Tính cấp thiết của đề tài Dịch vụ kiểm toán độc lập là một hoạt động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia đặc biệt đối với nền kinh tế có sự quản lý của Nhà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI NGỌC CƯỜNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 5
1.1 Khái quát về dịch vụ kiểm toán 5
1.1.1 Khái niệm dịch vụ kiểm toán 5
1.1.2 Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ 9
1.2 Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập 14
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM 19
2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về dịch vụ kiểm toán độc lập 19
2.1.1 Quy định về doanh nghiệp kiểm toán 19
2.1.2 Quy định về hợp đồng kiểm toán……… 29
2.1.3 Quy định về kiểm toán viên và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 32
2.1.4 Quy định về báo cáo kiểm toán và hoạt động dịch vụ kiểm toán 41
2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về kiểm toán độc lập 48
2.2.1 Những kết quả đã đạt được trong việc thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán 48
Trang 42.2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật
dịch vụ kiểm toán 51 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 59 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán
độc lập 59 3.1.1 Đảm bảo tính độc lập của hoạt động kiểm toán 59 3.1.2 Phù hợp với cam kết của Việt Nam và mở cửa thị trường dịch vụ
kiểm toán 61 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán phải đặt trong giải
pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật về kế toán, tài chính 62 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán
độc lập 63 3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về kiểm toán viên, doanh nghiệp
kiểm toán 63 3.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 64 3.2.3 Hoàn thiện các quy định về báo cáo kiểm toán, hợp đồng dịch vụ
kiểm toán 65 3.2.4 Sửa đổi và bổ sung các quy định về chuẩn mực kiểm toán 68 3.3 Một số giải pháp đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về
dịch vụ kiểm toán 69 3.3.1 Trao thêm quyền cho tổ chức thực hiện chức năng kiểm tra chất
lượng dịch vụ kiểm toán độc lập từ bên ngoài 69 3.3.2 Xây dựng mô hình kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán độc
lập từ bên ngoài 71 3.3.3 Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong hoạt động kiểm toán
độc lập 73
Trang 53.3.4 Tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật kiểm toán 74 KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chartered Certified Accountants – viết tắt ACCA)
Accountants Australia)
ICAEW: Hiệp hội kế toán chuyên nghiệp Anh và xứ Wales
Accountants – viết tắt IMA)
VACPA: Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân biệt các loại kiểm toán 12
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dịch vụ kiểm toán độc lập là một hoạt động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia đặc biệt đối với nền kinh tế có sự quản lý của Nhà nước như ở Việt Nam hiện nay Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có thể đánh giá một cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình Bên cạnh mục tiêu chính là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, các kiểm toán viên, thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung
Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ thực sự tiếp cận và làm quen với khái niệm kiểm toán, dịch vụ kiểm toán, Công ty kiểm toán độc lập trong khoảng hơn chục năm trở lại đây Trước đây trong một thời gian dài, do không nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán nên nền kinh tế nước ta hoạt động hầu như không có hệ thống kiểm toán, việc này đã khiến cho tài sản của Nhà nước bị thâm hụt, nhiều công ty báo cáo tài chính sai để gian lận thuế, báo cáo kết quả kinh doanh tốt để thu hút nhà đầu tư dẫn đến quyền lợi của nhà đầu tư không được đảm bảo
Hiện nay, hoạt động kiểm toán đã hình thành và phát triển ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu đối hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp Nhưng chất lượng hoạt động kiểm toán ở Việt Nam còn chưa thực sự tốt vẫn còn nhiều thiếu sót chưa đáp ứng được kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh tế Nhiều công ty vừa được các công ty kiểm toán thực
Trang 9hiện kiểm toán, xác nhận thực trạng tài chính nhưng ngay sau đó lại phá sản với những khoản lỗ hàng chục tỷ đồng như vụ: Công ty dược phẩm viễn đông DVD, vụ Công ty cổ phần Vinashin…Cho thấy, chất lượng dịch vụ kiểm toán
ở Việt Nam chưa thực sự tốt cần phải được nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Cùng với sự ra đời của hoạt động kiểm toán, pháp luật kiểm toán đã ra đời ban đầu văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động này chỉ là các nghị định và thông tư Cho đến tận năm 2011 Luật kiểm toán độc lập mới ra đời cùng với hàng loạt các nghị định, thông tư, chấm dứt một thời gian dịch vụ kiểm toán hoạt động vướng vì thiếu luật Tuy nhiên, pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập còn có nhiều bất cập, thiếu đồng bộ làm cho hoạt động kiểm toán trong quá trình áp dụng pháp luật còn khá nhiều khó khăn
Xuất phát từ đặc thù của dịch vụ kiểm toán và đặc điểm pháp luật kiểm toán ở Việt Nam chính vì vậy, việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về hoạt động kiểm toán, chỉ ra những khiếm khuyết của pháp luật, đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật từ đó thúc đẩy hoạt động kiểm toán, nâng cao chất lượng
của hoạt động kiểm toán hiện nay Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Pháp
luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Nghiên cứu pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động kiểm toán độc lập và pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế, so sánh… Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng
5 Tính mới và đóng góp của đề tài
Luận văn đưa ra cái nhìn tổng quát về pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam và đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam
6 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nghiên cứu về pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập cũng có một số tác giả nghiên cứu một số khía cạnh của pháp luật kiểm toán như bài viết của tác giả Mai Thị Hoàng Minh về “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt
động kiểm toán trong điều kiện luật kiểm toán đã ban hành và áp dụng”, bài
viết của tác giả Trần Thị Giang Tân về “Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với hoạt động kiểm toán độc lập – Bài học kinh nghiệm từ Hoa Kỳ”… ở các bài viết này tác giả đi nghiên cứu từng vấn đề pháp lý của hoạt động kiểm
toán Trong luận văn nghiên cứu của mình về “Pháp luật về dịch vụ kiểm
toán độc lập ở Việt Nam” tác giả đi nghiên cứu khái quát pháp luật kiểm toán
độc lập, sau đó tác giả đi phân tích những thành tựu và hạn chế của pháp luật
từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương:
Trang 11Chương 1 Những vấn đề lý luận về dịch vụ kiểm toán và tổ chức kiểm
toán độc lập
Chương 2 Thực trạng pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ
kiểm toán độc lập
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN
VÀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1.1 Khái quát về dịch vụ kiểm toán
1.1.1 Khái niệm dịch vụ kiểm toán
Khái niệm dịch vụ kiểm toán
Ở nước ta khái niệm kiểm toán mới xuất hiện và được sử dụng từ hơn chục năm cuối thể kỷ 20
Từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại khái niệm kiểm toán: Kiểm toán có nguồn gốc từ la tinh “Audit”, nguyên bản “Auditing” gắn với văn minh thời
Ai Cập, La Mã cổ đại “Audit” có nghĩa là “Audrie” có nghĩa là “nghe” gợi lên một hình ảnh cổ điển về kiểm toán là các tài khoản về tài sản phần lớn được kiểm tra bằng các người soạn thảo đọc to lên cho một bên độc lập nghe
và chấp nhận
Ngày nay có rất nhiều các khái niệm về dịch vụ kiểm toán:
Theo Liên đoàn kiểm toán quốc tế (International Federation of
accountants – IFAC) thì “dịch vụ kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập
kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”
Các tác giả Alvin A.Aen và James K.Loebbecker trong giáo trình
“Kiểm toán” đã nêu một định nghĩa chung về kiểm toán như sau:
“Dịch vụ kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập” [25]
Trang 13Tiến sĩ RobertN Anthor, Giáo sư trường đại học Harvatr cho rằng:
“Dịch vụ kiểm toán là việc xem xét, kiểm tra các việc ghi chép kế toán bởi các kiểm toán viên công cộng, được thừa nhận bởi các tổ chức bên ngoài
tổ chức kiểm tra”
Điều này cũng phù hợp với định nghĩa được ghi trong phần mở đầu giải
thích về chuẩn mực kế toán của Vương quốc Anh: “Dịch vụ kiểm toán là sự
kiểm tra độc lập, và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”
Ở Pháp:
Dịch vụ kiểm toán là sự nghiên cứu kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định
Như vậy, dịch vụ kiểm toán được hiểu chung như sau: dịch vụ kiểm toán là một chức năng quản lý, là một quá trình mà trong đó, các kiểm toán viên có thẩm quyền, những người được đào tạo để có trình độ thích hợp, tiến hành một cách độc lập việc thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến các hoạt động kinh tế - tài chính của một đơn vị và tổ chức kinh tế nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực về kinh tế, tài chính và kế toán
đã được thiết lập và pháp luật thừa nhận Qua đó, kiểm toán còn đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính cũng như hiệu năng quản lý của cá nhân, tổ chức
Theo pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1, Điều 5 Luật Kiểm toán
2011: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp
Trang 14kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán” [20, Điều 5, Khoản 1]
Các loại dịch vụ kiểm toán
+ Kiểm toán báo cáo tài chính:
“Là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán” [20,
Điều 5, Khoản 9]
+ Kiểm toán tuân thủ: “là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp
kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện” [20, Điều 5, khoản 10]
+ Kiểm toán hoạt động: “là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh
nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một
bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán” [20, Điều 5, khoản 11]
+ Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và công việc kiểm toán khác
+ Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính, thông tin tài chính và dịch vụ bảo đảm khác
Các dịch vụ liên quan đến hoạt động kiểm toán
Tư vấn kinh tế, tài chính, thuế
Tư vấn quản lý, chuyển đổi và tái cơ cấu doanh nghiệp
Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị của doanh nghiệp,
Trang 15tổ chức
Dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán
Thẩm định giá tài sản và đánh giá rủi ro kinh doanh
Dịch vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế theo quy định của pháp luật
Đặc điểm của dịch vụ kiểm toán
Về chủ thể thực hiện dịch vụ là công ty kiểm toán độc lập:
Không phải bất kỳ công ty nào cũng có thể cung cấp dịch vụ này cho khách hàng mà chỉ có công ty kiểm toán độc lập mới được thực hiện chức năng này
Dịch vụ kiểm toán là một loại hình dịch vụ kinh doanh có điều kiện:
Để thực hiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán công ty kiểm toán khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì phải có đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thì công ty mới được hoạt động
Mục đích của kiểm toán là xác nhận mức độ tin cậy của thông tin trình
bày trong báo cáo tài chính và các hồ sơ tài chính kế toán
Chức năng của kiểm toán
Chức năng về kiểm tra và thẩm định thông tin kinh tế - tài chính:
Đây là chức năng cơ sở mà kiểm toán viên sẽ sử dụng các phương pháp đặc thù để tiến hành kiểm tra thẩm định tính đúng đắn, trung thực, hợp thủ tục, hợp pháp, hợp lý của thông tin Chức năng này gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán Bản thân chức năng kiểm tra, thẩm định thông tin của kiểm toán cũng không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tùy theo đối tượng của kiểm toán Kiểm tra và thẩm định là hình
Trang 16thức kiểm tra sau khi các hoạt động tài chính đã diễn ra Quan hệ diễn ra giữa kiểm tra và thẩm định với các hoạt động kiểm toán là quan hệ giữa “cái chung
và cái riêng”, giữa cái tổng thể và phương diện biểu hiện ra với tính chất là các nghiệp vụ cụ thể của tổng thể đó
Chức năng xác nhận và giải toả trách nhiệm:
Thông qua chức năng kiểm tra và thẩm định thì kiểm toán viên dựa trên các bằng chứng xác thực thẩm định hay còn gọi là xác nhận thực trạng tài chính của đơn vị, xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính (tính khách quan, trung thực…) Việc xác nhận đó đồng nghĩa với việc giải tỏa trách nhiệm cho những người cung cấp thông tin này
Chức năng tư vấn của kiểm toán
Thông qua kiểm tra và xác nhận từ góc nhìn của kiểm toán, kiểm toán viên sẽ thấy được những mặt mạnh, mặt yếu của thực trạng tài chính và đưa ra những ý kiến tư vấn cho cán bộ, nhân viên, cán bộ quản lý nhằm thiết lập lại
kỉ cương tài chính và hướng tới hiệu quả, chất lượng
Thông qua hoạt động kiểm toán thì tổ chức kinh tế sẽ phát hiện ra những nội dung mà các định chế hay các quy phạm pháp luật còn có sơ hở, bất cập để kiến nghị các cơ quan hữu trách sửa đổi phù hợp
Trong quá trình kiểm toán nếu phát hiện những dấu hiệu nghiêm trọng
về vi phạm pháp luật thì kiểm toán phải tư vấn với cơ quan pháp luật để họ thực hiện nhiệm vụ của họ
1.1.2 Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ
Kiểm toán độc lập do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện Kiểm toán Nhà nước kiểm toán các hoạt động tài chính nhà nước Kiểm toán nội bộ kiểm toán trong từng đơn vị, cơ quan
Trang 17Kiểm toán Nhà nước là hoạt động kiểm toán do cơ quan Kiểm toán Nhà
nước tiến hành Kiểm toán Nhà nước tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động, xác định độ tin cậy của các báo cáo tài chính, kiểm tra việc chấp hành các chính sách, chế độ của Nhà nước và đánh giá hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước Kiểm toán Nhà nước là một tổ chức trong bộ máy quản lý của Nhà nước và kiểm toán viên Nhà nước là các viên chức Nhà nước
Kiểm toán Nhà nước được thành lập và hoạt động năm 1994 theo Nghị định 70/CP, ngày 11/07/1994 của Chính phủ và Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003 Sau đó Luật Kiểm toán nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2006 Luật Kiểm toán nhà nước đã quy định:
Kiểm toán Nhà nước “là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài
chính Nhà nước do Quốc hội thành lập hoạt động độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật; Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với mọi cơ quan, tổ chức quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước” [21, Điều 13, 14]
Kiểm toán Nhà nước bằng hoạt động kiểm toán có trách nhiệm đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh
tế Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí của nhà nước cụ thể như sau:
Kiểm toán Báo cáo quyết toán Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Kiểm toán báo cáo tài chính của các Bộ, các cơ quan thuộc Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các đơn vị sự nghiệp công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí của Nhà nước,
Trang 18báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc có vốn đầu tư của nhà nước và các cơ quan tổ chức khác Kế hoạch kiểm toán hàng năm do Kiểm toán Nhà nước quyết định và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện
Ngoài việc, nhận xét, đánh giá và xác nhận việc chấp hành chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở các đơn vị Kiểm toán Nhà nước còn có quyền góp
ý và yêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai phạm và kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với Chính phủ những sửa đổi về cơ chế quản lý tài chính, kế toán cần thiết
Kiểm toán Nhà nước được đảm bảo tính độc lập trong quá trình hoạt động và thực hiện các cuộc kiểm toán
Kiểm toán độc lập (hay còn gọi là dịch vụ kiểm toán)vđược thực hiện
bởi các kiểm toán viên độc lập, hành nghề trong các Công ty kiểm toán Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán báo cáo tài chính Thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng và còn có thể thực hiện các dịch vụ tư vấn về tài chính – kế toán thuế
Kiểm toán độc lập là loại hoạt động dịch vụ tư vấn dưới sự bảo hộ, thừa nhận và điều chỉnh của pháp luật Ở những nước có nền kinh tế phát triển, kiểm toán độc lập là một hoạt động rất phổ biến, là một loại hình dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp rất phát triển
Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán độc lập đã hình thành từ những năm đầu của thập kỷ 90 trong thế kỷ trước Văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động này là Nghị định 07/CP, ngày 29/11/1994, tiếp sau đó Chính phủ ban hành hàng loạt các Nghị định, Thông tư và đặc biệt năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động kiểm toán chấm dứt một thời gian dài kiểm toán độc lập hoạt động thiếu luật
Năm 1991 hai Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch
Trang 19vụ, tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán (AASC) trực thuộc Bộ Tài chính ra đời, tính đến năm 2013 có 155 công ty kiểm toán đã đăng ký hành nghề, gồm:
04 Công ty 100% vốn nước ngoài (E&Y, PwC, KPMG, Grant Thornton), 05 Công ty có vốn đầu tư nước ngoài (E Jung, Mazars, HSK, Immanuel, S&S),
145 Công ty TNHH và 01 Công ty hợp danh (CPA VN)
Kiểm toán nội bộ là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ
của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của giám đốc doanh nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị Kiểm toán nội bộ có phạm vi thực hiện, như sau: Kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động
Bảng 1.1: Phân biệt các loại kiểm toán
Kiểm toán Nhà nước Kiểm toán độc lập Kiểm toán nội bộ Chủ thể thực
hiện
Cơ quan
Bộ phận kiểm toán trong đơn vị
Kiểm toán viên Viên chức Nhà
nước
KTV hành nghề độc lập
Nhân viên của đơn
Trách nhiệm Với Nhà nước, với
Với HĐQT, Ban giám đốc
Báo cáo
Kiểm toán
Trình Quốc hội, HĐND, Chính phủ, UBND
Công khai cho các đơn vị liên quan
Cho giám đốc, ban quản lý đơn vị
(Nguồn: Đặng Văn Thanh, Mối quan hệ giữa Kiểm toán Nhà nước với kiểm toán độc
lập, kiểm toán nội bộ - Thực trạng và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật kiểm toán nhà nước)
Trang 20Ba loại hình kiểm toán: kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ có sự khác nhau nhất định về chủ thể tiến hành kiểm toán, về phạm vị và đối tượng kiểm toán, về phương thức tiến hành, về tính chất, địa
vị pháp lý nhưng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau
Thứ nhất, cả ba đều là kiểm toán, là hoạt động kiểm tra, đánh giá và xác
nhận độ tin cậy của thông tin kinh tế tài chính do kế toán tổng hợp và cung cấp
Thứ hai, các loại kiểm toán đều tiến hành theo những quy trình và
những phương pháp tương đối giống nhau Nếu có sự khác biệt chỉ là những công việc cụ thể, những cách thức cụ thể trên các đối tượng kiểm toán có tính chất quy mô hoạt động khác nhau Trong quy trình kiểm toán, hoạt động kiểm toán nhà nước rất quan tâm kế hoạch tổng thể trong một năm và thực hiện các kiến nghị của kiểm toán Nhà nước Kiểm toán Nhà nước quan tâm nhiều hơn đến những bất hợp lý, những khiếm khuyết của cơ chế và chính sách quản lý kinh tế - tài chính và luôn đề xuất các ý kiến, các giải pháp để hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi các quy định pháp lý, các chế độ, chính sách và cơ chế quản lý Ngược lại, Kiểm toán độc lập lại quan tâm đến chiến lược dài hạn cho việc tạo uy tín với khách hàng và phát triển khách hàng, quan tâm ý kiến tư vấn thỏa mãn yêu cầu của khách hàng trong việc nâng cao chất lượng quản lý Kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ quan tâm nhiều hơn tới việc giúp doanh nghiệp tuân thủ luật pháp nhưng vận dụng và áp dụng chính sách, chế
độ có lợi nhất cho doanh nghiệp
Thứ ba, các loại hình kiểm toán có thể sử dụng kết quả kiểm toán của
nhau mặc dù có sự khác nhau về phạm vi và đối tượng kiểm toán trong trường hợp cần thiết Phạm vi kiểm toán của kiểm toán Nhà nước rất rộng, mỗi năm Kiểm toán Nhà nước chỉ kiểm toán được một số lượng nhất định các đơn vị Trong những trường hợp cần thiết, Kiểm toán Nhà nước có thể thuê dịch vụ kiểm toán độc lập
Trang 21Thứ tư, hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm toán nội bộ hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả, mọi quy trình nghiệp vụ đều được công khai, minh bạch, mọi hoạt động đều được kiểm tra và kiểm soát một các chặt chẽ sẽ
là vòng bảo vệ trong hoạt động tài chính của các tổ chức tài chính nhà nước, của các doanh nghiệp Giúp cho hoạt động kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập tiến hành nhanh chóng và chính xác hơn
1.2 Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập
Khái niệm
Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kiểm toán
Vị trí, vai trò của pháp luật
Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập là một ngành luật chuyên ngành, điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kiểm toán độc lập Pháp luật kiểm toán độc lập là khung pháp lý điều tiết hoạt động kiểm toán độc lập thực hiện đúng vai trò, chức năng của kiểm toán độc lập và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Tạo môi trường kiểm toán lành mạnh, hiệu
quả đáp ứng được nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế
Nội dung pháp luật điều chỉnh
Như các lĩnh vực hoạt động khác, hoạt động kiểm toán chỉ có thể thực hiện tốt và đạt hiệu quả cao trong khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ Hệ thống pháp lý cần thiết cho hoạt động kiểm toán bao gồm: các luật lệ, cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động của các đối tượng kiểm toán và các luật
lệ, cơ chế chính sách của bản thân hoạt động kiểm toán Khuôn khổ pháp lý của bản thân hoạt động kiểm toán bao gồm:
Những quy định mang tính pháp lý là những quy định bắt buộc của Nhà
nước được qui định trong các Luật, hoặc văn bản pháp quy (Nghị định, Thông tư…) Những qui định mang tính pháp lý đảm bảo sự thống nhất trong việc
Trang 22thực hiện công tác kế toán ở các đơn vị, mặt khác tạo ra một khuôn khổ pháp
lý để Nhà nước quản lý thống nhất việc thực hiện công tác kiểm toán trong toàn bộ quốc gia
Luật Kiểm toán độc lập (Luật KTĐL) số 67/2011/QH12 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/3/2011 Việc ban hành Luật KTĐL tạo ra khung pháp
lý cao nhất về kiểm toán độc lập, góp phần nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động kiểm toán độc lập, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tăng cường quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), kiểm toán viên (KTV) hành nghề và đơn vị được kiểm toán cũng như của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập Luật cũng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với dịch vụ kiểm toán, đặc biệt là đơn vị có lợi ích công chúng, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, Nhà nước và tổ chức, cá nhân có liên quan
Luật KTĐL gồm 8 chương, 64 điều, quy định về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hoạt động kiểm toán độc lập; quyền, nghĩa vụ của KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam và đơn vị được kiểm toán Luật cũng quy định một số nội dung liên quan đến kiểm toán các đơn vị có lợi ích công chúng; quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong hoạt động kiểm toán độc lập
Nghị định 17/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập Nghị định này có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01 tháng 05 năm 2012 Thông tư số 183/2013/TT-BTC về kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng và các văn bản pháp lý khác
Những quy định về tính độc lập là nguyên tắc cơ bản nhất của kiểm
toán chỉ được đảm bảo khi cơ chế luật pháp được đảm bảo Hiện nay các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm toán ở Việt nam đã được ban hành tương đối đồng bộ như: Nghị định số 105/2004 NĐ-CP Về kiểm toán độc lập,
Trang 23Nghị định số 30/2009 và số 16/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 105/2004 thay thế Nghị định 07/CP ngày 29 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành “Quy chế Kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân, Thông tư số 22/TC/CĐKT ngày 19/3/1994 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân
Thông tư 129/2012/TT-BTC ngày 09/08/2012 Quy định về việc thi và cấp Chứng chỉ kiểm toán viên và Chứng chỉ hành nghề kế toán có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/09/2012; Thông tư 150/2012/TT-BTC ngày 12/09/2012 Hướng dẫn cập nhật kiến thức hàng năm cho kiểm toán viên (KTV) đăng ký hành nghề kiểm toán có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013; Thông tư 202/2012/TT-BTC ngày 19/11/2012 Hướng dẫn về đăng ký, quản lý và công khai danh sách KTV hành nghề kiểm toán có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2013 Thông tư 203/2012/TT-BTC ngày 19/11/2012 về trình tự, thủ tục cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013; Thay thế cho Quyết định số 237TC/QĐ/CĐKT ngày 19/3/1994 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về qui chế thi tuyển và cấp chứng chỉ kiểm toán; Thông tư số 107/2000/TT-BTC ngày 25/10/2000 về hướng dẫn đăng ký hành nghề kiểm toán; và nhiều luật văn bản pháp qui khác liên quan đến doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty tư nhân…
Những qui định mang tính chuẩn mực đó là các nguyên tắc căn bản của
kiểm toán, qui trình nghiệp vụ của các cuộc kiểm toán, hệ thống phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán Theo tài liệu thuật ngữ kế toán - kiểm toán của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (IFAC) thì: “Chuẩn mực kiểm toán là những văn kiện mô tả các nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán mà trong quá trình hành nghề các kiểm toán viên buộc phải tuân theo” Các chuẩn mực kiểm toán là yêu cầu tất
Trang 24yếu của hoạt động kiểm toán Nó không những làm yên lòng những người sử dụng thông tin tài chính mà còn là cơ sở thực hiện công việc kiểm toán và đo lường, đánh giá công việc của kiểm toán viên
Ở nhiều nước trên thế giới việc nghiên cứu và ban hành các chuẩn mực
và quy tắc kế toán, kiểm toán do các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp ban hành Đối với các nước thành viên của IFAC và một số nước khác chưa là thành viên của IFAC cũng chấp nhận và coi những nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế do IFAC ban hành làm các văn bản pháp qui về kiểm toán của Quốc gia mình Theo thông báo ngày 27/6/1994 của Uỷ ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) thì từ 1/9/1994 toàn bộ kiểm toán viên chuyên nghiệp ở 89 nước thành viên của liên đoàn quốc tế các nhà kế toán sẽ áp dụng hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế mới
Ở Việt nam, Bộ Tài chính có trách nhiệm soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kiểm toán Thông tư 214/2012/TT-BTC ngày 06/12/2012 Ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam theo đề nghị của Chủ tịch Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 đã ban hành 37 chuẩn
mực kiểm toán Các chuẩn mực kiểm toán số 1000 “Kiểm toán báo cáo quyết
toán vốn đầu tư hoàn thành”, Chuẩn mực kiểm toán số 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính” ban hành theo Quyết định số 03/2005/QĐ-BTC ngày
18/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chuẩn mực kiểm toán số 910 “Công
tác soát xét báo cáo tài chính”, Chuẩn mực kiểm toán số 920 “Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước” ban hành theo Quyết
định số 195/2003/QĐ-BTC ngày 28/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi có chuẩn mực mới thay thế
Các chuẩn mực kiểm toán được ban hành đã thể hiện một bước phát triển mạnh trong hoạt động kiểm toán, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động kiểm toán độc lập, là cơ sở cho kiểm toán viên chuyên
Trang 25nghiệp và công ty kiểm toán kiểm tra, đánh giá các thông tin tài chính một cách trung thực, khoa học, khách quan Chuẩn mực kiểm toán còn là cơ sở cho việc chỉ đạo giám sát, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán,
là cơ sở cho việc đào tạo, huấn luyện và thi tuyển kiểm toán viên
Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam có quy định các nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính gồm:
Tuân thủ pháp luật nhà nước: Kiểm toán viên phải luôn coi trọng và chấp hành đúng pháp luật của nhà nước trong quá trình hành nghề kiểm toán
Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: Kiểm toán viên phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: Độc lập, chính trực; khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận trọng; tính bí mật; tư cách nghề nghiệp; và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn
Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán: Kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán Việt nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt nam chấp nhận Các chuẩn mực này quy định các nguyên tắc và thủ tục cơ bản hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến kiểm toán
Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và phải luôn ý thức rằng có thể tồn tại những tình huống dẫn đến những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính
Trang 262.1.1 Quy định về doanh nghiệp kiểm toán
Theo quy định tại Điều 4 của Luật doanh nghiệp 2005 có định nghĩa
rằng: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh” [22, Điều 4]
Luật kiểm toán độc lập năm 2011 quy định: “Doanh nghiệp kiểm toán là
doanh nghiệp có đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [20, khoản 5, Điều 5]
Như vậy, doanh nghiệp kiểm toán có đầy đủ các đặc điểm của mô hình doanh nghiệp nói chung và nó cũng có những đặc điểm riêng biệt so với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác
Các loại doanh nghiệp kiểm toán và chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
- Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam được kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật
Doanh nghiệp kiểm toán không được góp vốn để thành lập doanh nghiệp kiểm toán khác, trừ trường hợp góp vốn với doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài để thành lập doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam
Trang 27Đối với Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài hoạt động kiểm toán tại Việt Nam dưới các hình thức sau
- Góp vốn với doanh nghiệp kiểm toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập doanh nghiệp kiểm toán
- Thành lập chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài
- Cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới theo quy định của Chính phủ
Quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức thành lập để thực hiện cung cấp dịch vụ kiểm toán là chưa hợp lý, còn nhiều bất cập, không phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp luật về dịch vụ kiểm toán cần bổ sung thêm hình thức công ty cổ phần, trên Thế giới các tổ chức kiểm toán hình thành dưới hình thức này hoạt động rất hiệu quả, chất lượng dịch vụ kiểm toán rất tốt Góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài có điều kiện tham gia hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, mở rộng quan hệ quốc tế trong hoạt động kiểm toán
Đối với các quy định về Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài pháp luật Việt Nam quy định phù hợp với thông lệ quốc tế
2.1.1.1 Quy định về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch
vụ kiểm toán
Đối với doanh nghiệp kiểm toán độc lập trong nước
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ
các điều kiện sau đây: “Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật Có ít nhất năm kiểm toán viên hành nghề, trong đó tối thiểu phải
có hai thành viên góp vốn Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của Công ty trách nhiệm hữu hạn phải là kiểm toán viên hành
Trang 28nghề Bảo đảm vốn pháp định theo quy định của Chính phủ Phần vốn góp của thành viên là tổ chức không được vượt quá mức do Chính phủ quy định Người đại diện của thành viên là tổ chức phải là kiểm toán viên hành nghề”
[20, khoản 1, Điều 21]
Công ty hợp danh khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ các điều kiện sau đây: “Có Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật Có ít nhất năm kiểm toán viên hành nghề, trong đó tối thiểu phải có hai thành viên hợp danh Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của công ty hợp danh phải là kiểm toán viên hành nghề” [20, khoản 2, Điều 21]
Doanh nghiệp tư nhân khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ các điều kiện sau đây: “Có Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật Có ít nhất năm kiểm toán viên hành nghề, trong đó có chủ doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là Giám đốc” [20, khoản 3, Điều 21]
Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có
đủ các điều kiện sau đây: “Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài được phép
cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập theo quy định của pháp luật của nước nơi doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài đặt trụ sở chính Có ít nhất hai kiểm toán viên hành nghề, trong đó có Giám đốc hoặc Tổng giám đốc chi nhánh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài không được giữ chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp khác tại Việt Nam Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài phải có văn bản gửi Bộ Tài chính bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh doanh
Trang 29nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài phải bảo đảm duy trì vốn không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ” [20, khoản 4, Điều 21]
Đối với các quy định về điều kiện để doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán là tương đối đầy đủ, chặt chẽ Tuy nhiên, đối với quy định về thời gian cấp giấy chứng nhận điều kiện là ba mươi ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ là tương đối dài Pháp luật nên rút ngắn thời gian cấp khoảng mười năm ngày đến hai mươi ngày để rút ngắn thủ tục hành chính, thúc đẩy mở cửa thị trường kiểm toán Đối với trường hợp cấp lại, điều chỉnh nội dung giấy chứng nhận
thời gian cấp lại cũng nên rút ngắn lại từ hai mươi ngày xuống mười ngày
2.1.1.2 Đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán và thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán
Các trường hợp bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ: Hoạt động không đúng
phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán Không bảo đảm một trong các điều kiện quy định của Luật kiểm toán độc lập trong ba tháng liên tục Có sai phạm nghiêm trọng về chuyên môn hoặc vi phạm chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
Các trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện đăng ký kinh doanh: Kê khai không đúng thực tế hoặc gian lận, giả mạo hồ sơ đề nghị
cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán Không kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong mười hai tháng liên tục Không khắc phục
được các vi phạm quy định tại khoản ở trên trong thời hạn sáu mươi ngày, kể
từ ngày bị đình chỉ Bị giải thể, phá sản hoặc tự chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư Doanh nghiệp kiểm toán
nước ngoài có chi nhánh kiểm toán tại Việt Nam bị giải thể, phá sản hoặc bị cơ
Trang 30quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp kiểm toán đó đặt trụ sở chính
thu hồi giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động Cố tình xác nhận báo cáo tài chính
có gian lận, sai sót hoặc thông đồng, móc nối để làm sai lệch tài liệu kế toán,
hồ sơ kiểm toán và cung cấp thông tin, số liệu báo cáo sai sự thật Giả mạo,
tẩy xoá, sửa chữa Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán và Giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán
2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam
Quy định về quyền của doanh nghiệp kiểm toán
Quyền của doanh nghiệp kiểm toán trong nước: Cung cấp các dịch vụ
quy định của luật kiểm toán Nhận phí dịch vụ Thành lập chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán Đặt cơ sở kinh doanh dịch vụ kiểm toán ở nước ngoài Tham gia tổ chức kiểm toán quốc tế, tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài
liệu cần thiết và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán có liên quan đến nội dung kiểm toán; kiểm tra toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn
vị trong quá trình thực hiện kiểm toán Kiểm tra, xác nhận các thông tin kinh tế,
tài chính có liên quan đến đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong
quá trình thực hiện kiểm toán Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp
tài liệu, thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung kiểm toán thông qua đơn
vị được kiểm toán Và các quyền khác theo quy định của pháp luật
Quyền của chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam: Có các quyền giống như các doanh nghiệp kiểm toán trong nước trừ quyền
như thành lập chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán, quyền đặt cơ sở kinh
doanh dịch vụ kiểm toán ở nước ngoài và quyền được tham gia tổ chức kiểm
Trang 31toán quốc tế, tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán
Đối với quy định này pháp luật kiểm toán quy định chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài ở Việt Nam không có quyền được thành lập chi nhánh và không có quyền đặt cơ sở kinh doanh dịch vụ kiểm toán ở nước ngoài là hợp lý Tuy nhiên, việc quy định chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài ở Việt Nam không được tham gia tổ chức kiểm toán quốc tế cũng như tham gia vào tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán là điều bất hợp lý Cần bổ sung thêm quyền này cho các chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài,
để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài
Quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán có nghĩa vụ sau: Hoạt động theo nội dung ghi
trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán Bố trí nhân
sự có trình độ chuyên môn phù hợp để bảo đảm chất lượng dịch vụ kiểm toán;
quản lý hoạt động nghề nghiệp của kiểm toán viên hành nghề Hàng năm thông
báo danh sách kiểm toán viên hành nghề cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền Bồi thường thiệt hại cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán trên cơ sở hợp đồng kiểm toán và theo quy định của pháp luật Mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng
rủi ro nghề nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính Thông báo cho đơn vị được
kiểm toán khi nhận thấy đơn vị được kiểm toán có dấu hiệu vi phạm pháp luật
về kinh tế, tài chính, kế toán Cung cấp thông tin về kiểm toán viên hành nghề
và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại
Việt Nam cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cung cấp hồ sơ, tài liệu kiểm
toán theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Báo
cáo định kỳ, đột xuất về hoạt động kiểm toán độc lập Cung cấp kịp thời, đầy
đủ, chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong
Trang 32quá trình kiểm tra, thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp; chấp hành quy định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền về việc kiểm tra, thanh tra Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước khách hàng về kết quả kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán đã giao kết
Chịu trách nhiệm với người sử dụng kết quả kiểm toán khi người sử dụng kết
quả kiểm toán: Có lợi ích liên quan trực tiếp đến kết quả kiểm toán của đơn vị được kiểm toán tại ngày ký báo cáo kiểm toán; Có hiểu biết một cách hợp lý
về báo cáo tài chính và cơ sở lập báo cáo tài chính là các chuẩn mực kế toán,
chế độ kế toán và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Đã sử dụng một cách thận trọng thông tin trên báo cáo tài chính đã kiểm toán Từ chối
thực hiện kiểm toán khi xét thấy không bảo đảm tính độc lập, không đủ năng
lực chuyên môn, không đủ điều kiện kiểm toán Từ chối thực hiện kiểm toán
khi khách hàng, đơn vị được kiểm toán có yêu cầu trái với đạo đức nghề
nghiệp, yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trái với quy định của pháp luật
Tổ chức kiểm toán chất lượng hoạt động và chịu sự kiểm toán chất lượng dịch
vụ kiểm toán theo quy định của Bộ Tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán khá đầy đủ, chi tiết Đặc biệt là quy định các trường hợp doanh nghiệp kiểm toán không được kiểm toán cho khách hàng trong những trường hợp không đảm bảo được tính độc lập trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán Tuy nhiên, giữa quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán chưa được tương xứng, cần quy định
cụ thể trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán trong quá trình cung cấp dịch
vụ Quy định cụ thể hơn trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán khi xác nhận sai thực trạng tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán gây thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như các chủ thể khác trực tiếp sử dụng kết quả kiểm toán
Trang 332.1.1.4 Các trường hợp doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán không được thực hiện kiểm toán trong các trường hợp sau:
Đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề công việc ghi
sổ kế toán, lập báo cáo tài chính hoặc thực hiện kiểm toán nội bộ cho đơn vị được kiểm toán Đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề các dịch vụ khác với các dịch vụ trên có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Thành viên tham gia cuộc kiểm toán, người quản lý, điều hành của doanh nghiệp kiểm toán là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán hoặc có quan
hệ kinh tế, tài chính khác với đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán;
Người có trách nhiệm quản lý, điều hành của doanh nghiệp kiểm toán
có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn và có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị được kiểm toán hoặc là người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán Người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán đồng thời là người góp vốn và có ảnh hưởng đáng kể đối với doanh nghiệp kiểm toán Doanh nghiệp kiểm toán và đơn vị được kiểm toán có cùng một cá nhân hoặc doanh nghiệp, tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập Đơn vị được kiểm toán đã thực hiện trong năm trước liền
kề hoặc đang thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính cho chính doanh nghiệp kiểm toán
Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không
Trang 34được thực hiện kiểm toán trong các trường hợp sau:
Đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề công việc
ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính hoặc thực hiện kiểm toán nội bộ cho đơn
vị được kiểm toán; Đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề các dịch vụ khác với các dịch vụ quy định có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên hành nghề và chi nhánh theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Thành viên tham gia cuộc kiểm toán, người quản lý, điều hành của chi nhánh là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán hoặc có quan hệ kinh tế, tài chính khác với đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Người có trách nhiệm quản lý, điều hành của chi nhánh có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn và có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị được kiểm toán hoặc là người có trách nhiệm quản lý điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán Người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán đồng thời là người có ảnh hưởng đáng kể đối với chi nhánh theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Đơn vị được kiểm toán đã thực hiện trong năm trước liền kề hoặc đang thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính cho chính chi nhánh và các trường hợp khác
theo quy định của pháp luật
Pháp luật quy định các trường hợp không được thực hiện kiểm toán cho các đơn vị khi không đảm bảo tính độc lập là một trong những quy định rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán
2.1.1.5 Quy định về tạm ngưng và chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán Tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước
Trang 35ngoài tại Việt Nam được tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán nhưng thời hạn tạm ngừng không quá mười hai tháng liên tục
Doanh nghiệp kiểm toán tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì các chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán đó cũng phải tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán mà chưa hoàn thành hợp đồng kiểm toán đã ký với khách hàng thì phải thỏa thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng đó
Khi hoạt động trở lại, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải bảo đảm điều kiện theo quy định của pháp luật và phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính chậm nhất là mười ngày trước ngày hoạt động trở lại
Chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong các trường hợp sau
Tự chấm dứt, bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch
vụ kiểm toán Giám đốc doanh nghiệp tư nhân chết
Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong các trường hợp sau
Theo quyết định của doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài đã thành lập chi nhánh Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán Giám đốc doanh nghiệp tư nhân chết
Trang 36chấm dứt doanh nghiệp kiểm toán phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính chậm nhất là ba mươi ngày (30 ngày) trước ngày chấm dứt Bộ Tài chính quy định cụ thể về thủ tục chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán
Chấm dứt hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán
Theo quyết định của doanh nghiệp kiểm toán đã thành lập chi nhánh Doanh nghiệp kiểm toán đã thành lập chi nhánh chấm dứt hoạt động Trường hợp khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Doanh nghiệp kiểm toán có các quyền, thực hiện nghĩa vụ của chi nhánh và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh
2.1.2 Quy định về hợp đồng kiểm toán
Khái niệm
Hợp đồng kiểm toán: Là sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết (doanh nghiệp kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thực hiện kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lý khi tranh chấp hợp đồng
Hợp đồng kiểm toán nhiều năm: Công ty kiểm toán và khách hàng được phép ký hợp đồng kiểm toán cho nhiều năm tài chính Trường hợp hợp đồng kiểm toán đã được ký cho nhiều năm, trong mỗi năm công ty kiểm toán
và khách hàng phải cân nhắc xem nếu có những điểm cần phải thay đổi, bổ sung thì phải thỏa thuận bằng văn bản về những điều khoản và điều kiện thay đổi của hợp đồng cho năm kiểm toán hiện hành Văn bản này được coi là phụ lục của hợp đồng kiểm toán đã ký trước đó
Đặc điểm của hợp đồng kiểm toán
- Về chủ thể: Một bên trong hợp đồng kiểm toán là doanh nghiệp kiểm toán
Trang 37- Về hình thức: Cung cấp dịch vụ kiểm toán phải lập thành hợp đồng
- Về nội dung: Hợp đồng kiểm toán bao gồm toàn bộ nội dung như một hợp đồng kinh tế tuy nhiên, trong hợp đồng kiểm toán có thêm một số nội dung khác theo quy định của pháp luật kiểm toán
- Về pháp luật điều chỉnh: Chịu sự điều chỉnh của pháp luật kiểm toán độc lập
Nội dung của hợp đồng kiểm toán:
Hợp đồng kiểm toán phải có đầy đủ các điều khoản chung của hợp đồng kinh
tế theo qui định hiện hành, có thể thay đổi phù hợp với sự thoả thuận của các bên, nhưng phải bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:
- Số hiệu văn bản; ngày, tháng, năm ký hợp đồng;
- Tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên;
- Nội dung dịch vụ;
- Chất lượng hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc;
- Điều kiện nghiệm thu, giao nhận;
- Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Giá cả và phương thức thanh toán;
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng;
- Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng;
- Số lượng bản hợp đồng chính thức và nơi quản lý
- Họ tên, chức vụ, chữ ký người đại diện (hoặc người được uỷ quyền) đóng dấu của các bên tham gia ký hợp đồng;
Ngoài những yếu tố chủ yếu nói trên, hợp đồng kiểm toán còn có những nội dung sau:
- Mục đích, phạm vi và nội dung kiểm toán hoặc dịch vụ khác;
Trang 38- Trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính;
- Trách nhiệm của khách hàng trong việc cung cấp chứng từ, tài liệu
kế toán và những thông tin khác liên quan đến công việc kiểm toán;
- Phạm vi kiểm toán phải phù hợp và tuân thủ pháp luật và các chính sách, chế độ hiện hành;
- Hình thức báo cáo kiểm toán hoặc hình thức khác thể hiện kết quả kiểm toán;
- Có điểm nói rõ là trên thực tế có những rủi ro khó tránh khỏi do bản chất và những hạn chế vốn có của kiểm toán cũng như của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, do ngoài khả năng của kiểm toán viên trong việc phát hiện ra những sai sót; (Ví dụ: Có những tài liệu giải trình sai vẫn không phát hiện ra)
Thẩm quyền ký kết hợp đồng:
Hợp đồng kiểm toán do Giám đốc (hoặc người đứng đầu, hoặc người được uỷ quyền theo qui định của pháp luật) công ty kiểm toán và khách hàng ký tên, đóng dấu theo qui định hiện hành
Sửa đổi hợp đồng kiểm toán:
Trong quá trình thực hiện kiểm toán theo hợp đồng, trường hợp khách hàng có yêu cầu sửa đổi một số điều khoản của hợp đồng làm cho mức độ đảm bảo của kiểm toán giảm đi thì công ty kiểm toán phải xem xét có chấp nhận yêu cầu này của khách hàng hay không
Kết thúc hợp đồng kiểm toán:
Khi hoàn thành công việc theo thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán, các bên ký hợp đồng phải làm thủ tục thanh lý hợp đồng và lập “Biên bản thanh lý hợp đồng kiểm toán” theo qui định hiện hành
Trang 392.1.3 Quy định về kiểm toán viên và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 2.1.3.1 Quy định về kiểm toán viên
Khái niệm kiểm toán viên
Kiểm toán viên “là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy
định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam” [20, Điều 5, khoản 2]
Kiểm toán viên hành nghề “là kiểm toán viên đã được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký hành nghề kiểm toán” [20, Điều 5, khoản 3]
Tiêu chuẩn kiểm toán viên
- Kiểm toán viên phải có đủ các tiêu chuẩn sau
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan
- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc chuyên ngành khác theo quy định của Bộ Tài chính
- Có Chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của Bộ Tài chính
- Trường hợp người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận, đạt kỳ thi sát hạch bằng tiếng Việt về pháp luật Việt Nam và có đủ các tiêu chuẩn quy định thì được công nhận là kiểm toán viên
Đăng ký hành nghề kiểm toán
Người có đủ các điều kiện sau đây được đăng ký hành nghề kiểm toán:
Là kiểm toán viên Có thời gian thực tế làm kiểm toán từ đủ ba mươi sáu tháng trở lên Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức Người có đủ
các điều kiện được thực hiện đăng ký hành nghề kiểm toán và được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán theo quy định của Bộ Tài chính
Trang 40Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán phải nộp lệ
phí theo quy định của pháp luật Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm
toán chỉ có giá trị khi người được cấp có hợp đồng lao động làm toàn bộ thời gian cho một doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam
Những người không được đăng ký hành nghề kiểm toán
Cán bộ, công chức, viên chức Người đang bị cấm hành nghề kiểm toán theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án một trong các tội về kinh tế, chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán mà chưa được xóa án; người đang bị
áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào
cơ sở chữa bệnh, đưa vào cơ sở giáo dục Người có tiền án về tội kinh tế từ nghiêm trọng trở lên Người có hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán, kiểm toán và quản lý kinh tế bị xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn một năm, kể từ ngày có quyết định xử phạt Người bị đình chỉ hành nghề kiểm toán
Các quy định pháp luật về tiêu chuẩn kiểm toán viên là khá đầy đủ, chi tiết Tuy nhiên, đối với quy định về việc đăng ký hành nghề kiểm toán viên pháp luật kiểm toán còn có điểm bất cấp lớn đó là việc quy định giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán chỉ có giá trị khi kiểm toán viên được cấp giấy chứng nhận đăng ký làm việc toàn bộ thời gian tại một doanh nghiệp kiểm toán Luật kiểm toán cần phải sửa đổi quy định này, cho phép kiểm toán viên được hành nghề độc lập Bởi lẽ, theo thông lệ pháp luật của các nước thì kiểm toán viên được phép hành nghề độc lập và được quyền thuê thêm các các nhân khác làm việc cho mình Hơn thế, pháp luật Việt Nam cho phép thành lập mô hình công ty tư nhân trong hoạt động kiểm toán mà không cho