1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước : Luận văn ThS. Luật: 60 38 50

86 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, hệ thống các chính sách, pháp luật về vấn đề giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đã tương đối đầy đủ, và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN SINH

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÔI DƯ DO ĐỔI MỚI VÀ SẮP

XẾP LẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2007

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN SINH

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÔI DƯ DO ĐỔI MỚI VÀ SẮP

XẾP LẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Chuyên ngành : Luật kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS Nguyễn Hữu Viện

Hµ néi - 2007

Trang 3

Chương 1: QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP

LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

6

1.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm trên thế giới

và theo pháp luật Việt Nam

6

1.1.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm của Tổ chức

Lao động Quốc tế (ILO)

6

1.1.2 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo pháp

luật Việt Nam

8

1.2 Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị

trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.3.2 Chính sách giải quyết việc làm cho người lao động theo quy

định của pháp luật lao động

20

Chương 2: Thực trạng chính sách, pháp luật giải quyết việc làm cho

lao động dôi dư ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

26

2.1 Quá trình đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và tác

động của nó tới lao động dôi dư

26

Trang 4

2.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà

nước trong giai đoạn hiện nay

26

2.1.2 Những tác động của việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

đến vấn đề lao động dôi dư

35

2.2 Thực trạng chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho

lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà

nước

39

2.2.1 Các chính sách đối với người lao động trong giai đoạn trước

khi ban hành Nghị định số 110/NĐ-CP ngày 26 tháng 06

dôi dư trong giai đoạn hiện nay

42

2.2.2.1 Phạm vi áp dụng chính sách pháp luật cho lao động dôi dư

do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

42

2.2.2.2 Đối tượng áp dụng chính sách, pháp luật cho lao động dôi

dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

46

2.2.2.3 Chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động

dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định

thời hạn

47

2.2.2.4 Chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động

dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động xác định thời hạn

từ 12 tháng đến 36 tháng

50

2.2.2.5 Tình hình giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng lao

động dôi dư thông qua các quỹ hỗ trợ

53

2.3 Kết quả của chính sách pháp luật giải quyết việc làm cho lao

động dôi dư và những tồn tại khó khăn cần khắc phục

54

Trang 5

lao động dôi dư

2.3.2 Một số tồn tại, khó khăn trong công tác giải quyết việc làm

cho lao động dôi dư trong giai đoạn hiện nay

59

Chương 3: Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện

chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong thời gian tới

65

3.1 Định hướng cải cách doanh nghiệp Nhà nước và mục tiêu giải

quyết việc làm cho lao động dôi dư trong giai đoạn hiện nay

65

3.2 Kiến nghị một số giải pháp về chính sách, pháp luật nhằm

giải quyết việc làm có hiệu quả cho lao động dôi dư trong

thời gian tới

66

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào như ở Việt Nam

Ở nước ta, kể từ khi có chủ trương đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh, trong đó

có vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động dôi dư Nếu như trước thời kỳ đổi mới, việc làm cho người lao động chủ yếu do Nhà nước phân công thì sau đổi mới, "giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội" [7] Trong bối cảnh đó, cùng với sự gia tăng nguồn nhân lực xã hội, sắp xếp lại sản xuất và tinh giảm biên chế trong khu vực hành chính sự nghiệp v.v , nhu cầu về việc làm và giải quyết việc làm của người lao động dôi dư ngày càng trở nên cấp thiết Đây chính là cơ sở

để hình thành các chính sách, pháp luật về vấn đề lao động dôi dư do đổi mới

và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Hiện nay, hệ thống các chính sách, pháp luật về vấn đề giải quyết chế

độ chính sách cho đối tượng lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đã tương đối đầy đủ, và đã áp dụng được một thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp và người lao động, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và ổn định đời sống cho người lao động dôi dư

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay đứng trước sự biến động và sự phát triển của thị trường lao động trong và ngoài nước, các doanh nghiệp thực

Trang 7

thức như: trình độ người lao động dôi dư còn thấp, sự am hiểu về thị trường lao động còn yếu và nhiều bất cập, nhiều chủ trương, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của người lao động, đặc biệt là trong lĩnh vực giải quyết việc làm, trao đổi, cung cấp thông tin về lao động và việc làm, vấn đề đào tạo nghề Điều này là do nhận thức về tầm quan trọng của những chính sách giải quyết việc làm cho người lao động dôi dư trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước còn chưa đầy đủ, thiếu thống nhất; một số địa phương, các cơ quan, tổ chức và các cấp lãnh đạo chưa thực sự quan tâm thực hiện, bố trí đủ và kịp thời kinh phí cho các hoạt động có liên quan; thiếu chính sách đồng bộ và dài hạn, chính sách cán bộ, chính sách tài chính…

Từ thực trạng trên cho thấy việc nghiên cứu những vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về giải quyết chế độ, chính sách đối với lao động dôi dư nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động dôi dư là một việc làm hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tác giả đã lựa

chọn đề tài "Pháp luật về giải quyết việc làm cho lao dộng dôi dư do đổi mới

và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn

cao học luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động dôi dư đã có một số bài viết trên các báo, tạp chí về chính sách đối với lao động dôi dư,

tình hình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước như: "Chính sách đối với lao

động dôi dư trong sắp xếp và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước" của

tác giả Nguyễn Đại Đồng, Vụ Lao động - Việc làm, đăng trên tạp chí Lao động và Xã hội, số 189, từ ngày 16-30/4/2002; của tác giả Ngô Văn Giang, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đăng trên tạp chí Lao động và

Xã hội, số 189, từ ngày 16-30/4/2002; "Những kết quả ban đầu thực hiện nghị

định số 41/CP" của tác giả Phạm Thị Là, Vụ Lao động - Việc làm, đăng trên

tạp chí Lao động và Xã hội, số 242, từ ngày 1-15/7/2004; "Năm năm thực

Trang 8

hiện chính sách đối với lao động dôi dư ngành xây dựng" của tác giả Nguyễn

Thế Việt, Vụ Tổ chức Cán bộ - Bộ Xây dựng, đăng trên tạp chí Lao động và

Xã hội, số 294, từ ngày 1-15/9/2006; "Cần gia hạn việc thực hiện chính sách

đối với lao động dôi dư" của tác giả Đặng Quang Điều, Tổng Liên đoàn Lao

động Việt Nam, đăng trên tạp chí Lao động và Xã hội, số 272, từ ngày 15/10/2005 Và một số các bài viết liên quan đến hoạt động cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động dôi dư dưới phương diện pháp luật và kinh tế - xã hội

1-3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận văn có mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật lao động về vấn đề giải quyết chính sách, pháp luật cho lao động dôi dư, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về vấn đề này ở Việt Nam hiện nay

Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm, thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với hoạt động giải quyết chế độ, chính sách, giải quyết việc làm cho lao động dôi dư; những yêu cầu và các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện chế độ, chính sách cho lao động dôi

dư hiện nay

- Luận giải những vấn đề về lý luận và thực tiễn về việc làm và giải

quyết việc làm hiện nay ở Việt Nam

- Phân tích thực trạng và đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước hiện nay ở nước ta

- Trên cơ sở các vấn đề nghiên cứu ở trên đưa ra giải pháp nhằm hoàn

thiện hệ thống pháp luật về tổ chức thực hiện chế độ, chính sách cho lao động

Trang 9

Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình giải quyết chế độ, chính sách cho lao động dôi dư theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay trong phạm vi

cả nước, nhất là trong những năm gần đây

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về tổ chức thực hiện chế độ, chính

Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó coi trọng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát và tổng kết thực tiễn

5 Những đóng góp mới của luận văn

- Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về "chế độ, chính sách giải quyết

- Đây là luận văn mà tác giả đã cố gắng để xin có một số đóng góp mới sau đây:

+ Luận giải khái niệm việc làm và giải quyết việc làm theo quan niệm của thế giới và Việt Nam;

+ Phân tích thực trạng của pháp luật về giải quyết các chế độ trợ cấp

và chính sách giải quyết việc làm cho lao động dôi dư do quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước;

+ Nêu ra một số định hướng và giải pháp về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư ở nước ta hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Trang 10

Chương 1: Quan niệm về việc làm và chính sách pháp luật về giải

quyết việc làm ở nước ta hiện nay

Chương 2: Thực trạng chính sách, pháp luật giải quyết việc làm cho

lao động dôi dư ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Chương 3: Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện

chính sách pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong thời gian tới

Trang 11

Chương 1

QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT

VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRÊN THẾ GIỚI VÀ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organazation- ILO) được thành lập vào năm 1919 với mục tiêu chống thất nghiệp và bảo đảm tiền lương đủ để duy trì cuộc sống cho người lao động trên toàn thế giới Vấn đề việc làm và chống nạn thất nghiệp là các nội dung chính và quan trọng trong các diễn đàn và chương trình nghị sự của tổ chức này được tổ chức hàng năm trên toàn thế giới

Năm 1976 được đánh dấu là năm có sự kiện quan trọng của Tổ chức Lao động Quốc tế về việc đã tổ chức thành công "Hội nghị về việc làm quốc tế" và thông qua bản tuyên ngôn về các nguyên tắc và chương trình hành động nhằm loại trừ nghèo khổ, phát triển việc làm đầy đủ, có hiệu quả, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống cho người lao động

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm

vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật Các công ước của ILO về mặt pháp lý có tính chất khuyến nghị về các chính sách việc làm, thất nghiệp, cũng như điều kiện lao động cho các quốc gia tham gia công ước Ngoài ra, nó còn có tính chất định hướng cho các quốc gia

Trang 12

trong việc xây dựng các quy định của pháp luật lao động về vấn đề việc làm

và lựa chọn việc làm

Trong thời gian vừa qua, ILO đã thể hiện được các tác động tích cực trong việc kêu gọi các nước thành viên khi giải quyết việc làm phải hướng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau như Công ước số 122, năm 1964 về chính sách việc làm, ILO kêu gọi các quốc gia thành viên khi giải quyết việc làm thì phải hướng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau: việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và tự do lựa chọn việc làm Theo Công ước này:

+ Việc làm đầy đủ là sự thỏa mãn nhu cầu tìm việc làm của những người có khả năng lao động trong xã hội, là sự giải quyết về mặt số lượng;

+ Việc làm hiệu quả là việc làm phù hợp với nguyện vọng, trình độ, khả năng của người lao động được tự do lựa chọn việc làm, là khả năng mà người lao động cống hiến được nhiều nhất năng lực của mình đem lại hiệu quả cao nhất và tự do lựa chọn việc làm với thời gian và điều kiện làm việc phù hợp nhất Tự do lựa chọn việc làm là giai đoạn phát triển cao nhất của chính sách việc làm ở mỗi quốc gia và là mục tiêu mà các quốc gia và Chính phủ của các quốc gia hướng tới

ILO còn đưa ra khái niệm "việc làm nhân văn" được xuất phát từ việc đấu tranh cho sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về vấn đề việc làm, nhằm tạo sự bình đẳng về việc làm và mang lại chất lượng việc làm cao hơn Khái niệm "việc làm nhân văn" là khá mới mẻ và là khái niệm chứa đựng nhiều giá trị tốt đẹp cho việc ra các quyết định, chính sách về việc làm của ILO và các quốc gia trong những năm gần đây, là một bước tiến lớn và đánh dấu sự thay đổi to lớn về nhận thức của loài người về vấn đề việc làm Các đại biểu ở cuộc họp khu vực châu Á lần thứ 13 của ILO tổ chức tại Bangkok năm 2001

đã công nhận tầm quan trọng của việc làm nhân văn trong cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động trong khu vực và hỗ trợ phát triển kinh tế của

Trang 13

thành viên xây dựng chương trình hành động quốc gia về Việc làm nhân văn thông qua cơ chế ba bên với 4 cấu phần là quyền tại nơi làm việc, cơ hội có việc làm chất lượng, bảo đảm xã hội và đối thoại xã hội

Các quốc gia khác nhau trên thế giới đều coi trọng vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động và là vấn đề có tính chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội Ở một số quốc gia, nếu một chính trị gia muốn thắng cử trong các cuộc vận động tranh cử bao giờ họ cũng phải đưa ra được vấn đề giải quyết việc làm trong chương trình hoạt động tranh cử Các tổng thống Mỹ muốn được tái đắc cử bao giờ cũng phải nêu ra được các biện pháp giải quyết việc làm, chính sách lao động và tiền lương cũng như điều kiện làm việc tốt hơn trước kia cho người lao động

ILO cũng đã thông qua nhiều Công ước và khuyến nghị nhằm giải quyết tốt hơn việc làm cho người lao động Điển hình là Công ước số 88 và Khuyến nghị số 83 đã quy định về những tiêu chuẩn, chức năng và việc tổ chức các trung tâm dịch vụ việc làm ở các quốc gia Về chính sách việc làm

đã có Công ước số 122, về hoạt động xúc tiến việc làm và bảo vệ thất nghiệp

có Công ước số 163 v.v

Như vậy, cho đến thời điểm này, quốc tế và từng quốc gia đã xác định được vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề cơ bản trong đời sống kinh tế - xã hội, mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu

cơ bản và hướng tới của các quốc gia

1.1.2 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo pháp luật Việt Nam

Khái niệm việc làm theo pháp luật nước ta được nhìn nhận khác nhau qua các giai đoạn của nền kinh tế đất nước Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung trước đây, mục tiêu của chúng ta là xây dựng xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, trong xã hội chỉ duy trì hai hình thức sở hữu căn

Trang 14

bản là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Mọi người đều có việc làm, Nhà nước không thừa nhận có người thất nghiệp và khái niệm thất nghiệp, mọi người đến tuổi lao động đều được bố trí việc làm trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, nông, lâm trường Mọi người làm việc và hưởng thụ theo

sự phân công, bố trí và chế độ tem phiếu của Nhà nước Điều này đã được thể hiện tại Điều 58 Hiến pháp 1980: Mọi công dân đều có quyền có việc làm, Nhà nước phải có nghĩa vụ cam kết bảo đảm việc làm đầy đủ cho người dân thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước có trách nhiệm tạo việc làm và bảo đảm cho công dân có chỗ làm việc theo chế độ biên chế suất đời, thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, đây chỉ là vấn đề mang tính khẩu hiệu, lý thuyết còn trên thực tế thì các quy định này đã không bao giờ thực hiện được và chúng ta đã phải nhìn nhận lại để chuyển đổi nền kinh tế cho phù hợp với các quy luật khách quan, theo cơ chế thị trường, quy luật cung cầu và giá trị

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được đánh dấu một bước chuyển đổi căn bản nền kinh tế nước ta Chúng ta đã mạnh dạn và quyết tâm chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung sang mô hình của nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước Từ đây, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đã được nhìn nhận lại đúng với bản chất vốn có của nó Lao động, việc làm được coi là một quyền chính đáng và cơ bản của công dân và được Hiến pháp năm

1992 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X (sau đây gọi tắt là Hiến pháp 1992) tại Điều 55 đã ghi nhận: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân" 6, tr

32 Từ đây, vấn đề việc làm đã được nhìn nhận đầy đủ và khách quan hơn

+ Quan niệm về việc làm đầy đủ đã được thay thế bằng việc Nhà nước

có trách nhiệm ngày càng tạo ra nhiều việc làm mới trong xã hội, trở thành mục tiêu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội "Nhà nước và xã hội

Trang 15

+ Vấn đề công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật đã được thể hiện trong Hiến pháp, đồng thời pháp luật cũng quy định mọi người phải có ý thức tự tìm việc làm cho bản thân và vì cuộc sống của bản thân mình Nhà nước cũng khuyến khích các hoạt động tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội Nếu như quan niệm trước đây chỉ có những người lao động làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh mới được coi là có việc làm thì

ngày nay quan niệm này đã thay đổi: "Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập

Như vậy, dưới góc độ pháp lý và khoa học thì khái niệm việc làm theo

Bộ luật Lao động đã xóa bỏ quan niệm trước đây về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm, thể hiện được tính chất của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nếu các quy định pháp luật lao động trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang nặng tính bao cấp, phân bổ và bố trí của Nhà nước về vấn

đề giải quyết việc làm cho người lao động thì các quy định mới theo Bộ luật Lao động, Nhà nước chỉ có trách nhiệm ở tầm vĩ mô, Nhà nước cũng chỉ là một trong các chủ thể có trách nhiệm trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cần việc: "Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội" 6, tr 15

Điều 14 Bộ luật Lao động quy định:

+ Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động

+ Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và

sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số

Trang 16

+ Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định

cư ở nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho người lao động

Vấn đề giải quyết việc làm đã được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn cho từng đối tượng, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân khi tham gia vào các hoạt động giải quyết việc làm Cụ thể là Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm như phân định thẩm quyền cho các bộ ngành có liên quan trong việc hướng dẫn và thực thi các chính sách pháp luật lao động trong tình hình mới nhằm giải quyết một cách đầy đủ, hiệu quả và khoa học

Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, việc làm được hiểu là hoạt động hợp pháp, tạo ra thu nhập chính đáng nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân, quan niệm việc làm cũng bao hàm cả việc làm của những người nội trợ gia đình, tuy họ không tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp nhưng cũng được pháp luật thừa nhận

là việc làm vì nó đã gián tiếp tạo ra nguồn thu nhập góp phần vào việc ổn định gia đình và xã hội Người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợp với nguyện vọng và sở trường của mình, họ cũng có quyền tự do giao kết hợp đồng lao động và làm nhiều công việc khác nhau miễn là không ảnh hưởng đến nhau và không vi phạm các điều cấm của pháp luật Ngược lại, người sử dụng lao động cũng có quyền tự do tuyển dụng lao động và chấm dứt hợp đồng lao động với bất cứ ai trong phạm vi và giới hạn pháp luật không cấm

Họ cũng có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động vào làm việc, quan điểm này đã đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường, các quy luật của thị trường lao động và có tác động

Trang 17

làm và lao động đã được luật hóa và việc giải quyết việc làm dưới góc độ pháp lý chính là việc Nhà nước ban hành các chính sách để thực thi pháp luật lao động về việc làm bằng các cơ chế pháp luật góp phần tạo ra việc làm cho người lao động, đảm bảo đời sống cho họ cũng như góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự xã hội, đưa đất nước ta ngày càng giàu đẹp, nhân dân ấm no, hạnh phúc

1.2 VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.2.1 Việc làm trong nền kinh tế thị trường

Việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội thông thường liên quan đến đời sống của người lao động, mà cần được xem là vấn đề có tính chính trị, pháp lý quan trọng liên quan đến sự ổn định xã hội, xuất phát từ quan điểm: mọi công dân đều có việc làm, có nghĩa vụ phải làm việc và nhà nước

sẽ đảm bảo đầy đủ chỗ làm việc cho người lao động Vì vậy, ở Việt Nam đã từng tồn tại những quan điểm khác nhau về việc làm Trước đây, khi nói đến việc làm thì người ta thường nghĩ ngay đến việc vào biên chế nhà nước, đi làm công nhân, thoát ly khỏi nông nghiệp, Biên chế nhà nước một thời được coi như một giá trị đảm bảo cho vị thế xã hội Ngoài biên chế nhà nước thì mọi hoạt động dù rất có ích cho bản thân và cho xã hội cũng chỉ là bậc thang dưới, phi chính thống, thậm chí còn bị coi là tiêu cực, lạc hậu Với quan điểm như vậy nên vấn đề việc làm của người lao động được giải quyết theo kiểu

"bao cấp" của nhà nước Nhà nước là người duy nhất chịu trách nhiệm tổ chức việc làm và đời sống cho người lao động, từ đó nảy sinh "chế độ biên chế suốt đời" gây ra hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề và kéo dài

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động, giao dịch đều dựa vào quy luật cung - cầu, quy luật thị trường, giá cả để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh Ở đây, thị trường lao động là một loại thị trường tự do cũng

Trang 18

không nằm ngoài các quy luật đó Thị trường có cầu thì phải có cung, nó ảnh hưởng trực tiếp đến công ăn việc làm của người lao động Trước kia, khi chúng ta chưa có nền kinh tế thị trường thì Nhà nước chịu trách nhiệm về việc làm cho người lao động, danh nghĩa mọi người đều có việc làm, trong xã hội không có hiện tượng thất nghiệp, và chúng ta không có thị trường lao động tức là không có hiện tượng mua bán sức lao động, trả công lao động, không

có ông chủ và người làm thuê

Trong nền kinh tế thị trường, việc làm thường xuyên thay đổi, người lao động thường xuyên phải thay đổi chỗ làm việc do nhiều nguyên nhân khác nhau, do thay đổi cơ cấu, tác động của nền kinh tế đến chỗ làm, hiện tượng thất nghiệp và mất chỗ làm diễn ra thường xuyên hơn, người lao động phải chịu nhiều sức ép, phải cạnh tranh nhiều hơn để giữ được chỗ làm có mức lương cao hơn Trong khi đó, người sử dụng lao động cũng tìm cách để khai thác sử dụng sức lao động một cách hiệu quả nhằm tạo ra nhiều giá trị kinh tế, cũng như hạn chế các chi phí phát sinh Trái lại, với những hiện tượng tiêu cực thì cũng có những mặt tích cực nhất định như: ý thức của người lao động

về việc làm tốt hơn, người lao động làm việc tích cực hơn, ít ỷ lại hoặc trốn tránh công việc Họ chỉ quan tâm đến việc làm có thu nhập cao hơn, tìm đến những nơi làm việc được đảm bảo quyền lợi tốt hơn

1.2.2 Giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

Trước Đại hội VI, vấn đề việc làm là một vấn đề đặc biệt gay gắt Vì ở các khu vực kinh tế, sản xuất hầu như không phát triển được, người lao động không có việc làm và đời sống họ trở nên túng quẫn; một số lượng lớn bộ đội xuất ngũ về địa phương không có việc làm; số lượng lao động phi nông nghiệp, tốc độ tăng dân số hàng năm và quỹ thời gian lao động nhàn rỗi ở khu

Trang 19

vấn đề việc làm mà còn ảnh hưởng đến những vấn đề khác của đời sống xã hội và khi không có việc làm, đảm bảo cuộc sống thì việc người ta phải tìm mọi cách để sống sẽ làm tăng thêm những bất ổn xã hội

Không thể để cho tình trạng một số lượng khá lớn người lao động không có việc làm kéo dài, Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện xã hội Đại hội đã phân tích, đánh giá thực trạng của đất nước, nhìn thẳng vào sự thật, chỉ rõ những sai lầm, thiếu sót, trên cơ sở đó nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới nhận thức và thực hiện chính sách việc làm phù hợp với tình hình mới nhằm phát huy triệt để tiềm năng sức mạnh của người lao động, tạo bước chuyển căn bản trong đời sống

Với tinh thần đổi mới, từ Đại hội VII, Chúng ta đã nêu ra một quan điểm mới về việc làm: Việc làm là mọi hoạt động của người lao động cần thiết, có ích cho xã hội, có khả năng tạo ra thu nhập để tự nuôi sống và có phần đóng góp cho xã hội Quan điểm mới đó khuyến khích người lao động

tự tìm việc làm, tự tạo việc làm và làm giầu hợp pháp Điều đó cho thấy việc làm

là hoạt động có ý thức của con người không chỉ với tư cách là điều kiện cơ bản của đời sống người lao động mà còn với tư cách là nguồn tạo ra của cải xã hội Việc làm là hoạt động lao động để sinh sống của con người, là phương tiện thỏa mãn một nhu cầu duy trì sự sinh tồn của mình Từ nhận thức đó "chế độ biên chế suốt đời" đang dần được thay thế bằng chế độ hợp đồng lao động Bằng chế độ

ấy, người lao động làm chủ sức lao động của mình, có quyền tự chọn việc làm

và nơi làm việc phù hợp với khả năng hiện có Sự thay đổi ấy đã tạo ra cơ sở để thực hiện chính sách về giải quyết việc làm phù hợp với tình hình mới Chế độ hợp đồng lao động không những được thực hiện trong các khu vực hoạt động kinh tế mà còn được thực hiện cả trong các khu vực hành chính sự nghiệp, dịch vụ v.v

Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong nền kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm khác biệt so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập

Trang 20

trung trước đây Nhà nước không phải chịu trách nhiệm đến cùng và toàn bộ đối với việc làm và giải quyết việc làm mà Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bà đỡ trong nền kinh tế Không giống với các quy định của Hiến pháp và pháp luật lao động trước đây, các quy định của pháp luật trong thời kỳ đổi mới có những thay đổi đáng kể để phù hợp với cơ chế thị trường, gần hơn với tình hình thực tế: "Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính v.v để các

tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động" 7, tr 15

Ngoài ra, Nhà nước còn tạo mọi điều kiện để các cơ quan, tổ chức và

cá nhân có khả năng tự tạo việc làm hoặc có cơ hội được đào tạo nghề, tư vấn

và giới thiệu chỗ làm việc cho phù hợp với khả năng, sở thích và sở trường của mỗi người Nhà nước còn tạo ra các cơ chế để hỗ trợ người lao động trong giai đoạn chưa kiếm được việc làm để có thu nhập bằng các hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp v.v

Như vậy, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều quan tâm đến vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề thường xuyên trong các hoạt động của Chính phủ Cả Nhà nước và người lao động đều có ý thức phối hợp trong việc giải quyết việc làm Việc làm được xem làm một trong những vấn

đề quan trọng trong đời sống xã hội

Tóm lại, vấn đề việc làm vừa là vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến

đời sống của người lao động vừa là vấn đề chính trị, pháp lý quan trọng liên quan đến sự ổn định xã hội Khi không có việc làm đảm bảo cuộc sống thì việc người ta phải tìm mọi cách để sống sẽ làm tăng thêm những bất ổn trong'

xã hội Do vậy, sự thay đổi quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm phù hợp với tình hình mới của đất nước là điều không thể tránh khỏi

Trang 21

Giải quyết việc làm là mục tiêu trọng điểm của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

Từ nhận thức đó, thông qua các nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đã phát triển quan điểm về giải quyết việc làm và đề ra những biện pháp cụ thể nhầm giải quyết một cách hiệu quả nhất về việc làm cho người lao động trong công cuộc đổi mới thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Với chủ trương tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ công bằng xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp và thực hiện xã hội hóa vấn đề giải quyết việc làm, quan điểm mới trong nhận thức và thực hiện chính sách về giải quyết việc làm được nêu lên là: mọi người tự tìm việc làm, tự tạo việc làm Nhà nước làm nhiệm vụ chủ yếu hướng dẫn và tạo điều kiện để mọi người có thể tạo và tìm được việc làm Trên cơ sở của một số biện pháp tích cực, quan điểm mới đó đang đi vào đời sống xã hội và tạo ra những phong trào hiện thực sống động của mọi người tự tìm việc làm, tự tạo việc làm như một yếu tố tự nhiên

1.3 PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.3.1 Pháp luật lao động về việc làm

Việc làm là vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm giải quyết Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đã được các bản Hiến pháp ghi nhận:

+ Quyền của người lao động: Lao đồng là quyền và nghĩa vụ của công dân; Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật 6,

+ Trách nhiệm của Nhà nước: Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động; Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động, quy định về thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và

Trang 22

những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động 6, tr 32-33

Đó là các quy định cụ thể về vấn đề lao động theo Hiến pháp Ngoài

ra trong hiến pháp còn quy định và pháp điển hóa các vấn đề liên quan khác giúp cho người lao động ổn định cuộc sống, yên tâm lao động và cống hiến

Để cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp, ngày 23 tháng 6 năm 1994 Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật Lao động quy định các chế

độ, chính sách về lao động và việc làm nhằm nhằm đảm bảo hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Bộ luật Lao động đã giành một chương (chương 2) với 7 điều (từ Điều

13 đến Điều 19) để quy định về việc làm và chính sách giải quyết việc làm cho người lao động Theo quy định của Bộ luật Lao động: "Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" 7,

tr 15 Điều này đã thể hiện tư duy đổi mới, nhìn nhận về vấn đề việc làm hiện nay một cách khách quan và bản chất hơn Khái niệm này phản ánh đầy

đủ các nội dung kinh tế, xã hội và bản chất pháp lý về vấn đề việc làm trong nền kinh tế thị trường tạo sự bình đẳng trong quan hệ pháp luật lao động Ngoài ra, các quy định cũng đã thể hiện được trách nhiệm và vai trò của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc kiến tạo việc làm, đảm bảo cho mọi người có nhu cầu và có khả năng lao động đều có thể tìm được việc làm phù hợp Điều này đã thể hiện được quan điểm xã hội hóa trong vấn đề việc làm và cộng đồng trách nhiệm trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

+ Trách nhiệm của Nhà nước trong vấn đề giải quyết việc làm: Trách

nhiệm của Nhà nước đã được Bộ luật Lao động quy định khá cụ thể với vai

Trang 23

trò quản lý vĩ mô bằng việc ban hành các chính sách pháp luật, tạo cơ chế cụ thể trong việc giải quyết việc làm

Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc miễn giảm thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động 27, tr 15

Ngoài ra, pháp luật lao động còn chỉ ra chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm đối với người dân tộc thiểu số, chính sách ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân Nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho nhiều người lao động 7, tr 16

+ Trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội về vấn đề giải quyết

việc làm: Các tổ chức này trong phạm vi quyền hạn và khả năng của mình có

trách nhiệm trong vấn đề tham gia các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, tham gia các quỹ giải quyết việc làm nhằm góp phần ổn định xã hội nâng cao vai trò và trách nhiệm chung 7, tr 16

+ Trách nhiệm của người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động

có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật 8, tr 144 Ngoài ra, người sử dụng lao động phải lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, có trách nhiệm đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng vào chỗ làm việc mới trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ đối với những người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên 8, tr 144 Đối

Trang 24

với lao động nữ hoặc lao động là người tàn tật thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm nhận một số lượng nhất định vào làm việc 8, tr 197

+ Trách nhiệm của người lao động về vấn đề việc làm và giải quyết

việc làm: Người lao động được tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp cũng

như học nghề, có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Người lao động cũng có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để liên hệ, tư vấn tìm việc tùy theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình

Ngoài ra, pháp luật lao động còn quy định và đưa vào các đối tượng

có tính chất đặc thù để điều chỉnh, đó là những lao động có đặc điểm riêng, như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động cao tuổi, lao động là người tàn tật v.v điều này thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước

ta cũng như sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vấn đề lao động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta

- Lao động nữ: Bộ luật lao động đã dành chương X từ Điều 109 đến

Điều 118 để quy định và cụ thể hóa những chính sách pháp luật về đối tượng lao động chiếm một nửa số dân: Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ có quyền làm việc bình đẳng với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, kết hợp được việc nhà với việc làm, tạo điều kiện cho người phụ nữ trong thời kỳ sinh đẻ và sức khỏe tâm sinh lý… bằng việc áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà 8, tr 189 Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm, họ có thể có thêm nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của họ 8, tr 189

Trang 25

- Lao động chưa thành niên: Theo pháp luật lao động thì lao động chưa

thành niên là lao động dưới 18 tuổi, pháp luật lao động cấm sử dụng người lao động chưa thành niên vào làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên 8, tr 194 Ngoài ra pháp luật lao động còn quy định rất cụ thể về những trường hợp người sử dụng lao động được và không được sử dụng người lao động chưa thành niên vào làm một số công việc có tính chất nhạy cảm, đặc thù v.v

- Lao động là người tàn tật: Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền làm

việc đối với người tàn tật và khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật 8, tr 197 Pháp luật lao động cũng quy định cấm việc sử dụng những người tàn tật đã bị suy giảm sức khỏe trên 51% làm thêm giờ hoặc phải làm việc vào ban đêm 8, tr 197; người tàn tật không được làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm 8, tr 198

- Lao động là người cao tuổi: Bộ luật Lao động cũng dành hai điều

123 và 124 để quy định những vấn đề liên quan đến việc sử dụng lao động là người cao tuổi cũng như bảo đảm những quyền của những người cao tuổi Đây là đối tượng lao động đặc thù vì những lý do tuổi tác, thể trạng tâm sinh

lý và ý nghĩa xã hội Người lao động cao tuổi là người lao động nam trên 60 tuổi và nữ trên 55 tuổi Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe người lao động cao tuổi, không được sử dụng người cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm…hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người cao tuổi 8, tr 196

1.3.2 Chính sách giải quyết việc làm cho người lao động theo quy định của pháp luật lao động

Để triển khai các vấn đề cụ thể liên quan đến vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động được quy định trong Hiến pháp và Bộ luật lao động, ngày 18 tháng 04 năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

Trang 26

39/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm và các văn bản hướng dẫn liên quan khác để tổ chức thực hiện Pháp luật đã định ra các thiết chế và cách thức nhằm thực hiện và giải quyết một cách tổng thể vấn đề việc làm của người lao động trong đời sống xã hội như các Chương trình việc làm quốc gia, Quỹ giải quyết việc làm, hoạt động tư vấn và giới thiệu việc làm, hoạt động đào tạo nghề gắn với việc làm cho người lao động v.v

Thứ nhất, hoạt động tư vấn và giới thiệu việc làm:

Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và giúp tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động, thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động 8, tr 145 Hoạt động tư vấn và giới thiệu việc làm là chiếc cầu nối hữu hiệu nhằm giới thiệu người lao động cho người sử dụng lao động, đưa cung lại với cầu, giúp người lao động tìm được việc làm phù hợp đồng thời cũng giúp cho người sử dụng lao động tìm được người lao động phù hợp, góp phần giải quyết được việc làm trong xã hội Để cụ thể hóa thì điều 14 và 15 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2003 đã quy định cụ thể về các loại hình tổ chức giới thiệu việc làm cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của nó

 Trung tâm giới thiệu việc làm:

là tổ chức do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thành lập là đơn vị sự nghiệp có thu, tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ, thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, được Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội giao chỉ tiêu biên chế cán bộ, được hỗ trợ đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước về trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài chính và được miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật 8, tr 143 Để cụ thể hóa, ngày 28 tháng 02 năm

2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2005/NĐ-CP quy định điều kiện,

Trang 27

thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm Trong đó có quy định cụ thể về nhiệm vụ của trung tâm giới thiệu việc làm là:

- Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách có liên quan đến quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động

- Giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động

- Thu thập, phân tích và cung ứng thông tin về thị trường lao động, được tổ chức dạy nghề

 Doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm:

Hoạt động giới thiệu việc làm đã được pháp luật thừa nhận là một nghề và được pháp luật quy định về quyền cũng như nghĩa vụ, là một trong hai loại hình được pháp luật thừa nhận Tổ chức là doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm cũng có những quyền và nghĩa vụ tương tự như các trung tâm giới thiệu việc làm nhưng là pháp nhân hoạt động vì lợi nhuận, được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp phép hoạt động Các doanh nghiệp này muốn hoạt động phải ký quỹ một khoản tiền nhất định (khoảng 300 triệu đồng) được quy định chi tiết trong Thông tư số 20/2005/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 6 năm

2005 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Vì là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm liên quan trực tiếp đến con người cho nên pháp luật lao động quy định rất chặt chẽ về việc cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực giới thiệu việc làm; đây cũng là những quy định có tính chất ràng buộc và hướng doanh nghiệp vào việc làm có trách nhiệm với người lao động, người sử dụng lao động và xã hội

Thứ hai, hoạt động dạy nghề

Dạy nghề từ lâu đã được xã hội quan tâm với ý nghĩa thiết thực của

nó, có nghề là tiền đề cho việc tìm kiếm được việc làm Bộ luật Lao động đầu

Trang 28

tiên năm 1994 đã dành một chương quan trọng (chương 3) để quy định về vấn

đề Học nghề từ Điều 20 đến Điều 25 Bộ luật Lao động Tiếp đó Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề và thay thế bằng Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2006 Không chỉ dừng lại ở đó tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 11 lại tiếp tục ban hành Luật dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006 Điều này thể hiện sự tích cực và mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta trước vấn

đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động trong thời kỳ đổi mới

Thứ ba, hoạt động của Quỹ giải quyết việc làm

Để hỗ trợ giải quyết việc làm, pháp luật lao động đã quy định việc xây dựng Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, thành lập các quỹ giải quyết việc làm tại địa phương, dành cho đối tượng lao động là người tàn tật và quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm tại các doanh nghiệp

- Quỹ quốc gia về vấn đề việc làm, là biện pháp để Nhà nước triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm - "Hàng năm Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm" 8, tr 143 Quỹ quốc gia về việc làm được hình thành từ Ngân sách Nhà nước, các nguồn

hỗ trợ của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác của Chính phủ Quỹ được sử dụng vào các mục đích như: Cho vay vốn theo dự án nhỏ để giải quyết việc làm cho một số đối tượng, cho các doanh nghiệp vay để hạn chế lao động mất việc làm và nhận người thất nghiệp, hỗ trợ và củng cố hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm và các hoạt động phát triển thị trường lao động

+ Quỹ quốc gia về vấn đề việc làm:

Quỹ quốc gia về vấn đề việc làm đóng vai trò nòng cốt trong các chương trình giải quyết việc làm quốc gia và trở thành một trong những dự án

Trang 29

quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm xoá đói giảm nghèo, và việc làm các giai đoạn 5 năm và hàng năm của Chính phủ Người lao động có nhu cầu giải quyết việc làm được vay vốn từ Quỹ quốc gia với lãi suất thấp và thuận lợi Chính phủ ban hành cơ chế quản lý và điều hành Quỹ để phù hợp với nguyện vọng, khả năng, nhu cầu của người lao động Hiện tại Ngân hàng Chính sách xã hội đã tiếp quản quỹ và thực hiện việc cho vay vốn tạo việc làm theo thủ tục và quy trình linh hoạt tạo điều kiện cho người lao động được vay vốn tạo việc làm cho bản thân và những người xung quanh

+ Quỹ giải quyết việc làm địa phương:

Được hình thành từ ngân sách địa phương, từ sự đóng góp của các tổ chức và các cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác Quỹ giải quyết việc làm của địa phương được dùng để thực hiện các mục tiêu của Chương trình việc làm của địa phương, trực tiếp cho người lao động tại địa bàn có nhu cầu cấn vốn để tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh

+ Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm:

Người sử dụng lao động không thể lúc nào cũng đáp ứng đầy đủ chỗ làm việc và các yêu cầu của người lao động Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh buộc doanh nghiệp phải thay đổi nhân sự, thay đổi công nghệ, dẫn đến buộc họ phải cho người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp có thời gian từ 12 tháng trở lên được đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào chỗ làm việc mới Nếu không giải quyết được việc làm mới, doanh nghiệp phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương Các doanh nghiệp phải lập Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm để kịp thời trợ cấp cho người lao động trong doanh nghiệp bị mất việc làm Theo quy định thì doanh nghiệp phải trích từ 1% đến 3% trên quỹ tiền lương làm cơ

sở để đóng bảo hiểm xã hội để lập Quỹ được quy định cụ thể trong Thông tư

Trang 30

số 82/2003/TT-BTC ngày 14 tháng 8 năm 2003 của Bộ Tài chính và các văn bản hướng dẫn thi hành

+ Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư:

Trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, một số lượng lớn người lao động bị mất việc làm phải được trợ cấp để ổn định cuộc sống và tạo việc làm mới Khi ban hành Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày

11 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ đã dành chương 3 quy định rõ về nguồn kinh phí để giải quyết lao động dôi dư giao cho Bộ Tài chính quản lý điều hành thống nhất trong cả nước Mục tiêu của Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư là để giúp đỡ doanh nghiệp trong trường hợp phải cho người lao động nghỉ việc sau khi đã tìm mọi biện pháp để giải quyết việc làm nhưng vẫn không thể bố trí được việc làm kể cả sau khi đã sử dụng hết quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm mà vẫn không đủ để giải quyết chế độ mất việc làm cho người lao động hoặc các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng giải thể hoặc phá sản cũng được cấp kinh phí từ quỹ này để chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động bị mất việc, để chi trả cho người lao động dôi dư khi học nghề tối đa không quá

6 tháng ở các cơ sở dạy nghề do Nhà nước quy định "Quỹ hỗ trợ lao động dôi

dư chịu trách nhiệm cấp kinh phí cho các doanh nghiệp; cơ quan bảo hiểm xã hội; cơ sở dạy nghề cho lao động dôi dư và các tổ chức được thành lập để giải quyết lao động dôi dư trong các doanh nghiệp bị giải thể, phá sản 14

Như vậy, những khái niệm việc làm và giải quyết việc làm trong giai

đoạn hiện nay đã được bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với những tiến bộ xã hội và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Ngày nay, các quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Những chính sách pháp luật lao động đã dần dần hoàn thiện và phát huy hiệu quả nhằm nâng cao vị trí vai trò của người lao động và trách nhiệm của Nhà nước trong công tác giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay

Trang 32

Chương 2

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÔI DƯ

Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI, SẮP XẾP LẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI LAO ĐỘNG DÔI DƯ

2.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Doanh nghiệp nhà nước mạnh hay yếu, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế và các tác động của nó đến đời sống xã hội như thế nào, đó là những vấn đề liên quan tới việc xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong khi thực hiện chuyển đổi và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Hiện nay, vấn đề doanh nghiệp nhà nước là một trong những vấn đề nhức nhối, quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

Sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước đều vấp phải một tình trạng chung là hiệu quả thấp, lãng phí, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp nhà nước còn là mảnh đất của sự tham nhũng Loại hình này không năng động, không hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và điều này không thể chấp nhận đối với các chủ thể của nền kinh tế thị trường Dưới tác động của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế hiện nay, sự thiếu hiệu quả một khi đã trở thành căn bệnh kinh niên của doanh nghiệp thì điều đó đồng nghĩa với việc cáo chung của chúng Doanh nghiệp nhà nước ngay cả khi đang còn hoạt động có hiệu quả vẫn có thể bị mất cân đối tài chính do phải thực hiện những nhiệm vụ không liên quan đến kinh doanh mà nhà nước giao, nhiều khi chúng bị nhà nước

Trang 33

Hơn thế nữa, những người quản lý doanh nghiệp nhà nước nhiều khi được lựa chọn chủ yếu dựa trên các tiêu chí chính trị chứ không phải dựa vào năng lực điều hành các hoạt động kinh doanh của bản thân họ Vì thế, họ khó có thể được coi là các nhà kinh doanh thực thụ Ngoài ra, do muốn chi phối được nền kinh tế thông qua thành phần kinh tế công vốn dĩ chỉ tạo ra được lợi nhuận trong những lĩnh vực độc quyền, nhà nước thường áp đặt một số giao dịch để bảo vệ hay để tạo độc quyền cho doanh nghiệp nhà nước thông qua các ưu đãi đặc biệt dành cho doanh nghiệp nhà nước có ảnh hưởng lớn đến tính cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh của xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay Chính sự sa sút không thể cứu vãn nổi của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đã dẫn đến quá trình phải cải cách và đổi mới chúng

Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thì doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công

ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước 9 Như vậy, doanh nghiệp nhà nước có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu

tư vốn và thành lập;

Thứ hai: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước tổ chức

quản lý và hoạt động theo các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao;

Thứ ba: Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền quản

lý vốn và tài sản do nhà nước giao

Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức thành các mô hình sau:

+ Công ty nhà nước;

+ Công ty cổ phần nhà nước;

Trang 34

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước

Theo pháp luật, doanh nghiệp nhà nước được chia làm hai loại dựa vào mục đích hoạt động đó là: doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận do chức năng kinh

tế và chức năng xã hội của nhà nước đòi hỏi

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mỗi một xí nghiệp quốc doanh đều phải thực hiện cả hai chức năng kinh tế và chức năng xã hội, điều kiện kinh tế khách quan lẫn chủ quan không cho phép tách bạch một cách rõ ràng hai chức năng này Trong khi đó tính hiệu quả, tính lợi ích kinh tế chưa được chú trọng đúng mức Làm ăn có hiệu quả kinh tế chưa trở thành điều kiện và mục đích tồn tại của các công ty nhà nước

Bước sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước phải chấp nhận hòa nhập vào thị trường cạnh tranh gay gắt, với những biến đổi khó lường Chỉ những doanh nghiệp nhà nước nào làm ăn có hiệu quả kinh tế mới tồn tại Sự bao cấp và trợ giúp của nhà nước có giới hạn và được tính toán kỹ lưỡng hơn Để kinh doanh có lãi, chiếm lĩnh thị trường thì doanh nghiệp nhà nước buộc phải chấp nhận cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác Lợi nhuận vừa là mục đích, vừa là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, trách nhiệm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ công cộng theo chính sách của nhà nước vẫn đòi hỏi cho những lĩnh vực mà tư nhân không được tham gia hoặc không muốn tham gia như quốc phòng, an ninh

Hiện nay, ngoài hệ thống doanh nghiệp nhà nước đang được điều chỉnh bằng luật doanh nghiệp nhà nước chúng ta đã có một lực lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh khá lớn về số lượng đang hoạt động theo luật doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp ra đời năm 1999, đã được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2005 đánh dấu một bước đổi mới trong nền kinh tế nước ta về

Trang 35

việc xây dựng hệ thống pháp luật mới để điều chỉnh những hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Các doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp đều vì mục đích lợi nhuận và được các cá nhân, tổ chức thành lập dưới các hình thức:

+ Công ty cổ phần

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn

+ Công ty hợp danh

+ Doanh nghiệp tư nhân

Hiện nay, theo số liệu thống kê số lượng doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp chiếm khoảng 66,4% số lượng các doanh nghiệp đang hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Trong khi đó, đoanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 3,6% (khoảng 4.086 doanh nghiệp) lại nắm giữ đến 70% tài sản cố định quốc gia, 20% tổng số tài sản vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của nhà nước, chiếm 70% tổng số vốn vay các ngân hàng nước ngoài

và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại Nhà nước Thế nhưng hàng năm, khối doanh nghiệp Nhà nước chỉ đóng góp 40% thu nhập trong GDP của cả nước 38

Theo kết quả về hiệu quả sản xuất kinh doanh, trừ những doanh nghiệp nhà nước có lợi thế kinh doanh, được hưởng nhiều chính sách đặc biệt

là có kết quả cao, còn lại nhìn chung là thấp và rất thấp Tính toán chung trong giai đoạn 2001 - 2005, doanh thu của các doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng 9,1%/năm, trong đó năm 2005 chỉ tăng 7,2% so với năm 2004, tức là chỉ cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng một chút 38

Còn khá nhiều doanh nghiệp nhà nước đang kinh doanh kém hiệu quả, phần lớn thuộc các ngành nông nghiệp, giấy, dệt, cà phê, mía đường, thủy sản

Trang 36

v.v Tổng số lỗ năm 2005 của các doanh nghiệp nhà nước là 1.919 tỷ đồng;

số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ chiếm 19,5%, hòa vốn chiếm 8,8% 38

Trong các nguyên nhân thua lỗ, làm cho doanh nghiệp nhà nước yếu kém là: máy móc thiết bị lạc hậu, nếu được đầu tư hiện đại lại không khai thác hết công suất; vốn đầu tư lớn dẫn đến khấu hao, chi phí lãi vay trong giá thành sản phẩm cao; lãng phí trong quá trình sản xuất; chi phí tiền lương tăng; chi phí vay lãi cao v.v

Chính từ thực tế này, đòi hỏi chúng ta cần phải nhanh chóng có biện pháp cải cách, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước một cách có hiệu quả, tạo được niềm tin của xã hội vào doanh nghiệp nhà nước và có đóng góp cho xã hội phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong thời gian qua, chúng ta đã tiến hành chuyển đổi sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước với các hình thức sau:

+ Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước;

+ Giao, bán, khoán, kinh doanh và cho thuê công ty nhà nước;

+ Chuyển công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

+ Giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước

Bản chất của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không làm thay đổi

cơ bản kết cấu sở hữu của nền kinh tế, không xóa bỏ hoàn toàn sở hữu nhà nước trong các cơ sở kinh tế công mà chỉ giảm mức độ sở hữu, tức là chỉ có

sự thay đổi về lượng chứ không có sự thay đổi về chất ở các cơ sở kinh tế này Vì vậy, nền tảng kinh tế của xã hội vẫn có thể không thay đổi lớn khi tiến hành cổ phần hóa Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa sẽ được tăng lên và từ đó có thể làm cho chúng có được khả năng thực hiện tốt vai trò của mình Cổ phần hóa làm phát sinh nhiều công ty

Trang 37

cổ phần có sự tham gia của sở hữu nhà nước Công ty cổ phần là chủ thể tích cực của nền kinh tế thị trường và sự có mặt đông đảo của các công ty sẽ có tác động tới nền kinh tế

Hệ quả của việc cổ phần hóa có thể dẫn tới sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước dưới tư cách là một chủ thể mới, được quản lý đa dạng bởi một số chủ sở hữu mà không làm thay đổi tư cách chủ thể của chúng Vì vậy

ở phạm vi vĩ mô, có những điểm được coi là lợi thế nhất định cổ phần hóa thúc đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế về mặt sở hữu, tạo thêm được nhiều chủ thể của thị trường hoạt động dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường, góp phần làm giảm nhanh chóng vị thế độc quyền của nền kinh tế nhà nước và qua đó tạo ra được tính cạnh tranh hoàn hảo hơn trong nền kinh tế vì nó khắc phục được các yếu tố sau:

Thứ nhất, giải quyết vấn đề mâu thuẫn nội tại giữa tính tất yếu của

một thành phần kinh tế công hiệu quả và có khả năng chi phối với thực trạng kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, cổ phần hóa là giải pháp nhằm giảm bớt sự có mặt của sở

hữu nhà nước trong các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ, vì vậy trên bình diện vĩ mô, doanh nghiệp nhà nước vẫn tồn tại trong những hình thức mới chứ không chuyển hóa gần hết vào thành phần kinh tế tư nhân giống như tư nhân hóa

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện thí điểm từ năm 1990, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chương trình này

là Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và sau này được thực hiện với quy mô rộng hơn Thực ra việc cổ phần hóa được đề cập từ những năm 1987, song trên thực tế lúc đó chưa cho phép triển khai giải pháp này bởi nước ta vào thời điểm ấy vẫn tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần chủ yếu là nền kinh tế nhà nước và kinh tế tập

Trang 38

thể Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường được đại hội Đảng VI năm 1986 khởi xướng đã tạo ra những điều kiện tiền đề để cải cách triệt để hơn đối với doanh nghiệp nhà nước thông qua cổ phần hóa chúng Sở dĩ cổ phần hóa được coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước- đó là vấn đề

sở hữu Cổ phần hóa chấp nhận sự dung hòa của các thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh tế vĩ mô mà trước hết là trong các doanh nghiệp

Việc giao công ty cho tập thể người lao động: là việc chuyển sở hữu

công ty nhà nước và tài sản nhà nước tại công ty thành sở hữu của tập thể người lao động trong công ty có phân định rõ sở hữu của từng người, từng thành viên với các điều kiện ràng buộc Việc giao công ty nhà nước áp dụng đối với các công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty có vốn nhà nước ghi trên sổ kế toán dưới 5 tỷ đồng

Bán công ty hoặc một bộ phận của công ty: là việc chuyển đổi sở hữu

có thu tiền toàn bộ công ty, bộ phận của công ty sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác Việc bán toàn bộ công ty nhà nước áp dụng đối với công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công

ty mà nhà nước không cần nắm giữ vốn và không thể thực hiện cổ phần hóa được, cũng không phụ thuộc vào quy mô vốn nhà nước trên sổ sách kế toán là nhiều hay ít; việc bán đơn vị phụ thuộc của công ty nhà nước áp dụng đối với những đơn vị hạch toán phụ thuộc của tổng công ty nhà nước, bộ phận hạch toán phụ thuộc của công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty; bộ phận hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập Việc bán đơn vị phụ thuộc của công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty hoặc bán đơn

vị phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập chỉ được tiến hành khi đơn vị phụ thuộc không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn và đơn vị phụ thuộc

có đủ điều kiện tách ra thành đơn vị hạch toán độc lập để bán nhưng không

Trang 39

gây khó khăn hoặc không ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty hoặc bộ phận còn lại của các doanh nghiệp này

Khoán công ty: là hình thức quản lý doanh nghiệp mà bên nhận khoán

được giao quyền quản lý doanh nghiệp, có nghĩa vụ thực hiện một số chỉ tiêu, bảo đảm các điều kiện và được hưởng các quyền lợi theo hợp đồng khoán Việc khoán công ty nhà nước áp dụng đối với công ty nhà nước độc lập, công

ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty, không phụ thuộc quy mô vốn nhà nước;

Cho thuê công ty: là việc chuyển giao cho người nhận thuê quyền sử dụng

tài sản và lao động trong công ty theo các điều kiện ghi trong hợp đồng thuê

Vấn đề giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước đã được khởi xướng từ Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ đã được sử đổi bổ sung một số điều tại Nghị định số 49/2002/NĐ-

CP ngày 24/4/2002 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước

Chuyển công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn:

Các doanh nghiệp được đưa vào diện đổi mới và sắp xếp lại theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh, do nhà nước hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quyết định nắm giữ 100% vốn điều lệ không thuộc diện để giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, giải thể, phá sản doanh nghiệp hoặc không nằm trong kế hoạch cổ phần hóa Đây là một nhóm đối tượng doanh nghiệp có những đặc điểm như lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh đặc thù như sản xuất hàng hóa phục vụ quân đội, sản xuất vũ khí, quân trang quân dụng cho quân đội ngoài ra vẫn tham gia sản xuất kinh doanh trong những thời gian có thể; mục đích phục vụ xã hội, hoặc lĩnh vực không có nhiều lợi nhuận

Trang 40

mà tư nhân không muốn đầu tư v.v… Nhà nước phải nắm 100% vốn điều lệ cũng như quyết định về số phận và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước:

Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khi có các chủ nợ có yêu cầu

Còn việc giải thể công ty nhà nước áp dụng trong các trường hợp sau đây: "Hết thời hạn hoạt động ghi trong quyết định thành lập mà công ty không xin gia hạn; Công ty kinh doanh thua lỗ kéo dài nhưng chưa lâm vào tình trạng phá sản; Công ty không thực hiện được các nhiệm vụ do Nhà nước giao sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết; Việc tiếp tục duy trì công ty là không cần thiết" 9, tr 98

Hiện nay, chúng ta đang tiến hành hoàn thiện nốt một số thủ tục để cho giải thể một số doanh nghiệp nhà nước tập trung ở một số ngành, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và công nghiệp nhẹ như: dệt, tơ tằm, mía đường đây

là những doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ thua lỗ kéo dài và là gánh nặng của nền kinh tế trong thời gian qua Đặc điểm của các doanh nghiệp này là tập trung số lượng lao động lớn, trình độ lao động ở mức thấp, đây là một trong những gánh nặng và khó khăn cho việc thực hiện chính sách cho người lao động

Tóm lại, trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã định ra nhiều mô hình, phương thức nhằm đổi mới và cải cách doanh nghiệp một cách hiệu quả, nhanh chóng và đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra Trong các phương pháp trên thì cổ phần hóa là phương án mang lại hiệu quả cao nhất và đạt được các tiêu chí trong việc đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và được nhà nước ta xác định là vấn đề trọng tâm trong việc đổi mới và sắp xếp lại Ngoài ra, việc chuyển các

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w