1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng : Luận văn ThS. Luật: 6 01 05

99 38 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện mới chỉ có một số bài nghiên cứu của một số học giả và một số người làm công tác thực tiễn công bố trên tạp chí Ngân hàng có tìm hiểu về phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng và

Trang 1

Khoa Luật

ĐỖ VĂN SỬ

PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN

BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội - Năm 2004

Trang 2

Khoa Luật

ĐỖ VĂN SỬ

PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN

BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ THU THUỶ

Hà Nội - Năm 2004

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN! 3

LỜI CAM ĐOAN 4

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 5

PHẦN MỞ ĐẦU 9 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 10

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 11

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12

4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 12

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 13

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG 1.1 KHÁI NIỆM THANH TOÁN VÀ DỊCH VỤ THANH TOÁN 14

1.2 THANH TOÁN QUA CÁC TỔ CHỨC CUNG ỨNG DỊCH VỤ THANH TOÁN 15

1.3 THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG 17

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm thư tín dụng .18

1.3.2 Các chức năng, vai trò của thư tín dụng trong giao dịch thương mại .21

1.3.2.1 Giao dịch thương mại và các rủi ro trong thương mại quốc tế .21

1.3.2.2 Chức năng, vai trò của thư tín dụng trong giao dịch thương mại 23

1.3.3 Phân loại thư tín dụng .26

1.3.4 Nội dung cơ bản của thư tín dụng 31

1.3.4.1 Số hiệu, địa điểm, ngày mở thư tín dụng 33

1.3.4.2 Số tiền của thư tín dụng 34

1.3.4.3 Thời hạn 35

1.3.4.4 Nội dung về hàng hoá .36

1.3.4.5 Nội dung về vận tải 36

1.3.4.6 Nội dung về chứng từ 38

1.3.5 Khái niệm thanh toán bằng thư tín dụng .41

1.3.6 Các học thuyết pháp lý liên quan đến phương thức thanh toán bằng thư tín dụng .42

Trang 5

1.3.6.1 Học thuyết về tính tách biệt .43

1.3.6.2 Học thuyết về sự tuân thủ chặt chẽ .44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 48

2.1.1 Quan hệ giữa UCP 500 và pháp luật quốc gia 48

2.1.2 Pháp luật Việt Nam về thanh toán bằng thư tín dụng và việc áp dụng UCP 500 tại Việt Nam 51

2.2 QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG 53

2.3 QUAN HỆ PHÁP LÝ PHÁT SINH TỪ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG 57

2.3.1 Quan hệ pháp lý giữa ngân hàng phát hành và người xin mở thư tín dụng 57

2.3.2 Quan hệ pháp lý giữa ngân hàng và người thụ hưởng .59

2.3.2.1 Quan hệ pháp lý giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng .59

2.3.2.2 Quan hệ pháp lý giữa ngân hàng thông báo và người thụ hưởng .61

2.3.2.3 Quan hệ pháp lý giữa ngân hàng chỉ định và người thụ hưởng .61

2.3.2.4 Quan hệ pháp lý giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng .61

2.3.3 Quan hệ pháp lý giữa các ngân hàng với nhau .61

2.3.3.1 Hợp đồng giữa ngân hàng phát hành với ngân hàng thông báo .61

2.3.3.2 Hợp đồng giữa ngân hàng phát hành với ngân hàng chỉ định .62

2.3.3.3 Hợp đồng giữa ngân hàng phát hành với ngân hàng xác nhận .62

2.3.4 Quan hệ pháp lý giữa người xin mở thư tín dụng với các ngân hàng thứ hai 63

2.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN QUA THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 63

2.4.1 Sự thiếu hụt các văn bản pháp luật quy định về mối quan hệ giữa giao dịch thương mại và giao dịch thanh toán bằng Thư tín dụng 63

2.4.2 Sự phổ biến của loại hình thư tín dụng xác nhận không huỷ ngang trong giao dịch nhập khẩu của bên Việt Nam 67

2.4.3 Thanh toán theo phương thức Thư tín dụng trả chậm 72

2.4.4 Giải quyết tranh chấp liên quan đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 76

Trang 6

2.5 CÁC ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

BẰNG THƯ TÍN DỤNG 78

2.5.1 Ưu điểm 78

2.5.2 Nhược điểm 80

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 83

3.1.1 Xây dựng pháp luật làm cơ sở cho việc áp dụng UCP tại Việt Nam .83

3.1.2 Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật bổ trợ có liên quan tới giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng 84

3.1.3 Tiến dần việc áp dụng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng hài hoà và nhất quán với thông lệ và tập quán quốc tế 85

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 87

3.2.1 Ban hành Nghị định về thanh toán quốc tế 87

3.2.2 Xây dựng các quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các bên liên quan đến giao dịch thư tín dụng 89

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống quy định giải quyết tranh chấp liên quan đến phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng 91

3.2.4 Hệ thống hoá các quy định của các ngành có liên quan 93

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

Với chủ trương phát triển nền kinh tế mở cửa nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới, các quan hệ thương mại song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước đã gia tăng rất nhanh trong giai đoạn gần đây Quan hệ thanh toán giữa các bên được thực hiện thông qua rất nhiều hình thức hết sức đa dạng Trong đó,

phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (DC - Documentary Credit) thông qua Thư tín dụng (L/C - Letter of Credit) được sử dụng rất rộng rãi

Phương thức này về mặt lý thuyết đảm bảo được quyền lợi cho cả hai bên mua và bên bán; trong đó người mua sẽ nhận được hàng khi thanh toán tiền; người bán sẽ nhận được tiền khi xuất trình bộ chứng từ hoàn chỉnh và hợp lệ khi giao hàng thông qua dịch vụ của ngân hàng phục vụ bên mua, ngân hàng phục vụ bên bán

Bản thân phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng có nhiều ưu điểm hơn so với các phương thức thanh toán khác nhưng nó không đảm bảo tránh rủi ro cho các bên tham gia (Bên mua, Bên bán, Ngân hàng) Các rủi ro này

có thể là do các nguyên nhân khách quan (như thiếu hiểu biết, do sai sót, nhầm lẫn, ) hoặc do các nguyên nhân chủ quan (gian dối, lừa đảo, giả mạo, ) Do mức độ phổ biến và do tầm quan trọng của tín dụng chứng từ trong quan hệ thương mại quốc tế đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý điều chỉnh chung cho các bên Đó là những quy tắc điều chỉnh thể hiện đầy đủ các thông lệ và tập quán quốc tế đã được các Ngân hàng trên thế giới chấp nhận

và áp dụng vào các giao dịch tín dụng chứng từ Xuất phát từ nhu cầu này,

Phòng Thương mại Quốc tế Paris (ICC - International Chamber of

Commecial) đã ấn hành bản “Điều lệ và thực hành thống nhất về tín dụng

chứng từ” (Gọi tắt theo Tiếng Anh là UCP - Uniform Customs and Practice

for Documentary Credit) Bản đầu tiên được ấn hành năm 1933 và sau sáu

lần sửa đổi, lần xuất bản năm 1993 (1993 Revision) với ấn bản thứ 500 (Publication No 500) (gọi tắt là UCP 500) có hiệu lực từ ngày 01/01/1994

được coi là bản sửa đổi hoàn chỉnh và sâu sắc nhất, đáp ứng được yêu cầu của các bên tham gia

Tuy nhiên, Điều lệ và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ không mặc nhiên có hiệu lực bắt buộc đối với các giao dịch có sử dụng phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng Điều 1 của bản Điều lệ này (UCP 500) chỉ quy định về hiệu lực của nó đối với các giao dịch nếu các Thư

Trang 8

tín dụng được phát hành có dẫn chiếu đến UCP 500 Tại từng quốc gia, các giao dịch loại này còn chịu sự điều chỉnh của các quy định trong hệ thống pháp luật trong nước Chính yếu tố này là cơ sở khiến cho có các quy định khác nhau giữa UCP 500 với pháp luật quốc gia và giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam bước vào một nền kinh tế hội nhập với sự hoạt động hết sức sôi động và đa dạng của các giao dịch thương mại và các hoạt động ngân hàng Cùng với nó là các tranh chấp phát sinh giữa các bên tham gia liên quan đến các giao dịch và đến việc thanh toán giữa các bên

Với sự phổ biến và các ưu thế của hình thức thanh toán bằng thư tín dụng đã dẫn đến việc các ngân hàng Việt Nam nhanh chóng đưa vào thực hiện các nghiệp vụ này Ngay khi UCP 500 có hiệu lực vào ngày 01/01/1994, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thông báo chấp nhận áp dụng UCP

500 vào giao dịch Tín dụng chứng từ Sau đó, tất cả các ngân hàng thương mại mà được phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế của Việt Nam đều

đã áp dụng rộng rãi phương thức thanh toán này nhằm mục đích hoà nhập vào hệ thống thanh toán thương mại thế giới

Tuy nhiên, trước ngày 01/7/1997, các loại giao dịch này lại không hề

có sự điều chỉnh nào từ phía nhà nước Việt Nam thông qua các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền UCP 500 mặc nhiên trở thành văn bản do các bên lựa chọn sử dụng để áp dụng trong các quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ Điều này đã đem lại một số hậu quả rất đáng tiếc cho các doanh nghiệp Việt Nam do sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và hướng dẫn từ phía nhà nước thông qua các văn bản quy định chi tiết Một số doanh nghiệp lại lợi dụng sự thiếu quy định điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực này để chiếm dụng vốn, lừa đảo gây thất thoát cho nhà nước hàng nghìn tỷ đồng

Để chấn chỉnh và quản lý chặt chẽ trong lĩnh vực này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định 207/QĐ-NH7 ngày 01/7/1997 về việc ban hành Quy chế mở Thư tín dụng nhập hàng trả chậm Nhưng bản Quy chế này vẫn chưa điều chỉnh tới nguồn vốn vay của nước ngoài thông

qua hình thức tái cấp vốn (Refinancing) Trên thực tế, sự thiếu hụt này đã để

cho có nhiều vi phạm gây ra các hậu quả rất trầm trọng đối với loại hình cho vay chưa phải xuất vốn này Sau đó, vào năm 2001, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành bản Quy chế mới về mở Thư tín dụng nhập hàng trả

Trang 9

chậm (ban hành kèm theo Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN ngày 2001) để kịp thời điều chỉnh, bổ sung

25-5-Các văn bản này mới chỉ điều chỉnh về các hoạt động mở Thư tín dụng nhập hàng trả chậm là các hoạt động nếu không có sự điều chỉnh chặt chẽ từ phía nhà nước thì sẽ đem lại rất nhiều tổn thất cho nhà nước Các hoạt động thanh toán khác bằng phương thức tín dụng chứng từ hiện vẫn bị “bỏ ngỏ”

và do các bên tự điều chỉnh với nhau (và thường thì các bên thoả thuận áp dụng UCP 500)

Trong thời gian qua, thực trạng này đã làm nảy sinh rất nhiều các tranh chấp giữa các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam trong quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng với các đối tác nước ngoài và thường là phía Việt Nam chịu nhiều rủi ro hơn do thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, do không

có khung pháp lý hoàn thiện điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, Tất cả các điều này tạo ra nhu cầu cần phải xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam điều chỉnh về các hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng trên cơ sở có sự tham khảo đối chiếu với các thông lệ và tập quán quốc tế và pháp luật các nước khác Vì vậy, việc tiến hành một đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này là một yêu cầu rất cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tuy có các đòi hỏi cần phải có các nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh pháp lý của phương thức thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam, nhưng hiện nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào cả ở trong và ngoài nước tìm hiểu sâu về vấn đề này ở cấp độ một Luận văn Thạc sĩ hoặc một Luận án Tiến sĩ Hiện mới chỉ có một số bài nghiên cứu của một số học giả và một số người làm công tác thực tiễn công bố trên tạp chí Ngân hàng

có tìm hiểu về phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng và các rủi ro cho các bên khi thực hiện giao dịch bằng phương thức thanh toán này; nhưng hầu hết các công trình này chỉ xem xét vấn đề dưới góc độ kinh tế chứ ít chú trọng tới khía cạnh pháp lý của vấn đề nghiên cứu(1)

Chính vì vậy, tác giả đề tài cố gằng trong một chừng mực nhất định đưa ra một số vấn đề có tính khái quát nhất và có tính bức xúc nhất về thực trạng áp dụng pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam hiện nay và trên cơ sở đó đưa ra một số

đề xuất về các phương hướng và giải pháp hoàn thiện

1

: Đáng chú ý nhất là hai bài “Bản chất của Tín dụng thư khi có dẫn chiếu điều lệ và thực hành thống nhất

UCP 500” của Luật gia Ng uyễ n Phong Hoà (Bộ Công An) đăng trên Tạp chí Ngân hàng s ố 17/1998 và

“Vấn đề pháp lý trong giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu” của tác giả Nguyễn Trọng Thuỳ

(Vietcombank TP.HCM) đăng trên Tạp chí Ngân hàng s ố 23/1998

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật điều chỉnh

về hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng Đặc biệt là chú trọng tới sự đối chiếu, so sánh với các quy định về thanh toán bằng Thư tín dụng của một số nước trên thế giới (một số quốc gia có hệ thống pháp luật đã khá hoàn chỉnh

và một số nước có các điều kiện tương tự như của Việt Nam) và các thông lệ chung trên thế giới

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật quốc gia hiện hành điều chỉnh phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng (L/C) Tuy nhiên, các tập quán và thông

lệ quốc tế trong lĩnh vực thanh toán bằng thư tín dụng cũng được đề tài coi là một nguồn quan trọng để phân tích, đánh giá để từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến phương thức thanh toán bằng thư tín dụng

Do sự phổ biến của việc áp dụng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng trong hoạt động thương mại quốc tế (xuất phát từ các rủi ro và các đặc thù của hoạt động thương mại có liên quan tới nhiều quốc gia khác nhau) nên

đề tài có sự chú ý hơn tới các giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng trong hoạt động ngoại thương của đất nước

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu về bản chất, đặc điểm, vai trò của Thư tín dụng trong đời sống kinh tế xã hội và khái niệm, đặc điểm của phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng theo các quy định pháp luật hiện hành

- Phân tích các quy định hiện hành về chủ thể, quy trình thanh toán của phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng

- Phân tích các loại rủi ro thường xảy ra và/hoặc có thể xảy ra trong quá trình thanh toán bằng Thư tín dụng

- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về thanh toán bằng Thư tín dụng tại Việt Nam hiện nay

- Thông qua đó, đánh giá chung về thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay trong việc điều chỉnh các hoạt động thanh toán bằng Thư tín dụng; so sánh, đối chiếu với thông lệ và pháp luật quốc tế về vấn đề này Từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng Thư tín dụng ở Việt Nam

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và của một số nước cũng như các thông lệ tập quán được áp dụng chung trên toàn thế giới trong thanh toán bằng thư tín dụng Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đã được đề ra, hai phương pháp phân tích quy phạm và phương pháp so sánh được tác giả sử dụng như là hai phương pháp chủ đạo, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nghiên cứu đề tài

Ngoài ra, tác giả đề tài còn sử dụng tổng hợp các phương pháp khác như Thống kê, Phân tích - Tổng hợp, để hoàn thành kết quả nghiên cứu

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài các Phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được bố cục làm 3 chương:

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ

TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH

TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

Trang 12

Chương 1:

KHÁI QUÁT CHUNG

VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG

1.1 Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán

Khi nền kinh tế của Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới thì các lợi ích thương mại của các doanh nghiệp trong nước và các quan

hệ đầu tư với các tập đoàn nước ngoài ngày càng tăng với mức độ nhanh chóng hơn Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp luật về thương mại và thanh toán hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng trở thành một nhu cầu quan trọng song song với việc trang bị và cung cấp cho các doanh nhân trong nước các thông tin hỗ trợ cho công việc kinh doanh của họ cả tại nội địa và trên các thị trường quốc tế Một trong những lĩnh vực phức tạp nhất của các quan hệ thương mại quốc tế là hoạt động thanh toán được thực hiện thông qua phương thức thanh toán bằng thư tín dụng Trước khi có sự tìm hiểu và phân tích về phương thức thanh toán này,

đề tài tập trung vào xem xét khái quát về vấn đề thanh toán và các phương thức thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được thực hiện trong các giao dịch của đời sống kinh tế - xã hội nói chung và trong các hoạt động thương mại quốc tế nói riêng

Theo nghĩa chung nhất, thanh toán là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ các quan hệ dân sự, thương mại, tài chính, tín dụng, được phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ đó

Thanh toán là một hành vi có tính nghĩa vụ của người thụ trái đối với trái chủ trong các quan hệ trong đời sống xã hội (mà phổ biến nhất là các quan hệ mang tính hợp đồng giữa các bên) Việc thực hiện nghĩa vụ này được tiến hành thông qua nhiều cách thức khác nhau như: thanh toán trực tiếp và thanh toán gián tiếp, thanh toán ngay và thanh toán trả chậm, thanh toán bằng tiền mặt hoặc các loại giấy tờ có giá, và làm phát sinh vô số hình thái khác nhau trong các quan hệ thực tiễn của đời sống xã hội

Khi các quan hệ thương mại được phát triển ở quy mô và phạm vi rộng (đặc biệt là trong các quan hệ hợp đồng quốc tế) thì việc thanh toán của các bên trở nên khó khăn hơn do cách biệt về địa lý, về ngôn ngữ, về thời gian, Điều này đã làm phát sinh nhu cầu cần có các trung gian để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các bên Để thực hiện chức năng này, các tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán phải đáp ứng được các điều kiện nhất định và phải được tất cả các bên tín nhiệm

Trang 13

Tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia cụ thể mà tại mỗi nước có các quy định khác nhau về các loại và các điều kiện để trở thành các tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán Theo quy định hiện hành của Việt Nam(2), hiện chỉ có ba loại tổ chức được đứng ra thực hiện chức năng trung gian thanh toán là Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng và các Tổ chức khác được làm dịch

vụ thanh toán

Trong các loại chủ thể trên thì chỉ có các tổ chức tín dụng (trong có vai trò đặc biệt của các ngân hàng thương mại(3)

) là chủ thể chủ yếu thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì khái niệm

dịch vụ thanh toán được hiểu “là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực

hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán”

1.2 Thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ở Việt Nam hiện nay là ba văn bản quy phạm pháp luật: Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ

về hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các

Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08 tháng 10 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy định thủ tục thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Theo Điều 9 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN, các phương tiện thanh toán không phải tiền mặt (được quy định từ khoản 2 đến khoản 5) bao gồm: Séc, Uỷ nhiệm chi (hoặc lệnh chi), Uỷ nhiệm thu (hoặc nhờ thu), Thẻ ngân hàng, và các phương tiện thanh toán khác (như hối phiếu, lệnh phiếu, ) Các phương tiện thanh toán không phải tiền mặt được dùng để thực hiện các

2

: Nghị định số 64/2001/ NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các

Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 1092/2002/ QĐ-NHNN ngày 08 tháng 10 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy định thủ tục thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

3

: Khái niệ m ngân hàng thương mại được hiểu bao gồm: Ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phẩn, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Na m

Trang 14

khoản chi trả tài chính như: Thuế, phí, lệ phí, hay chi trả tiền mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ giữa các chủ thể tham gia các quan hệ đó

Các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán này ngoài các bên thanh toán (người trả tiền và người nhận tiền) còn có sự hiện diện của các trung gian thanh toán (Ngân hàng nhà nước, Kho bạc nhà nước, các tổ chức tín dụng) Trong hầu hết các quan hệ thanh toán này, chủ yếu được khởi xướng và được xuất hiện bởi người trả tiền Đây chính là chủ thể quyết định của quá trình thanh toán Người nhận tiền có vai trò thụ động hơn, nhưng quá trình thanh toán chỉ được tiếp nhận và thực hiện bởi người nhận tiền Chính vì vậy, chủ thể này là người quyết định tiếp theo của quá trình thanh toán

Trong các hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, vai trò của các chứng từ thanh toán là hết sức quan trọng Chúng được coi là các công cụ thanh toán, là phương tiện chuyển tải các điều kiện thanh toán do bản chất của quan hệ thanh toán này là không có sự hiện diện của tiền mặt Các chứng

từ chủ yếu là lệnh thu và lệnh chi với nhiều hình thái, tên gọi khác nhau tuỳ theo từng loại hình dịch vụ Tuy nhiên, chúng đều hội tụ đầy đủ tất cả các yếu tố sau:

- Họ tên người trả tiền, người nhận tiền (trừ séc vô danh)

- Lý do thanh toán

- Số tiền thanh toán

- Chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng hoặc những người được uỷ quyền theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, có một số công cụ phụ trợ cho lệnh thu, lệnh chi như là: Bảng kê, Giấy báo biên hàng, Hoá đơn, Vận đơn, Hợp đồng kinh tế, để đối chiếu, so sánh với lệnh thu, lệnh chi khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán Các công cụ phụ trợ này không phải là công cụ thanh toán

Quá trình thực hiện thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được thực hiện qua các tài khoản ngân hàng của các bên được lập

ra phục vụ cho mục đích hoạt động của mình Có ba loại tài khoản chính là:

- Tài khoản trả tiền: là tài khoản ghi chép số tiền đã trả

- Tài khoản nhận tiền: là tài khoản ghi chép số tiền đã nhận

- Tài khoản trung gian: là tài khoản do các tổ chức trung gian thanh toán lập ra để ghi chép số tiền trước khi chuyển cho người thụ hưởng Khi thực hiện nghiệp vụ này, bên trung gian sẽ được hưởng khoản phí phục vụ

Các phương thức thanh toán quốc tế qua các Tổ chức cung ứng dịch

vụ thanh toán hiện nay được quy định tại Mục 4 (Các Điều 18, 19) Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân

Trang 15

hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Theo đó, các phương thức thức thanh toán quốc tế bao gồm:

- Thanh toán bằng thư tín dụng (Khoản 1 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN)

- Thanh toán bằng séc thanh toán quốc tế (Khoản 2 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN)

- Thanh toán bằng lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi quốc tế (Khoản 2 Điều

1.3 Thanh toán bằng Thư tín dụng

Trong các mối quan hệ kinh tế - thương mại, động cơ tham gia vào quan hệ của các bên không giống nhau; các nhà xuất khẩu cũng như các nhà nhập khẩu có thể quan tâm đến hoạt động kinh tế với nhiều lý do khác nhau

Đó có thể là mua nguyên vật liệu, hàng hoá hay dịch vụ ở nước ngoài mà họ không thể mua hoặc là mua nhưng không có lợi ở trong nước Hoặc là họ nhằm đến mục đích nhận được các lợi ích thông qua bán hàng hoá ra thị trường ngoài nước (nhà xuất khẩu), và nguồn lợi nhuận liên quan đến hợp đồng giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu

Các hoạt động này đều có liên quan đến các vấn đề khả năng tài chính

và khả năng thực hiện trên thực tế của mỗi bên Việc giải quyết thành công các quan hệ thương mại quốc tế được quyết định bởi nhiều nhân tố Nhân tố quan trọng nhất trong số này là khả năng thanh toán của các bên Một nhà xuất khẩu sẽ cần nhận được đầy đủ giá trị hàng hoá đã bán ra vào một thời điểm xác định Các quan hệ giữa người bán và người mua, các nghĩa vụ và trách nhiệm của họ có liên quan trực tiếp tới việc lựa chọn một phương thức thanh toán có sự đảm bảo chắc chắn hơn cho các bên tham gia

Các phương thức thanh toán đã được hình thành từ lâu với đầy đủ các quy tắc, thông lệ đối với việc rút, chuyển giao, và thiết lập các chứng từ

Trang 16

thanh toán và về quản lý hàng hoá cũng như tiến hành thanh toán Việc lựa chọn một phương thức thanh toán nào thông qua các Tổ chức cung ứng dịch

vụ thanh toán sẽ được các bên quyết định thống nhất với nhau trong hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ Các phân tích về thực tiễn thương mại quốc tế đã chứng thực rằng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là được áp dụng thường xuyên nhất

Thanh toán bằng thư tín dụng là phương thức rất đặc thù và tại thời điểm hiện nay, là một phương thức thanh toán có ích khi nó được áp dụng rộng rãi trong các quan hệ kinh tế trong và ngoài nước Tuy nhiên, khi xem xét thực tiễn nghèo nàn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong lĩnh vực thanh toán bằng tín dụng chứng từ, chúng ta có thể thấy rằng, ngoại trừ các trường hợp cá biệt, trong hầu hết các trường hợp thực tế, loại hình tín dụng chứng từ được áp dụng trong các giao dịch nhập khẩu là một Thư tín dụng không thể huỷ ngang được xác nhận(4)

(confirmed irrevocable L/C)

trong khi đó, hầu hết các giao dịch xuất khẩu là một thư tín dụng không được xác nhận

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm thư tín dụng

Việc nghiên cứu về bản chất và các đặc điểm của Thư tín dụng nhằm mục đích xác định các lợi ích của thanh toán bằng tín dụng chứng từ so với các phương thức thanh toán khác được thực hiện trên cơ sở phân tích về các đặc trưng chủ yếu của nó và các vấn đề có liên quan xung quanh phương thức thanh toán này Trước hết, phải xem xét tóm lược về nguồn gốc của phương thức thanh toán quốc tế đang được sử dụng rộng rãi nhất này

Ngay từ thời Trung cổ ở Châu Âu, gia tộc Medicis đã nổi tiếng về các hoạt động ngân hàng của mình tại Florence (Italia) và đã đưa ra một công cụ thanh toán làm tiền đề của hối phiếu Tuy nhiên, thư tín dụng lại được các thương nhân, chứ không phải các ngân hàng đưa ra vào thế kỷ 19 và khởi đầu tồn tại dưới dạng các tấm séc du lịch được phép rút tiền tại bất cứ nơi nào khác ngoài nơi phát hành Trong thời kỳ khủng hoảng chính trị tại Châu

Âu trong thế kỷ 19, các công cụ tài chính như thư tín dụng trở nên quan trọng, thậm chí ngay cả khi hầu hết các hoạt động thương mại đã sụp đổ(5)

Sau Thế chiến I, hoạt động ngoại thương không dựa trên đạo đức của các bên tham gia hợp đồng nữa mà đòi hỏi các công cụ thanh toán chắc chắn cho các bên tham gia Vào thời này, các loại thư tín dụng có cơ hội để tiếp tục vai trò của mình như thời tiền chiến, nhưng chúng được sử dụng trên cơ sở đảm bảo

4

: Còn được gọi là Thư tín dụng xác nhận không thể huỷ ngang Về các mặt tích cực và hạn chế của việc áp dụng quá phổ biến loại h ình Thư tín dụng xác nhận không thể huỷ ngang này trong hoạt động nhập khẩu, sẽ được phân tích sâu hơn trong Mục 2.4.2 của đề tài này

5

: Tức là thời kỳ mà phần lớn Châu Âu nằm dưới sự cai trị của Hoàng đế Napoleon nước Pháp đã tiến hành cuộc phong toả bờ biển và phong toả thương mại với nước Anh; sau đó là cuộc chiến tranh với nước Nga Trong lịch sử Châu Âu, đây được gọi là thời kỳ khủng hoảng về chính trị

Trang 17

cho sự an toàn của các bên thay vì thiện chí Quá trình “toàn cầu hoá” hiện nay và sự gia tăng của thương mại với các nước đang phát triển đòi hỏi các công cụ tài chính hữu ích Có nhiều cách thức thanh toán khác nhau: nếu nhà xuất khẩu đang ở trong vị thế mạnh và không chắc chắn về khả năng tài chính của người mua, họ có thể quy định việc thanh toán chậm cho toàn bộ hay từng phần; các khả năng khác là thanh toán với giá khi giao hàng hoặc cho người mua chậm trả Dù có cho nợ hay không, người bán có thể muốn đảm bảo cho vị thế của mình bằng các cam kết thanh toán chính xác từ bên thứ ba, thường là một ngân hàng Thư tín dụng trong các trường hợp này chính là “mạch máu nuôi dưỡng nền thương mại quốc tế”, là phương thức thông dụng nhất để thanh toán cho hàng hoá trong thương mại quốc tế

Sự thành công của việc áp dụng thanh toán bằng thư tín dụng có liên quan trực tiếp đến mức độ phát triển của khung pháp lý tương ứng Các quan

hệ thanh toán quốc tế được quy định cả bởi các văn bản quy phạm pháp luật của các nước cũng như các tập quán và thực tiễn trong các quan hệ kinh doanh Hơn nữa, sự phổ biến của các hoạt động ngân hàng cũng tạo ra sự thống nhất trong thanh toán quốc tế Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) đã soạn thảo tỉ mỉ bản “Điều lệ

và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”(6)

(The Uniform Customs and

Practice for Documentary Credits – Từ đây trở về sau gọi tắt là UCP) Bản

này có hiệu lực vào ngày 01/01/1994 Đây là một sự phản ánh về các thành tựu tiến bộ được tạo ra trong các quan hệ thanh toán trong lĩnh vực ngân hàng và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động xuất - nhập khẩu

Mặc dù trên thực tế, UCP chỉ có tính khuyến nghị và đại diện cho luật

lệ không chính thức của các quy tắc kinh doanh nhưng đại đa số các ngân hàng trên toàn thế giới đều thực hiện việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ Cũng cần lưu ý rằng UCP đóng vai trò hạt nhân trong các quy định pháp luật có liên quan tới thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại nhiều quốc gia khác nhau(7)

UCP đưa ra định nghĩa về Thư tín dụng và quy định các loại, các quy tắc, các phương tiện áp dụng của nó, các trách nhiệm và nghĩa vụ của các ngân hàng Nó cũng thiết lập các yêu cầu đối với các chứng từ được xuất trình trên cơ sở của thư tín dụng cũng như các quy tắc đối vói việc xuất trình chúng Nếu một ngân hàng áp dụng UCP thì có nghĩa là các điều khoản của việc viện dẫn này sẽ ràng buộc đối với cả hai bên: ngân hàng và khách hàng của họ

Trang 18

Khái niệm về tín dụng chứng từ được xác định trong Điều 2 của UCP

500 Theo đó thì “Nhằm phục vụ mục đích các điều khoản này, những thuật ngữ “tín dụng chứng từ” và “thư tín dụng dự phòng” (dưới đây gọi là Tín dụng) có nghĩa là bất cứ một sự thoả thuận nào, dù cho được gọi và mô tả như thế nào, mà theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng (người xin mở thư tín dụng) hoặc nhân danh chính mình:

i Phải tiến hành việc trả tiền theo lệnh của một Người thứ ba (Người thụ hưởng) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do người thụ hưởng ký phát

ii Uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán như thế hoặc chấp nhận và trả tiền các hối phiếu như thế, hoặc

iii Uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu khi (các) chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện là các điều kiện của thư tín dụng được thực hiện đúng

Để thực hiện các mục đích của các điều khoản này, các chi nhánh của một ngân hàng ở các nước khác nhau được coi là một ngân hàng khác”

Tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 16 của Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, bằng việc mở một thư tín dụng, ngân hàng phát hành cam kết, theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người xin mở thư tín dụng):

- Trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng; hoặc

- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng

Như vậy, về bản chất thì thư tín dụng là giao dịch riêng biệt với các hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác làm cơ sở của thư tín dụng và các ngân hàng không bị ràng buộc vào hoặc liên quan tới các hợp đồng như thế thậm chí ngay cả khi trong thư tín dụng có sự dẫn chiếu đến hợp đồng

đó Do đó, cam kết trả tiền, việc tiến hành trả tiền của ngân hàng phát hành theo quy định trong thư tín dụng không hề bị ràng buộc bởi các khiếu nại của người xin mở thư tín dụng phát sinh từ quan hệ của họ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng

Ngày nay, thư tín dụng là một phương thức thanh toán phổ biến nhưng

nó cũng là một cách thức thanh toán khá tốn kém Ví dụ, đối với nghiệp vụ

Trang 19

xác nhận đối với một thư tín dụng, các ngân hàng thông thường lấy khoản hoa hồng cho việc xác nhận một thư tín dụng là 0,5 % hay có thể nhiều hơn trong tổng giá trị của thư tín dụng Chẳng hạn, cụ thể trong trường hợp một hợp đồng nhập khẩu dầu thô trị giá 20.000.000 đô la Mỹ giữa Công ty Xuất nhập khẩu xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với một Công ty Singapore thì phải trả 100.000 đô la chỉ cho việc xác nhận đối với một thư tín dụng không thể huỷ ngang

Vấn đề nảy sinh ở đây là tại sao các bên trong hợp đồng lại muốn trả một số tiền như vậy cho ngân hàng thay vì trả trực tiếp cho đối tác Để có câu trả lời thì trước hết cần phải xem xét về các rủi ro trong thương mại quốc

tế hiện nay và từ đó đánh giá được vai trò, chức năng của thư tín dụng trong giao dịch thương mại quốc tế

1.3.2 Các chức năng, vai trò của thư tín dụng trong giao dịch thương mại

1.3.2.1 Giao dịch thương mại và các rủi ro trong thương mại quốc tế

Các giao dịch thương mại ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế thế giới Thông qua các giao dịch này mà các quốc gia, các vùng lãnh thổ có thể tận dụng một cách tối đa các lợi thế của mình trong việc phát triển các lợi ích đa phương giữa các bên Trong các giao dịch này thì cả bên mua và bên bán đều mong muốn nhận được các giá trị nhằm thoả mãn được lợi ích của cả hai phía Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại, cả hai bên đều có các nguy cơ chịu các rủi ro khác nahu ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hợp đồng đã giao ước Các rủi ro này đưa đến các khả năng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều khoản hợp đồng và làm ảnh hưởng đến cả hai bên: bên mua và bên bán

Trên thực tế thì rủi ro là một khái niệm có bản chất tiêu cực, phái sinh

và hoạt động kinh doanh ở nước ngoài luôn gánh lấy các rủi ro lớn hơn trong nước: khoảng cách, sự khác biệt về luật lệ và các thông lệ kinh doanh, sự khác biệt về tiền tệ, khác biệt về hệ thống chính trị và các vấn đề về thông tin giao tiếp do bất đồng ngôn ngữ và các rào cản kỹ thuật là các vấn đề điển hình trong kinh doanh quốc tế Nếu các hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp

luật nước ngoài, thường là rất khó đánh giá địa vị pháp lý (the legal

situation) của bên nước ngoài tham gia hợp đồng Một vấn đề khác nảy sinh

là việc thực hiện hợp đồng: tiến hành thanh toán bằng chuyển giao trực tiếp

là rất khó có thể thực hiện, do đó cũng không thể kiểm soát được chắc chắn Tương tự như vậy, để kiện một bên ra toà cũng có thể rất khó khăn do các yếu tố như là: luật lệ nước ngoài, ngôn ngữ nước ngoài, luật thủ tục của nước ngoài hoặc cần phải có các luật sư nước ngoài Có 4 loại rủi ro chủ yếu phải

Trang 20

đối mặt khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế: các rủi ro về kinh tế, các rủi ro về chính trị, các rủi ro về thanh toán, các rủi ro về vận chuyển

a Các rủi ro về kinh tế (Economic risks)

Các rủi ro về kinh tế là hậu quả từ việc thiếu khả năng thanh toán hay thiếu tín nhiệm của một bên tham gia hợp đồng Các rủi ro của nhà xuất khẩu

có thể kể đến như là:

- Các rủi ro trong khâu sản xuất (manufacturing risk), có nghĩa là khi

nhà xuất khẩu đang tiến hành sản xuất hàng hoá để giao cho nhà nhập khẩu theo hợp đồng thì nhà nhập khẩu có thể bị rơi vào tình trạng không trả được nợ hoặc phá sản hoặc cố ý vi phạm hợp đồng (do các biến động của thị trường trong nước mà việc nhập khẩu hàng hoá đó sẽ không còn có lợi nữa, );

- Rủi ro do nhà nhập khẩu không nhận hàng đã được giao;

- Rủi ro do nhà nhập khẩu không trả tiền, ví dụ do chậm trễ hoặc do thiếu thiện ý hoặc do mất khả năng chi trả,

Trong một chiều hướng rộng hơn, các rủi ro về kinh tế của nhà xuất khẩu bao gồm cả rủi ro do sự phá sản của nhà nhập khẩu, rủi ro do bị trọng tài huỷ bỏ hợp đồng,

Tương tự như vậy, các nhà nhập khẩu cũng gặp phải nhiều loại rủi ro khác nhau như: rủi ro trong khâu đặt hàng, nghĩa là nhà xuất khẩu không thể giao các hàng như đã cam kết; rủi ro trong khâu giao hàng, nghĩa là nhà xuất khẩu thực hiện sai do giao hàng chậm trễ, giao thiếu mặt hàng, giao sai về chất lượng hay số lượng hàng hoá

b Các rủi ro về chính trị (Political risks)

Các rủi ro về chính trị, còn được gọi là “các rủi ro nhà nước” bị gây ra bởi các biện pháp của các chính quyền hay các nhà cầm quyền hoặc là các hậu quả của chiến tranh, bạo loạn hay cách mạng Các rủi ro này có thể liên quan đến hàng hoá, chúng có thể bị tịch thu sung công, bị chiếm đoạt, huỷ hoại hay hư hỏng, hoặc có thể liên quan đến các tài sản bị tịch thu hay các hoạt động thanh toán bị cấm, một lệnh đình chỉ thanh toán hay cấm chuyển giao tiền Dĩ nhiên là dù cho các bên đều muốn thực hiện, nhưng do những tình huống chính trị như vậy nên không thể tiến hành

Trong một số trường hợp, ví dụ như chiến tranh, toàn bộ hợp đồng bị coi như vô hiệu nếu như một trong các bên bị rơi vào tình trạng kẻ thù Hoặc việc thực hiện có thể bị nhiễu loạn do chiến tranh Một hợp đồng cũng có thể

bị coi như vô hiệu nếu cơ quan lập pháp của một quốc gia sau khi xem xét kết luận về nó đã ngăn cấm việc thực hiện hợp đồng đó bằng cách ban hành

Trang 21

lệnh cấm vận Một rủi ro quan trọng và thường gặp nữa là rủi ro do việc hoãn trả nợ: tức là trường hợp mà một nhà nước ngăn cấm các hoạt động thanh toán do mất cân bằng trong cán cân thanh toán của nhà nước

c Các rủi ro về tiền tệ (Currency risks)

Các rủi ro về tiền tệ do sự thả nổi tỷ giá hối đoái của các đồng bản tệ của mỗi bên và thường gây ra các tổn thất Các nhà xuất khẩu ký một hợp đồng gồm thanh toán bằng ngoại tệ gánh chịu rủi ro về việc sẽ nhận được ít tiền hơn con số mà họ đã tính toán Các rủi ro về tiền tệ như vậy có thể do các nguyên nhân chính trị hay kinh tế Một rủi ro khác có thể xảy ra nếu đồng tiền của một nước không có khả năng chuyển đổi hay việc thanh toán bằng đồng tiền này là không được phép tiến hành Thậm chí điều này còn mang nhiều tính chất của một rủi ro chính trị hơn, do các biện pháp của nhà nước, nó có thể bao gồm cả một rủi ro tiền tệ nếu như việc thanh toán đã được tuyên bố là được thực hiện bằng đồng tiền này

d Các rủi ro về vận chuyển (Transport risks)

Các hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm cả các rủi ro về vận chuyển: hàng hoá có thể bị mất mát hay hư hỏng trên đường vận chuyển Vấn đề dẫn đến việc người nhập khẩu phải gánh chịu rủi ro và phải thanh toán, thậm chí ngay cả khi họ không nhận được hàng hoá Một vấn đề khác nảy sinh nếu như quyền sở hữu đối với hàng hoá đã được chuyển giao, nhưng người mua lại không chấp nhận một cách chính đáng đối với hàng hoá: và rõ ràng là không công bằng đối với người phải gánh chịu rủi ro đối với bất kỳ mất mát,

hư hỏng hay xuống cấp của hàng hoá nếu chúng phải được cất giữ hay chuyên chở ngược lại

Với các loại rủi ro trong thương mại quốc tế nêu trên, nhưng không phải đã là toàn bộ các rủi ro, việc lựa chọn một phương thức thanh toán đảm bảo được lợi ích một cách tốt nhất cho các bên liên quan trở thành một yêu cầu quan trọng và thực tế chứng minh rằng, thư tín dụng tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn cả

1.3.2.2 Chức năng, vai trò của thư tín dụng trong giao dịch thương mại

Thư tín dụng có thể được sử dụng nhằm giảm thiểu rủi ro cho một số, nhưng không phải cho tất cả các rủi ro đã đề cập ở trên Hiện là phương thức thanh toán thông dụng nhất đối với hàng hoá trong hoạt động xuất nhập khẩu Nó được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn thế giới Không có bất

kỳ đặc điểm nào khác biệt giữa phương thức tín dụng chứng từ theo pháp luật Châu Âu lục địa và thư tín dụng theo pháp luật Anh – Mỹ Cả hai thuật

Trang 22

ngữ (Tín dụng chứng từ theo luật Châu Âu lục địa và Thư tín dụng theo luật Anh - Mỹ) đều được sử dụng với cùng ý nghĩa Trong thương mại quốc tế, UCP 500 của Phòng Thương mại Quốc tế được xem là các quy tắc áp dụng chung cho các giao dịch thư tín dụng Theo Điều 1 của UCP 500, chúng sẽ được áp dụng tới tất cả các thư tín dụng nào mà trong đó có dẫn chiếu áp dụng chúng

Với vai trò như vậy, một thư tín dụng thông thường sẽ thực hiện đầy

đủ các chức năng sau: chức năng thanh toán, chức năng bảo đảm và chức năng tín dụng

a Chức năng thanh toán

Thư tín dụng được sử dụng cho việc thanh toán: nhà xuất khẩu có thể được thanh toán ngay sau khi chuyển giao các chứng từ mà không cần phải đợi đến khi hàng tới địa chỉ Một thư tín dụng không phải là một loại giấy tờ

có giá như tiền tệ hay hối phiếu, nhưng lại giúp cho việc tiến hành thanh toán thông qua các loại giấy tờ có giá này Theo nguyên tắc chung, người bán và người mua khi đồng ý phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là đã chấp nhận một cách thanh toán khác ngoài cách ban đầu mà cách mới này cũng thực hiện đủ nghĩa vụ khi hoàn thành Người bán có thể đòi thanh toán thêm

từ hợp đồng mua bán, nhưng trước tiên phải cố đòi thanh toán từ thư tín dụng Việc thực hiện hợp đồng được tiến hành bằng việc thanh toán số tiền

đã cam kết trong thư tín dụng Vào thời điểm chấm dứt thanh toán bằng thư tín dụng, không chỉ có cam kết thanh toán theo thư tín dụng được kết thúc

mà quyền đòi nợ theo hợp đồng chính cũng không còn tồn tại

Ngân hàng phát hành có thể cấp tiền cho nhà sản xuất hàng hoá và nhận lại tiền sau khi hàng hoá đã bán tại thị trường nội địa của nhà nhập khẩu Thư tín dụng tạo cơ sở thuận lợi hơn cho các ngân hàng khi cấp tiền cho nhà sản xuất hàng hoá Khi ngân hàng cho phép mở thư tín dụng mà không buộc phải ký quỹ 100% giá trị thư tín dụng đó có nghĩa là đã cấp một

Trang 23

khoản tín dụng cho người xin mở thư tín dụng Trong trường hợp một thư tín

dụng quy định phải chấp nhận (Acceptance letters of credit), khi một hối

phiếu được ngân hàng phát hành ký phát, nhà xuất khẩu cũng có thể bán hối phiếu này với một mức chiết khấu tại một ngân hàng và nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đợi hối phiếu đáo hạn

c Chức năng bảo đảm (Security function)

Nếu như nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu chưa tin cậy nhau, nếu họ không quen biết nhau, người bán tất yếu sẽ đòi hỏi sự bảo đảm cho việc thanh toán do khó có thể đòi hỏi thanh toán tại quốc gia của nhà xuất khẩu Chính vì vậy, một thư tín dụng được gọi là “con tin giữa người mua và người

bán” (“child of distrust between seller and buyer”) Nó bảo đảm cho thực

hiện của cả hai bên: nhà nhập khẩu có thể chắc chắn rằng nhà xuất khẩu chỉ nhận được tiền nếu như họ chứng minh việc chuyển giao hàng phù hợp với hợp đồng thông qua việc chuyển giao các chứng từ cho ngân hàng; bên cạnh

đó, nhà xuất khẩu có thể chắc chắn rằng mình nhận được thanh toán nếu chuyển giao các chứng từ Các bên tham gia hợp đồng được đảm bảo đối với các rủi ro mất khả năng thanh toán từ phía bên kia

Đối với các nhà xuất khẩu, khả năng gặp phải các rủi ro về kinh tế

(economic risk) của họ là rất thấp Các chứng từ được quy định trước có thể

là một bảo đảm cho các ngân hàng cấp tín dụng vì hàng hoá đang được chuyển giao Trong trường hợp của một thư tín dụng quy định phải chấp

nhận (Acceptance letters of credit), nhà xuất khẩu không thể chỉ tin tưởng

vào danh tiếng của ngân hàng và cam kết thanh toán của nó; một hối phiếu cũng độc lập với các hợp đồng, do đó nó có các bảo đảm có tính quy tắc và hình thức chặt chẽ Nếu một thư tín dụng không được thanh toán do các chứng từ có sai sót hoặc các chứng từ không được xuất trình đúng hạn, người bán vẫn có thể đòi thanh toán do có hợp đồng mua bán hàng giữa các bên Một thư tín dụng chỉ là việc thực hiện thanh toán phái sinh có tính bổ trợ chứ không thay cho việc thanh toán gốc

Một vài rủi ro có tính chính trị đối với nhà xuất khẩu có thể tránh được

bởi một thư tín dụng xác nhận không thể huỷ ngang (confirmed irrevocable

letter of credit) Các biện pháp từ phía Chính phủ như là lệnh hoãn trả nợ hay

tạm đình thanh toán bằng đồng bản tệ của nhà nhập khẩu không gây ra tổn thất nếu nhà xuất khẩu có thể yêu cầu thanh toán từ một ngân hàng tại chính nước mình Các rủi ro về tiền tệ do các biện pháp của Chính phủ gây ra có thể được giảm thiểu nếu thư tín dụng được cấp theo một đồng tiền tự do

chuyển đổi (free floatable currency) Nhưng dĩ nhiên, các thư tín dụng không

thể tránh được tất cả các rủi ro: các rủi ro về vận chuyển có thể được đảm

Trang 24

bảo bởi bảo hiểm vận tải đặc thù, các rủi ro về tiền tệ do thả nổi đồng tiền có thể tránh được thông qua các giao dịch ngân hàng đặc biệt trên các thị trường tiền tệ như là các giao dịch tiền tệ phái sinh, ví dụ như là nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, Việc cố định về tỷ giá đồng tiền cũng có thể được quy định trong hợp đồng Một trong các rủi ro chủ yếu mà một thư tín dụng không thể tránh khỏi đó là hành vi gian lận; một người bán xuất trình các chứng từ có vẻ minh bạch, nhưng lại chuyển giao những thứ vô giá trị hoặc hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

Chính vì thế, một thư tín dụng không thể bảo đảm tránh được tất cả các loại rủi ro cho các bên khi tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế Để

có thể hạn chế tối đa yếu tố tiêu cực này, các bên cần có các công cụ và phương tiện khác bổ trợ nhằm bảo đảm tốt nhất cho lợi ích của chính mình

1.3.3 Phân loại thư tín dụng

Có nhiều loại thư tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu chí

a Phân theo loại cam kết được ngân hàng đưa ra, Điều 6 UCP 500 (The kind of promise given by the bank)

Một tiêu chí để phân loại là loại cam kết được ngân hàng đưa ra Một thư tín dụng có thể là thư tín dụng có thể huỷ ngang hoặc không thể huỷ ngang, Điều 6, a, b UCP 500

+ Thư tín dụng có thể huỷ ngang, Điều 8 UCP 500

Điều 8 a UCP 500 quy định rằng một thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được sửa đổi hay huỷ bỏ tại bất kỳ thời điểm nào mà không cần phải thông báo cho người thụ hưởng Nó không ràng buộc đối với ngân hàng phát hành

Trong giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng, thư tín dụng huỷ ngang thực sự rất bất lợi cho người thụ hưởng Chính vì thế mà phạm vi ứng dụng của nó bị giới hạn rất nhiều Các bên thường chỉ áp dụng biện pháp này khi ngân hàng phát hành là ngân hàng lớn có uy tín và được sự tín nhiệm lớn từ phía các bên tham gia Do vậy, sự thiếu tin tưởng vào hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay cũng là một nguyên nhân cơ bản đối với việc hạn chế áp dụng thư tín dụng huỷ ngang trong hoạt động nhập khẩu Đây là lý do cho các nhà xuất khẩu ngoại quốc từ chối các hình thức thanh toán bằng thư tín dụng huỷ ngang trong các mối quan hệ với các đối tác Việt Nam, họ thường yêu cầu phải là thư tín dụng không thể huỷ ngang và được xác nhận Do đó,

mà chi phí bị đẩy cao lên rất nhiều

Việc thanh toán bằng thư tín dụng huỷ ngang rất phù hợp trong trường hợp việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện theo nhiều đợt Trong những

Trang 25

trường hợp này, việc thanh toán có thể được thực hiện cho từng đợt và thư tín dụng có hiệu lực cho từng chuyến hàng đã được hợp đồng giữa các bên quy định trước Nếu nhà nhập khẩu không hài lòng về hàng hoá, ví dụ về hàng hoá mà họ nhận được trong đợt chuyển thứ nhất, họ có quyền huỷ bỏ thư tín dụng

Tuy nhiên, UCP đưa ra các bảo đảm chắc chắn cho việc bảo vệ lợi ích

của ngân hàng chỉ định (Nominated bank) trong các trường hợp thanh toán

bằng thư tín dụng huỷ ngang Đó là, nếu Ngân hàng chỉ định thực hiện thanh toán theo các tài liệu đã xuất trình trước khi nhận được một bản thông báo về việc huỷ ngang thư tín dụng, ngân hàng phát hành phải hoàn lại các chi phí liên quan đến việc phụ thêm(8)

+ Thư tín dụng không thể huỷ ngang Điều 9a UCP 500

Theo Điều 9a, một thư tín dụng không thể huỷ ngang chỉ ra một cam kết xác định của ngân hàng phát hành để thanh toán đúng hạn nó theo cách được mô tả trong Điều 9 a I-III Nó không thể bị huỷ ngang và nó có tính bắt buộc sau khi mở, do đó người thụ hưởng có thể tin cậy vào việc thanh toán nếu anh ta thực hiện các quy định của thư tín dụng và xuất trình đầy đủ các chứng từ

Đặc điểm không thể huỷ ngang của thư tín dụng bảo vệ cho người thụ hưởng đối với sự tuỳ tiện và gian lận từ phía người mua tín dụng hoặc từ phía ngân hàng phát hành Bản chất này đảm bảo cho sự ổn định trong việc thực hiện các trách nhiệm đã được các bên thống nhất

Vì lý do đó, thư tín dụng không thể huỷ ngang đưa ra việc bảo vệ tối

đa đối với lợi ích của nhà xuất khẩu vì ngân hàng phát hành bảo đảm cho việc thanh toán thậm chí cả trong các trường hợp nhà nhập khẩu thay đổi ý định Theo cách này, bằng việc xem xét tất cả các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng, nhà xuất khẩu tin tưởng vào sự trung thực của ngân hàng phát hành chứ không phải của nhà nhập khẩu

b Phân theo cách sử dụng thư tín dụng Điều 2 I-III và Điều 9 a I-IV UCP 500, thư tín dụng được phân làm các loại sau:

+ Thư tín dụng trả ngay và trả chậm, Điều 2 I, 9a I, II UCP 500 (Sight

payment- and deferred payment- letters of credit)

Thư tín dụng trả ngay(9)

là thư tín dụng mà theo đó, ngân hàng sẽ thanh toán ngay lập tức sau khi nhận được các chứng từ hợp lệ Loại thư tín dụng này rất có ích trong các giao dịch độc lập giữa các bên, những người không có ý định hợp tác lâu dài

Trang 26

Thư tín dụng trả chậm(10), là loại thư tín dụng mà việc thanh toán không thực hiện vào thời điểm xuất trình các chứng từ mà sau khi kết thúc một thời hạn xác định kể từ thời điểm xuất trình, nhưng các chứng từ vẫn được chuyển giao ngay lập tức tới người nhập khẩu Loại thư tín dụng này có lợi hơn cho người mua và ít lợi hơn cho người thụ hưởng(11)

+ Thư tín dụng quy định phải chấp nhận(12)

, (Acceptance letters of

credit) là loại thư tín dụng mà ngân hàng phát hành (Điều 9 a III a UCP 500)

hay một ngân hàng trả tiền khác (Điều 9 a III b UCP 500) chấp nhận và trả tiền các hối phiếu khi chúng đến hạn Trong trường hợp đó, nhà xuất khẩu cho phép nhà nhập khẩu hoãn thanh toán dựa vào việc chấp nhận hối phiếu như là vật bảo đảm Nhà xuất khẩu ký phát hối phiếu và ngân hàng phát hành chấp nhận nó

+ Thư tín dụng có thể chiết khấu(13)

, (Negotiable letters of credit) là

thư tín dụng có khả năng chiết khấu và ngân hàng phát hành phải thanh toán

cho người ký phát và những người nắm giữ chân thực (bona fide holders)(14)

Theo Điều 9 b IV UCP 500, một thư tín dụng có thể chiết khấu cũng có thể thực hiện với một ngân hàng xác nhận Khi thanh toán, nhà xuất khẩu xuất trình các hối phiếu chỉ rõ người thanh toán là một ngân hàng phát hành hay ngân hàng xác nhận Một trong những ngân hàng này hoặc một ngân hàng thứ ba được uỷ quyền để chiết khấu sẽ tiến hành mua các hối phiếu này cùng với các chứng từ với một mức tỷ lệ chiết khấu

c Phân theo số lượng ngân hàng cam kết thanh toán(15), thư tín dụng được phân thành thư tín dụng được xác nhận và không được xác nhận

+ Thư tín dụng không xác nhận (Unconfirmed Letter of credit) là loại

thư tín dụng mà trong đó chỉ có ngân hàng phát hành cam kết với người thụ hưởng để thanh toán đúng hạn các chứng từ nếu như người này thực thực hiện tất cả các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng

+ Thư tín dụng xác nhận(16), (Confirmed letter of credit) là loại thư tín dụng được một ngân hàng khác ngoài ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho các chứng từ tuân thủ các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng Thông thường, ngân hàng xác nhận là ngân hàng đặt tại nước của người xuất

Trang 27

khẩu (người thụ hưởng trong thư tín dụng) Lợi ích cho người thụ hưởng là

họ có người bảo đảm thanh toán ngay tại chính nước mình và nhận được đầy

đủ các lợi ích mà loại thư tín dụng này có thể cung cấp

Trong trường hợp thanh toán bởi một thư tín dụng xác nhận, nhà xuất khẩu thực sự yên tâm về việc thực hiện thanh toán, nếu bản thân họ thực hiện các yêu cầu của thư tín dụng Tuy vậy, việc xác nhận đối với thư tín dụng làm tăng số lượng phí hoa hồng phải thanh toán cho ngân hàng Kể từ thời điểm khi ngân hàng xác nhận thông báo cho ngân hàng phát hành và người thụ hưởng về sự xác nhận, nó trở thành đồng trách nhiệm thanh toán cho thư tín dụng cùng với ngân hàng cấp Tất cả các chỉnh sửa đối với thư tín dụng xác nhận sẽ chỉ được thực hiện với sự ưng thuận của ngân hàng xác nhận

Trong các giao dịch lớn và quan trọng, nhà xuất khẩu, theo một quy tắc, yêu cầu thư tín dụng phải được xác nhận bởi một ngân hàng được coi là

ngân hàng hạng nhất (first-class bank) Đây là một ngân hàng có danh tiếng

tốt về hoạt động tài chính và nổi tiếng trong giới kinh doanh

d Phân theo khả năng chuyển nhượng thư tín dụng(17), (Possibility to

transfer the letter of credit) thư tín dụng có thể được phân loại thành thư tín

dụng có thể chuyển nhượng và không thể chuyển nhượng

Theo Điều 48 a UCP 500, thư tín dụng có thể chuyển nhượng

(transferable credit) là một thư tín dụng mà theo đó người thụ hưởng thứ nhất có thể đề nghị ngân hàng trả tiền (Paying bank) làm cho thư tín dụng trở

nên có khả năng thanh toán toàn bộ hay từng phần đối với một hay một số người thụ hưởng thứ hai Điều 48 b UCP 500 quy định rằng chỉ có thư tín dụng nào được ngân hàng phát hành định rõ là “có thể chuyển nhượng” thì mới có thể chuyển nhượng được

Lợi ích của thư tín dụng loại này là cho phép nhà xuất khẩu thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp của mình (nhà thầu phụ) số tiền mà mình sẽ nhận được theo thư tín dụng mà không cần phải có thêm một khoản chi phí bổ sung nào Mặt khác, người thụ hưởng thứ nhất thông qua việc trao quyền đối với việc nhận thanh toán theo thư tín dụng tới người thụ hưởng thứ hai, thực hiện thanh toán cho chủ nợ của mình thông qua việc nhận được khoản thanh toán từ con nợ của mình

Theo đoạn “g” của Điều 48 của UCP, thư tín dụng chỉ có thể được chuyển nhượng một lần, trừ trường hợp có quy định khác trong thư tín dụng

Do đó, người thụ hưởng thứ hai không thể chuyển nhượng tiếp cho người thụ hưởng thứ ba quyền nhận thanh toán theo thư tín dụng Tuy nhiên, việc

17

: Điều 48 UCP 500

Trang 28

chuyển nhượng ngược trở lại thư tín dụng cho người thụ hưởng thứ nhất lại được cho phép

Thư tín dụng không thể chuyển nhượng là thư tín dụng không thoả mãn điều kiện quy định tại Điều 48 b UCP 500, tức là nó không được ngân hàng phát hành định rõ là “có thể chuyển nhượng” Do vậy, thư tín dụng này chỉ có thể thanh toán cho một người thụ hưởng mà không có khả năng thanh toán toàn bộ hay từng phần đối với một hay một số người thụ hưởng thứ hai

e Phân theo khả năng tuần hoàn của thư tín dụng, các thư tín dụng có

thể được phân loại thành thư tín dụng có thể gia hạn (renewable credit) và không thể gia hạn (non-renewable credit)

Thư tín dụng được xem là có thể gia hạn nếu nó chỉ ra rằng việc thanh toán số tiền theo thư tín dụng có thể được gia hạn Một thư tín dụng thuộc loại này có thể thuộc loại không thể huỷ ngang hoặc có thể huỷ ngang và có thể được gia hạn: vào ngày đáo hạn tại một thời điểm xác định hoặc theo việc thay đổi tổng giá trị của thư tín dụng

Các thư tín dụng như vậy đôi khi được gọi là thư tín dụng tuần hoàn

(revolving credit) và thư tín dụng không tuần hoàn (non-revolving credit)

Như vậy, một thư tín dụng có thể quay vòng trong một thời hạn xác định khi một số tiền được cố định và trong khoảng thời hạn này, các hoạt động thanh toán được tiến hành Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ

và cứ liên tục như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng trị giá hợp đồng được thực hiện Ví dụ, Tổng trị giá hợp đồng là 200.000USD, thực hiện trong 12 tháng; để tránh thiệt hại do phải mở thư tín dụng có giá trị lớn, thời hạn dài, gây đọng vốn cho các bên một cách không cần thiết, người mua có thể mở một thư tín dụng trị giá 50.000 USD thời hạn hiệu lực là 3 tháng với điều kiện tuần hoàn 4 lần trong năm Trong trường hợp này, tính có thể gia

hạn (renewal) nghĩa là phạm vi giá trị của thư tín dụng có thể được phục hồi

nếu như nó đã được sử dụng trong vòng thời hạn đã được xác định bởi hợp đồng

Trong UCP 500 không có bất kỳ quy tắc nào quy định về thư tín dụng

tuần hoàn (revolving letter of credit) Nhưng thay vì một thư tín dụng đang

được xác định có hiệu lực với một số tiền cố định hay trong một thời gian cố định, nó có thể quay vòng về giá trị và thời hạn Một thư tín dụng tuần hoàn như vậy cho phép người thụ hưởng xuất trình các chứng từ khi nào họ muốn trong suốt thời hạn của thư tín dụng chừng nào mà tổng mức giới hạn đã định không bị vượt quá Loại thư tín dụng tuần hoàn này thường được dùng

Trang 29

khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, với khối lượng lớn và trong thời gian dài

Ngược lại, thư tín dụng không tuần hoàn là loại thư tín dụng không cho phép tự động có hiệu lực khi hết hạn Việc thanh toán được thực hiện xong cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên theo thư tín dụng

Ngoài ra, cũng cần phải phân biệt rõ ràng về loại thư tín dụng được

gọi là một thư tín dụng “điều khoản đỏ” (red clause) Loại thư tín dụng này

có thể là thư tín dụng huỷ ngang, thư tín dụng không thể huỷ ngang hoặc thư

tín dụng xác nhận Điều khoản quy định việc thanh toán trước (advance

payment) bởi ngân hàng chỉ định đối với một số tiền xác định cho nhà xuất

khẩu trước khi có sự xuất trình các tài liệu thích hợp Điều khoản trong thư tín dụng có thể được gồm với đề nghị của nhà nhập khẩu Một chứng từ như vậy là một chỉ thị mà trên cơ sở đó nhà xuất khẩu nhận được tiền trước từ ngân hàng chỉ định trước khi hàng được chất lên tầu Chính vì vậy, một thư tín dụng điều khoản đỏ là nguồn tín dụng trước khi chất hàng Thông qua việc mở một loại thư tín dụng như thế, ngân hàng phát hành chấp nhận nghĩa

vụ hoàn trả cho ngân hàng chỉ định số tiền đã được thanh toán trước, thậm chí nếu việc giao hàng không xảy ra Tên gọi đặc biệt của loại thư tín dụng đặc biệt này xuất phát từ thực tế rằng điều khoản liên quan trong các thư tín dụng này trong lịch sử đều được viết bằng mực đỏ

Trong thực tế cũng còn tồn tại về một loại thư tín dụng được gọi là

“thư tín dụng trắng” (clean credit) Loại này được áp dụng tại các ngân hàng

ở Hoa Kỳ và Nhật Bản Khi mở một thư tín dụng như vậy, ngân hàng cam kết tạo sẽ thanh toán cho người thụ hưởng mà không yêu cầu xuất trình các tài liệu chứng minh rằng tất cả các điều kiện của thư tín dụng đã được thực hiện Tuy nhiên, việc áp dụng loại tín dụng như vậy tương đối không phổ biến tại Việt Nam cũng như trên thế giới Các hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ được áp dụng rộng rãi hơn trên toàn thế giới

1.3.4 Nội dung cơ bản của thư tín dụng

Tuỳ theo loại thư tín dụng khác nhau mà cách sắp đặt các điều khoản không giống nhau; tuy nhiên, về cơ bản thì các thư tín dụng đều có các mục sau:

A SỐ HIỆU, CHỦNG LOẠI, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN PHÁT HÀNH, THỜI

GIAN ĐÁO HẠN, SỐ TIỀN CỦA THƯ TÍN DỤNG

2 Loại thư tín dụng 2 Form of L/C

Trang 30

3 Địa điểm và ngày tháng phát hành 3 Date and Place of Issue

4 Địa điểm và ngày tháng đáo hạn 4 Date and Place of Expiry

5 Số tiền/Loại tiền 5 Amount/Currency Code

B CÁC BÊN THAM GIA

1 Người xin mở Thư tín dụng 1 Applicant

2 Người thụ hưởng 2 Beneficiary

3 Ngân hàng phát hành 3 Issuing Bank

4 Ngân hàng thông báo 4 Advising Bank

5 Ngân hàng chiết khấu 5 Availble with

6 Ngân hàng trả tiền 6 Drawee Bank

7 Điều kiện xác nhận 7 Confirmation Instruction

C NỘI DUNG VỀ HÀNG HOÁ

1 Nội dung tóm tắt về hàng hoá 2 Goods - Brief Description

D CÁC NỘI DUNG VỀ VẬN TẢI

1 Điều kiện cơ sở giao hàng 1 FOB, CRF, CIF or other Terms

2 Tên cảng bốc hàng 2 Shipment from

3 Tên cảng dỡ hàng 3 For Transportation to

4 Ngày giao hàng 4 Date of Shipment

5 Điều kiện giao hàng từng phần 5 Partial Shipment (Allowed/Not Allowed)

6 Điều kiện chuyển tải 6 Transhipment (Allowed/Not Allowed)

E CÁC NỘI DUNG VỀ CHỨNG TỪ

1 Các chứng từ cần xuất trình 1 Documents Required

2 Thời hạn xuất trình chứng từ 2 Period for Presentation

F CÁC NỘI DUNG KHÁC

1 Cam kết trả tiền của Ngân hàng phát hành 1 Engagement of Issuing Bank

2 Các điều khoản khác/Các chỉ thị đặc biệt 2 Other Instructions

3 Dẫn chiếu đến UCP 500 3 Linked to UCP 500

4 Chữ ký, dấu của Ngân hàng phát hành 4 Sign, seal of Issuing Bank8

Trang 31

Số hiệu của thư tín dụng còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan như là trên hối phiếu thanh toán,

+ Địa điểm mở và địa điểm thanh toán của thư tín dụng

Địa điểm mở thư tín dụng là nơi mà ngân hàng phát hành thư tín dụng ghi cam kết trả tiền cho người xuất khẩu Địa điểm này có ý nghĩa trong việc lựa chọn luật áp dụng khi xảy ra các tranh chấp đối với thư tín dụng đó

Địa điểm thanh toán của thư tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thanh toán do cả hai bên (nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu) đều muốn địa điểm thanh toán tại nước mình Với nhà xuất khẩu thì họ có thể hoàn toàn chủ động trong việc xuất trình chứng từ thanh toán Với nhà nhập khẩu thì họ không phải thanh toán sớm hơn cho nhà xuất khẩu

Có thể mô tả qua hai sơ đồ sau:

Sơ đồ địa điểm thanh toán thư tín dụng tại nước nhà xuất khẩu

(+)

: Ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng trả tiền

(1): Xuất trình chứng từ thanh toán

(2): Ngân hàng thông báo trả tiền cho người bán

(3): Ngân hàng chuyển chứng từ thanh toán

(4): Ngân hàng phát hành thư tín dụng hoàn trả tiền cho ngân hàng trả tiền

Sơ đồ địa điểm thanh toán thư tín dụng tại nước nhà nhập khẩu

Trang 32

(+): Ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng trả tiền

(1): Xuất trình chứng từ thanh toán

(2): Ngân hàng chuyển chứng từ thanh toán

(3), (4): Ngân hàng phát hành thư tín dụng trả tiền cho người bán

+ Ngày mở thư tín dụng

Ngày mở thư tín dụng là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng phát hành với người thụ hưởng Ngày mở thư tín dụng cũng là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của thư tín dụng và là căn cứ để người thụ hưởng kiểm tra xem người nhập khẩu có mở thư tín dụng đúng hạn theo như hợp đồng xuất nhập khẩu hay không

1.3.4.2 Số tiền của thư tín dụng

Số tiền của thư tín dụng vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ

và phải ghi thống nhất với nhau Một thư tín dụng sẽ không bao giờ được chấp nhận nếu có sự khác biệt giữa số tiền ghi bằng số và số tiền ghi bằng chữ

Tên của đơn vị tiền tệ cũng phải được ghi rõ ràng để tránh các sự hiểu lầm Ví dụ: có rất nhiều nước lấy tên gọi đơn vị tiền tệ là đô-la (dollar) như

Mỹ, Singapore, Australia, Canada, Khi giá trị của hàng hoá được giao không khớp với giá trị của thư tín dụng, thư tín dụng có thể bị từ chối thanh toán vì ngân hàng sẽ đưa ra lý do chứng từ không phù hợp với những điều kiện được quy định trong thư tín dụng

Điều 39 UCP 500 quy định các dung sai số tiền, số lượng và đơn giá trong thư tín dụng Điều 39a quy định rằng các từ “vào khoảng”, “ước chừng”, “độ chừng”, hay các diễn đạt tương tự được sử dụng để nói về số tiền của thư tín dụng hoặc số lượng hoặc đơn giá ghi trong thư tín dụng phải được hiểu là sự cho phép một sự khác biệt nhưng không hơn kém quá 10%

so với số tiền hoặc số lượng hoặc đơn giá mà những từ này đề cập tới

Trang 33

Nhưng ngay cả trong trường hợp mà các từ ngữ nêu trên không được quy định, thì một dung sai 5% hơn hoặc kém có thể được chấp nhận nếu số tiền của các lần thanh toán không vượt quá số tiền của thư tín dụng, trừ khi một thư tín dụng quy định rằng số lượng hàng hoá được giao không được vượt quá hay giảm hơn so với số hàng đã định(18)

Dung sai này không áp dụng khi thư tín dụng quy định số lượng tính bằng một số đơn vị theo bao kiện hoặc một số đơn vị chiếc Điều 39c cho phép giảm bớt 5% của lần thanh toán nếu như việc giao hàng từng phần bị cấm miễn là hàng hoá được giao

đủ và đơn giá không bị giảm bớt

1.3.4.3 Thời hạn

Trong các giao dịch thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ, khái niệm thời hạn của thư tín dụng được phân biệt trong ba dạng khác nhau: Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư tín dụng

- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng mở thư tín dụng cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều kiện quy định trong thư tín dụng Thời hạn có hiệu lực của thư tín dụng bắt đầu tính từ ngày mở thư tín dụng cho đến ngày hết hiệu lực

Do đó, cần phải xác định được thời hạn hợp lý đối với hiệu lực của thư tín dụng để vừa tránh đọng vốn cho người nhập khẩu, vừa không gây khó khăn cho việc xuất trình chứng từ của người xuất khẩu Việc xác định này thường được căn cứ trên các nguyên tắc sau:

+ Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng

và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của thư tín dụng

+ Ngày mở thư tín dụng phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp

lý, không được trùng với ngày giao hàng Thời gian hợp lý này được tính tối thiểu bằng tổng số của số ngày cần phải có thể thông báo mở thư tín dụng, số ngày lưu thư tín dụng ở ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập khẩu,

+ Ngày hết hạn hiệu lực thư tín dụng phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý Thời gian này bao gồm số ngày chuyển chứng từ nơi giao hàng đến cơ quan của người xuất khẩu, số ngày lập bộ chứng từ, số ngày vận chuyển chứng từ đến ngân hàng mở thư tín dụng hay ngân hàng trả tiền, số

18

: Điều 39b UCP 500

Trang 34

ngày lưu giữ chứng từ tại ngân hàng thông báo và 7 ngày làm việc ngân hàng

để ngân hàng thể hiện ý chí chấp nhận hay từ chối trả tiền(19)

- Thời hạn trả tiền của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng thanh toán cho người thụ hưởng kể từ khi các chứng từ hợp lệ được xuất trình Đây chính là cơ sở để phân biệt hai loại thư tín dụng trả ngay và thư tín dụng trả chậm Việc quy định trả ngay hay trả chậm hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong hợp đồng mua bán Nếu việc đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu

Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng, nếu như trả tiền ngay hoặc có thể là nằm ngoài thời hạn hiệu lực của thư tín dụng nếu như trả tiền có kỳ hạn Nhưng, những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn có hiệu lực của thư tín dụng

- Thời hạn giao hàng là thời hạn được ghi trong thư tín dụng và do hợp đồng mua bán quy định Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn

có hiệu lực của thư tín dụng

Nếu như trong hợp đồng mua bán giữa các bên quy định thời hạn giao hàng bằng cách nào thì thư tín dụng cũng phải quy định cách ấy Căn cứ vào hợp đồng, người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu mở thư tín dụng

có đúng như vậy hay không

Riêng đối với phương thức vận chuyển bằng đường hàng không, nếu thư tín dụng yêu cầu ghi rõ ngày gửi hàng thực tế thì phải quy định rằng trên vận đơn hàng không phải ghi chú rõ ràng về ngày gửi hàng đó và coi ngày đó

là ngày giao hàng, các trường hợp khác thì ngày phát hành vận đơn hàng không sẽ không được coi là ngày giao hàng(20)

1.3.4.4 Nội dung về hàng hoá

Điều 37c của UCP 500 quy định rằng mô tả hàng hoá trong hoá đơn thương mại phải phù hợp với mô tả trong thư tín dụng; nhưng trong tất cả các chứng từ khác, hàng hoá có thể được mô tả trong các điều khoản chung không mâu thuẫn với mô tả hàng hoá trong thư tín dụng

Các nội dung về hàng hoá có thể bao gồm: tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, kỹ mã hiệu,

1.3.4.5 Nội dung về vận tải

Trang 35

Nội dung về vận tải cũng có thể được ghi vào trong thư tín dụng Cách thức vận chuyển hàng hoá thông thường được thực hiện thông qua 4 phương thức chủ yếu là đường biển, đường không đường sông và đường sắt, đường bộ:

+ Vận tải bằng đường biển

Khi trong thư tín dụng có yêu cầu vận đơn từ cảng tới cảng thì các chứng từ vận chuyển phải bao gồm đầy đủ 6 nội dung sau, trừ khi được thư tín dụng quy định khác đi:

(i) Trên bề mặt của vận đơn ghi rõ tên của người chuyên chở đã được

ký tên hoặc chứng thực

(ii) Ghi rõ hàng hoá đã được bốc lên tàu hoặc được giao lên một con tàu đích danh

(iii) Ghi rõ cảng bốc và cảng dỡ hàng trong thư tín dụng

(iv) Chỉ rõ một vận đơn chính hoặc, nếu vận đơn gồm nhiều bản chính thì phải gồm trọn bộ đầy đủ vận đơn chính đã được lập

(v) Thể hiện các điều kiện chuyên chở hoặc một vài điều kiện chuyên chở đó bằng cách dẫn chiếu đến một nguồn hay một chứng từ không phải là vận đơn (vận đơn rút gọn hay vận đơn trắng lưng)

(vi) Không ghi rằng chứng từ phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu và/hoặc không ghi là tàu chở hàng chạy bằng buồm

(vii) Các nội dung khác phải đáp ứng các quy định trong thư tín dụng + Vận tải bằng đường hàng không

Khi trong thư tín dụng có yêu cầu vận đơn hàng không thì các chứng

từ vận chuyển phải bao gồm đầy đủ 6 nội dung sau, trừ khi được thư tín dụng quy định khác đi:

(i) Ghi rõ tên của người chuyên chở đã được ký tên hoặc chứng thực (ii) Ghi rõ hàng hoá đã được nhận chuyên chở

(iii) Nếu thư tín dụng yêu cầu ghi rõ ngày gửi hàng thực tế thì phải quy định rằng trên vận đơn hàng không phải ghi chú rõ ràng về ngày gửi hàng đó và coi ngày đó là ngày giao hàng

(iv) Ghi rõ sân bay khởi hành và sân bay đến được quy định trong thư tín dụng

(v) Ghi rõ là vận đơn chính cho người gửi hàng, chủ hàng ngay cả khi thư tín dụng quy định một bộ đầy đủ các bản chính hoặc một từ ngữ tương

tự

Trang 36

(vi) Ghi rõ tất cả các điều kiện chuyên chở hoặc một số điều kiện chuyên chở có tham chiếu đến một nguồn hoặc một chứng từ không phải là chứng từ vận tải hàng không

(vii) Các nội dung khác phải đáp ứng các quy định trong thư tín dụng + Vận tải bằng đường sông, đường sắt, đường bộ

Khi trong thư tín dụng có yêu cầu vận đơn đường sông, đường sắt, đường bộ thì các chứng từ vận chuyển phải bao gồm đầy đủ 3 nội dung sau, trừ khi được thư tín dụng quy định khác đi:

(i) Ghi rõ tên của người chuyên chở đã được ký tên hoặc chứng thực bằng cách khác của người chuyên chở, hoặc hãng đại lý đích danh đại diện cho người chuyên chở, và/hoặc thể hiện bằng con dấu tiếp nhận hoặc một chứng chỉ tiếp nhận khác của người chuyên chở hoặc hãng đại lý hoạt động cho hoặc nhân danh người chuyên chở

(ii) Ghi rõ hàng hoá đã được nhận để chở, gửi hoặc chuyên chở hoặc một từ tương tự Ngày phát hành các chứng từ vận tải được coi là ngày giao hàng trừ khi trên chứng từ vận tải được đóng con dấu nhận hàng, trong trường hợp này, ngày đóng dấu được coi là ngày giao hàng

(iii) Ghi rõ theo thư tín dụng nơi gửi hàng và nơi hàng đến

(iv) Các nội dung khác phải đáp ứng các quy định trong thư tín dụng

1.3.4.6 Nội dung về chứng từ

Các quy định về các loại chứng từ cần phải được xuất trình là một nội dung cơ bản trong thư tín dụng Các chứng từ này chính là bằng chứng của nhà xuất khẩu chứng minh về sự hoàn thành nghĩa vụ của mình theo quy định của thư tín dụng Chính vì thế, đây cũng là căn cứ chủ yếu để ngân hàng

trả tiền (paying bank) thực hiện việc thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu khi

xét thấy bộ chứng từ phù hợp với các quy định của thư tín dụng

Tuỳ từng loại chứng từ (hối phiếu, hoá đơn thương mại, vận đơn, đơn bảo hiểm, chứng chỉ chất lượng, ) mà chúng được đòi hỏi các điều kiện khác nhau Đồng thời cũng tuỳ thuộc vào uy tín của người xuất khẩu, sự tín nhiệm của người nhập khẩu đối với người xuất khẩu mà người nhập khẩu sẽ quy định các loại, số lượng chứng từ nhiều hay ít cần phải xuất trình (thông thường các yêu cầu này được thoả thuận trong hợp đồng mua bán)

- Về hối phiếu: Hối phiếu được ký phát cho ngân hàng phát hành thư tín dụng hay ngân hàng trả tiền; thời hạn trả tiền là trả tiền ngay hay trả tiền sau, thanh toán một lần hay thanh toán nhiều lần,

- Về hoá đơn: Trong hầu hết các trường hợp, hoá đơn thương mại là chứng từ duy nhất do chính người thụ hưởng phát hành Nó là chứng từ đầu

Trang 37

tiên chỉ rõ hàng hoá thuộc loại gì, việc xuất trình cần được thực hiện như thế nào và nó xác định giá cả đã được thoả thuận Hoá đơn cũng là chứng từ thể hiện sự tuyên bố của người bán rằng mình đã bán cho người mua loại hàng

gì, giá bao nhiêu; nó cũng là chứng từ thông dụng nhất trong thương mại quốc tế vì gần như không có một thư tín dụng nào không quy định một hoá đơn thương mại

Theo Điều 37a UCP 500, các hoá đơn thương mại phải thể hiện trên

bề mặt chúng là được phát hành bởi người thụ hưởng đã được ghi tên trong thư tín dụng, phải được lập đứng tên người xin mở thư tín dụng và không nhất thiết phải được ký, trừ khi được quy định khác trong thư tín dụng Theo Điều 37c, hàng hoá trong hoá đơn thương mại phải phù hợp với mô tả trong thư tín dụng Bất kỳ sự khác biệt nào cũng sẽ được coi là không phù hợp với thư tín dụng; nghĩa là chỉ cần một sự sai lệch trong mô tả hàng hoá trong hoá đơn có thể được coi là người bán đã xác nhận rằng chúng không phải là các hàng hoá đã được nêu ra trong thư tín dụng

Xu hướng an toàn cho các bên là nên tuân theo các từ ngữ của thư tín dụng một cách hoàn toàn chính xác Để tránh các rắc rối, việc mô tả hàng hoá thường được xác định rõ ràng như mô tả của thư tín dụng và được thể hiện một cách đơn giản

Trong khi xem xét sự mô tả hàng hoá, ngân hàng thường phải tiến hành một lựa chọn khó khăn giữa một bên là các lập luận logic và một bên

là sự tuân thủ thận trọng Ví dụ, nếu thư tín dụng mô tả hàng hoá là “các xe tải mới” thì một hoá đơn được ghi là “các xe tải trong tình trạng mới” sẽ là không đầy đủ Ví dụ như trong vụ Ngân hàng Bank Melli Iran kiện ngân hàng Barclays Bank; ngân hàng Barclays Bank đã chấp thuận các chứng từ

và các xe tải trước đó chưa bao giờ được sử dụng (do vậy chúng là “mới” phù hợp với hợp đồng mua bán), các sự việc dẫn tới một vụ kiện và các xe tải bị bỏ ngoài trời suốt một mùa đông và bắt đầu han gỉ Toà án đã tuyên rằng “mới” có nghĩa khác với “trong tình trạng mới”(21) Một vụ khác chứng minh rằng việc xem xét các chứng từ rất quan trọng và các ngân hàng không

có kiến thức chuyên môn để xét đoán: trong một trường hợp mà thư tín dụng

đã quy định là “đường trắng Java” (Java White Sugar), ngân hàng đã thanh toán đối với hoá đơn mô tả hàng hoá là “đường Java trắng” (White Java Sugar)(22) Điều này chắc chắn là không giống nhau và ngân hàng đã chịu mất mát Ví dụ này cho thấy rằng đối với một số người không có kiến thức chuyên môn thì rất khó phân biệt một lỗi in ấn hoặc những từ ngữ có vẻ có cùng ý nghĩa Trong một vụ khác, một ngân hàng đã từ chối thanh toán cho

21

: Pr of.Dr Johan Schelin: “ Letters of Credit and The Doctrine of strict compliance”, University of

Uppsala, German, January 7th 2004, page 27

22

: Pr of.Dr Johan Schelin: “Letters of Credit and The Doctrine of strict compliance”, University of

Uppsala, German, January 7th 2004, page 27

Trang 38

một hoá đơn đã mô tả “250 túi cà phê loại trung bình được làm sạch và 250 túi cà phê loại thượng hạng chưa qua chế biến” do thư tín dụng đã quy định

“250 túi cà phê loại thượng hạng chưa qua chế biến và 250 túi cà phê loại trung bình được làm sạch”(23) Một trật tự xáo trộn đáng ngờ như vậy là một

lý do rất không chính đáng, nhưng nó cho thấy rằng một ngân hàng thường phải đưa ra các kết luận rất khó khăn trong quá trình xem xét các chứng từ được xuất trình khi thanh toán bằng thư tín dụng

Nếu số tiền trong hoá đơn thương mại cao hơn trong thư tín dụng, ngân hàng được phép, nhưng không bị buộc phải từ chối các chứng từ(24)

Nhưng nếu họ chấp nhận các chứng từ, họ không phải trả số tiền cao hơn số tiền trong thư tín dụng Trong trường hợp đó, quyết định của họ sẽ ràng buộc đối với tất cả các bên Thậm chí Điều 37b trao cho các ngân hàng một lựa chọn trong việc đưa ra một quyết định, ngân hàng sẽ phải xem xét điều gì là hợp lý: với một thư tín dụng có số tiền là 50.000 USD, một sự vượt quá chỉ một đô la nhìn chung sẽ không dẫn tới một sự từ chối, nhưng với một thư tín dụng có số tiền là 1.000USD sẽ dẫn tới quyết định này

Ngoài việc quy định hoá đơn phải là hoá đơn thương mại đã ký thì thư tín dụng có thể đòi hỏi trên hoá đơn còn phải được ghi rõ số giấy phép nhập

khẩu và ghi rõ cách tính hoá đơn theo chiết giá (discount) hay trừ hoa hồng (commision) Thư tín dụng còn có thể yêu cầu về số lượng các bản hoá đơn

phải được xuất trình cũng như trong đó có bao nhiêu bản chính, bao nhiêu bản sao

- Về vận đơn:

Các thư tín dụng thường yêu cầu vận đơn là loại “vận đơn hoàn hảo(25)

đã xếp hàng lên tàu” Với loại này, thư tín dụng thường yêu cầu cụ thể như sau:

 Số bản chính của vận đơn là bao nhiêu bản (hoặc có thể quy định tối thiểu là bao nhiêu bản)

 Cước phí vận chuyển trả trước hay trả sau

 Tên người gửi hàng, người này là người thụ hưởng của thư tín dụng hay là một người khác (thông thường thì người gửi hàng là người thụ hưởng)

 Vận đơn được trao cho người nhận hàng theo lệnh của ai,

- Đơn bảo hiểm

23

: Pr of.Dr Johan Schelin: “Letters of Credit and The Doctrine of strict compliance”, University of

Uppsala, German, January 7th 2004, page 27

Trang 39

Thư tín dụng có thể có các quy định về việc bảo hiểm do người mua hay người bán phải chịu; các điều kiện bảo hiểm cụ thể như là việc đòi thanh toán với tổ chức nào, bằng loại tiền tệ gì, thực hiện tại ngân hàng nào,

Một số các chứng từ khác như chứng chỉ đảm bảo chất lượng, chứng chỉ xuất xứ hàng hoá, cũng có thể được quy định trong thư tín dụng (các loại chứng từ này được gọi là các chứng từ được cấp bởi bên thứ ba(26)

vì chỉ

có hoá đơn là loại chứng từ do bên bán cấp) Các yêu cầu đối với các chứng

từ này có thể được thấy trong Điều 20 – 38 của UCP 500, như đã được đề cập ở trên Người thụ hưởng nên lưu ý để các bên thứ ba đó cấp các chứng từ không có các lỗi để đáp ứng các yêu cầu Khi xuất trình các chứng từ này, chính người thụ hưởng chứ không phải các bên thứ ba phải đối mặt với các hậu quả nếu có các sai sót Do vậy, vì lợi ích của chính mình, họ cần kiểm tra trước tất cả các chứng từ và sửa trước các lỗi Cần đảm bảo cách hiểu thống nhất giữa người thụ hưởng và ngân hàng về tất cả mọi diễn đạt được thể hiện trong các chứng từ được xuất trình

1.3.5 Khái niệm thanh toán bằng thư tín dụng

Trọng tâm của mọi giao dịch thư tín dụng là một hợp đồng mua bán được ký kết giữa một nhà nhập khẩu/người mua và một nhà xuất khẩu/người bán trong đó chứa đựng việc thanh toán tiền và một điều khoản thư tín dụng

Điều khoản thư tín dụng thường yêu cầu chuyển giao các chứng từ sau khi mở một thư tín dụng không thể huỷ ngang Theo như Điều 2 của UCP

500, có bốn bên tham gia trong một giao dịch thư tín dụng:

- Người xin mở thư tín dụng (khách hàng của ngân hàng)

- Ngân hàng phát hành thư tín dụng

- Người thụ hưởng

- Ngân hàng khác được uỷ quyền từ ngân hàng thứ nhất

Một ngân hàng khác như vậy có thể là một ngân hàng thông báo (Điều

7 UCP 500) hoặc có thể là một ngân hàng xác nhận (Điều 9 UCP 500)

Người nhập khẩu thương lượng với ngân hàng phát hành mở một thư tín dụng với nhà xuất khẩu là người thụ hưởng Thư tín dụng phải được mở đúng thời gian, số tiền và phù hợp với các điều kiện trong hợp đồng mua bán

Ngân hàng phát hành mở thư tín dụng cam kết thu xếp việc thanh toán theo các điều kiện đặc biệt khi chúng được thực hiện và gửi thông báo tới cho nhà xuất khẩu Có ba tình huống có thể xảy ra: một ngân hàng thông báo

26

: Bên thứ ba, tức là các bên không phải là các bên tham g ia hợp đồng mua bán hoặc liên quan đến giao dịch thư tín dụng như là các công ty bảo hiểm, các nhà vận chuyển,

Trang 40

tại quốc gia của nhà xuất khẩu có thể được ngân hàng phát hành uỷ quyền để đưa ra thông báo đó; cũng có thể một ngân hàng như vậy hoặc một ngân hàng thứ ba có thể được uỷ quyền để thu xếp thanh toán (ngân hàng chỉ định)(27)

hoặc để xác nhận cho thư tín dụng (ngân hàng xác nhận)(28) bằng cách đưa ra các cam kết của chính mình để thanh toán cho các chứng từ

Nhà xuất khẩu phải giao hàng hoá theo đúng hợp đồng mua bán và phải giao kịp thời tất cả các chứng từ được yêu cầu và được xác định trong thư tín dụng Nếu nhà xuất khẩu thực hiện nghĩa vụ, ngân hàng phát hành sẽ thanh toán cho họ Do đó, ngân hàng phát hành tiến hành kiểm tra các chứng từ; nếu nó thanh toán cho người thụ hưởng, nó ghi nợ cho người xin mở thư tín dụng (nhà nhập khẩu) và chuyển giao chứng từ cho người này Trong một

số trường hợp, việc chuyển giao chứng từ như vận đơn được thay cho việc chuyển giao hàng hoá Nếu có một ngân hàng xác nhận hay một ngân hàng chỉ định, nó kiểm tra các chứng từ, trả tiền và ghi nợ khoản đó cho ngân hàng phát hành

Như vậy, thanh toán bằng thư tín dụng là phương thức thanh toán

sử dụng thư tín dụng làm vật bảo đảm cho nghĩa vụ chi trả của người có nghĩa vụ đối với người thụ hưởng về số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ

đã cung ứng Về bản chất pháp lý, đây là phương thức thanh toán uỷ nhiệm

qua ngân hàng Pháp luật Việt Nam hiện nay cũng quy định: Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được Ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó Ngân hàng thực hiện yêu cầu của người xin mở thư tín dụng để:

- Trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng; hoặc

- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng(29)

1.3.6 Các học thuyết pháp lý liên quan đến phương thức thanh toán bằng thư tín dụng

Có hai học thuyết có ảnh hưởng quan trọng đối với các giao dịch thư

tín dụng: học thuyết về tính tách biệt (the doctrine of separability) và học

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w