Như vậy qua những đặc điểm đặc trưng của thủ tục THA, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thủ tục thi hành án như sau: Thủ tục thi hành án dân sự là trình tự thi hành các bản án, quyết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -BÙI THỊ VÂN ANH
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG
PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT
NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -
BÙI THỊ VÂN ANH
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Huyền
Hà Nội- 2016
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Thị Vân Anh
Trang 4iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ 1
1.1.Khái niệm và đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự 1
1.2.Cơ sở khoa học của việc xây dựng thủ tục thi hành án dân sự 6
1.3 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật THADS về thủ tục thi hành án ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 7
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thủ tục thi hành án dân sự 18
1.5 Khái quát về thủ tục thi hành án theo pháp luật một số nước trên Thế giới và kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam 23
CHƯƠNG 2 - THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 33
2.1 Thủ tục thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu 33
2.2 Thủ tục thi hành án dân sự chủ động 42
2.3 Thủ tục xác minh thi hành án dân sự 46
2.4 Ủy thác thi hành án dân sự 52
2.5 Một số quyết định phát sinh trong quá trình THADS 55
2.5.1 Thủ tục ra quyết định hoãn thi hành án dân sự 55
2.5.2 Thủ tục ra quyết định tạm đình chỉ THADS 60
Trang 5v
2.5.3 Thủ tục ra quyết định đình chỉ THADS 62
CHƯƠNG 3 - THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 68
3.1 Thực tiễn áp dụng thủ tục thi hành án dân sự 68
theo Luật THADS năm 2008 đến trước ngày 1/7/2015 68
3.1.2 Những hạn chế, bất cập về thủ tục THADS còn tồn tại 72
3.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thủ tục THADS ở Việt Nam 85 3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay 87 3.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục thi hành án trên thực tiễn hiện nay 89
KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6vi
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BLTTDS 2004 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2004
Luật THADS 2008 Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Luật sửa đổi, bổ sung Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự 2008 PLTHADS 2004 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
PLTHADS 1993 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993
PLTHADS 1989 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989
THA Thi hành án
THADS Thi hành án dân sự
CQTHADS Cơ quan thi hành án dân sự
CHV Chấp hành viên
UBND Ủy ban Nhân dân
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
TAND Tòa án nhân dân
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
BA, QĐ Bản án, Quyết định
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh (Gọi tắt là BA, QĐ có hiệu lực thi hành)
Trang 7vii
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thi hành án là một trong những hoạt động thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, tính uy nghiêm của Nhà nước Hoạt động thi hành án là hoạt động đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực
tế Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật
Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngoài chức năng của cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án thì cơ quan THADS giữ một vai trò đặc biệt và là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tố tụng Mọi phán quyết của Tòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy hết hiệu quả trên thực tế nếu không được thi hành đúng và đầy đủ, nhất là trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, khi nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vô số các quan hệ giao dịch được phát sinh dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều hơn, số lượng công việc mà các cơ quan Tư pháp phải giải quyết vì thế cũng ngày càng tăng, và tính chất cũng phức tạp hơn Đòi hỏi tất yếu đặt ra là các cơ quan Tư pháp nói chung
và cơ quan THADS nói riêng phải hoạt động sao cho đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi, xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa
Luật Thi hành án dân sự (THADS) được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2009 là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Qua 05 năm thi hành luật, công tác thi hành án dân sự đã từng bước đi vào nề nếp và có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, quá trình thi hành luật cũng cho thấy nhiều nội dung, quy định của luật không còn phù hợp với thực tiễn, tạo ra trở lực cho quá trình thi hành án và chưa thực sự đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, dự thảo luật THADS ban hành ngày 21/2/2014 đã được lấy ý kiến sâu rộng từ nhân dân,
Trang 8viii
và được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 25/11/2014 Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự 2008 đã có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015, có nhiều
điểm mới về thủ tục THADS
Đổi mới hoạt động THA nói chung và nâng cao hiệu quả đối với THADS nói riêng là một nội dung quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp được ghi nhận trong nhiều văn bản như: Nghị quyết Trung Ương 8 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII, báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng qua các kì họp, đặc
biệt Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị
ngày 24/5/2005, Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị “Về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Chính vì lẽ đó mà tác giả lựa chọn
đề tài “Thủ tục Thi hành án dân sự trong pháp luật thi hành án dân sự Việt
Nam hiện nay” để nghiên cứu Bởi lẽ đây là vấn đề đang được thu hút được
đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm - việc sửa đổi, bổ sung luật THADS
2008 nói chung, thủ tục THADS nói riêng không những nằm trong chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020 mà còn nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính Bên cạnh đó, cũng dựa trên kinh nghiệm thực tế làm việc tại cơ quan tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát) của bản thân với công tác kiểm sát thi hành án dân sự, tác giả hiểu rằng, muốn tiến tới mục tiêu giảm án dân sự tồn đọng, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự thì việc hoàn thiện pháp luật về
thủ tục THADS là một yêu cầu khách quan và tất yếu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Luật THADS ra đời, THADS cũng đã được quan tâm nghiên
cứu trong các công trình như Luận văn thạc sỹ “Đổi mới thủ tục THADS ở Việt
Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn năm 2004; Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy năm 2001 Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường, Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật THADS
của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004, Công trình nghiên cứu khoa học
cấp bộ, Bình luận Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, của Viện khoa học pháp
lý - Bộ tư pháp năm 2006…và rất nhiều công trình nghiên cứu khác
Trang 9ix
Từ khi Luật THADS năm 2008 có hiệu lực pháp luật đến nay, việc nghiên cứu về THADS đã được quan tâm đáng kể hơn nữa Năm 2011 có Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp trường về “Những điểm mới của Luật THADS năm 2008” của
trường Đại học Luật Hà Nội do Tiến sỹ Bùi Thị Huyền chủ nhiệm Ngoài ra trên sách báo pháp lý, các diễn đàn pháp luật từ 2009 đến nay cũng có rất nhiều bài nghiên cứu, trao đổi về THADS, trong đó có thủ tục THADS Cũng có thể kể
đến những nghiên cứu khác như cuốn sách tham khảo “Một số vấn đề về hoàn
thiện pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam” – tác giả Tiến sỹ Lê Thu Hà – học
viện Tư Pháp viết, xuất bản năm 2011, hay các bài viết trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề về thi hành án dân sự các tháng 2/2012, tháng 4/2012, tháng 12/2012, tháng 03/2014; số chuyên đề tháng 6/2012 về thi hành án dân sự tồn đọng; số chuyên đề tháng 12/2013 về thực hiện Luật THADS … và rất nhiều các bài viết khác trong các sách báo, tạp chí nghiên cứu về thủ tục THADS như Tạp chí Nghề Luật của Học viện Tư pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,… Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp, Bộ tư pháp đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự Luật đã được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2014) và được biểu quyết thông qua vào kỳ họp thứ 8 ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015 vừa qua
Trên cơ sở các nghiên cứu trước đó, luận văn của tác giả nghiên cứu sâu hơn về một số thủ tục THADS, với việc đưa ra khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, quá trình hình thành và phát triển qua các thời kì của thủ tục THADS; tìm hiểu thủ tục THADS theo quy định một số nước trên Thế giới và đặc biệt là phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng thủ tục THADS từ khi Luật THADS 2008 ra đời cho đến nay, chỉ ra những bất cập, đề xuất những đóng góp cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên kết quả nghiên cứu, mục tiêu của Luận văn là phân tích, đánh giá một số thủ tục THADS, nêu ra những hạn chế, bất cập và đề xuất quan điểm
hoàn thiện pháp luật về thủ tục THADS:
- Phân tích được những vấn đề lý luận và thực tiễn của thủ tục THADS ở Việt Nam
Trang 10x
thủ tục THADS ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra các quan điểm cá nhân đánh giá Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2014 cũng như đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật thi hành án, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Đánh giá đúng thực trạng, hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra các quan điểm cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về thủ tục THADS, góp ý về một số vấn đề liên quan đến thủ tục thi hành án trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008; cũng như đề xuất các giải pháp
có tính khả thi cao nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật THADS, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung về thủ tục THADS, thực tiễn áp dụng thủ tục THADS tại các địa phương hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật; đưa ra các kiến nghị, đóng góp để nâng cao hiệu quả công tác THADS
5.2 Phạm vi:
Thủ tục THADS bao gồm rất nhiều thủ tục khác nhau, cho nên phạm vi của đề tài rất rộng, với phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tác giả không đi sâu vào tìm hiểu hết tất cả các thủ tục THADS mà chỉ đi sâu vào một số thủ tục cụ thể, nổi bật theo Luật THADS năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Đó
là các thủ tục: Thủ tục ra quyết định thi hành án theo đơn (bao gồm cấp, chuyển giao bản án, thủ tục nhận, từ chối đơn yêu cầu, và ra quyết định THA) và thủ tục thi hành án chủ động của CQTHADS; Thủ tục xác minh THA; Thủ tục ủy thác
Trang 11xi
THA; Các quyết định phát sinh trong quá trình THADS: thủ tục ra quyết định hoãn; đình chỉ; tạm đình chỉ Luận văn không nghiên cứu về thủ tục áp dụng các
biện pháp cưỡng chế bảo đảm THADS
6 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn bám sát việc phân tích các thủ tục thi hành án dân sự theo Luật THADS năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2014, và những hạn chế, vướng mắc trong công tác THADS để từ đó đề xuất các phương hướng, quan điểm cá nhân trong việc hoàn thiện pháp luật THADS
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac – Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp và một số phương pháp luận khác để lựa chọn những vấn đề cần thiết đưa vào nội dung nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 – Những vấn đề chung về thủ tục thi hành án dân sự
Chương 2 – Thủ tục thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành
Chương 3 – Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật
về thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam
Trang 12
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự
Trước khi tìm hiểu khái niệm thủ tục thi hành án cần làm rõ các khái niệm sau:
theo một trình tự đã được quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [14, tr.905] Trình tự là “sự sắp xếp thứ tự trước sau” [14, tr.934]
Qua đó, có thể hiểu khái niệm thủ tục là phải thực hiện một công việc nhất định theo những quy định cụ thể được sắp xếp theo trình tự nhất định Còn “thi hành”
là: "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [15, tr 1559]
Trong khoa học pháp lý, “thi hành án” được hiểu là việc đưa các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Có thể nói, thi hành án được coi là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước Bởi lẽ, thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân khi khi bị xâm hại Trong các công trình nghiên cứu khoa học về thi hành án, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thi hành án:
Có quan điểm xem thi hành án là một giai đoạn tố tụng, đây là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự Quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn kết thúc của tố tụng
mà trong đó cơ quan thi hành án đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức [25, tr 86]
Có quan điểm lại cho rằng thi hành án không phải là một thủ tục tố tụng mà
là một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành quyết định của tòa án – cơ quan tư pháp – mang tính chất của hoạt động quản lý hành chính – tư pháp… Thi hành án không mang tính tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố
Trang 13tụng và quá trình thực hiện thi hành án Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang nặng tính hành chính - tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành án
hình sự đối với loại hình phạt không phải là hình phạt tù ) [28, tr 12]
Quan điểm của tác giả đồng nhất với quan điểm cho rằng thi hành án là
một thủ tục tố tụng tư pháp:“Thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp do cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành để thi hành bản án, quyết định của Tòa
án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước, tổ chức khác do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả các cơ quan,
tổ chức và cá nhân.” [25, tr14]
Thi hành án bao gồm thi hành án hình sự và thi hành án dân sự, trong phạm
vi nghiên cứu của Luận văn về thủ tục thi hành án dân sự, các quan điểm trên về thi hành án đều có những điểm hợp lý, song dù theo quan điểm nào thì thủ tục THADS đều có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thủ tục thi hành án dân sự là cách thức, trình tự tổ chức thi hành
BA, QĐ dân sự có hiệu lực thi hành được pháp luật quy định, bao gồm nhiều thủ tục khác nhau
Thủ tục THADS do pháp luật quy định, Chấp hành viên cũng không được đặt ra trình tự, thủ tục và không tùy tiện trong quá trình tổ chức thực hiện THA
mà phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật Quá trình THADS thực hiện thông qua nhiều thủ tục và theo một trình tự nhất định Thủ tục THA bao gồm
nhiều bước để đưa một bản án, quyết định của Tòa án ra thi hành
Đầu tiên là thủ tục cấp, chuyển giao BA, QĐ của Tòa án cho đương sự và CQTHADS để thi hành; cùng với đó là thủ tục gửi và giải thích BA, QĐ của Tòa
án nhằm mục đích để các cơ quan thực thi pháp luật có cách hiểu thống nhất đối với các BA, QĐ đảm bảo cho việc CQTHA thực thi đúng bản chất của sự việc, đúng pháp luật, đúng phán quyết của Tòa án và các cơ quan khác Tiếp theo đến thủ tục yêu cầu THA của đương sự, nộp đơn yêu cầu THA, thủ tục nhận hoặc từ chối nhận đơn của CQTHADS Và bước quan trọng là thủ tục ra quyết định THA của thủ trưởng CQTHADS, trong quá trình THA có thể phát sinh các thủ tục như hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, trả lại đơn yêu cầu THA, xác minh
Trang 14THA… cho đến chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA, nộp phí thi hành án, cưỡng chế thi hành án… rồi cuối cùng kết thúc THA Trong quá trình THADS, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là khác nhau và các thủ tục này liên kết toàn
bộ quá trình thi hành án dân sự Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, có những thủ tục không phải thực hiện hoặc có những thủ tục phải thực hiện ngay ở giai đoạn đầu, giữa hoặc sau khi đã thi hành xong việc thi hành án, ví dụ như thủ tục giải quyết khiếu nại hoặc thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát
Thứ hai, thủ tục thi hành án dân sự là thủ tục nhằm thi hành phán quyết
của các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Thi
hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử chính là tiền đề của thi hành
án dân sự Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét
xử, bởi lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của các cơ quan nói trên đã có hiệu lực pháp luật Ngược lại, THADS tiếp nối với xét xử làm cho BA, QĐ được thực hiện trên thực tế Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, trọng tài, hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh trên cơ sở của bản án, quyết định do Tòa án và các cơ quan này chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA của đương sự, CQTHADS ra quyết định thi hành và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành án, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu CQTHA hoãn việc THA, quyết định tạm đình chỉ THA để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ) Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng CQTHADS đối với THADS Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành
án đạt hiệu quả Nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của
các cơ quan Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này được quy định tại các Điều từ Điều
Trang 15465 đến Điều 467 Bộ Luật TTDS năm 2015, Điều 66, 67 Luật trọng tài thương mại, từ Điều 134 đến Điều 135 NĐ số 116/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật cạnh tranh và các Điều 26, 27, 28, 48, 49 và 179 Luật THADS
đã được sửa đổi, bổ sung
Với ý nghĩa có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử - thi hành án nhằm thi hành phán quyết của các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Cụ thể, khoản 2 Điều 121
Luật cạnh tranh năm 2004 quy định“Trường hợp quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan THADS tỉnh, TP trực thuộc Trung ương nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải THA tổ chức thực hiện quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh” Đối với việc thi hành quyết định của Trọng tài thương
mại cũng được quy định tại Điều 66, 67 Luật Trọng tài thương mại năm 2010:
“Phán quyết của trọng tài được thi hành theo quy định của Pháp luật về THADS” Như vậy, nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ
hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa Nếu như một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản
án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu khách quan trong hoạt động quản lý Nhà nước
Thứ ba, thủ tục thi hành án dân sự do cơ quan, tổ chức thi hành án thực hiện
Mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối vào giai đoạn xét xử, nhưng THA cũng mang tính độc lập, đây là đặc trưng của hoạt động tư pháp Ở giai đoạn THA, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi vì khi BA, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có nghĩa là chức năng xét xử đã hoàn thành, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng Để đảm bảo hiệu quả của THADS thì CQTHADS và chấp hành viên phải thực hiện thủ tục THA một cách độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự Cơ quan, tổ chức THA phải tuân thủ đúng thủ tục THA trong quá trình tổ chức việc THA
Trang 16Bên cạnh đó, cơ sở của hoạt động thi hành án là các BA, QĐ có hiệu lực thi hành; các cơ quan tham gia vào quá trình THA chủ yếu là cơ quan tư pháp Tuy nhiên, các bản án, quyết định do các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh sau khi được tuyên sẽ được CQTHADS thi hành Các nước trên thế giới có các mô hình khác nhau về cơ quan, tổ chức thi hành án Ở Việt Nam, ngoài cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước còn có tổ chức Thừa phát
lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay nhân rộng ra phạm
vi cả nước theo nghị quyết số 107 ngày 26/11/2015, thì một số thủ tục THADS
do văn phòng thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc CQTHADS; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện THA theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức THA các BA, QĐ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức THA các BA, QĐ thuộc diện Thủ trưởng CQTHADS chủ động ra quyết
định THA
Tòa án có trách nhiệm gửi bản án, quyết định tới CQTHADS và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét sử sơ thẩm Thủ tục THA do CQTHADS thực hiện từ việc ra quyết định thi hành án, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, việc cưỡng chế THA,… cho đến việc trả lại đơn yêu cầu THA, và quyết định kết thúc THA Cơ quan THA là cơ quan chuyên trách để thực thi các BA, QĐ có hiệu lực thi hành trên thực tế Việc ra quyết định THA để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự do Thủ trưởng CQTHADS đảm nhiệm Trước đây, PLTHADS
1989, việc ra quyết định THA còn do chánh án Tòa án sơ thẩm xét xử vụ án, điều này dẫn đến việc chồng chéo và gánh nặng cho Tòa án, từ PLTHADS năm
1993, PLTHADS năm 2004 và Luật THADS năm 2008 hiện nay, việc THA chỉ
do cơ quan chuyên trách thi hành án thực hiện, đảm bảo tính công bằng, khách quan
Như vậy qua những đặc điểm đặc trưng của thủ tục THA, chúng ta có thể
rút ra khái niệm về thủ tục thi hành án như sau: Thủ tục thi hành án dân sự là
trình tự thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác do Cơ quan, tổ chức thi hành án dân sự thực hiện theo qui định pháp luật.
Trang 171.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng thủ tục thi hành án dân sự
Thứ nhất, thủ tục THADS là cơ sở pháp lý đảm bảo thi hành BA, QĐ có
hiệu lực thi hành và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
Kết quả của quá trình xét xử là giải quyết các tranh chấp và đưa ra các
BA, QĐ có hiệu lực thi hành Nhưng những bản án, quyết định đó, nếu không được đưa ra thi hành thì chỉ là những phán quyết trên giấy tờ, không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên trong quan hệ THADS, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Cho nên, pháp luật quy định về thủ tục THADS
là cần thiết và đảm bảo cho việc thực thi các bản án, quyết định trên thực tế, thể hiện sự tôn trọng các phán quyết của Tòa án, sự nghiêm minh của pháp luật Vì nếu không thực thi các phán quyết trên thực tế thì quá trình xét xử, giải quyết của Tòa án, Trọng tài cũng như Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là vô nghĩa
Thứ hai, thủ tục thi hành án còn là cơ sở bảo đảm cho hoạt động THA được tuân thủ đúng pháp luật
Thủ tục thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm việc thi hành án của chấp hành viên, cán bộ cơ quan thi hành án dân sự theo đúng pháp luật, hạn chế tình trạng lạm quyền để thi hành những bản án, quyết định không thuộc thẩm quyền thi hành của mình, đồng thời ngăn chặn việc cơ quan thi hành án dân sự từ chối, đùn đẩy trách nhiệm thi hành những bản án, quyết định mà cơ quan mình có trách nhiệm phải thi hành Bên cạnh đó, việc luật hóa các thủ tục thi hành án trong pháp luật THADS còn là cơ sở pháp lý cho chấp hành viên, cán bộ cơ quan thi hành án căn cứ vào đó để thực hiện, bảo vệ quá trình thi hành án, bảo vệ quan điểm cũng như uy tín, danh dự của chính mình Nếu làm được như vậy mới tạo được niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào pháp luật, vào Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam
Thứ ba, thủ tục THADS cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Quá trình thi hành án nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ THA cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án, kể cả CHV trong THADS là phải độc
Trang 18lập và tuân theo pháp luật để bảo đảm duy trì sự thật trong bản án, quyết định của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật trên thực tế; nếu không độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì giá trị sự thật mà BA, QĐ dân sự có hiệu lực đã xác định
sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ trường hợp các đương sự có sự thỏa
thuận tự nguyện khác trong quá trình thi hành án
Việc thực hiện THA đúng thủ tục do pháp luật quy định, bảo đảm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo thủ tục THADS kịp thời thì lợi ích của cá nhân và cộng đồng được sẽ bảo vệ, kỉ cương phép nước được tôn trọng, trật tự
xã hội được củng cố Thủ tục thi hành án dân sự không được quy định hoặc quy định không rõ ràng, thiếu khoa học sẽ không có căn cứ pháp lý hoặc dẫn đến áp dụng pháp luật không đúng, không đầy đủ, làm phức tạp quá trình thi hành án, gây tốn kém kinh phí, không đáp ứng kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1.3 Lƣợc sử hình thành và phát triển của pháp luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1980
Giai đoạn từ 1945 – 1950, các văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục
THADS ở giai đoạn này có thể kể đến như Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ
tịch Hồ Chí Minh “Về việc cho tạm thời giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung
và Nam” nếu những luật lệ ấy không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà
nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa, Nghị định số 37 ngày 01/12/1945
về “Tổ chức Bộ Tư pháp”, Sắc lệnh số 13 ngày 20/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hòa về “Tổ chức các Tòa án và các ngạch
thẩm phán” Những văn bản pháp luật này đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ
chức THADS Việt Nam Sắc lệnh quy định Ban Tư pháp xã có quyền “thi hành
những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên” bao gồm các BA, QĐ của Tòa án
Đối với việc THA, Chưởng lý và Biện lý có thẩm quyền giám sát việc THA Tại điều 3 của Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
dân chủ cộng hòa đã quy định: “Trong các xã, thị xã hoặc khu phố, Chủ tịch,
Phó Chủ tịch và thư ký đều chịu trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án Bản án ấy sẽ tuỳ từng việc, chỉ định một nhân viên để
Trang 19giao cho việc thi hành lệnh, mệnh lệnh hoặc án ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng, thì đương sự có quyền nhờ thừa phát lại riêng thi hành mệnh lệnh” Tiếp đó, thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ Tư pháp về việc thi hành các án hình và hộ, đoạn 4 cũng quy định rõ: “Mỗi khi có trở lực trong việc chấp hành, ông Biện lý có bổn phận can thiệp để tỏ rõ nhiệm vụ làm cho pháp luật được tôn trọng.”
Như vậy, theo các văn bản này thì THADS ở nước ta giai đoạn này tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại và ban Tư pháp xã Theo đó, thủ tục THA được quy định bằng những nguyên tắc, thể thức chấp hành các BA, QĐ của Tòa
án, theo Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thì thủ tục THA nước ta thời này bao gồm:
Về nguyên tắc chấp hành: người đương sự được kiện, muốn chấp hành
bản án của mình phải xin ở phòng lục sự một bản trích lục hoặc toàn sao bản án
ấy Nhưng việc chấp hành vẫn chịu quyền giám thị của chưởng lý và biện lý Bản thân lục sự của Tòa án phải tự động gửi bản sao bản án cho người đương sự biết và thi hành
Về thể thức thi hành: trong các bản trích lục hoặc bản sao được phòng lục
sự cấp cho đương sự, bên dưới phải được lục sự ký: "thừa lệnh Tòa án" Bên chữ
ký của lục sự phải có chữ ký của thẩm phán công tố viên "duyệt" Đó là những bản sao có thể thức chấp hành Bản sao này chỉ được cấp có một lần Nhưng trong trường hợp đặc biệt, ví dụ: đánh mất bản sao có thể thức chấp hành, Chánh
án có thể ra mệnh lệnh cho phép phòng lục sự cấp một bản toàn sao khác có thể thức chấp hành Vị chưởng lý và biện lý có nhiệm vụ kiểm soát những thể thức chấp hành này
Về cách thức thi hành: pháp luật đặt ra những công lại riêng để thi hành
các án hộ và thương mại, được gọi là các thừa phát lại Tuy nhiên, thừa phát lại trước năm 1945 là lý trưởng, thì nay trong tổ chức tư pháp mới là tư pháp xã Chức năng này của ban tư pháp xã đã được quy định chính thức trong Sắc lệnh
số 13, ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán Khi cần thiết, các vị chỉ huy binh lực sẽ can thiệp vào việc thi hành án
Giai đoạn từ 1950 – 1980, tổ chức và hoạt động THADS có sự thay đổi
mang tính chất bước ngoặt kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh
Trang 20số 85/SL ngày 22/5/1950 về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” Theo
quy định tại điều Điều 19 của Sắc lệnh thì: Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính Toà án huyện hoặc Toà án trên đã tuyên Việc phát mại bất động sản và phân phối tiền bán được cũng do Toà án huyện phụ trách Trong trường hợp có nhiều bất động sản rải rác ở nhiều huyện khác nhau thì Biện lý sẽ chỉ định một Thẩm phán huyện để việc phát mại đó vừa có lợi cho chủ nợ lẫn người mắc nợ
Như vậy, việc THADS không do Thừa phát lại và Ban Tư pháp thực hiện nữa mà được thay thế bằng Thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Tòa án Thủ tục THADS cũng từ việc căn cứ vào đơn yêu cầu của đương sự trở thành trách nhiệm của Nhà nước, Tòa án chủ động THADS mà không chờ yêu cầu của người được THA
Việc THADS trong giai đoạn này do nhân viên chấp hành án thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định (Theo Điều 24, Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960) Ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên Từ
đó, tên gọi “chấp hành viên” ra đời thay cho“nhân viên chấp hành án”để làm
nhiệm vụ THADS theo Thông tư số 187/TC hướng dẫn thi hành Quyết định số 186/TC do Tòa án nhân dân tối cao ban hành CHV được đặt tại Tòa án, dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Tòa án
Thông tư số 443-TC ngày 04/7/1968 của TANDTC về việc đẩy mạnh công tác THA đã xác định nhiệm vụ của chính quyền cấp xã là giáo dục, theo dõi, đôn đốc đương sự tự nguyện THA, giúp tòa án điều tra nắm tình hình trong quá trình THA TANDTC cũng đã ban hành Điều lệ tạm thời về công tác THA (kèm theo công văn số 827/CV ngày 23/10/1979) quy định khá chi tiết, cụ thể về
trình tự, thủ tục THA Tại Điều 6 của bản Điều lệ nêu trên có quy định: "Khi bản
án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc theo pháp luật phải chấp hành khẩn cấp, Tòa án đã xét xử bản án đó phải trích lục án cho CHV nơi phải chấp hành án và VKSND cùng cấp chậm nhất là trong ba ngày Sau khi nhận được trích lục bản án, chậm nhất là ba ngày CHV phải tống đạt trích lục án cho những người phải chấp hành án, những người được chấp hành án và
Trang 21những người có quyền lợi liên quan; hướng dẫn cho họ cách tự nguyện chấp
hành án và ấn định cho họ một thời gian để họ tự nguyện thi hành"
Có thể thấy, trong giai đoạn này, thủ tục THADS đã được quy định khá
cụ thể, khẳng định trách nhiệm chủ động của Nhà nước đối với việc thi hành các
BA, QĐ của Tòa án Theo các văn bản pháp luật, CHV có quyền quyết định cho đương sự một thời hạn để tự nguyện THA, áp dụng biện pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận với Chánh án nơi CHV công tác, yêu cầu lực lượng bảo vệ trật tự trị an giúp sức khi cần thiết, đề nghị Tòa án có
thẩm quyền cho hoãn, tạm đình chỉ THA và nhiều thủ tục khác về THADS
1.3.2 Giai đoạn từ 1980 đến 1993
Ở giai đoạn này, sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật khác có liên quan như : Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981; Nghị định số 34/HĐBT ngày 22/11/1981
của Hội đồng bộ trưởng về “chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp”
đã giao cho Bộ Tư Pháp đảm nhiệm công tác quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức, trong đó có công tác THADS; Thông tư liên ngành số
472 về “Quản lý công tác THA trong tổ chức trước mắt” của Bộ Tư pháp và Tòa
án nhân dân tối cao…
Cột mốc đánh dấu sự ra đời của Pháp lệnh THADS đầu tiên của nước ta là ngày 28/8/1989 Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã ban hành PLTHADS năm 1989,
có hiệu lực thi hành ngày 1/1/1990 và cùng với đó là Thông tư liên ngành số 06 – 89/TTLN ngày 7/12/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ tư pháp “hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp lệnh thi
hành án dân sự” PLTHADS 1989 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tăng
cường hoàn thiện, kiện toàn tổ chức, thực hiện hoạt động THADS nói chung và thủ tục THADS nói riêng
Theo PLTHADS năm 1989 thì công tác THA do Tòa án thực hiện, nhưng
đã có sự chuyên biệt giữa thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử và Thẩm phám làm nhiệm vụ THA; đồng thời sẽ song song tồn tại hai cơ chế, một là cơ chế chủ động THA và hai là cơ chế THADS theo đơn yêu cầu, với những thủ tục THADS khá cụ thể và rõ ràng
Trang 22Thủ tục thi hành án được quy định tại Chương 3 của Pháp lệnh, từ điều 13 đến điều 22 Theo đó, về quyền yêu cầu THA, người được THA căn cứ vào bản trích lục BA, QĐ có quyền yêu cầu người THA thi hành, trong trường hợp người phải THA không tự nguyện THA, người được THA có quyền gửi đơn đến Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm hoặc sở thẩm đồng thời là chung thẩm vụ án để yêu cầu THA, bản trích lục bản án, quyết định của Toà án phải được gửi kèm theo đơn yêu cầu THA Thời hiệu THA theo pháp lệnh này là 3 năm kể từ ngày
BA, QĐ có hiệu lực pháp luật Chánh án Tòa án chủ động ra quyết định THA đối với các BA, QĐ về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại XHCN, phạt tiền, tịch thu tài sản; BA, QĐ chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay như BA, QĐ sơ thẩm về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe của công dân mà Tòa án cho thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị; quyết định khẩn cấp tạm thời để đảm bảo lợi ích cấp thiết của đương sự hoặc bảo đảm cho việc xét xử và THA
Các căn cứ để hoãn và tạm đình chỉ THA được quy định tại Điều 18 và 19, trong trường hợp: Người phải THA án ốm nặng mà theo BA, QĐ thì người đó có nghĩa vụ phải tự mình thực hiện; người được THA yêu cầu hoặc đồng ý cho người phải THA hoãn việc thi hành; chưa xác định được địa chỉ của người phải THA Khi điều kiện hoãn THA đã hết, thì BA, QĐ được tiếp tục thi hành PLTHADS năm1989 cũng đã có những quy định chặt chẽ về các trường hợp đình chỉ THA, đó là các trường hợp: Người phải THA chết mà theo bản án, quyết định thì nghĩa vụ thực hiện không được chuyển cho người thừa kế; người được THA chết mà quyền và lợi ích theo bản án, quyết định không được thừa kế; người được THA là cá nhân, tổ chức kinh tế tư nhân tự nguyện yêu cầu không THA nữa; bản án, quyết định bị Toà án có thẩm quyền huỷ bỏ; thời hiệu yêu cầu THA đã hết Trong trường hợp người được THA tự nguyện yêu cầu không THA nữa, sau đó không có quyền yêu cầu THA trở lại
Việc quyết định THADS sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân thực hiện, Chấp hành viên là người trực tiếp tổ chức việc THADS Tuy nhiên, việc Tòa án thực hiện kiêm nhiệm hai chức năng này là một gánh nặng rất lớn, đồng thời nó còn không đảm bảo được tính khách quan, công bằng trong hoạt động THADS
Trang 231.3.3 Giai đoạn từ 1993 đến 2008
Pháp lệnh thi hành án đầu tiên ra đời năm1989 đã bộc lộ những khiếm khuyết và đòi hỏi cần có những sửa đổi, bổi sung cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của nước ta Giai đoạn 1993 – 2008 là giai đoạn có nhiều bước đột phá cho sự phát triển của pháp luật THADS Trong giai đoạn này, đã có rất nhiều văn bản pháp luật về thủ tục THADS ra đời mà điển hình là hai PLTHADS năm 1993 và năm 2004 Thêm vào đó, cũng có rất nhiều văn bản pháp quy cụ thể liên quan đến thủ tục THADS, tạo khung pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, thực hiện các hoạt động thi hành án dân sự, trong đó phải kể đến các văn bản như : Luật tổ chức chính phủ năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách tư pháp,
trong đó có công tác THADS ; Nghị quyết “về việc bàn giao công tác thi hành
án dân sự từ Toà án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ” được Quốc
hội khóa IX thông qua ngày 06/10/1993
Trước hết, PLTHADS năm 1993 được Quốc hội ban hành ngày 21/4/1993 thay thế cho PLTHADS năm 1989 Theo đó, công tác THA được bàn
giao từ Tòa án sang cơ quan Chính phủ Cho nên, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản pháp luật quy định về tổ chức, trình tự,
thủ tục THADS như : Nghị định số 69/CP ngày 18/10/1993 quy định “Thủ tục
thi hành án dân sự”; Thông tư liên ngành số 981/TTLN ngày 21/9/1993 của Bộ
Tư Pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn
thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự”…
PLTHADS năm 1993 vẫn dựa trên những quy định cơ bản về thủ tục THA của PLTHADS năm 1989, nhưng có những sửa đổ, bổ sung mới Thủ tục thi hành án được quy định từ điều 18 đến 28 thuộc chương 3 của Pháp lệnh Quy định về quyền yêu cầu thi hành án của đương sự theo pháp lệnh 1993 được bổ sung thêm một điểm đáng chú ý là trường hợp người phải THA không tự nguyện
THA và có đơn yêu cầu THA của người được THA thì “trong thời hạn mười
ngày, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành án” (Điều 19) Quy định này được bổ sung giúp cho quyền lợi của người
được THA được bảo đảm và hạn chế tình trạng nhiêu khê, trì trệ của các CQTHADS Theo pháp lệnh này, thủ trưởng CQTHADS sẽ chủ động ra quyết
Trang 24định THA trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được BA, QĐ THA Việc quy định thời gian ra quyết định THA đảm bảo cho việc THA nhanh chóng, chủ động hơn, đảm bảo lợi ích của cá nhân đương sự và nhà nước
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản nữa đó là việc ra quyết định THA không
do chánh án tòa án nhân dân ra quyết định nữa, mà do thủ trưởng CQTHA Việc thay đổi người ra quyết đinh THA làm giảm bớt gánh nặng cho Tòa án, giảm bớt chức năng kiêm nhiệm cả hai nhiệm vụ, đảm bảo khách quan, công bằng hơn
Sự ra đời của PLTHADS năm 1993 và các văn bản hướng dẫn là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết việc THADS, kịp thời đáp ứng yêu cầu của công tác THADS vào hoàn cảnh đó, xây dựng được một cơ chế quản lý nhà nước thống nhất đối với công tác THADS, quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục THA, tạo cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS
Tiếp đó, đến ngày 14/1/2004 Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp tục thông qua Pháp lệnh thi hành án dân sự mới, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004 Pháp lệnh này thay thế cho pháp lệnh cũ năm 1993 để đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh đổi mới, cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đặt ra Bởi vì trong những năm tiếp theo đó, ngành Tư pháp luôn xác định công tác THADS là một nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt là sau khi nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày
2/1/2002 của Bộ chính trị “ Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới” và Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung
ương Đảng Khóa IX xác định “đẩy mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp… tập trung thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là THADS, khắc phục cơ bản tình trạng tồn đọng kéo dài” Cho nên, Bộ tư pháp đã đẩy
nhạnh tiến độ soạn thảo để trình các cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành PLTHADS mới thay thế PLTHADS năm 1993
Thủ tục THADS được quy định tại chương III của Pháp lệnh này, gồm 19 điều, từ Điều 18 cho đến Điều 36, và Nghị định 173/2004/ NĐ-CP ngày
30/9/2004 “quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt hành chính trong thi hành
án dân sự” PLTHADS năm 2004 vẫn kế thừa các quy định hợp lý của pháp
lệnh THADS năm 1993 Bên cạnh đó, pháp lệnh có bổ sung nhiều điểm mới đáp ứng sự thay đổi của hoàn cảnh kinh tế xã hội
Trang 25Thủ tục thi hành án được quy định từ điều 18 đến điều 36 tại chương 3 của PLTHADS năm 2004 Có rất nhiều thủ tục được bổ sung ví dụ như: Gửi và giải thích BA, QĐ của Toà án; Uỷ thác thi hành án; Chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA
Bên cạnh đó, những thủ tục được quy định tại pháp lệnh 1993 cũng được sửa đổi bổ sung theo hướng chặt chẽ và hợp lý: Ví dụ như việc quy định về cấp
BA, QĐ của Tòa án ở Điều 18 của pháp lệnh cho thấy việc quy định rõ hơn về trách nhiệm của Tòa án trong việc giải thích cho đương sự về quyền được THA; hay quy định gửi và giải thích bản án, quyết định của Tòa án là một quy định hoàn toàn mới, là cơ sở pháp lý quan trọng, giúp cho CQTHADS nắm bắt được thông tin, chủ động tiến hành các thủ tục về THA theo đúng quy định, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự…
Trước đây, PLTHADS năm 1993 đã quy định một số lượng tương đối lớn các BA, QĐ thuộc diện CQTHADS phải chủ động đưa ra thi hành Trong đó phần lớn các trường hợp được CQTHA chủ động ra quyết định THA là do người được THA là cơ quan, tổ chức Nhà nước Quy định này đã thể hiện sự bất bình đẳng giữa các chủ thể là người được THA với nhau Cụ thể là người được THA
là cá nhân và người THA là cơ quan, tổ chức Do đó, để đảm bảo sự đối xử công bằng giữa những người được THA, đảm bảo việc THA nghiêm túc và kịp thời các khoản thu nộp cho ngân sách Nhà nước, Điều 22 PLTHADS năm 2004 thu hẹp và quy định cụ thể hơn các trường hợp CQTHA chủ động ra quyết định THA [23,tr.130], đó là các BA, QĐ liên quan đến : án phí, lệ phí Tòa án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; hình phạt tiền; tịch thu tài sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ; thu hồi đất theo quyết định của Tòa án; quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án Và thời hạn ra quyết định THA chủ động được rút ngắn xuống còn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được BA, QĐ; còn đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra quyết định THA ngay, đảm bảo cho việc thực hiện những quyết định có tính cấp thiết
Như vậy, PLTHADS năm 2004 có những quy định đơn giản, chi tiết, cụ thể hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện các quy định trên thực tế Tuy nhiên khi hoàn cảnh xã hội, điều kiện kinh tế của đất nước thay đổi thì việc
Trang 26áp dụng pháp lệnh này trong thời gian tiếp theo là không phù hợp với thực tiễn, không phù hợp với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính và xu thế hội nhập quốc tế Bởi nhiều quy định của PLTHADS năm 2004 còn mang tính phức tạp, nhiều thủ tục kéo dài và tốn kém
1.3.4 Giai đoạn từ 14/1/2008 đến nay
Công cuộc cải cách tư pháp giai đoạn 2006 – 2020 theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị đòi hỏi sự cần thiết phải ban hành một văn bản Luật chuyên ngành trong lĩnh vực THADS Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của công tác THA, ngày
14 tháng 1 năm 2008, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa VII, kì họp thứ
4 đã chính thức thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 Việc ban hành văn bản pháp luật này nhằm
kế thừa và luật hóa các quy định của các văn bản pháp luật về THADS trước đây, đặc biệt PLTHADS năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh này, đồng thời xây dựng những quy định mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn THADS của nước ta qua các thời kỳ, cũng như tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Thủ tục THADS được quy định cụ thể tại chương III Luật THADS 2008 và Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định những vấn đề chung về trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự Luật THADS năm 2008 đã bổ sung thêm các quy định mới từ 19 Điều lên 39 Điều, nhằm đảm bảo tính cụ thể, và quy định chặt chẽ Hơn nữa trong các quy định của Luật THADS đã phá bỏ nhiều rào cản về thủ tục theo hướng có lợi cho người dân Ví dụ : PLTHADS trước đây quy định thời hiệu THA chỉ là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thì người được THA có phải có đơn yêu cầu THA thì nay LTHADS 2008 đã mở rộng thời gian THA lên 5 năm; trong thủ tục cấp BA, QĐ thì pháp luật quy định không chỉ cấp BA, QĐ của Tòa
án mà còn cấp cả quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại cho đương sự; trong quy định
về xác minh điều kiện THA thì Luật THADS 2008 đã quy định rõ về thủ tục, thời hạn tiến hành xác minh, việc chuyển trách nhiệm xác minh điều kiện THA
Trang 27cho người phải THA là một điểm mới đáng chú ý; các quy định về ủy thác THA, hoãn, tạm đình chỉ THA đều được sửa đổi bổ sung theo hướng hợp lý hơn… Việc ban hành Luật THADS 2008 thay thế cho PLTHADS 2004 đã thực
sự khẳng định giá trị hiệu lực pháp lý của các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực THADS Thêm vào đó, khắc phục được những thủ tục rườm rà, phức tạp, kéo dài, tốn kém mà PLTHADS 2004 đã quy định Có thể thấy, luật THADS 2008 ra đời là văn bản chuyên ngành đầu tiên về THADS có hiệu lực pháp lý cao nhất
Sự ra đời của Luật THADS 2008 là sự ra đời kịp thời và đáp ứng yêu cầu của chủ trương cải cách tư pháp, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế…
Bên cạnh đó, thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội Từ năm 2010, chế định này đã chính thức được thực hiện thí điểm tại TP Hồ Chí Minh và sau hơn
02 năm thực hiện, trên cơ sở tổng kết, báo cáo của Chính phủ, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2013 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại Đến nay, việc thí điểm đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Ngay sau khi có Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” (Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày25/3/2013); có văn bản đề nghị và trên cơ sở đăng ký của các địa phương, lựa chọn, phê duyệt
Đề án của 12 địa phương mở rộng thí điểm (gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long) Ngày 26/11/2015, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết 107 về thực hiện chế định Thừa phát lại Nghị quyết ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH12 của Quốc hội, chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 1/1/2016 Các tổ chức Thừa phát lại được thành lập theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH12 của Quốc hội tiếp tục
Trang 28hoạt động theo quy định của Nghị quyết này cho đến khi Quốc hội ban hành Luật Thừa phát lại
Để tạo cơ sở pháp lý, quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, trình Chính phủ ban hành 01 nghị định; đồng thời, ban hành 03 thông tư hướng dẫn thi hành (02 thông tư liên tịch và 01 thông tư của Bộ Tư pháp) Cũng trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành liên quan và địa phương đã có nhiều văn bản quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện với phương châm sát sao, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất cho Thừa phát lại hoạt động, đảm bảo thành công của chế định này Tại một số địa phương, Tỉnh ủy/Thành ủy, Ủy ban nhân dân đã có văn bản, chỉ thị nhằm quán triệt, chỉ đạo các sở, ban, ngành, các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn phối hợp, thực hiện hiệu quả việc thí điểm
Qua 05 năm thi hành luật, công tác thi hành án dân sự đã từng bước đi vào
nề nếp và có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, quá trình thi hành luật cũng cho thấy nhiều nội dung, quy định của luật không còn phù hợp với thực tiễn, tạo
ra trở lực cho quá trình thi hành án và chưa thực sự đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Dự thảo luật THADS ban hành ngày 21/2/2014 đã được lấy ý kiến sâu rộng từ nhân dân, và được biểu quyết thông qua vào ngày 25/11/2014 Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực
từ 01/7/2015 Luật sửa đổi, bổ sung 47 Điều; bãi bỏ Điều 32, 33, 34, 51, 138
139, điểm b Khoản 1 Điều 163, các khoản 3 và 4 Điều 179 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 Luật cũng có một số nội dung sửa đổi, bổ sung nổi bật về thủ tục THADS góp phần tích cực nâng cao hiệu quả công tác THADS trong thời gian tới để tiến tới xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục THADS, đặc biệt từ khi ban hành Luật THADS 2008, có thể thấy, tuy còn có một số tồn tại nhất định nhưng pháp luật về thủ tục THADS đã có những tiến bộ với những trình tự, thủ tục đơn giản, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật về THADS, cùng với pháp luật nói chung đã xây dựng được cơ chế quản lý thống nhất về THADS, hệ thống cơ
Trang 29quan quản lý THADS, CQTHADS độc lập với cơ quan xét xử để có điều kiện tập trung cho việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo trình tự, thủ tục THADS Thêm nữa, việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành
án dân sự đã phần nào khắc phục những hạn chế, tồn tại trong Luật thi hành án dân sự 2008
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thủ tục thi hành án dân sự
1.4.1 Tính hợp pháp, thống nhất, phù hợp với thực tế của pháp luật
về thủ tục THADS
Khi áp dụng thủ tục THADS để thực hiện công tác THADS, cơ quan THADS áp dụng cả Luật THADS và văn bản dưới luật hướng dẫn Các quy định của Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của cơ quan THADS, là phương tiện không thể thiếu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực thi hành án dân sự Về cơ bản, Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008 có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện thủ tục THADS, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Đảng và Nhà nước ta
các văn bản dưới luật với luật Bên cạnh đó, tính hợp pháp của hệ thống pháp luật còn bao hàm nhiều yêu cầu khác Đó là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu xã hội Văn bản đó có đáp ứng được yêu cầu của xã hội của thời điểm đó hay không? Có được người dân ủng hộ hay không? Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần thực hiện tốt công tác tham khảo ý kiến của đối tượng chịu tác động của văn bản nói riêng, nhân dân nói chung Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật công khai, minh bạch thông qua nhiều hình thức khác nhau bảo đảm cho xã hội, nhân dân được tiếp cận một cách thuận tiện, dễ dàng nhất Hình thức văn bản phải rõ ràng đúng quy định, đúng thẩm quyền Nội dung văn bản phải rõ ràng, dễ đọc, dễ tiếp cận; nội dung của từng quy phạm phải đơn nghĩa, dễ hiểu, dễ tiên liệu Các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực THADS thường
Trang 30mang tính định khung, quy định chung, và cần rất nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn Ví dụ như Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã cần đến trên 40 văn bản pháp luật khác nhau để hướng dẫn thi hành Sau khi Luật THADS năm 2008
ra đời, các cấp có thẩm quyền đã ban hành 51 văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, gồm: 3 Nghị định của Chính phủ, 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 Thông tư, 17 Thông tư liên tịch, 1 Quy chế phối hợp liên ngành, 3 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 1 Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 5 Quyết định của Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS ban hành quy phạm nội bộ trong hệ thống tổ chức THADS; mặt khác vẫn áp dụng 1 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và 1 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành trước khi có Luật THADS Vì vậy khi áp dụng gây khó khăn, vướng mắc cho bộ phận người dân ít am hiểu pháp luật Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS đã quy định mang tính chi tiết hơn Hiện nay, Chính phủ đã ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự: Nghị định
số 62/2015/NĐ-CP ngày 18-7-2015 của Chính phủ quy định chi tiết và và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung Nghị định đã quy định và hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn, giảm bớt việc chồng chéo giữa các văn bản
1.4.2 Ý thức pháp luật của người dân trong việc thực hiện thủ tục THADS
Cần phải thay đổi tư duy để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân
sự Bởi thi hành án dân sự là việc đưa bản án, quyết định của Toà án; quyết định, phán quyết của trọng tài Thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, ra thi hành trên thực tế Có thể nói, việc đưa các quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế là công việc
hết sức khó khăn và phức tạp Điều 106 của Hiến pháp 2013 quy định: Bản án,
quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp khi bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng các bên vẫn không tự nguyện thi hành Do đó, một trong các bên phải làm đơn yêu cầu đến cơ quan Thi hành án dân sự để nhờ cơ quan này can thiệp Trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án còn thể hiện rõ ý chí chống đối pháp luật, không hợp tác với các cơ quan
Trang 31có thẩm quyền, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người được thi hành án Tình trạng người phải thi hành ánh chây ì không tự nguyện thi hành, khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là tình trạng xảy ra phổ biến Khi người thi hành ánh phải làm đơn yêu cầu thi hành án và vụ việc được cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án, thì việc tổ chức thi hành các phán quyết của Tòa án lại được thực hiện theo trình tự, thủ tục mang nặng tính hành chính Do vậy, đã làm giảm hẳn tính nghiêm minh của bản án, quyết định của Tòa án nói riêng và tính nghiêm minh của pháp luật nói chung
Chính vì vậy, kết quả thi hành các bản án, quyết định dân sự hiện nay chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật của người dân đối với các bản án dân sự còn rất hạn chế Điều này rất dễ dẫn đến việc người dân mất niềm tin vào hệ thống pháp luật, vì người được thi hành án thì cảm thấy không được pháp luật bảo vệ một cách trọn vẹn, còn người phải thi hành án thì không tôn trọng phán quyết của Tòa án và thậm chí không tôn trọng cả những thỏa thuận, cam kết mà
họ đã đưa ra trong quá trình giải quyết ở Tòa án cũng như trong giai đoạn thi hành án Trong thực tế, có nhiều trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, không hợp tác với cơ quan Thi hành án, mặc dù họ có đủ điều kiện nhưng vẫn chờ cho đến khi cơ quan Thi hành án tổ chức cưỡng chế thì
họ mới chịu thi hành
Nguyên nhân của thực trạng chây ì, không tự nguyện thi hành án như trên,
có thể thấy một phần là do hệ quả từ chính các quy định trong pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay tạo nên Để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân
sự và khắc phục những hạn chế trên, chúng ta cần phải thay đổi cơ bản tư duy, cách hiểu về giai đoạn thi hành án dân sự Một điều chúng ta dễ dàng nhận thấy,
đó là vì một bên đương sự không tự nguyện thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nên bên còn lại mới phải yêu cầu đến cơ quan Thi hành án thi hành Nghĩa là, đã có một bên đương sự không tôn trọng pháp luật, không tự nguyện chấp hành bản án, quyết định của Tòa án Vì vậy cần phải nâng cao ý thức pháp luật của người dân, để đảm bảo cho hiệu quả thi hành án được nâng cao
Trang 321.4.3 Việc minh bạch thông tin, tài sản trong quá trình tổ chức THA
Có thể thấy, lỗ hổng trong thi hành án dân sự là do chưa có Luật Đăng ký tài sản, bởi thực tế không phải các cá nhân, tổ chức không có tài sản mà vấn đề
là không kiểm soát được, không thu hồi được tài sản trong các vụ án lớn Vì vậy, các cơ quan lập pháp, hành pháp cần phải nghiên cứu các mô hình quản lý của các nước tiên tiến trong đăng ký tài sản, kê biên phong tỏa tài sản để kịp thời đề xuất các quy định pháp luật trong quản lý cũng như thi hành án
Đồng thời để công tác thi hành án dân sự đạt hiệu quả, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan liên quan, giữa Trung ương và chính quyền các địa phương nhằm đẩy mạnh công tác thi hành án, thực hiện tốt công tác giám sát thi hành án dân sự
qua (từ tháng 10/2014 đến tháng 6/2015), hệ thống thi hành án dân sự đã giải quyết xong 354.992 việc, số tiền thu được đạt 31.500 tỉ đồng (đạt tỷ lệ 68,53%
về việc và 44,78% về tiền thu được).Tuy nhiên, số tiền và việc chuyển kỳ sau còn nhiều; việc thi hành án đối với các bản án của vụ án kinh tế lớn tiến độ còn chậm; nhiều vụ việc kết quả thu hồi rất thấp Nguyên nhân là do cơ chế quản lý tài sản của công dân còn thiếu minh bạch, hành lang pháp lý về quản lý cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng chống tham nhũng chưa được cụ thể hóa Trong quá trình tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền không kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản của đương sự, việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đầy đủ, kịp thời
1.4.4 Trách nhiệm của chấp hành viên trong việc thi hành án
Chấp hành viên là một chức danh tư pháp “được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định” của Tòa án và cơ quan tài phán khác theo quy định của pháp luật Chấp hành viên bao gồm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp, Chấp hành viên cao cấp (Điều 17 Luật Thi hành án dân sự)
Chấp hành viên có các quyền năng, nhiệm vụ cụ thể như: triệu tập đương
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu các cơ
Trang 33quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến việc thi hành án Đặc biệt, Chấp hành viên còn có quyền yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật và được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định (Điều 20 Luật Thi hành án dân sự)
Với trách nhiệm là người được Nhà nước trao quyền tổ chức THA, Chấp hành viên có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo bản án, quyết định có được thi hành trên thực tế hay không Chính vì vậy, mà Luật THADS cũng quy định
rõ về chế tài xử phạt đối với Chấp hành viên nếu không làm đúng vai trò, trách nhiệm của mình Tại Điều 165 Luật THADS sửa đổi, bổ sung về xử lý vi phạm, những vi phạm của chấp hành viên bị xử lý được quy định chặt chẽ và hợp lý hơn Theo đó, việc không thi hành đúng bản án, quyết định, trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật chỉ bị xử lý với lỗi cố ý và hình thức xử lý (kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự) phải tùy thuộc vào mức độ vi phạm
1.4.5 Chất lượng của bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
Để bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn thi hành án dân sự và đạt hiệu quả cao, không chỉ nhờ vào sự phối hợp hỗ trợ nhiệt tình của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương và ý thức chấp hành nghiêm của các bên đương sự mà cần phải có sự ra đời của một phần quyết định đúng đắn của Tòa án, thì bản án, quyết định của Tòa án mới được thi hành xong Công tác thi hành án lúc đó đạt hiệu quả và hạn chế được đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài
Trên thực tế vẫn còn một số bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ ràng, có sai sót hoặc nhầm lẫn, không sát với thực tế Những án này thường thuộc về tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất, phần không gian bên trên hoặc về ranh giới đất liền kề Khi được Tòa án xem xét giải quyết thì không phù hợp với thực tế, là nguyên nhân dẫn đến đơn thư khiếu nại nhiều, dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án không được thi hành
Trang 34Quả thực, trong thực tiễn công tác có không ít trường hợp cơ quan thi hành án và chấp hành viên gặp khó khăn khi gặp những bản án, quyết định tuyên
mà không thể nào thi hành được trên thực tế và hậu quả là người được thi hành
án phải chịu thiệt thòi; chấp hành viên tốn thời gian, công sức và hồ sơ thi hành
án lại trở thành án tồn đọng Điều này đòi hỏi phải tăng cường trách nhiệm của
Tòa án trong việc theo dõi hoạt động thi hành án
1.5 Khái quát về thủ tục thi hành án theo pháp luật một số nước trên Thế giới và kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam
1.5.1 Cộng hòa Pháp
Cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự ở Pháp đều tập trung ở Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý Theo Luật số 91-650 ngày 9-7-1991 về thủ tục THADS của Pháp thì việc THADS được đặt dưới sự điều hành của thẩm phán đặc trách THA và thừa phát lại (tương đương với chấp hành viên hiện nay) Theo đó, thẩm phán đặc trách THA chính là người có thể quyết định cho tạm hoãn THA Thẩm phán đặc trách THA không được giao quyền chủ động thi hành các bản án và quyết định của tòa án Ở Pháp cũng như ở miền Nam trước năm 1975, quyền chủ động thi hành án được giao cho thừa phát lại, với tư cách này thừa phát lại là người duy nhất có độc quyền triển khai thi hành án, và thừa phát lại được ủy quyền đương nhiên khi được giao cho bản án có văn thức chấp hành
Thời hiệu thi hành án của cộng hòa Pháp là 30 năm Việc THA căn cứ vào đơn yêu cầu của người được THA Theo điều 502 Bộ luật TTDS Pháp về thủ tục thì mọi bản án, quyết định chỉ được đưa ra thi hành nếu đương sự xuất trình một bản sao có ghi rõ để thi hành, trừ khi pháp luật có quy định khác; bản án chỉ được thi hành khi người phải THA đã được tống đạt, trừ trường hợp họ tự nguyện thi hành Các giấy tờ có hiệu lực thi hành ngoài bản án của Tòa án còn
có các văn bản công chứng có ghi “để thi hành”, trích lục biên bản hòa giải thành, séc thanh toán…[13, tr.216]
Theo các văn bản pháp luật, ở Pháp, thi hành các bản án, quyết định về dân
sự do các văn phòng hoặc công ty thừa phát lại thực hiện mà trực tiếp là các thừa phát lại Các văn phòng, công ty thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo
mô hình của các công ty thương mại Tư cách thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa
Trang 35là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp, vừa làm nghề
tự do có tư cách hoạt động độc lập Họ hoạt động với nguồn kinh phí, thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả mà Nhà nước không phải mất một khoản tài chính nào chi trả cho họ, thậm chí còn thu được một khoản tài chính thông qua việc đánh thuế vào hoạt động của các văn phòng, công ty thừa phát lại đó Điều đặc biệt là Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết [29, tr37]
1.5.2 Nhật Bản
Theo quy định của Luật THADS Nhật Bản ngày 1/10/1980 đã được sửa đổi, bổ sung năm 1989 thì tổ chức CQTHA của Nhật Bản theo mô hình tổ chức THADS bán công, CQTHADS chịu sự quản lý trực tiếp của Tòa án [25, tr.196]
Ở Nhật Bản, khi người được THA có đơn yêu cầu THA thì việc thi hành án mới được tiến hành Để có thể tiến hành thủ tục thi hành án, thư kí tòa án phải xác định “quyền được thi hành” Thư kí Tòa án đã ra bản án (trong trường hợp ngoại lệ là công chứng viên) kiểm tra sự hợp pháp của “quyền được thi hành” và viết một câu cho phép thi hành bản án (Khoản 1, Điều 26, Bộ luật Thi hành án Nhật Bản) Người phải thi hành án có thể kháng cáo đối với quyết định của thư
kí Tòa án (hoặc công chứng viên) (Điều 33 và 34 Bộ luật Thi hành án) nhưng phải căn cứ vào yêu cầu cho phép thi hành chính thức Điều kiện tiên quyết và không thể thiếu được trong việc thi hành án đó là trong đơn yêu cầu thi hành án phải chỉ rõ tình trạng tài sản của người phải thi hành án và tài sản đó ở đâu, để cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án Nếu không đáp ứng được điều kiện này thì CHV từ chối việc thi hành án Ở nước này, để được THADS, bên cạnh việc nêu rõ nội dung yêu cầu và các bên liên quan, thì đặc biệt cần có chứng thư nghĩa vụ dân sự Chứng thư nghĩa vụ dân sự gồm có: Các bản án, quyết định của Tòa án, yêu cầu về thanh toán kèm theo tuyên bố về thi hành tạm thời; quyết định về lệ phí, kiện tụng; chứng thư đã được cơ quan công chứng xác nhận… Đây là tài liệu cơ bản nhất cho thủ tục thi hành cưỡng chế và tiêu chuẩn duy nhất
để các cơ quan thi hành thực hiện việc THA bằng biện pháp cưỡng chế
Thời hiệu thi hành án ở Nhật Bản là 10 năm, hết 10 năm người phải thi hành án phải có đơn yêu cầu chấm dứt việc thi hành án [28, tr27]
Trang 361.5.3 Cộng Hòa Liên Bang Nga
Ở Cộng hòa Liên Bang Nga, thi hành án dân sự được tổ chức theo dạng công, độc lập, tạo thành một hệ thống từ trung ương đến khu vực đặt dưới quản
lý của Cục Thi hành án thuộc Bộ Tư pháp Liên bang Nga (quản lý cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự)
Cục Thi hành án Liên bang do chấp hành viên trưởng Liên bang Nga đứng đầu, là người được Tổng thống Liên bang Nga bổ nhiệm và miễn nhiệm Chấp hành viên trưởng cũng quy định trình tự, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chấp hành viên khác Cục Thi hành án Liên bang được giao nhiệm vụ bảo đảm trật tự tại Tòa án, thi hành văn bản thi hành án, áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác theo quy định của pháp luật và quyết định thi hành án; tổ chức việc kê biên
và bán tài sản kê biên; truy tìm con nợ và tài sản của họ; tham gia vào việc bảo
vệ lợi ích của Liên bang Nga với tư cách chủ nợ trong các vụ việc và vụ kiện phá sản; tham gia thực hiện quyết định của các ủy ban giải quyết tranh chấp lao động; hướng dẫn và giám sát hoạt động của các cơ quan thi hành án địa phương thuộc Cục Thi hành án Liên bang; lập và duy trì ngân hàng dữ liệu về công tác thi hành án và các nhiệm vụ tương tự khác
Đội ngũ chấp hành viên được tổ chức thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất thực hiện chức năng bảo đảm an ninh trật tự tại Tòa án và bộ phận thứ hai chịu trách nhiệm thi hành bản án và quyết định khác của Tòa án (Luật Liên bang về chấp hành viên)
Theo pháp luật Nga, thời hiệu yêu cầu THA được quy định tùy thuộc vào tính chất của loại bản án, quyết định được đưa ra thi hành Chẳng hạn, đối với
BA, QĐ của Toà án thì thời hiệu là 3 năm; đối với quyết định của trọng tài, các quyết định của người có thẩm quyền về truy thu các khoản tiền thông qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng thì thời hiệu là 6 tháng; đối với quyết định xử phạt hành chính thì thời hiệu là 3 tháng Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa
án và quyết định của các cơ quan khác (trừ Trọng tài) ở Nga rất đặc biệt Tòa án
sẽ cấp phiếu THA cho người được THA sau khi bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật, trừ những trường hợp phải thi hành ngay, nếu phiếu thi hành được cấp ngay sau khi Tòa án ra bản án, quyết định Phiếu THA được cấp
Trang 37cho người được THA hoặc Tòa án gửi cho người được THA theo yêu cầu của họ
để thi hành
Với việc hoãn THA, theo điều 435 của Bộ luật TTDS Liên Bang Nga năm
2003 thì thừa phát lại có quyền hoãn những hoạt động THA theo yêu cầu của người được THA hoặc người bị THA hoặc trên cơ sở quyết định của Thẩm phán Quyết định của thừa phát lại về việc hoãn những hoạt động THA có thể bị kháng cáo ở Tòa án trong thời hạn 10 ngày
Quy định về THA trong BLTTDS ở Nga tách quyền và nghĩa vụ của thẩm phán trong việc tạm đình chỉ THA Theo điều 436 thẩm phán có nghĩa vụ phải tạm đình chỉ thi hành án trong các trường hợp sau đây: người bị THA chết, bị tuyên bố là đã chết hoặc mất tích nếu quan hệ pháp luật đã được Tòa án giải quyết cho phép được thừa kế quyền cũng như trong trường hợp khi Tòa án trọng tài giải quyết thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản đối với người bị thi hành án; người bị THA mất năng lực hành vi; người bị THA tham gia vào những hoạt động quân sự, thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp, cũng như trong điều kiện xung đột quân sự; có đơn kiện đòi lại tài sản bị thu giữ (trừ trường hợp kê biên) mà tài sản đó là đối tượng thi hành theo phiếu THA; người bị THA khiếu nại về phiếu THA theo thủ tục tố tụng nếu việc khiếu nại đó được luật liên bang quy định; gửi đơn khiếu nại lên Tòa án đối với hành vi của cơ quan hoặc những người có chức vụ có thẩm quyền giải quyết
vi phạm hành chính; thẩm phán ra quyết định mà đối với quyết định đó luật liên bang cho phép được tạm đình chỉ việc THA
Theo điều 437 thì thẩm phán có quyền tạm đình chỉ THA trong những trường hợp sau: Tổ chức Bị THA bị tổ chức lại; người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc trên cơ sở hợp đồng phải tham gia phục vụ lực lượng vũ trang Liên bang Nga hoặc lực lượng quân sự khác được thành lập theo pháp luật của Liên Bang Nga; Người phải THA đang công tác dài ngày; người phải THA đang điều trị tại cơ sở điều trị; truy tìm người phải THA, tài sản của họ hoặc truy tìm trẻ em bị người phải THA đem đi mất; thừa phát lại yêu cầu Tòa án ban hành phiếu thi hành án giải thích về nội dung bản án, quyết định được đưa ra thi hành;
có khiếu nại về hành vi của thừa phát lại hoặc về việc thừa phát lại từ chối thực hiện hoạt động THA, cũng như về việc từ chối thay đổi thừa phát lại
Trang 38Còn quy định đình chỉ THA được quy định tại điều 439, tòa án đình chỉ THA trong các trường hợp sau: Người được THA từ chối yêu cầu THA hoặc từ chối nhận tài sản thu hồi từ người bị THA trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc chuyển tài sản đó cho người được THA; người được THA và người bị THA hòa giải với nhau và được Tòa chấp nhận; sau khi người được THA hoặc người phải THA chết hoặ sau khi họ bị tuyên bố là đã chết hoặc mất tích mà những yêu cầu hoặc nghĩa vụ đã được Tòa án xác nhận là không thể chuyển giao cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ của người bị tuyên bố là đã chết hoặc bị mất tích hoặc cho người quản lý tài sản của người mất tích; tài sản của tổ chức bị giải thể không đủ để thỏa mãn yêu cầu của người được THA; đối với hình thức THA đó, thời hiệu do luật liên bang quy định đã hết; bản án, quyết định của Tòa án hoặc văn bản của cơ quan khác mà dựa vào đó, phiếu thi hành
án được ban hành đã bị hủy bỏ [12, tr.110]
Bên cạnh đó, theo Bộ luật TTDS của Liên bang Nga, còn có thủ tục THA ngược, nhằm đảm bảo quyền lợi của người phải THA, tức là nếu trong trường hợp hủy bỏ bản án đã được đưa ra thi hành và sau khi xét xử lại, Tòa án đã ra bản án không chấp nhận một phần hoặc toàn bộ đơn kiện hoăc ra quyết định đình chỉ việc giải quyết hoặc không xem xét đơn khởi kiện thì bị đơn phải được hoàn trả những gì nguyên đơn nhận được khi thi hành bản án bị hủy bỏ
Luật THADS Nga còn có một thủ tục THADS rất đặc biệt đó là thủ tục THA ngược, trong trường hợp này bị đơn phải được hoàn trả những gì nguyên đơn nhận được khi thi hành bản án bị hủy bỏ Quy định này cũng nhằm đảm bảo quyền lợi của người phải THA
Việc tổ chức thi hành án dân sự ở Singapore do tòa án đảm nhiệm Ngoài Singapore, thì một số nước như Indonesia, Đức,… đều tổ chức thi hành án là một bộ phận nằm trong cơ cấu tổ chức của Toà án - chấp hành viên là công chức đặt tại Toà án do Chánh án hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Toàn bộ hoạt động thi hành án đặt dưới sự giám sát, chỉ đạo của chánh án Toà án địa phương hoặc thẩm phán thi hành án Mặc dù vậy, hoạt động thi hành án được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ và chỉ do chấp hành viên tiến hành theo quy định của pháp luật Hệ thống tổ chức tòa án ở Singapore gồm có tòa án tối cao và tòa án
Trang 39cấp dưới Ở tòa án tối cao và tòa án cấp dưới đều có bộ phận thi hành án Các nhân viên thi hành án trong bộ phận thi hành án vừa có nhiệm vụ tổ chức việc thi hành án vừa có nhiệm vụ tống đạt giấy tờ triệu tập và các quyết định khác của tòa án, thực hiện các lệnh bắt giữ Nhân viên thi hành án của tòa án nào thì thi hành bản án của tòa án đó Nhân vin thi hành án của tòa án cấp dưới không có quyền bắt giữ tàu biển của nước ngoài, không có quyền thi hành những bản án giải quyết vụ án có giá ngạch trên 250.000S$, những bản án đó do nhân viên thi hành án của tòa án tối cao tổ chức thi hành Nhân viên thi hành án phải thi hành đúng luật, công khai, không được tham nhũng Trường hợp có hành vi tiêu cực
sẽ bị xử lý theo pháp luật, bị chuyển làm việc khác
Về thủ tục thi hành án dân sự: Khi có bản án, người được thi hành án đến gặp người phải thi hành án để xem xét khả năng thi hành án của họ và yêu cầu
họ thi hành Nếu người phải thi hành án không thi hành, người được thi hành án muốn được thi hành phải có đơn yêu cầu thi hành án (theo mẫu in sẵn) gửi tòa
án Nhân viên thi hành án của tòa án ấn định ngày thi hành án và báo cho người được thi hành án biết Bên cạnh đó, người được thi hành án hoặc luật sư đại diện phải trực tiếp chỉ cho nhân viên thi hành án những tài sản mà người phải thi hành
án phải trả cho người được thi hành án, hoặc trong trường hợp thi hành các bản
án về trả tiền thì chỉ cho nhân viên thi hành án những tài sản của người phải thi hành án để nhân viên thi hành án kiểm kê, dán niêm phong hoặc chuyển giao tài sản cho người khác giữ
Về phí thi hành án: Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ một phần cho hoạt động thi hành án, chủ yếu là việc trả lương cho chấp hành viên, thẩm phán thi hành án nếu đó là thiết chế thuộc bộ máy nhà nước Các chi phí cưỡng chế thi hành án thì người phải thi hành án phải chịu, trường hợp tài sản của người phải thi hành án không đủ thì có thể do người được thi hành án chịu Người được thi hành án phải nộp trước một khoản tiền Số tiền đó được trang trải cho việc tổ chức thi hành án và trả thu lao cho nhân viên thi hành án (50 S$/giờ) Ngoài ra, người được thi hành án còn phải nộp tiền bảo hiểm, bảo đảm việc khắc phục những hậu quả xấu có thể xảy ra trong quá trình tổ chức cưỡng chế thi hành án
Trang 401.5.5 Kinh nghiệm và bài học thực tiễn đối với thi hành án dân sự ở
về tài sản trong đơn yêu cầu THA ở Việt Nam Ở Đức, để được THA chỉ cần có
3 điều kiện: phải có văn bằng xác nhận quyền yêu cầu được đưa ra thi hành; phải
có quy định về điều khoản thi hành; phải được thực hiện việc tống đạt Như vậy nước này không nặng về quy định yêu cầu phải có thông tin tài sản trong đơn yêu cầu THA Các quy định về việc định chỉ thi hành án trong pháp luật Nga cũng rất đầy đủ, cụ thể, bao quát, có thể học hỏi để áp dụng vào pháp luật THA ở Việt Nam
Có thể thấy việc tổ chức THA bằng hình thức thừa phát lại được thực hiện rộng rãi, linh hoạt và phổ biến ở Pháp - hoạt động với nguồn kinh phí, thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả mà Nhà nước không phải mất một khoản tài chính nào chi trả cho họ Điều đặc biệt là Thừa phát lại còn có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết Những quy định này cho thấy cần phải học hỏi kinh nghiệm thi hành án của Pháp Vì hiện nay, thủ tục xác minh THA về điều kiện THA và tài sản THA ở Việt Nam đang gặp rất nhiều vướng mắc chính bởi vì chưa có một tổ chức chuyên làm nhiệm vụ này (mới chỉ được thí điểm ở TP Hồ Chí Minh) Chấp hành viên ở Việt Nam cũng không có nhiều đặc quyền như thừa phát lại ở Pháp, cho nên khi yêu cầu các lực lượng công an, cảnh sát tư pháp hỗ trợ còn chưa hiệu quả
Một điểm nữa là thời hiệu THADS ở các nước là một khoảng thời gian dài,
ở Pháp và Đức là 30 năm, ở Nhật Bản là 10 năm Việc quy định thời hiệu thi hành án như vậy có ý nghĩa đảm bảo cho quyền và lợi ích của người được THA trong những trường hợp bất khả kháng mà chưa thực hiện được việc THA