIX có sự nở rộ của văn học chữ Nôm với các thành tựu nổi bật của Thơ Nôm Đường luật, truyện Nôm lục bát, thơ Hát nói Đây là những thể loại

làm nên đỉnh cao của văn học nghệ thuật trong di sản văn học dân tộc

Trang 32

Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn THPT là hình thành và rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản Chính vì thế

chương trình được xây dựng theo hai trục tích hợp Đọc văn và Làm văn Trong

phần đọc văn (phần văn học Việt Nam), các văn bản đọc hiểu được sắp xếp theo thể loại và các thời kì văn học lớn (trong các thời kì văn học, các tác phẩm được sắp xếp theo cụm thể loại, theo cụm kiểu văn bản) Sự sắp xếp này tuân theo nguyên tắc cảm thụ văn học - nguyên tắc loại thể, gắn liền việc bồi dưỡng tri thức thể loại với đánh giá thành tựu văn học theo loại thể, rất thuận tiện cho việc dạy đọc hiểu và cho HS làm văn, nhất là văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học

1.2.2 Tình hình dạy học tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở nhà trường THPT Việt Nam hiện nay

1.2.2.1 Tình hình dạy của giáo viên

Giáo sư Phan Trọng Luận đ· nêu lên thực trạng dạy học ở nhà trường phổ

thông “Chúng ta không thể không thừa nhận một bước tụt hậu khá dài về nhận

thức cũng như thực hành sư phạm so với bước đi của một số nước tiên tiến, nhất

là so với yêu cầu chiến lược của thời đại” [34, tr.112] Tình trạng đó hình như

càng nặng nề hơn trong giảng dạy văn học Lập luận văn học có đặc thù riêng, văn chương là lĩnh vực cảm thụ thẩm mỹ của sáng tạo cá nhân, nhiều khi đã tạo

ra một ảo giác bao che cho sự chậm trễ cũ kỹ về phương pháp… Đã từ lâu vẫn đang diễn ra tình hình dạy văn chỉ cần biết đến văn bản văn chương, chỉ quan tâm đến nghệ thuật và tài năng khám phá cho sâu, chỗ độc đáo của tác phẩm văn chương để rồi tìm ra những thủ pháp những hình thức lôi cuốn học sinh cảm thông, đồng điệu với những gì giáo viên đã tìm tòi phát hiện được Tác giả khẳng

định: “một quan niệm về dạy văn như vậy đã quá ư lỗi thời và cần thực sự có

một đổi mới triệt để về chiến lược dạy học văn trong nhà trường nhằm hướng vào học sinh giúp học sinh tham gia khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm để họ thực

Trang 33

khiến cho những tác phẩm văn chương tuyệt đỉnh khi dạy học trên lớp chỉ còn là việc định nghĩa không đầy đủ Khoảng cách văn hoá, thời đại đã khiến cho những người dạy và người học chưa tiếp cận được đích giá trị của tác phẩm

Do xu thế trên, nên hoạt động của giáo viên trên lớp hiện nay với các yêu cầu: làm cách nào để tiết học trở nên sinh động, nhẹ nhàng và hiệu quả đối với tất cả các đối tượng học sinh, có thể huy động được cả những học sinh “ham chơi hơn ham học” tham gia tích cực vào hoạt động học tập bộ môn văn, đặc biệt giờ học thơ trữ tình trung đại là một bài toán khó cho mỗi giáo viên ngữ văn

Việc phát huy tác dụng của phương pháp mới trong quá trình giảng dạy bộ môn gặp phải một số khó khăn như sau:

+ Muốn áp dụng thành công phương pháp dạy học mới vào thực tiễn, thì ngoài việc nắm vững cơ sở lý luận, còn đòi hỏi người giáo viên phải bỏ rất nhiều thời gian và công sức để có thể thiết kế được một giáo án đạt yêu cầu, thể hiện được tính tích cực và sáng tạo của học sinh

+ Việc tổ chức dẫn dắt cho học sinh tự chiếm lĩnh được tiếng nói tư tưởng, tình cảm của nhà thơ đã gửi gắm trong các bài thơ là việc làm không mấy dễ dàng

Đây là khó khăn mà hầu hết giáo viên gặp phải Việc cảm thụ, phát hiện cho hết cái hay cái đẹp của bài thơ nói chung đã là khó, hơn nữa lại là thơ trung đại lại càng khó hơn Có khi chỉ một từ, một hình ảnh, một câu thơ nhưng cũng gây những trở ngại trong việc khai thác

+ Thói quen dạy của một số giáo viên và thói quen học của một số học sinh theo phương pháp cũ cũng là một trở ngại không nhỏ đối với việc đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Qua phiếu điều tra chúng tôi thấy, nhiều giáo viên băn khoăn, dạy như thế nào để cho học sinh thấy được cái hay cái đẹp trong những bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam đã là khó, hơn nữa, theo tinh thần phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh là một vấn đề không đơn giản

+ Có một thực tế, người giáo viên phổ thông phải cáng đáng một khối lượng công việc rất lớn Hãy xem các vấn đề ngữ văn liên quan đến công việc giảng dạy của mỗi giáo viên: phần Tiếng Việt bao gồm mọi cấp độ (những vấn

Trang 34

đề chung về ngôn ngữ và Tiếng Việt, từ ngữ, ngữ pháp, các biện pháp tu từ, các phong cách chức năng); phần văn có văn học Việt Nam (từ văn học dân gian và văn học viết ở mọi thời kì), văn học nước ngoài (gồm cả văn học Trung Quốc,

Hy Lạp, Nga, Anh, Pháp, Đức, Mỹ…); phần làm văn có dạng lý thuyết và thực hành các kiểu nghị luận xã hội và nghị luận văn học Với một công việc bộn bề như vậy, khó mà đòi hỏi người giáo viên có thể suy nghĩ kĩ càng trên những văn bản cụ thể trong chương trình để đưa ra phương án giảng dạy riêng

+ Có một yêu cầu đặt ra: muốn học sinh đọc hiểu thì người giáo viên không chỉ phải hiểu văn bản, mà còn hình dung những con đường tiếp cận văn bản Nhưng đó đâu phải là chuyện đơn giản Hãy thử hình dung khi đối diện với một văn bản trữ tình trung đại Việt Nam, giáo viên sẽ thiết kế bài dạy như thế nào? Nhớ lại những định hướng được tiếp thu qua các chuyên đề thay sách Đọc, nghiền ngẫm văn bản, xem hệ thống câu hỏi hướng dẫn ở cuối bài Tìm đọc các tài liệu có liên quan (sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy ngữ văn, các bài phân tích trong các tài liệu tham khảo…) Khi tiếp cận các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam, đa số các giáo viên đều tiếp cận theo kết cấu của bài thơ Đường luật nói chung theo 4 phần: Đề, thực, luận, kết để tìm hiểu vấn đề Các cách tiếp cận

đó chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân để tiếp cận và cảm thụ là chính

+ Sách tham khảo viết về thơ trữ tình trung đại Việt Nam, nhất là các tài liệu về thi pháp thơ trữ tình trung đại Việt Nam, cách tiếp cận thơ trữ tình trung đại Việt Nam; về phương pháp giảng dạy thơ trữ tình trung đại hiện nay có song mới chỉ dừng lại ở việc phân tích văn bản còn đi sâu theo hướng tích cực, tích cự còn rất hiếm

Là một giáo viên THPT, tôi và rất nhiều anh chị em giáo viên đều có những mong muốn và cố gắng trong giảng dạy, hướng dẫn học sinh, mong mỏi thế hệ học sinh của mình tích cực chủ động để vươn tới khát vọng

Đối với môn văn trong nhà trường có điều kiện để thức dậy khát vọng trong học sinh Đó là khát vọng sống cao đẹp mà mỗi giờ học văn từ vẻ đẹp hình tượng ngôn ngữ, thầy giáo có thể tạo được một không khí văn chương, không khí ngự trị của cái cao đẹp Theo đó “Thương vợ” của Trần Tế Xương, giúp các

em thấy được tấm lòng thương vợ của Tú Xương thật thấm thía và sâu sắc Hay

Trang 35

qua bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, các em nhận ra một bức tranh giản dị, thanh tú hết sức gần gũi, quen thuộc mang đậm hồn quê xưa…

Dạy văn nói chung và dạy thơ trung đại Việt Nam cho học sinh không phải là truyền kiến thức cho học sinh, đa số giáo viên đều nhận thấy được việc giảng dạy phải rèn luyện óc tư duy sáng tạo cho học sinh, rèn phương pháp tự suy nghĩ tìm hiểu kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào đời sống, nâng cao đời sống tư tưởng tình cảm ngày càng tốt đẹp hơn nhằm mục đích phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong tiết dạy cao hơn nữa

1.2.2.2 Tình hình học của học sinh

Hiện nay trong các nhà trường phổ thông thái độ đối với môn Ngữ văn của các học sinh có sự phân lập rất rõ Bởi thế kỉ XXI hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội phát triển, những môn học thời thượng (Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ…) quan trọng hơn bao giờ hết thì văn chương không có tính năng ứng dụng, tương lai người học không được đảm bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương Số đông học sinh hiện nay có thiên hướng thi vào các khối tự nhiên (do dễ kiếm việc làm sau khi ra trường), số còn lại rất ít dự thi vào hai khối

C, D thì học văn với một động cơ rất thực dụng: Để thi đại học, cao đẳng Đặc biệt, một thực tại mà giáo viên nào cũng nhận thấy: Sách tham khảo, sách hướng dẫn để học tốt, sách chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu… quá nhiều, vô hình dung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa, học sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chương được học dựa vào bài soạn ở nhà nhưng chưa một lần đọc bài văn, bài thơ trong sách giáo khoa, thầy có kiểm tra phát vấn thì các loại sách tham khảo nghĩ hộ, nói hộ tất cả và khi giáo viên ra đề kiểm tra coi nghiêm túc thì tất thảy đã phơi bày ra, học sinh không thích, không có hứng thú học văn Chương trình Ngữ văn 11 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến Các tác giả của các bài thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời Làm thơ với họ là mượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế Đối tượng để cảm và hiểu cái hay cái đẹp của các tác phẩm này là

Trang 36

học sinh lớp 11, có thể trong số đó, có một số em mê văn song để nắm được cái thần của bài thơ, hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài thơ quả là rất khó

Với phần văn học trung đại nói riêng và thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 nói riêng nhiều HS tỏ ra ngại học, không hứng thú Nhiều học sinh chưa

có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, còn thờ ơ, lãnh đạm với tác phẩm văn chương, nhất là thơ, thường ít hiểu, ít yêu thơ Các em học các bài thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa cũng bình thường như các bài học khác, ít em có một quyển sổ đẹp để chăm chút viết vào đấy những bài thơ hay

mà mình yêu thích Đối với nhiều em, thế giới thơ còn là một thế giới xa lạ Nếu

có ai hỏi các em về những bài thơ hay mà các em thích, thường khi hiểu biết của các em quanh quẩn cũng không ngoài các bài thơ đã học trong sách giáo khoa và

sở dĩ các em thấy hay vì có in trong sách giáo khoa và thầy giáo bảo vậy Cá biệt không phải không có em “sợ” thơ, bởi vì có những bài thơ có phiên âm chữ Hán,

từ ngữ khó hiểu, điển cố nặng nề gây cho các em nhiều mệt nhọc, mà cách giảng của người thầy nhiều lúc cũng chưa làm cho các em hiểu rõ và thấy hay thêm được chút nào Từ đó học sinh mất hứng thú khi học văn và kéo theo chất lượng học văn ngày càng sa sút

Theo các em thì các bài thơ trung đại trữ tình thường hay sử dụng nhiều từ Hán Việt điển cổ, điển tích Để hiểu được nội dung bài học phải hiểu ý nghĩa của

từ Hán Việt, điển cổ, điển tích nên người học, người đọc khó học, khó hiểu Thêm vào đó những bài thơ trữ tình trung đại có khoảng cách khá xa với chúng

em, hơn nữa các bài thơ Đường luật có tính hàm súc cao lại được sáng tác bằng chữ Hán, Nôm nên chúng em cảm thấy khó hiểu

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn tới tình trạng học sinh ngày càng không thích học văn học nói chung và thơ trữ tình trugn đại cói riêng:

Nguyên nhân thứ nhất: Bản thân học sinh chưa biết cách học, chưa biết cách chiếm lĩnh tri thức Hầu như các em chưa biết cách xây dựng và thực hiện

kế hoạch tự học, sử dụng thời gian tự học chưa hợp lý và tổ chức hoạt động tự học chưa khoa học Với học sinh lớp 11, các em đã biết đề ra kế hoạch học tập cho bản thân mình, dành thời gian để tự học Nhưng để thực hiện được kế hoạch

đề ra, các em còn nhiều lúng túng

Trang 37

Nguyên nhân thứ hai: Do ý thức rèn luyện, vượt khó của học sinh chưa cao Trong quá trình học tập, học sinh còn gặp nhiều khó khăn Song có lẽ nguyên nhân chính việc học sinh tự học chưa có chất lượng là vì các em chưa có

ý thức rèn luyện, chưa có ý thức vượt khó, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn

Khi gặp những từ khó từ Hán Việt, điển tích, điển cổ do không có từ điển, tài liệu tham khảo để tìm hiểu… các em dễ bỏ mặc buông xuôi, trông chờ vào các bạn, vào giáo viên Vì thế, đây là một trong những nguyên nhân khiến việc tiếp cận các bài thơ trung đại trữ tình Việt Nam có những khó khăn nhất định

Việc hướng dẫn cho học sinh cảm thụ bài thơ (như ra câu hỏi, hướng dẫn cách cảm thụ về mặt nội dung, hình thức của một bài thơ, cung cấp thêm tài liệu liên quan đến việc cảm thụ…) của giáo viên còn sơ sài, có khi chỉ dành ít phút cuối của buổi học dặn dò chuẩn bị bài theo câu hỏi sách giáo khoa

Thêm nữa việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh không ăn khớp với hoạt động của giáo viên và học sinh khi trên lớp, không chỉ làm hạn chế mà còn gây nhiều khó khăn với học sinh khi tiếp cận cảm thụ bài thơ Hơn nữa, làm hạn chế đến việc phát huy tính tích cực của học sinh

Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu gây ra những khó khăn với học sinh khi tiếp cận các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam Có thể tồn tại một số nguyên nhân khác nhưng về cơ bản, việc giải quyết các nguyên nhân này là một vấn đề cấp thiết cần được sự quan tâm chung của nhà trường, của giáo viên, học sinh để khắc phục thiếu sót nhằm làm cho quá trình học tập của học sinh được diễn ra tốt đẹp và có hiệu quả

1.2.3 Khảo sát thực tiễn

1.2.3.1 Nội dung khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 của giáo viên và học sinh ban cơ bản

1.2.3.2 Đối tượng khảo sát

Để tìm hiểu tình hình đọc hiểu thơ trữ tình trung đại lớp 11 trong nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát hai đối tượng cơ bản tham gia vào quá trình dạy và học trong nhà trường Đó là giáo viên, học sinh lớp 11 Bên cạnh đó còn có quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục khi thực hiện

Trang 38

chương trình Ngữ văn THPT, tài liệu tham khảo, trang thiết bị phục vụ dạy học phần thơ trữ tình trung đại lớp 11

1.2.3.3 Quá trình khảo sát

- Thời gian khảo sát: Học kì I năm học 2013-2014

- Địa bàn khảo sát: Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại Trường THPT Gia Lộc, trường THPT Đoàn Thượng, THPT Gia Lộc II - Tỉnh Hải Dương

- Hình thức khảo sát: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra đối với giáo viên và học sinh; xem vở ghi của học sinh và giáo án của giáo viên; dự các buổi thảo luận giữa giáo viên- học sinh, giáo viên - giáo viên học sinh - học sinh để từ đó rút ra được kết quả khách quan nhất về việc dạy và học phần thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 ở trường THPT

* Đối với giáo viên:

Tác giả của luận văn đã có những cuộc phỏng vấn trực tiếp đối với một số giáo viên dạy Ngữ văn ở nhà trường THPT Hầu hết các cuộc trao đổi đó đều

xoay quanh việc “GV hiện nay hướng dẫn học sinh đọc hiểu phần thơ trữ tình

trung đại như thế nào?” Câu trả lời mà chúng tôi nhận được cũng rất đa dạng,

phong phú, phần nào phản ánh đúng với thực tế dạy và học thơ trữ tình nói riêng

và các bài đọc văn nói chung

Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra bằng cách ghi sẵn câu hỏi để có được kết luận tương đối xác thực về các biện pháp giáo viên sử dụng trong giờ đọc hiểu thơ trữ tình trung đại lớp 11

Phiếu khảo sát dành cho giáo viên:

(Giáo viên có thể chọn một hay nhiều đáp án trong một câu hỏi)

Câu 1: Khi hướng dẫn đọc hiểu thơ trữ tình trung đại lớp 11 thầy (cô) thấy có

thuận lợi gì ?

a Học sinh có năng lực đọc hiểu theo loại thể từ cấp II

b Tác phẩm hay, tiêu biểu

c Trang thiết bị đầy đủ, hiện đại

d HS hứng thú khi được hướng dẫn tìm hiểu những điển tích, điển cố

Câu 2: Khi hướng dẫn đọc hiểu thơ trữ tình trung đại lớp 11 thầy (cô) còn gặp

khó khăn gì?

Trang 39

a Việc tổ chức bồi dưỡng GV chưa chu đáo, hiệu quả còn thấp

b HS không chăm, thiếu kĩ năng tự học, thiếu vốn sống

c Chưa nắm được tinh thần cơ bản của việc đọc hiểu

d Bản thân giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, tư liệu liên quan đến nội dung bài dạy

Câu 3: Theo thầy (cô), để đọc hiểu tốt thơ trữ tình trung đại lớp 11 cần có những

yêu cầu gì?

a Thay đổi cách đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên

b HS cần có kĩ năng đọc, chuẩn bị bài chu đáo

c Không nặng về truyền thụ kiến thức mà chủ yếu dạy cho HS cách học, cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề

d Bản thân giáo viên phải nắm chắc kỹ năng đọc hiểu, có kiến thức chuyên sâu

Câu 4: Thầy (cô) thường yêu cầu HS chuẩn bị những gì trước khi đọc hiểu thơ

trữ tình trung đại?

a Đọc tác phẩm trước ở nhà

b Trả lời câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài

c Ghi ra giấy những vấn đề cần trao đổi

d Tìm đọc những tác phẩm có cùng đề tài trước khi bài thơ ra đời, cùng thời với bài thơ hoặc sau khi bài thơ ra đời

Câu 5: Theo đánh giá riêng của thầy (cô), mức độ hiểu của HS đối với các tác

phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 11 là:

a 100% b 75% c 50 % d 25%

Câu 6: Theo thầy (cô) cần rút kinh nghiệm về vấn đề nào cho hoạt động đọc

hiểu thơ trữ tình trung đại lớp 11?

a Dạy cho HS biết vận dụng kiến thức đọc hiểu để làm văn

b Chuẩn bị hệ thống câu hỏi dẫn dắt “trúng” vấn đề trọng tâm

c Quan tâm đến hứng thú và khả năng học tập của HS

d Hướng bài học đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh để tìm mối liên hệ giữa văn học trung đại và cuộc sống hiện tại

Trang 40

* Đối với HS:

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các em học sinh trước và sau khi học thơ trữ tình trung đại Việt Nam để thấy được hứng thú của các em đối với loại bài này Khi xem vở ghi của học sinh, phần đa các em tuân thủ theo giáo án giáo viên đã dạy song còn một số em ghi chép tùy tiện, sơ sài, chưa làm rõ nội dung

và nghệ thuật của bài học

Khảo sát qua các bài làm văn của học sinh cũng đã thu nhận được những kết quả nhất định Có một số học sinh đã cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm, biết vận dụng kiến thức ở bài học vào làm các bài làm văn nhưng cũng không ít học sinh chưa biết vận dụng các tri thức thu được để làm ngữ liệu cho các bài làm văn dẫn đến hiệu quả dạy và học bài thơ trữ tình trung đại còn thấp

Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã phát phiếu điều tra cho các em để tìm hiểu

kỹ hơn về thực trạng dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 11 trong chương trình THPT

Câu hỏi dành cho học sinh

(Giáo viên có thể chọn một hay nhiều đáp án trong một câu hỏi)

Câu 1: Em thường chuẩn bị những gì trước khi học các tác phẩm thơ trữ tình

trung đại Việt Nam lớp 11?

a Đọc tác phẩm trước ở nhà

b Trả lời câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài

c Ghi ra giấy những vấn đề cần trao đổi

d Tìm đọc những tác phẩm có cùng đề tài trước khi bài thơ ra đời, cùng thời với bài thơ hoặc sau khi bài thơ ra đời

Câu 2: Em cảm thấy mình có những hạn chế nào sau đây khi học thơ trữ tình

trung đại Việt Nam lớp 11?

a Nhận thức vấn đề còn vụn vặt

b Ngôn ngữ trau chuốt khó hiểu

c Giáo viên còn thiếu nhiệt tình, giảng chưa truyền cảm

d Chưa gắn với cuộc sống hiện tại nên không có tác dụng giáo dục

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w