1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phát triển đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học Gia Thụy, quận Long Biên , Thành phố Hà Nội theo tiêu chuẩn nghề nghiệp

124 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phát triển ĐNGV; nghiên cứu nội dung của Chuẩn nghề nghiệp GVTH, khảo sát thực trạng ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -

LƯU THỊ THU HÀ

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC GIA THỤY, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Thuần

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy,

cô là giảng viên trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Văn Thuần - người thầy hướng dẫn khoa học đã trực tiếp hướng dẫn

và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ quản lý, giáo viên trường Tiểu học Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội đã cung cấp số liệu quý báu, động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình viết luận văn Xin cảm ơn đồng nghiệp và những người thân yêu trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân luôn cố gắng học tập, nghiên cứu, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 9 tháng 05 năm 2016

TÁC GIẢ

Lưu Thị Thu Hà

Trang 3

TL : Tỉ lệ

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vii

Danh mục biểu đồ, sơ đồ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ L LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊNTIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Ở nước ngoài 5

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 8

1.2.1 Quản lý, quản lý GD 8

1.2.2 Giáo viên, đội ngũ giáo viên 11

1.2.3 Phát triển và phát triển ĐNGV 12

1.2.4 Chuẩn và Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học 14

1.3 Trường Tiểu học trong hệ thống GD quốc dân 14

1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung và phương pháp GDTH 14

1.3.2 Đội ngũ giáo viên Tiểu học 16

1.4 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Chuẩn nghề nghiệp GVTH 18

1.4.1 Mục đích của việc ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp GV TH 18

1.4.2 Nguyên tắc Chuẩn nghề nghiệp GV TH 19

1.4.3 Cấu trúc Chuẩn nghề nghiệp GV TH 19

1.5 Những yêu cầu về phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp GVTH 21

1.5.1 Đủ về số lượng 21

1.5.2 Đồng bộ về cơ cấu 22

1.5.3 Đạt chuẩn về trình độ và chất lượng 23

1.6 Nội dung phát triển ĐNGVTH theo Chuẩn nghề nghiệp 24

Trang 5

1.6.1 Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên 24

1.6.2 Tuyển chọn đội ngũ giáo viên 25

1.6.3 Sử dụng đội ngũ giáo viên 27

1.6.4 Kiểm tra, đánh giá ĐNGV theo chuẩn nghề nghiệp 28

1.6.5 Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 28

1.6.6 Các chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV 29

1.7 Các yếu tố ảnh hướng đến phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp 29

1.7.1 Yếu tố khách quan 29

1.7.2 Yếu tố chủ quan 30

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC GIA THỤY, LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 33

2.1 Khái quát về trường Tiểu học Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội 33

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33

2.1.2 Thực trạng về CSVC của nhà trường hiện nay 34

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà trường hiện nay 36

2.1.4 Quy mô và chất lượng đào tạo của trường 37

2.1.5 Xu hướng phát triển của nhà trường 40

2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội 40

2.2.1 Số lượng ĐNGV 40

2.2.2 Cơ cấu ĐNGV 41

2.2.3 Chất lượng ĐNGV 46

2.3 Thực trạng phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp 50

2.3.1.Tổ chức khảo sát 50

2.3.2 Công tác triển khai áp dụng Chuẩn nghề nghiệp GVTH tại TH Gia Thụy -Long Biên - Hà Nội 51

Trang 6

2.3.3 Kết quả khảo sát các đối tượng về mức độ quan trọng của nội dung phát

triển ĐNGV Trường TH Gia Thụy theo Chuẩn nghề nghiệp 51

2.3.4 Thực trạng phát triển ĐNGV trường Tiểu học Gia Thụy 52

2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển ĐNGV TH Gia Thụy -Long Biên - Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp 59

2.4.1 Thành công 60

2.4.2 Hạn chế 60

2.4.3 Nguyên nhân của những thành công và hạn chế 61

Tiểu kết Chương 2 62

CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC GIA THỤY, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 64

3.1 Định hướng phát triển trường Tiểu học Gia Thụy đến năm 2020 64

3.1.1 Mục tiêu chung 64

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 64

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 65

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 65

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính nhất quán, toàn diện 66

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 66

3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 67

3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67

3.3 Một số biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp 68

3.3.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức về phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp 68

3.3.2 Biện pháp 2:Quy hoạch, tuyển chọn và sử dụng ĐNGV theo kế hoạch phát triển nhà trường 69

Trang 7

3.3.3 Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch, hệ thống quản lý và tổ chức triển khai

áp dụng Chuẩn nghề nghiệp GVTH 70

3.3.4 Biện pháp 4: Bồi dưỡng ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp 74

3.3.5 Biện pháp 5: Tổ chức kiểm tra, giám sát quy trình đánh giá, xếp loại GV theo Chuẩn nghề nghiệp 78

3.3.6 Biện pháp 6: Tạo động lực cho giáo viên tham gia các hoạt động phát triển nghề nghiệp 86

3.3.7 Biện pháp 7: Xây dựng văn hóa tổ chức tại nhà trường 89

3.3.8 Mối liên quan giữa các biện pháp 93

Sơ đồ: 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 94

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đề xuất 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99

1 Kết luận 99

2 Khuyến nghị 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 106

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng trang thiết bị trong nhà trường 35

Bảng 2.2: Tỉ lệ xếp loại học lực và hạnh kiểm của học sinh 37

Bảng 2.3: Bảng thành tích thi học sinh giỏi các cấp của học sinh 38

Bảng 2.4 Số lượng ĐNGV nhà trường 41

Bảng 2.5 Số lượng GV theo từng môn học 42

Bảng 2.6 Số lượng và tỉ lệ GV theo độ tuổi của nhà trường 44

Bảng 2.7 Tỉ lệ nam, nữ của ĐNGV nhà trường 45

Bảng 2.8 Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của ĐNGV 46

Bảng 2.9 Trình độ đào tạo của ĐNGV 47

Bảng 2.10 Tổng hợp KQ đánh giá năng lực ĐNGV 48

Bảng 2.11 Kết quả đánh giá của Thanh tra Sở đối với ĐNGV 49

Bảng 2.12 KQ KS về mức độ quan trọng của nội dung phát triển ĐNGV 51 Bảng 2.13 Mức độ thực hiện các biện pháp phát triển ĐNGV 52

Bảng 2.14 Mức độ thực hiện biện pháp kế hoạch hóa ĐNGV 54

Bảng 2.15 Mức độ thực hiện biện pháp bố trí, sử dụng ĐNGV 56

Bảng 2.16 Mức độ thực hiện biện pháp kiểm tra, đánh giá ĐNGV 57

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 95 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp đề xuất 96

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.3.Thành tích thi học sinh giỏi các cấp của học sinh 38 Biểu đồ 2.5 Số lượng theo từng môn học của nhà trường 42

Biểu đồ 2 Trình độ đào tạo của ĐNGV 47

Biểu đồ 2.13 Mức độ thực hiện các biện pháp phát triển ĐNGV 53

Sơ đồ mối liên hệ giữa các biện pháp……… 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ mà nền kinh tế đang chuyển nhanh từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Bên cạnh đó sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ đang tác động từng ngày từng giờ lên mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội cũng như GD Để đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới và của sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định vai trò hết sức quan trọng của sự nghiệp GD&ĐT, trong đó chú trọng đến công tác xây dựng và phát triển ĐNGV trong nhà trường Trong bối cảnh mới đó, GD Việt Nam đã xác định rõ 4 định hướng cho sự phát triển Đó là:

- GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển

- GD Việt Nam là nền GD mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại

- GD Việt Nam phục vụ cho sự phát triển KT - XH, an ninh - quốc phòng

- GD là sự nghiệp của toàn dân

Như vậy GD chính là điều kiện tiên quyết và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, Đảng ta đã xác định mục tiêu cơ bản của GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo con người Việt Nam có tri thức, có kỹ năng, có thái độ ứng xử theo được công cuộc đổi mới hiện nay Muốn thực hiện được điều đó, ĐNGV đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng GD&ĐT

Nghị quyết số 29 – NQ/TƯ tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ngày

04.11.2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam đã khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng GD&ĐT và được xã hội tôn vinh” Vì

vậy, ta có thể khẳng định việc xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng ĐNGV là một việc làm cực kỳ quan trọng trong công tác GD&ĐT của nhà trường

Gần đây, tháng 8 năm 2015, Bộ GD&ĐT chính thức công bố Dự thảo chương trình GD phổ thông tổng thể Bộ khẳng định chất lượng GV là điều kiện quan trọng quyết định đến thành công của chương trình Số lượng và cơ

Trang 11

cấu GV đảm bảo để dạy các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo chương trình mới; 100% GV đạt trình độ chuẩn hoặc trên chuẩn

Trường tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội là một trường công lập nằm trong hệ thống GD quốc dân Trường được thành lập vào tháng 4 năm 2009 theo quyết định 950/QĐ-UB của UBND quận Long Biên, Thành phố Hà Nội Trường đóng trên địa bàn phường trung tâm quận,

có điều kiện kinh tế xã hội đang phát triển Đời sống nhân dân khá ổn định, trình độ dân trí cao, CSVC của nhà trường khang trang, hiện đại, liên tục được quận quan tâm đầu tư ĐNGV khá vững vàng về chuyên môn song hàng năm, số lượng HS nhập trường ngày càng tăng, nhiều GV được bổ nhiệm nên ĐNGV còn thiếu theo qui định của Bộ GDĐT 100% GV đạt trình độ chuyên môn đào tạo chuẩn và trên chuẩn Tuy nhiên, trước những thay đổi và đòi hỏi của thời đại, một số ít GV nhận thức về vai trò và trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng GD còn hạn chế

Xuất phát từ những lý do khách quan và lý do chủ quan như đã phân tích ở trên, với quá trình học tập, nghiên cứu và tiếp thu ý kiến các thầy cô

giảng viên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phát triển ĐNGV; nghiên cứu nội dung của Chuẩn nghề nghiệp GVTH, khảo sát thực trạng ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo những nội dung của Chuẩn nghề nghiệp; từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp, nhằm góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học

Trang 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp

4 Câu hỏi nghiên cứu

Làm thế nào để sử dụng Chuẩn nghề nghiệp GVTH trong QL, đánh giá

và phát triển ĐNGV Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố

Hà Nội?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu xác định được biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn

diện GD hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống những vấn đề lí luận về phát triển ĐNGV TH theo Chuẩn nghề nghiệp

- Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp

7 Giới hạn - phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2013 đến năm 2016

- Khách thể khảo sát:

+ Đội ngũ CBQL trường TH Gia Thụy bao gồm: Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng: 3 người

+ Giáo viên Trường Tiểu học Gia Thụy: 48 người

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 13

liên trong quá trình nghiên cứu các tài liệu để xác định về lí luận cho vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu các lý luận về QLGD; Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Ngành GD và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra viết: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến, khảo sát, bảng hỏi CBQL, GV Trường Tiểu học Gia Thụy về số lượng, chất lượng, cơ cấu, năng lực, …để làm rõ thực trạng ĐNGV của trường hiện nay

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động phát triển ĐNGV của BGH nhà trường

Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp BGH nhà trường

Phương pháp khảo nghiệm: Nhằm kiểm định tính cấp thiết và tính khả thi của nhóm các giải pháp đề ra thông qua phiếu hỏi, trưng cầu ý kiến

8.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu điều tra, khảo sát, thiết lập các sơ

đồ, biểu đồ

Thống kê xử lý số liệu điều tra, khảo sát, lập biểu đồ, sơ đồ

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu

tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển ĐNGVTH theo Chuẩn

Chương 2: Thực trạng phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy,

Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghể nghiệp

Chương 3: Biện pháp phát triển ĐNGV ở Trường Tiểu học Gia Thụy,

Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ L LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Xây dựng và phát triển ĐNGV trong GD được các nước trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách GD, chấn hưng, phát triển đất nước Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lí và phát triển ĐNGV trong khu vực và trên thế giới Có thể liệt kê một số công trình của các tác giả tiêu biểu như: Felding và Schalock (1985); Guzman (1995); Kettle và Sellars (1996); Kalelestad và Olweus (1998); Tattlo (1999); Darling-Hammond (1999); Ganser (2000); Cochran-Smith và Lytle (2001); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001) Tất

cả các công trình trên có thể phân chia theo 4 hướng nghiên cứu chính:

- Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề nghiệp GV

- Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ thực tiễn để phát triển nghề nghiệp GV

- Nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV

- Nghiên cứu phát triển nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách GD

Năm 1988, Ấn Độ đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội cho mọi người dân đều được học tập theo nhu cầu, học tập suốt đời Việc bồi dưỡng giáo viên ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả thiết thực

Đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn

Trang 15

Tai Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạm cho ĐNGV và quy định trong 3 tháng cần bồi dưỡng những nội dung gồm: Nghiệp vụ giạy học; Tâm lý học GD; Phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh đối với ĐNGVgiảng dạy chưa quá 3 năm

Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng ĐNGV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức thành từng khóa học trong thời gian HS nghỉ học Nội dung cần học tập được tiến hành thường xuyên trong kì nghỉ hè của

4 năm liền Đó là: Nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lí học và đánh giá GD Các môn học về quan hệ con người, triết học, nội dung và PPDH Nghiên cứu GD, viết tài liệu trong GD Kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết tài liệu tham khảo

Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, cán bộ QLGD

là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theo thực tế cảu từng đơn vị, từng cá nhân mà các cấp QLGD đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định Cụ thể là cứ từ 3 đến 5 GV được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học

1.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam chúng ta có truyền thống hiếu học và trọng Thầy Xưa, người Việt Nam có câu “Không thầy đố mày làm nên” Tư tưởng đó cho thấy người Việt chúng ta luôn đề cao và tôn trọng Người Thầy Vị trí, vai trò của thầy cô giáo là hết sức quan trọng, tác động và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học Chính vì thế chất lượng ĐNGV là yếu tố cần được coi trọng và phát triển

Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư (khóa IX) về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà

Trang 16

giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, theo những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước”

Nghị quyết 29 hội nghị trung ương 8 khóa XI đã xác định: Phát triển đội

ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, theo yêu cầu đổi mới GD&ĐT.Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở GD nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực

sư phạm Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Cán bộ quản lý GD các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý

Gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, phát triển ĐNGV, phát triển đội ngũ CBQL GD,… có thể kể đến

như: Phạm Minh Hạc (2005), Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự nghiệp phát triển xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Quốc Bảo,

Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên; Bùi Minh Hiền (2009), Quản lý GD, Nxb Đại học Sư phạm; Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí (2010), Đại cương khoa học quản lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Kiểm (2012), Những vấn đề cơ bản của khoa học Quản lý GD, Nxb Đại học Sư phạm;

Bên cạnh đó, nhiều luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lí GD quan tâm đến đề tài phát triển ĐNGV đã được bảo vệ thành công như:

Đề tài “ Biện pháp phát triển ĐNGV Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong tỉnh Nam Định theo yêu cầu đổi mới GD phổ thông”- Luận văn

Thạc sĩ Quản lí GD, 2010 của tác giả Trần Thị Vân Anh

Tác giả Nguyễn Thị Hằng với đề tài “Phát triển ĐNGV trường Trung học phổ thông Mê Linh, Hà Nội”- Luận văn Thạc sĩ Quản lí GD, 2012

Trang 17

Nghiên cứu của Đặng Minh Tiến về “ Phát triển ĐNGV Trung học phổ thông Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.”- Luận văn Thạc

đó Tuy nhiên, vấn đề phát triển ĐNGVTH Gia Thụy - Long Biên - Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp thì chưa có tác giả nào đề cập tới Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV TH Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp là thực tiễn và hết sức cần thiết

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

quản lí khoa học” – W.Taylor (1856 – 1915)- ông cho rằng: “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất.”, Còn tác giả người Mỹ H.Kootz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích

Trang 18

của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với

tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [17].

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì:

Quản lý = quản + lý (quản: giữ; Lý: chỉnh sửa)

Quản lý = Ổn định và phát triển

Quản lý = Tập quyền và tán quyền

Quản lý = Nắm và buông

Quản lý = Học thuật và nghệ thuật [1]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng,

có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người

bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [22]

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các

cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể QL

QL là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra QL còn là một quá trình tác động có mục đích vào một hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống đó hoặc đưa vào hệ thống đó một lượng thông tin mới, một số chất lượng mới, một thuộc tính mới

Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý tuy chưa thật đồng nhất,

về cơ bản các nhà khoa học đều khẳng định 4 chức năng QL cơ bản đó là: Lập

kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo điều hành và Kiểm tra đánh giá

- Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình

QL Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và

Trang 19

sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ thống, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp lớn nhỏ nhằm đưa hệ thống đến trạng thái mong muốn

- Chức năng tổ chức: Là giai đoạn tổ chức thực hiện kế hoạch đã được xây dựng Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch Nếu người QL biết cách tổ chức có hiệu quả,

có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể (trong đó đặc biệt là liên kết con người)

- Chức năng chỉ đạo, điều hành, thúc đẩy: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là phương thức tác động của chủ thể QL, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ thống vận hành thuận lợi, biến mục tiêu QL thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực

- Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ QL Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa … để thúc đẩy hệ thống đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ sung điều chỉnh, chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo

1.2.1.2 Quản lý GD

Có thể bàn đến một số khái niệm QLGD như sau:

Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm QLGD có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: Cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô

Ở cấp độ vĩ mô, QLGD được hiểu là những hoạt động tự giác (có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành GD

Ở cấp độ vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến GV, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường [19]

Trang 20

Còn với tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường, QLGD nói chung

là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD và thế hệ trẻ, đưa hệ GD đến mục tiêu dự kiến [13]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế

hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [1]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu GD đã đề ra” Hoặc “ Quản lí GD là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”[22]

QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay GD với sứ mệnh phát triển toàn diện, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà là GD thường xuyên, GD cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là GD thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, hệ thống các trường trong hệ thống GD quốc dân

1.2.2 Giáo viên, đội ngũ giáo viên

1.2.2.1 Giáo viên

Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, 1997) thì “Nhà giáo là người làm nghề dạy học” “Nhà giáo” được cấu thành từ “nhà” và “giáo” “Giáo” có nghĩa là GD, dạy dỗ, chỉ bảo Còn “nhà” được hiểu là người chuyên làm một nghề, một lĩnh vực hoạt động nào đó đạt được trình độ nhất định Như vậy, người dạy học mà không chuyên, không thành nghề thì không phải là nhà giáo Người dạy học liên tục mà không đạt đến một trình độ nào đó thì cũng không là nhà giáo [31]

Trang 21

Theo Luật GD 2005 (sửa đổi bổ sung 2009) thì “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong nhà trường, cơ sở GD khác Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở GD đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên” [28]

Nhà giáo - giáo viên là tên gọi vừa bao hàm nội dung nghề nghiệp vừa mang ý nghĩa tôn vinh, trân trọng

Tiêu chuẩn chung đối với nhà giáo được quy định trong Luật GD 2005 (sửa đổi bổ sung 2009): “Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề ghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng” [28]

1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên

Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, 1997): “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp hợp thành một lực lượng” [31]

Ta có thể hiểu: ĐNGV là tập hợp những người làm nghề dạy học - GD, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm

vụ, cùng thực hiện các nhiệm vụ theo một kế hoạch thống nhất, gắn bó với nhau thông qua các lợi ích vật chất, tinh thần và được hưởng các quyền lợi như nhau theo Luật Lao động, Luật GD và các Luật khác được nhà nước quy định

1.2.3 Phát triển và phát triển ĐNGV

1.2.3.1 Phát triển

Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, 1997): “Phát triển (động từ) là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [31]

Phát triển nói lên xu thế đi lên của sự vật, hiện tượng theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn Phát triển còn là sự biểu hiện hàng loạt sự biến đổi

kế tiếp của sự vật và hiện tượng qua các giai đoạn khác nhau, từ khi bắt đầu

Trang 22

đến khi kết thúc sự biến đổi Quá trình đó cũng chính là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất, cấu trúc của sự vật, hiện tượng Quá trình phát triển chính là quá trình làm biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp

“Phát triển” là một khái niệm rộng Nói đến phát triển người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội, sự đi lên đó có thể là tăng lên về lượng hoặc về chất, về nội dung hoặc hình thức hoặc tất cả Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến về số lượng, thay đổi về chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng lên đều được coi là phát triển

có ý chí kiên định trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Biết giữ gìn

và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc đồng thời có khả năng tiếp thu nền văn hóa tiên tiến của nhân loại, phục vụ tốt yêu cầu của ngành GD và của các nhà trường

Phát triển ĐNGV là làm cho đội ngũ không ngừng biến đổi, trở thành những con người có năng lực và phẩm chất cao hơn, tốt hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng phát triển của thời đại Đội ngũ đó đảm bảo về chất lượng, đủ

về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Sự phát triển ĐNGV chủ yếu thể hiện ở các mặt: Phát triển về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; về kiến thức; về kĩ năng Trong nhà trường, phát triển ĐNGV được coi là vấn đề trọng tâm của nhà quản lý Nó có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực nói chung Một nhà trường có phát triển hay không chính là ở vấn đề phát triển ĐNGV Phát triển ĐNGV là tạo ra một đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đảm

Trang 23

bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu chuyên môn, độ tuổi, giới tính nhằm theo yêu cầu nhân lực giảng dạy và GD của nhà trường, thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD, đào tạo của nhà trường

1.2.4 Chuẩn và Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học

1.2.4.1 Chuẩn

Từ điển Bách khoa thư GD Quốc tế định nghĩa chuẩn (standard) là “ mức độ ưu việt cần phải có để đạt được những mục đích đặc biệt; là cái để đo xem điều gì là phù hợp; là trình độ thực hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội.”

Còn từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ

để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng” hay “là cái được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường” [31]

1.2.4.1 Chuẩn trong GD

Theo phân tích nêu trên, có thể nói rằng, chuẩn trong GD là các tiêu chuẩn gắn với các yếu tố cấu thành hoạt động GD như chuẩn nhà trường, chuẩn GV, chuẩn kiến thức kĩ năng, Các chuẩn được thể hiện bằng các tiêu chí và chỉ số đo

Ở Việt Nam, ngày 4-5-2007, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp GVTH bao gồm:

Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức

Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm

Mỗi lĩnh vực đều có 5 tiêu chuẩn, mỗi tiêu chuẩn gồm 4 tiêu chí

( Phụ lục 2: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học)

1.3 Trường Tiểu học trong hệ thống GD quốc dân

1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung và phương pháp GDTH

1.3.1.1 Vị trí, vai trò của GD Tiểu học

Trang 24

Điều 26, Luật GD năm 2005 đã quy định: “GD Tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của HS vào học lớp một là sáu tuổi.”

GD Tiểu học chính là cấp học đầu tiên trong bậc học phổ thông, là nền tảng của hệ thống GD quốc dân Trường Tiểu học gắn liền với cộng đồng, mọi hoạt động GD ở trong và ngoài nhà trường Tiểu học đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt văn hóa và đời sống của nhân dân địa phương Trường Tiểu học của địa phương nào cũng thể hiện trình độ phát triển dân trí, sự quan tâm đến GD của địa phương đó Phát triển GD Tiểu học bền vững là xây dựng nền móng vững chắc cho hệ thống GD quốc dân và góp phần trực tiếp vào sự hình thành và phát triển nhân cách con người – nguồn nhân lực cho xã hội trong tương lai

1.3.1.2 Mục tiêu, nội dung, phương pháp GD Tiểu học

Điều 27, Luật GD 2005 quy định mục tiêu của GD phổ thông là giúp

HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng

cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị tiếp tục cho HS học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

GD Tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học Trung học cơ sở ( Điều 27, Luật GD 2005)

Mục tiêu GD tiểu học được cụ thể hóa thành mục tiêu các môn học và các hoạt động GD khác trong chương trình tiểu học Đặc biệt, mục tiêu GD tiểu học đã được cụ thể hóa thành các yêu cầu cơ bản cần đạt của HSTH bao gồm các yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng, thói quen, niềm tin, thái độ, hành vi, định hướng,… Các yêu cầu cơ bản này được xác định thành các mức

độ ở các lớp trong bậc tiểu học

Trang 25

Nội dung và phương pháp GD tiểu học cũng được quy định cụ thể ở điều 28, Luật GD năm 2005: “GD tiểu học phải đảm bảo cho HS có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật…

Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

1.3.2 Đội ngũ giáo viên Tiểu học

1.3.2.1 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của GVTH

ĐNGV là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng GD GD Tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống GD quốc dân nên vị trí, vai trò của người GVTH càng quan trọng và có ảnh hưởng đến chất lượng GD hơn bao giờ hết Người GVTH không chỉ có tác động, ảnh hưởng đến người học mà còn có ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng dân cư vì mọi hoạt động của nhà trường tiểu học đều gắn bó với địa phương

Theo điều 31, Điều lệ trường tiểu học, GVTH có những nhiệm vụ sau: Giảng dạy, GD đảm bảo chất lượng theo chương trình GD,

kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lí học sinh trong các hoạt động GD do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và GD

Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín nhà giáo; gương mẫu trước HS; thương yêu, đối xử công bằng

và tôn trọng nhân cách HS; bảo vệ các quyền lợi và lợi ích chính đáng của HS; giúp đỡ đồng nghiệp

- Tham gia công tác phổ cập GD ở địa phương

Trang 26

- Rèn luyện sức khỏe, học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp

vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và GD

- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật, của ngành, các quyết định của hiệu trưởng, nhận nhiệm vụ do hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và các cấp quản lí GD

- Phối hợp với Đội TNTP Hồ Chí Minh, Sao nhi đồng Hố Chí Minh, với gia đình HS và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy

và GD

1.3.2.2 Đặc điểm lao động sư phạm của GVTH

Khác với những cấp học khác, GVTH tham gia giảng dạy nhiều bộ môn và có thời gian làm việc bên HS nhiều nhất so với các cấp học THCS và THPT GVTH không chỉ dạy chữ mà còn rèn nếp, rèn người, tham gia nhiều hoạt động GD nhằm phát triển toàn diện cho HS Vì vậy về kiến thức, GVTH cần cập nhật thường xuyên ở nhiều lĩnh vực, đa dạng và phong phú Điều đó đòi hỏi GVTH phải có ý thức và tinh thần tự học, tự phát triển mình thường xuyên, cần tranh thủ học mọi lúc, mọi nơi vì không có thời gian dành riêng cho hoạt động học ( bởi phần lớn thời gian, GVTH ở trên lớp với HS) Hơn nữa cần phải biết lựa chọn, tinh lọc các kiến thức cần và phù hợp để truyền đạt cho HS, lồng ghép vào các bài dạy một cách hài hòa, hiệu quả Người GVTH muốn thành công không chỉ có kiến thức mà còn phải có trái tim đầy yêu thương và nhiệt huyết, luôn tự nêu gương bàng chính nhân cách của mình Đối với lứa tuổi HSTH, mọi lời nói, cử chỉ, hành vi của cô giáo, thầy giáo đều là ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành nhân cách của HS GVTH vừa dạy chữ vừa dạy người Bên cạnh đó, trong hoạt động dạy học,

GD hàng ngày, GVTH phải xử lí hàng loạt các mối quan hệ xã hội: quan hệ với HS, cha mẹ HS, đồng nghiệp, nhà trường, cộng đồng…Do đó người GVTH cũng như một nhà hoạt động chính trị, xã hội ở địa phương

Trước bối cảnh cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão, thế giới đang hướng đến nền kinh tế tri thức; đất nước đẩy nhanh CNH-HĐH và

Trang 27

hội nhập quốc tế; ngành GD đang từng bước tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện, người GVTH đang đứng trước đòi hỏi ngày càng phải phát triển và hoàn thiện mình nhằm thỏa mãn những đòi hỏi mà ngành, đất nước và xu thế thời đại đặt ra

Như vậy, để đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng như của ngành GD&ĐT trong giai đoạn đổi mới căn bản, toàn diện hiện nay, mỗi người GVTH không những phải có các đặc điểm lao động sư phạm nói trên mà còn phải nỗ lực, tự trau dồi, bồi dưỡng để có thêm năng lực Đó là trình độ khai thác và sử dụng CNTT hỗ trợ giảng dạy và quản lí học sinh, thực hiện chế độ thông tin báo cáo cũng như trao đổi liên lạc với phụ huynh HS Đó là khả năng sáng tạo trong tổ chức các hoạt động GD, quan tâm, gần gũi và tìm hiểu tâm sinh lí HS

vì đa số các gia đình hiện nay đều ít con nên các em được chiều chuộng, tính cách đa dạng và sự tuân thủ không thể áp đặt Đó còn là khả năng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và nghiên cứu ( đặc biệt là GVTH ở các trường Tiểu học của thành phố lớn) để hoàn thiện mình, là tấm gương cho HS, giao tiếp và nghiên cứu Một trong những đặc điểm nữa mà GVTH cần có là khả năng phối hợp, làm việc theo nhóm và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm Điều đó sẽ giúp các giáo viên có thể phát triển được năng lực nghề nghiệp của mình mà không mất quá nhiều thời gian

1.4 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Chuẩn nghề nghiệp GVTH

1.4.1 Mục đích của việc ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp GV TH

Giúp GVTH tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên hằng năm, phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng ĐNGVTH; làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng GVTH; làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chế

độ chính sách đối với GVTH; cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác

Trang 28

1.4.2 Nguyên tắc Chuẩn nghề nghiệp GV TH

Chuẩn nghề nghiệp GVTH (dưới đây gọi tắt là Chuẩn) phải tuân thủ những quy định đối với giáo viên trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam

Chuẩn phải tiếp thu vận dụng những xu hướng thế giới và những kinh nghiệm trong nước về xây dựng Chuẩn nghề nghiệp và công tác đánh giá GV

để theo nhu cầu của thời đại Chuẩn phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, khả thi, dễ vận dụng

1.4.3 Cấu trúc Chuẩn nghề nghiệp GV TH

Chuẩn nghề nghiệp GV xây dựng trên cơ sở kết hợp mô hình cấu trúc nhân cách với mô hình hoạt động nghề nghiệp, phản ánh những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của đội ngũ giáo viên

Chuẩn nghề nghiệp GVTH (từ Điều 5 đến Điều 7, chương II: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học) được trình bày thành 3 lĩnh vực: phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; kiến thức; kĩ năng sư phạm (mỗi Điều là một lĩnh vực); mỗi lĩnh vực được cụ thể hóa thành 5 yêu cầu, mỗi yêu cầu có 4 tiêu chí Mỗi tiêu chí đều có nội dung cụ thể, rõ ràng, chứa đựng những dấu hiệu cơ bản về chất lượng theo hướng đổi mới GD hiện nay Tất cả các tiêu chí đều được đánh giá theo thang điểm 10

1.4.4 Vận dụng Chuẩn nghề nghiệp vào việc đánh giá, xếp loại GV

1.4.4.1 Bản chất của việc đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp

Đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp thực chất là đánh giá năng lực nghề nghiệp của giáo viên Năng lực nghề nghiệp biểu hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kĩ năng sư phạm của người GV Đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp là một quá trình thu thập các minh chứng thích hợp và đầy đủ nhằm xác định mức độ năng lực nghề nghiệp của giáo viên Đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp đòi hỏi có

sự thay đổi cơ bản trong suy nghĩ của giáo viên, hiệu trưởng và CBQL: đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp không phải chủ yếu để bình xét danh

Trang 29

hiệu thi đua hàng năm, mà là xem xét những gì giáo viên phải thực hiện và đã thực hiện được, những gì giáo viên có thể thực hiện được Trên cơ sở đó khuyến cáo giáo viên xây dựng chương trình, kế hoạch tự rèn luyện, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp

1.4.4.2 Thang điểm và các mức độ đánh giá, xếp loại GV theo Chuẩn

Tiêu chuẩn xếp loại các tiêu chí, yêu cầu, lĩnh vực của Chuẩn

1 Tiêu chuẩn xếp loại các tiêu chí của Chuẩn

a) Điểm tối đa là 10;

b) Mức độ: Tốt (9 - 10); Khá (7 - 8); Trung bình (5 - 6); Kém (dưới 5)

2 Tiêu chuẩn xếp loại các yêu cầu của Chuẩn

a) Điểm tối đa là 40;

b) Mức độ: Tốt (36 - 40); Khá (28 - 35); Trung bình (20 - 27); Kém (dưới 20)

3 Tiêu chuẩn xếp loại các lĩnh vực của Chuẩn

a) Điểm tối đa là 200;

b) Mức độ: Tốt (180 - 200); Khá (140 - 179); Trung bình (100 - 139); Kém (dưới 100)

Tiêu chuẩn xếp loại chung cuối năm học

1 Loại Xuất sắc: là những giáo viên đạt loại tốt ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm;

2 Loại Khá: là những giáo viên đạt từ loại khá trở lên ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm;

3 Loại Trung bình: là những giáo viên đạt từ loại trung bình trở lên ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm;

4 Loại Kém: là những giáo viên có một trong ba lĩnh vực xếp loại kém hoặc

vi phạm một trong các trường hợp cấm nhà giáo được làm như trong điều lệ

đã quy định

1.4.4.3 Quy trình đánh giá, xếp loại

Định kỳ vào cuối năm học, hiệu trưởng nhà trường tiến hành tổ chức đánh giá, xếp loại giáo viên tiểu học Quy trình đánh giá như sau: Căn cứ các

Trang 30

tiêu chí trong Chuẩn, GV tự đánh giá, tiếp đó Tổ chuyên môn và cuối cùng Hiệu trưởng đánh giá Kết quả đánh giá phải được công khai và vừa là cơ sở xếp loại GV, vừa là căn cứ để tiến hành bồi dưỡng ĐNGV

* Một số điểm cần chú ý khi đánh giá, xếp loại theo Chuẩn nghề nghiệp

Nếu việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp chỉ dừng lại ở việc tính điểm, xếp loại giáo viên thì sẽ chỉ tác động vào một bộ phận nhỏ giáo viên yếu kém hoặc xuất sắc mà không kích thích được sự nỗ lực phấn đấu phát triển nghề nghiệp của toàn đội ngũ Cần coi trọng việc đối chiếu với từng tiêu chí, kiểm tra các nguồn minh chứng, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu của mỗi giáo viên, chỉ ra phương hướng khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm của GV đó thì mới đạt được mục đích cơ bản của Chuẩn nghề nghiệp

Phải làm cho mỗi giáo viên tự giác vận dụng Chuẩn nghề nghiệp để tự đánh giá, làm cho tập thể tổ chuyên môn thực sự quán triệt mục đích của Chuẩn nghề nghiệp và các yêu cầu đánh giá, xếp loại theo Chuẩn nghề nghiệp, tránh qua loa đại khái, dĩ hòa vi quý, chỉ nhằm vào cho điểm, xếp loại thì Chuẩn nghề nghiệp mới thực sự có tác động đến trình độ nghề nghiệp của GV

1.5 Những yêu cầu về phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp GVTH

1.5.1 Đủ về số lượng

Đội ngũ GVTH được xác định trên cơ sở lớp học và định mức biên chế theo quy định của nhà nước Hiện nay theo quy định của nhà nước định mức không quá 1,5 giáo viên đứng lớp cho một lớp học ( đối với trường dạy 2 buổi trên ngày) (Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV) Mỗi trường được bố trí 01 biên chế giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Đơn thuần về số lượng thì việc xác định số giáo viên cần

có cho một trường TH theo công thức:

Số giáo viên cần có = số lớp học x 1,5 giáo viên /lớp

Số lượng GV là yếu tố định lượng của đội ngũ Nó rất quan trọng nhưng chưa nói lên tất cả mà bên cạnh đó còn vấn đề chất lượng và cơ cấu

Trang 31

1.5.2 Đồng bộ về cơ cấu

Cơ cấu đội ngũ GVTH sẽ được nghiên cứu trên các tiêu chí có liên quan đến biện pháp phát triển đội ngũ Các nội dung cơ bản gồm:

1.5.2.1.Cơ cấu chuyên môn (theo môn dạy) hay còn gọi là cơ cấu bộ môn

Ở Tiểu học, cơ cấu chuyên môn bao gồm GV dạy các môn văn hóa cơ bản như Toán, Tiếng Việt,… GV dạy các môn nghệ thuật, chuyên biệt như

Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục,… GVTổng phụ trách đội TNTP Hồ Chí Minh…

Để đảm bảo cho các hoạt động GD trong nhà trường, mỗi lớp học cần biên chế tối thiểu là 1 GV dạy văn hóa cơ bản kiêm công tác chủ nhiệm lớp, mỗi GV dạy các môn học nghệ thuật và chuyên biệt có thể dạy các khối lớp sao cho đủ quy định của ngành là 23 tiết/tuần

1.5.2.2.Cơ cấu theo trình độ đào tạo

Cơ cấu GV theo trình độ đào tạo là sự phân chia GV theo tỉ trọng của các trình độ đào tạo Các trình độ đào tạo của giáo viên TH có thể là: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học sư phạm, Thạc sĩ Xác định một cơ cấu hợp lý về trình

độ đào tạo và thực hiện các hoạt động liên quan để đạt đến cơ cấu đó cũng là một giải pháp nâng cao chất lượng đội ĐNGV Số giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo đương nhiên cần phải nâng chuẩn Tùy thuộc vào điều kiện của từng trường, vào đối tượng HS, các nhà QL cần phải lựa chọn được phương án tối ưu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng GV cho phù hợp Trong tình hình hiện nay, ĐNGV đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình thì nên chọn hình thức bồi dưỡng thường xuyên các chuyên đề nâng cao của bộ môn để theo yêu cầu giảng dạy trước mắt và hình thức đào tạo sau đại học để nâng chuẩn

1.5.2.3.Cơ cấu theo độ tuổi

Việc phân tích GV theo độ tuổi nhằm xác định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng phát triển của

tổ chức để làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo và bổ sung

1.5.2.4.Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo giới tính

Trang 32

Chỉ xét mặt tỉ trọng của cơ cấu giới tính ĐNGV trong trường TH có thể không nói lên điều gì sự phát triển về giới Bởi vì ở đây GV nữ luôn chiếm một tỉ lệ cao hơn nam giới

Tuy nhiên, về các khía cạnh như: Điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên và nâng cao trình độ cho ĐNGV nữ ảnh hưởng rất nhiều như thời gian nghỉ sinh đẻ, con ốm…lại là các yếu tố có tác động đến chất lượng đội ngũ Do đó, cơ cấu về giới tính vẫn có liên quan đến chất lượng GD&ĐT

Tóm lại, nghiên cứu cơ cấu giới tính trong ĐNGV là để có tác động cần thiết thông qua QL đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu suất công tác của từng cá nhân và của cả ĐNGV

1.5.3 Đạt chuẩn về trình độ và chất lượng

Chất lượng ĐNGV bao hàm nhiều yếu tố: Trình độ được đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên làm việc trong tổ chức, thâm niên trong vị trí làm việc mà người đó đã và đang đảm nhận, sự hài hòa giữa các yếu tố… Các vấn đề này có thể đề cập ở 2 nội dung sau:

- Trình độ đào tạo: đạt chuẩn hay vượt chuẩn, đào tạo chính quy hay không chính quy, chất lượng và uy tín của cơ sở đào tạo

- Sự hài hòa giữa các yếu tố trong đội ngũ:

+ Hài hòa giữa chức vụ, ngạch bậc và trình độ đào tạo; giữa phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn

+ Sự hài hòa giữa nội dung công việc và vị trí mà thành viên của đội ngũ đang đảm nhận với thời gian thâm niên và mức độ trách nhiệm của mỗi thành viên

Từ việc phân tích, xác định nội dung, nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TH, những biện pháp cần được nghiên cứu nằm trong nhóm công việc: đào tạo cơ bản ban đầu; đào tạo để đạt chuẩn và nâng chuẩn; bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật tri thức trong điều kiện khối lượng tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng, sự thay đổi của nhà trường, của ngành GD cũng đang diễn ra không ngừng với tốc độ nhanh; các biện pháp về

Trang 33

tổ chức nhân sự để hoàn thiện bộ máy nhằm tạo ra môi trường tốt cho hoạt động

Song song với việc thực hiện các biện pháp là vấn đề kiểm tra để đánh giá tình hình giảng dạy của ĐNGV để duy trì Bên cạnh đó, Thanh tra GD cần có những biện pháp để duy trì các quy chế về chuyên môn và không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và vận dụng nghiệp vụ sư phạm vào thực tế của giáo viên trong tình hình mới; đổi mới quy trình và cơ chế xếp loại giáo viên hàng năm của nhà trường

1.6 Nội dung phát triển ĐNGVTH theo Chuẩn nghề nghiệp

1.6.1 Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên

Xây dựng tiến trình và thực hiện các công việc về nguồn nhân lực đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, cơ cấu ĐNGV theo nhu cầu của nhà trường và đảm bảo việc sử dụng, bố trí ĐNGV ấy phát huy một cách hiệu quả nhất chính là kế hoạch hóa ĐNGV

Nói đến công tác phát triển ĐNGV, nhiệm vụ đầu tiên đó là kế hoạch hóa phát triển ĐNGV Kế hoạch hóa ĐNGV là bản luận chứng khoa học về phát triển đội ngũ Bản luận chứng này có tính định hướng, hoạch định về công tác nhân sự của nhà trường, phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo

và bồi dưỡng cán bộ, đồng thời điều khiển và điều chỉnh trong công tác QL, chỉ đạo của các cấp quản lí

Với một nhà trường Tiểu học, việc lập kế hoạch phát triển ĐNGV cho từng giai đoạn là việc làm cần thiết, không thể thiếu trong công tác QL Tuy nhiên, để việc lập kế hoạch phát triển đạt hiệu quả cao, cần lưu ý đảm bảo một số yếu tố sau: theo yêu cầu trước mắt, chuẩn bị tốt đội ngũ kế cận đủ về

số lượng và mạnh về chất lượng, đồng bộ và hợp lí về cơ cấu

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, việc kế hoạch hóa phát triển đội ngũ

có trình độ trên chuẩn cần được quan tâm vì đây là đội ngũ được đào tạo chuyên sâu, có khả năng thỏa mãn tốt yêu cầu của ngành và theo kịp thời đại

Vì vậy việc kế hoạch hóa ĐNGV trên chuẩn cần đảm bảo yêu cầu về lĩnh vực

Trang 34

chuyên môn cơ bản, khuyến khích những giáo viên thực sự tâm huyết, trách nhiệm với nghề, cống hiến tài năng cho sự nghiệp GD Họ chính là đội ngũ cốt cán, đi đầu và có khả năng đảm nhận những nhiệm vụ mới

Công tác tổ chức điều tra, đánh giá phân loại đúng thực trạng ĐNGV cả

về tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, phương pháp dạy học… cũng góp phần đáng kể vào việc kế hoạch hóa ĐNGV

Trên cơ sở điều tra và căn cứ vào thực tế, nhà quản lí tiến hành xây dựng quy hoach, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ ĐNGV theo chuẩn và theo yêu cầu thời đại

Cuối cùng, việc rà soát, bố trí, sắp xếp lại những GV không theo yêu cầu bằng cách luân chuyển, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, giải quyết nghỉ chế độ trước tuổi, bố trí lại công việc phù hợp Ngay sau đó, nhà quản lí cần bổ sung kịp thời lực lượng GV trẻ, đủ điều kiện, năng lực để tránh sự hụt hẫng và tụt hậu của nhà trường

1.6.2 Tuyển chọn đội ngũ giáo viên

Công tác tuyển chọn ĐNGV trong các trường Tiểu học hiện nay phải đảm bảo đủ các mặt về số lượng, cơ cấu và chất lượng

1.6.2.1.Số lượng ĐNGV

Số lượng ĐNGV tương xứng với quy mô của nhà trường

Số giáo viên cần có = số lớp học x 1,5 giáo viên /lớp

Tuy nhiên, dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảo hoạt động của nhà trường, nhà quản lí đều phải quan tâm tới sự cân bằng động về số lượng đội ngũ với nhu cầu đào tạo và quy mô phát triển của nhà trường

1.6.2.2 Cơ cấu ĐNGV

Cơ cấu ĐNGV là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh bao gồm:

Về chuyên môn nghiệp vụ: Đảm bảo tỉ lệ GV bộ môn tương ứng và phù hợp yêu cầu của chương trình GD Tiểu học

Về độ tuổi: Đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong nhà trường, tránh tình trạng “lão hóa” trong ĐNGV, tránh sự thiếu hụt trầm trọng lực lượng giáo

Trang 35

viên nòng cốt khi đồng loạt GV cùng đến giai đoạn nghỉ hưu Việc xác định thời gian nhất định để chuyển giao giữa các thế hệ GV cũng hết sức cần thiết

Về giới tính: đảm bảo tỉ lệ GV nam và GV nữ trong toàn trường

1.6.2.3 Chất lượng ĐNGV

a Về phẩm chất

Nói tới phẩm chất của ĐNGV là nói tới phẩm chất của cá nhân mỗi nhà giáo trong tập thể mà họ gắn bó Phẩm chất của ĐNGV tạo nên linh hồn và sức mạnh của ĐN, phân biệt ĐN này với ĐN khác, tạo dấu ấn riêng biệt Phẩm chất của ĐNGV trước hết được biểu hiện ở phẩm chất chính trị Đó là yếu tố rất quan trọng, nền móng ban đầu tạo nên hệ tư tưởng, giúp họ có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách và biến động của thời cuộc Bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ giúp người GV có niềm tin vào tương lai tươi sáng của thế hệ học trò cũng như của đất nước và có khả năng xử lí được các tình huống chính trị nảy sinh Trên cơ sở đó, người GV mới có thể thực hiện các hoạt động GD toàn diện, định hướng xây dựng nhân cách cho HS có hiệu quả GD có tính chất toàn diện, bên cạnh nhiệm vụ “dạy chữ” thì nhiệm vụ “dạy người” cũng rất quan trọng đối với GVTH Mỗi người GVTH như một người mẹ hiền chăm sóc, dạy bảo các con hàng ngày, gắn bó với các con nên việc làm gương có ý nghĩa vô cùng quan trọng và hiệu quả vì không có tấm gương nào sáng bằng tấm gương người thầy Phẩm chất chính trị cũng chính là đạo đức hàng đầu cần

có của mỗi GV Trong sự nghiệp “trồng người”, Hồ Chí Minh đã khẳng định, nhà giáo phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, phải “chí, công, vô tư, cần, kiệm, liêm, chính” để trở thành tấm gương sáng cho HS noi theo, để GD đạo đức và xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ

b Về kiến thức

- Kiến thức cơ bản

- Kiến thức về tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi, GD học tiểu học

- Kiến thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh

Trang 36

- Kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức liên quan đến ứng dụng CNTT, ngoại ngữ, tiếng dân tộc

- Kiến thức về nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội địa phương

c Về kĩ năng

Kĩ năng của người GV là khả năng vận dụng những kiến thức thu được vào hoạt động sư phạm và biến nó thành kĩ xảo Kĩ xảo là kĩ năng đạt tới mức thuần thục Kĩ năng của người GVTH bao gồm:

- Lập kế hoạch dạy học; soạn giáo án theo hướng đổi mới

- Tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh

- Công tác chủ nhiệm lớp; tổ chức các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp

- Thực hiện thông tin hai chiều trong QL chất lượng GD; giao tiếp, ứng xử

- Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ GD và giảng dạy

1.6.3 Sử dụng đội ngũ giáo viên

ĐNGV là một bộ phận của đội ngũ công chức làm việc trong lĩnh vực GD&ĐT của đất nước Việc sử dụng cán bộ công chức nói chung và sử dụng ĐNGV nói riêng bao gồm nhiều công việc khác nhau như: bố trí, phân công công tác, chuyển ngạch, nâng ngạch, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, biệt phái

Bố trí, phân công công tác: Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm bố trí, phân công, giao nhiệm vụ cho công chức đảm bảo các điều kiện cần thiết để công chức thi hành nhiệm vụ, thực hiện các chế

độ, chính sách đối với công chức

Điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, biệt phái: Trong quá trình sử dụng công chức chúng ta có thể điều động, luân chuyển, biệt phái nhưng phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thực tế và phải phù hợp với trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực của công chức và phải đảm bảo đầy đủ mọi chế độ ưu đãi, chính sách khuyến khích của nhà nước nếu có

Trang 37

1.6.4 Kiểm tra, đánh giá ĐNGV theo chuẩn nghề nghiệp

Kiểm tra và đánh giá ĐNGV là một trong những chức năng của quản lí Đặc biệt đánh giá chất lượng ĐNGV là một trong những công việc không thể thiếu được của cơ quan quản lí và của công tác tổ chức cán bộ nói chung

Kiểm tra và đánh giá hoạt động của ĐNGV vừa có tác dụng phòng ngừa vừa có tác dụng thúc đẩy các hoạt động của ĐNGV theo đúng hướng phát triển GD

Đánh giá GV không chỉ để nhận biết thực trạng mọi mặt của ĐNGV mà còn dự báo về tình hình chất lượng ĐNGV Trên cơ sở đó nhà quản lí vạch ra những kế hoạch bồi dưỡng để nâng cao chất lượng ĐNGV Mặt khác, kết quả đánh giá là cơ sở cho việc mỗi cá nhân có sự tự điều chỉnh bẩn thân nhằm đảm bảo tiêu chuẩn đội ngũ phù hợp với yêu cầu thực tại của tổ chức

1.6.5 Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV

Đào tạo và bồi dưỡng là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để tổ chức đó có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh Do đó trong công tác

tổ chức, công tác đào tạo và bồi dưỡng phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch nhằm phát triển nguồn nhân lực con người

Đào tạo và bồi dưỡng ĐNGV được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ĐNGV có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác GD&ĐT học sinh Đó chính là quá trình học tập và rèn luyện để ĐNGV nắm vững hơn về công việc của mình, nâng cao trình độ, nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao

Mục tiêu của đào tạo và bồi dưỡng là nhằm sử dụng tối đa nguồn lực hiện có của mỗi GV và nâng cao tính hiệu quả của nhà trường thông qua việc giúp GV hiểu rõ hơn về công việc, nhiệm vụ của mình và từ đó tự giác, tích cực khi thực hiện nhiệm vụ đó, nâng cao khả năng thích ứng của bản thân trong xu thế phát triển mạnh mẽ của xã hội

Để thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần phải có các điều kiện:

Trang 38

- Thời gian đủ để thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng

- Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng

- Điều kiện cơ sở, vật chất, tài chính phục vụ đào tạo, bồi dưỡng

- Lực lượng tham gia đào tạo, bồi dưỡng

1.6.6 Các chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV

ĐNGV được hưởng đầy đủ các đãi ngộ của nhà nước đối với cán bộ, công chức nói chung như: chính sách về tiền lương, chế độ nghỉ lễ, phép, ốm đau, thai sản; được học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Luật GD (2005) đã chỉ rõ: Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo

về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hóa nhà giáo Nhà giáo được cử đi học để nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng lương và phụ cấp ưu đãi theo nghề nghiệp và các phụ cấp khác theo quy định của chính phủ

Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư TƯ Đảng cũng chỉ rõ: rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, chính sách, chế độ và bổ nhiệm, sử dụng, đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá đối với nhà giáo, cán bộ QLGD cũng như các điều kiện đảm bảo việc thực hiện các chính sách, chế độ đó, nhằm tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp GD

Việc thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với GV theo các văn bản Nhà nước đã ban hành vừa đảm bảo cho GV được hưởng những quyền lợi chính đáng, đồng thời vừa GD họ thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình với tập thể và cộng đồng

1.7 Các yếu tố ảnh hướng đến phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp

Phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp là một hình thức QL mới được

áp dụng vào trường Tiểu học từ năm học 2010-2011 Vì vậy mô hình quản lý mới này chịu tác động của các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan sau:

1.7.1 Yếu tố khách quan

Bộ tiêu chuẩn đánh giá GV đã có các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng, phản ánh đầy đủ các mặt hoạt động của GV, thể hiện được đạo đức nghề nghiệp,

Trang 39

năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của họ Do đó quá trình đánh giá

GV trở nên khoa học, khách quan Khi đó “Chuẩn” đã trở thành một công cụ đánh giá GV của nhà quản lý, nó được xem như là một “thước đo” năng lực hành nghề của GV

Mặt khác do mô hình QL mới được áp dụng nên những điều kiện hỗ trợ cho việc phấn đấu theo Chuẩn chưa được chuẩn bị đầy đủ như: điều kiện về CSVC, trang thiết bị dạy học, phòng nghe nhìn, ,… hoặc các hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng chưa có quy mô phù hợp Do đó GV chưa có đủ điều kiện để thể hiện hết năng lực của mình theo mô hình mà chuẩn đề ra, điều này sẽ gây khó khăn cho nhà QL trong quá trình đánh giá

1.7.2 Yếu tố chủ quan

Phát triển ĐNGVTH theo Chuẩn nghề nghiệp là một mô hình QL mới nên bản thân nhà quản lý chưa được tập huấn kỹ càng do đó họ chưa có kỹ năng, phương pháp, kinh nghiệm trong tất cả các khâu của quá trình QL từ việc triển khai nghiên cứu chuẩn, xây dựng hệ thống tham chiếu, tổ chức thực hiện các công việc để đạt chuẩn cho đến khâu đánh giá để hoàn tất quy trình quản lý giáo viên theo chuẩn

Bản thân mỗi GV, là người được đánh giá, nhưng từ trước đến nay họ có thói quen được cấp trên đánh giá còn bây giờ bản thân họ cũng phải tham gia vào quá trình đánh giá mình Trong quá trình công tác GV không có thói quen phải lưu lại hồ sơ để làm minh chứng cho các tiêu chí Việc đánh giá bản thân

là một việc làm rất khó đối với GV vì tâm lý ngại nhìn thẳng vào sự thật, nếu đánh giá tốt thì họ sợ mang tiếng thiếu khiêm tốn, nếu là có mặt hạn chế thì

họ bị tâm lý ngại thừa nhận khuyết điểm GV chưa có ý thức tự giác trong việc đánh giá bản thân, họ chưa cảm thấy việc đánh giá bản thân là nhu cầu vì vậy sẽ dẫn đến hậu quả là kết quả tự đánh giá sẽ không sát thực tế

Song song với việc tự đánh giá bản thân, theo trình tự đánh giá của chuẩn, GV còn phải tham gia vào việc đánh giá đồng nghiệp Lại một lần nữa

họ vấp phải tâm lý e ngại khi nhìn thẳng vào sự thật, thái độ phê bình trong

Trang 40

chuyên môn chưa được xây dựng, ngược lại sợ mất lòng đồng nghiệp khiến

GV không muốn nói lên những mặt hạn chế của đồng nghiệp, nhất là khi ý kiến của họ có ảnh hưởng đến kết quả đánh giá của đồng nghiệp, điều này cũng gây khó khăn cho nhà quản lý

Mặc dù Chuẩn có các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá khá cụ thể nhưng phải làm gì và làm như thế nào để đạt được các tiêu chí của Chuẩn thì thực chất chưa rõ ràng Vì vậy GV lúng túng trong quá trình phấn đấu theo Chuẩn, trong quá trình công tác, GV khó xác định nhiệm vụ nào theo tiêu chuẩn nào

và cần minh chứng gì

Ngoài ra yếu tố địa lý, kinh tế xã hội, đặc điểm tình hình học sinh, năng lực sư phạm của giáo viên và năng lực quản lý của nhà quản lý cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển ĐNGV theo Chuẩn nghề nghiệp

Việc áp dụng Chuẩn nghề nghiệp GV vào việc đánh giá GV bên cạnh những yếu tố thuận lợi như: Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và áp dụng Chuẩn nghề nghiệp GVTH đã được triển khai đồng bộ, toàn diện và hiệu quả

Tiểu kết Chương 1

Phát triển ĐNGV theo chuẩn NNGVTH có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, nhằm theo những yêu cầu của đổi mới GD Với những đặc thù và tính ưu việt của nó, cần khai thác triệt

để hình thức này để góp phần phát triển ĐNGV nói chung và ĐNGVTH nói riêng Tuy nhiên hiệu quả của hoạt động phát triển phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng ĐNGVTH theo Chuẩn NNGVTH Vì vậy, cần dựa vào đặc thù của từng địa phương, từng nhà trường mà tìm ra biện pháp cụ thể, có tính khả thi

để phát triển ĐNGV theo Chuẩn NNGVTH đạt hiệu quả cao nhất nhằm huy động mọi khả năng, trí tuệ của từng GV, phát huy năng lực, sở trường vốn có,

bổ sung những phần thiếu hụt của mỗi cá nhân, tạo động lực để họ cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược GD Việt Nam

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w