1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 04

109 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 729,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy còn có sự lạm dụng việc áp dụng các biện pháp này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cá biệt còn có trường hợp áp dụng không đúng quy định

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THANH HÀ

B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI TH¤NG QUA

C¸C BIÖN PH¸P NG¡N CHÆN H¹N CHÕ QUYÒN Tù DO THEO QUY §ÞNH CñA LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THANH HÀ

B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI TH¤NG QUA

C¸C BIÖN PH¸P NG¡N CHÆN H¹N CHÕ QUYÒN Tù DO THEO QUY §ÞNH CñA LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN LUYỆN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Thanh Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7

1.1 Khái niệm, nội dung quyền con người 7

1.1.1 Khái niệm quyền con người 7

1.1.2 Nội dung quyền con người 8

1.2 Khái niệm, nội dung các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của luật tố tụng hình sự 12

1.2.1 Khái niệm các biện pháp ngăn chặn theo quy định của luật tố tụng hình sự 12

1.2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do 17

1.3 Nội dung bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 33

1.4 Chủ thể, biện pháp bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 36

Trang 5

1.4.1 Chủ thể bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn

chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 36

1.4.2 Các biện pháp bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 39

1.5 Tham khảo việc bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do trong luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 47

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 48

2.1 Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 48

2.2 Thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 49

2.2.1 Những ưu điểm 49

2.2.2 Một số hạn chế, bất cập 53

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 72

3.1 Giải pháp về việc hoàn thiện pháp luật 74

3.1.1 Hoàn thiện các quy định của Luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do 74

Trang 6

3.1.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền

của những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn 87

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam 87

3.3 Một số giải pháp khác 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự BPNC: Biện pháp ngăn chặn CQĐT: Cơ quan điều tra

TAND: Tòa án nhân dân

THTT: Tiến hành tố tụng

TTHS: Tố tụng hình sự

VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSQS: Viện kiểm sát quân sự

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.4: Số bị can Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh giam và

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm và coi trọng Vấn đề này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ước Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR),… Nước ta đang trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và cải cách tư pháp, việc bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết số 49-NQ/TW

ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020” đã khẳng định:

Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao, các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm [4]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã đặt ra nhiệm vụ:

“Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [9]…

Hoạt động tố tụng hình sự là một trong những hoạt động của Nhà nước có liên quan chặt chẽ đến quyền con người Hoạt động này là quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nghiệp vụ theo luật định để điều tra, truy tố, xét xử đối

Trang 10

với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS Cùng với việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để giải quyết vụ án thì các cơ quan và người tiến hành tố tụng theo thẩm quyền còn áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người đang bị điều tra, truy tố, xét xử nhằm ngăn chặn việc họ tiếp tục thực hiện tội phạm, bỏ trốn cản trở đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Trên thực tế, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã góp phần làm cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử

có nhiều thuận lợi, đảm bảo về thời gian, ngăn chặn việc các đối tượng bỏ trốn hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại cho xã hội và công dân Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền

tự do (bao gồm các biện pháp: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú) theo quy định của BLTTHS có liên quan chặt chẽ đến quyền con người

và đây cũng là hoạt động mà quyền con người dễ bị xâm hại nhất Qua thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy còn có sự lạm dụng việc áp dụng các biện pháp này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cá biệt còn có trường hợp

áp dụng không đúng quy định (bắt oan người không có tội, bắt người một cách tùy tiện, tạm giữ, tạm giam quá hạn luật định…) đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời gây dư luận xấu trong xã hội, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng Việc xảy ra tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song sự hạn chế, thiếu đồng bộ của pháp luật và trách nhiệm của những người tiến hành

tố tụng trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự

do cũng có tác động đáng kể

Câu hỏi đặt ra là việc bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam được thực hiện như thế nào, những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự

Trang 11

do và cần phải có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đã được nhiều tác giả nghiên cứu như:

- Luận án Tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động

tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Huy Hoàn

- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình

sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Hiền

- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm

giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lại Văn Trình

- Các bài báo của GS.TSKH Lê Văn Cảm “Những vấn đề lý luận về

bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”

- Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa Luật năm 2006

“Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” do GS.TSKH Lê

Văn Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, Ths Trịnh Quốc Toản đồng chủ biên

- Chuyên khảo “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố

tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp

- “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự” của

PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật 23 (2007))…

Các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu bảo vệ quyền con người từ góc độ tư pháp hình sự, phạm vi nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ phân tích quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua BPNC hạn chế quyền tự do cũng như chưa đi sâu nghiên cứu các chế định BPNC hạn chế quyền

Trang 12

tự do theo quy định của BLTTHS liên quan đến việc bảo vệ quyền con người từ

đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS Việt Nam

Trong thực tiễn điều tra, xử lý các vụ án hình sự vẫn còn những vi phạm nhân quyền khi áp dụng các BPNC Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề bảo

vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của BLTTHS từ góc độ lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế cũng như công cuộc cải cách tư pháp ở

nước ta Đây là lý do tôi quyết định chọn đề tài: “Bảo vệ quyền con người

thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về các biện pháp này và thực tiễn áp dụng các biện pháp này để làm rõ những vấn đề còn bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến quyền con người, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn này

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu thì nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là: + Làm rõ vấn đề bảo vệ quyền con người và bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS

+ Phân tích các quy định của luật TTHS về các BPNC hạn chế quyền tự

do, chỉ ra những vấn đề còn hạn chế của các biện pháp này liên quan đến việc bảo vệ quyền con người

Trang 13

+ Xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của pháp luật TTHS Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các BPNC hạn chế quyền tự do được tiến hành trên phạm vi toàn quốc trong thời điểm từ năm

2009 đến năm 2013

- Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS Cụ thể:

- Nghiên cứu các văn bản pháp luật, tài liệu liên quan đến quyền con người và chế định các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS Việt Nam

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của luật TTHS trong thời điểm từ năm 2009 đến năm 2013 liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền con người

- Nghiên cứu kinh nghiệm bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do ở một số quốc gia trên thế giới

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh

về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI và các Nghị quyết

Trang 14

số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ thêm những vấn đề về bảo vệ quyền con người thông qua các BPNC hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự

- Đề tài là một tài liệu tham khảo trong hoạt động lập pháp về TTHS, tài liệu tham khảo trong các trường chuyên ngành Luật và trong hoạt động thực tiễn giải quyết vụ án hình sự

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Lý luận về bảo vệ quyền con người thông qua các biện

pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Chương 2 Thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua các biện

pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Chương 3 Một số giải pháp bảo vệ quyền con người thông qua các

biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình

sự Việt Nam

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, nội dung quyền con người

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đại khác nhau Hiện nay, có nhiều định nghĩa về quyền con người, theo Văn phòng Cao

ủy Liên Hợp Quốc thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát

có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự

bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép hoặc tự do cơ bản của con người” [17, tr.21] Hay quyền con người còn được định nghĩa một

cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người [17, tr.21]

Ở Việt Nam, quyền con người (hay nhân quyền) đã được đề cập từ Bộ luật Hồng Đức (Quốc Triều Hình Luật, 1470 - 1497) và hiện nay cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về quyền con người đưa ra các khái niệm, nhận xét về quyền con

người Về mặt luật học, GS.TS Trần Ngọc Đường đã viết: “Quan niệm quyền con

người vừa khẳng định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc” [12, tr.21] PGS.TS Nguyễn Văn Động đã đưa

ra một số nhận xét chung về quyền con người như sau:

a/ Là những giá trị quý báu được thừa nhận chung bởi toàn thế giới, đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cộng đồng quốc tế; b/

Trang 16

Trực tiếp liên quan đến các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người (từ ăn, ở, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí,…) và góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, tính nhân đạo và nhân văn của con người; c/ Các quyền con người tạo thành hệ thống thống nhất, quan hệ tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, đồng thời vừa là tiền đề, điều kiện của nhau, vừa là hệ quả của nhau [11, tr 52-53]

Hay theo TS Trần Quang Tiệp thì: “Quyền con người là những đặc lợi

vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [33, tr 14]

Với những định nghĩa, nhận xét về quyền con người như trên, cho thấy:

Quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia

và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [20, tr.41]

1.1.2 Nội dung quyền con người

Quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội nên nó vừa mang tính phổ biến lại vừa có tính đặc thù gắn liền với lịch sử, truyền thống

và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước

Trong số các quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được hưởng tự do và độc lập là quyền cơ bản, quan trọng nhất Tại Bản tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước

quốc dân đồng bào và toàn thế giới đã thể hiện: “Nước Việt Nam có quyền

được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng

và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [13, tr.4] Đó cũng chính là

tuyên ngôn nhân quyền của người Việt Nam [1, tr.90] Trong Hiến pháp năm

1946, những quyền con người cơ bản nhất với tính chất là quyền công dân đã

Trang 17

chính thức được ghi nhận tạo thành nội dung chủ yếu của quyền con người như: quyền bình đẳng; quyền tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức và hội họp;

tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở; quyền tư hữu tài sản,… Cùng với sự phát triển của đất nước, nội dung các quyền con người ở nước ta ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn, được ghi nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện trên thực tế Tại Hiến pháp các năm 1959, 1980 và 1992 đều đã thể chế hóa và từng bước mở rộng quyền con người Đặc biệt tại Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định:

1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; 2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng [31]

Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải theo “quy định của luật” Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Theo đó, quyền con người, quyền

cơ bản của công dân ở nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Quyền sống, quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghiên cứu và hưởng thụ các kết quả khoa học, quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ để,

tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, quyền được sống trong môi trường trong lành,… Mọi công dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng, không bị phân biệt

Trang 18

trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; được Nhà nước bảo

hộ, không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định [31, Điều 20, Khoản 1, 2] Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Mọi công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và việc khám xét chỗ ở do luật định; có quyền tự do đi lại, cư trú ở trong nước và có quyền ra nước ngoài, từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật; có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của

cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định pháp luật Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành

án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật

Mọi người có quyền sở hữu tư nhân về thu nhập hợp pháp, nhà ở, tư

Trang 19

liệu sinh hoạt và sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ; Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, các nhân theo giá thị trường Người sử dụng đất hợp pháp được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo luật định Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ

Mọi người có quyền tự do kinh doanh theo quy định Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội, có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc Nghiêm cấm việc phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới tuổi lao động tối thiểu

Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh Công dân có quyền học tập, nghiên cứu khoa học, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó

Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác [31]

Quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và được bảo vệ, bảo đảm thực hiện bởi hệ thống các cơ quan Nhà nước Điều 6 Hiến pháp 2013

quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp,

bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” [31] Quốc hội là cơ quan quyền lực cao

nhất do nhân dân bầu ra, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua việc: xây dựng Hiến pháp và luật, ghi nhận ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thể chế hóa các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,

Trang 20

giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương Quyền con người còn được bảo vệ, bảo đảm thực hiện bởi: hệ thống các cơ quan hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) - đây là các chủ thể có trách nhiệm đưa pháp luật đi vào cuộc sống, làm cho quyền và nghĩa vụ công dân trở thành hiện thực, là cơ quan trực tiếp quản

lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; hệ thống Cơ quan Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân - là các cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Một trong những đảm bảo quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người là ban hành văn bản pháp luật, tuyên truyền giáo dục để mọi người hiểu biết pháp luật, không xâm phạm quyền con người Trường hợp đã vi phạm thì phải kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm quyền con người, pháp luật nước ta đã quy định các biện pháp pháp lý tương ứng như xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, buộc phải bồi thường và cao nhất là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm Như tại BLHS đã quy định một chương riêng xử lý đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm

và danh dự con người, quy định các tội xâm phạm quyền con người

1.2 Khái niệm, nội dung các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền

tự do theo quy định của luật tố tụng hình sự

1.2.1 Khái niệm các biện pháp ngăn chặn theo quy định của luật tố tụng hình sự

BLTTHS là văn bản pháp lý quy định hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện, nhanh chóng và đúng pháp luật

Như vậy, TTHS chính là các trình tự, thủ tục, biện pháp được Nhà nước

Trang 21

quy định để các cơ quan THTT (CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án)

và những người THTT (Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán) có thẩm quyền khởi tố điều tra, đưa một người

ra xử lý trước pháp luật khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS và nó luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Những BPNC là một trong những nhóm của biện pháp cưỡng chế, nó mang tính nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để đảm bảo thi hành án Tuy nhiên khi áp dụng các BPNC sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Vì vậy BLTTHS đã quy định thành một chương riêng về các BPNC

Hiện nay đã có nhiều công trình, tài liệu đưa ra khái niệm về các BPNC, như: Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội thì:

BPNC là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền ở các cơ quan THTT hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng, công dân đối với với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người

có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét

xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảm bảo cho việc thi hành án [7, tr.248 -249]

Còn theo tác giả Nguyễn Trọng Phúc thì quan niệm:

Các BPNC là biện pháp cưỡng chế Nhà nước mang tính phong ngừa do người có quyền hạn được quy định trong BLTTHS

Trang 22

áp dụng đối với người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, khi có căn cứ cụ thể nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [23] Trên cơ sở những quy định của BLTTHS về các BPNC và những khái

niệm nêu trên, theo chúng tôi: BPNC là một trong những biện pháp cưỡng chế

trong TTHS do người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS áp dụng đối với

bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc đối với những người bị nghi là phạm tội khi có một trong các căn cứ theo quy định của BLTTHS nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục thực hiện tội phạm cũng như đảm bảo việc thi hành án

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú, tự do đi lại là một trong các quyền con người được quy định trong Hiến pháp và các quyền này chỉ bị hạn chế theo trình tự, thủ tục do luật định Trong quá trình giải quyết các

vụ án hình sự, để đạt được nhiệm vụ của BLTTHS, trong những trường hợp cần thiết các cơ quan THTT cần phải áp dụng một số BPNC để hạn chế sự tự do đi lại, tự do cư trú đối với những người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

được quy định trong BLHS Vì vậy, các BPNC hạn chế quyền tự do là các

BPNC được quy định trong BLTTHS để hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại và tự do cư trú đối với những người bị áp dụng nhằm đạt được mục đích của việc áp dụng các BPNC

Khái quát các quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành

BPNC là một chế định pháp lý quan trọng của luật TTHS Ngay từ khi Cách mạng tháng 8 thành công và nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Nhà nước đã sớm ban hành các quy định về TTHS trong đó có các BPNC Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, các quy định của pháp luật TTHS cũng được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và pháp luật quốc tế

Trang 23

* Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Trước khi BLTTHS năm 1988 được ban hành, các BPNC trong TTHS được quy định tại các văn bản như:

Điều 11 Hiến pháp năm 1946 quy định: Công dân không bị bắt giam khi chưa có quyết định của Tòa án [24]

Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 của Chính phủ lâm thời đã quy định: ngoài trường hợp phạm pháp quả tang về khinh tội hay trọng tội, việc bắt người bao giờ cũng phải có lệnh bằng văn bản của Thẩm phán viên; việc giam cứu, gia hạn giam cứu người phạm tội do cơ quan tư pháp (Tòa án) quyết định; quy định về thời hạn giam cứu và thời hạn gia hạn giam cứu,…

Tại Luật số 103-SL/005 ngày 20/5/1957 của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân Cùng với việc quy định nguyên tắc chung trong việc bắt người, tạm giữ, tạm giam Khám xét… Luật này còn quy định trình tự thủ tục để tiến hành các hoạt động trên Đặc biệt Luật quy định: Việc bắt người phạm pháp đến pháp luật Nhà nước trừ trường hợp phạm pháp quả tang và khẩn cấp phải có lệnh viết của cơ quan tư pháp (Tòa án) từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên nếu là thường dân phạm pháp hoặc của Tòa án binh nếu là quân nhân phạm pháp hay thường dân phạm pháp có liên quan đến quân đội nhân dân (Điều 3) Việc tạm giam phải do cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc tòa án binh quyết định với thời hạn cụ thể (Điều 6, 7); quy định việc tạm tha trong trường hợp không cần thiết hoặc đối với các đối tượng đặc biệt là người già yếu, có bệnh nặng hoặc phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú (Điều 8)…

* Quy định của BLTTHS năm 1988 về các BPNC

Ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 BLTTHS năm 1988 đã quy định cụ thể

Trang 24

về mục đích, căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng và thủ tục áp dụng đối với các BPNC, như: bắt người (từ Điều 62 đến Điều 65), tạm giữ (Điều 68 - 69), tạm giam (Điều 70)… đồng thời cũng quy định việc hủy bỏ hoặc thay thế các BPNC (Điều 77) Cụ thể:

+ Biện pháp bắt người: Trong BLTTHS năm 1988, các trường hợp bắt bao gồm: bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, đồng thời cũng đã quy định tương đối cụ thể các vấn đề về thẩm quyền, đối tượng, thủ tục áp dụng trong từng trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo việc bắt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

+ Biện pháp tạm giữ: Trong BLTTHS năm 1988, chế định về tạm giữ được quy định tại các Điều: 68, 69, 72, 73 Ngoài ra, việc tạm giữ đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 273 Bộ luật đã quy định đối tượng bị tạm giữ, thẩm quyền tạm giữ, thời hạn tạm giữ và gia hạn tạm giữ, những trường hợp có thể tạm giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, kiểm sát việc tạm giữ,…

- Biện pháp tạm giam: Chế định về tạm giam được quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của BLTTHS năm 1988 trong đó quy định khá cụ thể về các trường hợp áp dụng, thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng, thời hạn tạm giam, chế độ tạm giam, việc phê chuẩn lệnh tạm giam, việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam,…

So với các văn bản pháp luật TTHS trước đây thì BLTTHS năm 1988

đã có bước tiến lớn trong vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân được thể hiện thông qua các chế định của Bộ luật này, nó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ những thành tựu cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới, đấu tranh phòng và chống tội phạm

Trang 25

1.2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do

Trước những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

và những đòi hỏi của việc bảo vệ quyền con người trong xã hội nói chung và trong TTHS nói riêng, BLTTHS năm 2003 đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 trên cơ sở kế thừa những thành tựu của BLTTHS năm 1988

Các BPNC được quy định tại Chương VI và các Điều 120, 121, 166,

177, 228, 243, 250, 287 và 303 của Bộ luật này trong đó các BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú là các BPNC hạn chế quyền tự do đi lại

và tự do cư trú cùng một số quyền khác của người bị áp dụng

Khi áp dụng các biện pháp này là trực tiếp ảnh hưởng đến quyền tự do của con người được ghi nhận trong Hiến pháp, vì vậy BLTTHS năm 2003 đã quy định chặt chẽ mục đích, căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng đối với các biện pháp này nhằm tránh việc lợi dụng của các cơ quan THTT và người THTT khi áp dụng các biện pháp này xâm phạm đến quyền con người Việc quy định các BPNC trong TTHS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho hoạt động này đạt hiệu quả cao, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan THTT được thuận lợi, đồng thời bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định

- Mục đích áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Theo quy định tại Điều 79 BLTTHS năm 2003 thì áp dụng các BPNC với hai mục đích: ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đồng thời để tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan THTT giải quyết vụ án như không để người phạm tội

có thể xóa bỏ dấu vết tội phạm, tiêu hủy chứng cứ, thông cung giữa những

Trang 26

người phạm tội hoặc với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan THTT [6, tr.71]

- Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Để đảm bảo đạt được mục đích đặt ra của các BPNC, đồng thời bảo vệ các quyền con người không bị xâm hại, tránh việc áp dụng các BPNC tràn lan

và không có căn cứ, xâm phạm đến quyền con người, BLTTHS năm 2003 đã quy định căn cứ để áp dụng các BPNC, đó là khi có một trong các căn cứ sau:

+ Để kịp thời ngăn chặn tội phạm;

+ Khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử;

+ Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội;

+ Để bảo đảm thi hành án

Các căn cứ này phải được thể hiện bằng các tài liệu do các cơ quan THTT thu thập theo đúng trình tự luật định đồng thời phải được xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện

1.2.2.1 Biện pháp bắt người

Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị tình nghi thực hiện tội phạm hoặc người phạm tội quả tang hoặc đang có lệnh truy nã nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự [7, tr.258]

Nhằm mục đích tăng cường pháp chế XHCN, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân, BLTTHS năm 2003 quy định các trường hợp bắt gồm: bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy

nã và bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80 BLTTHS)

Là bắt người có quyết định khởi tố với tư cách bị can hoặc người đã có

Trang 27

quyết định của Tòa án đưa ra xét xử để tạm giam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án hình sự [7, tr.259]

- Thẩm quyền áp dụng

Việc bắt bị can, bị cáo để tam giam là trực tiếp ảnh hưởng đến quyền tự

do và một số quyền khác của con người, vì vậy BLTTHS đã quy định chỉ những người sau đây mới có quyền áp dụng biện pháp này, đó là:

+ Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp + Chánh án, Phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp + Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó chánh tòa Tòa án phúc thẩm TAND tối cao, Hội đồng xét xử

+ Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp, trong trường hợp này phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành lệnh bắt [30, Điều 80, Khoản 1]

- Thủ tục bắt

Theo quy định tại khoản 2 Điều 80 BLTTHS năm 2003 thì việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh của người có thẩm quyền và lệnh này phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt Lệnh phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu Người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt, người bị bắt có quyền yêu cầu được xem lệnh bắt Khi tiến hành bắt phải lập biên bản bắt người trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm bắt, nơi lập biên bản, những diễn biến trong quá trình bắt Biên bản phải được đọc công khai cho người bị bắt và các thành phần có mặt nghe Người bị bắt và các thành phần tham gia phải ký vào biên bản Khi tiến hành bắt nếu bị can, bị cáo bị bắt tại nơi cư trú thì phải có đại diện chính quyền xã phường thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến; nếu bắt bị can, bị cáo tại nơi làm việc thì phải có đại diện của cơ quan, tổ chức mà bị can, bị cáo là thành viên chứng kiến; nếu bị can, bị cáo bị bắt tại nơi khác thì phải có sự chứng kiến của đại

Trang 28

diện chính quyền địa phương nơi tiến hành bắt người Không được tiến hành bắt vào ban đêm Ban đêm được tính từ 22 giờ hôm trước đến 6 giờ hôm sau Việc quy định phải có người chứng kiến như trên có ý nghĩa đảm bảo tính công khai, dân chủ trong hoạt động bắt người

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81 BLTTHS)

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là BPNC mang tính cấp bách, khi xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ [7, tr.262]

Điều 81 BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể các trường hợp bắt khẩn cấp như sau:

+ Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

+ Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn

+ Khi có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ

Trong mọi trường hợp, chỉ được tiến hành bắt khẩn cấp khi có đầy đủ các điều kiện thuộc một trong ba trường hợp đã được nêu trên

Trước đây, tại Sắc lệnh số 002-SL ngày 18/6/1957 và Sắc luật 02/SL ngày 15/3/1976 quy định có 6 trường hợp được tiến hành bắt khẩn cấp Xong việc quy định đó rất chung chung dễ dẫn đến sự vi phạm quyền con người, như việc Sắc lệnh số 002 quy định trường hợp được phép bắt khẩn cấp là “có hành động chuẩn bị làm việc phạm pháp” (khoản 1 Điều 2) hay tại Sắc luật số

02 quy định: “có hành động chuẩn bị phạm tội” (khoản 1 Điều 3) Việc quy

Trang 29

định này sẽ dẫn đến việc bắt khẩn cấp tràn lan, tùy tiện, bắt những đối tượng không cần thiết (như đối tượng chuẩn bị phạm pháp hành chính hay đối tượng chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng,…)

- Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Việc bắt người trong trường hợp này phải có lệnh của người

có thẩm quyền, người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh và việc bắt phải được lập biên bản Khi tiến hành bắt người phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng chứng kiến Việc bắt người trong trường hợp này được tiến hành vào bất kỳ thời gian nào Sau khi đã bắt người, người ra lệnh bắt cần phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo các tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn Thời hạn xét phê chuẩn của Viện kiểm sát là 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi quyết định việc phê chuẩn hay không phê chuẩn Trong trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp thì CQĐT phải trả tự do ngay cho người bị bắt [30, Điều 81, Khoản 4]

Trang 30

Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82 BLTTHS)

* Bắt người phạm tội quả tang: là trường hợp bắt người khi người đó

đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hay đuổi bắt [7, tr.266]

Theo quy định tại khoản 1 Điều 82 BLTTHS năm 2003 thì bắt người phạm tội quả tang trong các trường hợp sau:

+ Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện Đây là trường hợp người đó đang thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa kết thúc việc phạm tội thì bị bắt

+ Người vừa thực hiện xong tội phạm thì bị phát hiện Đây là trường hợp người thực hiện tội phạm vừa thực hiện xong nhưng chưa kịp chạy trốn hoặc đang xóa dấu vết tội phạm, đang giấu công cụ phương tiện phạm tội thì

Trước khi BLTTHS được ban hành thì những trường hợp bị coi là phạm pháp quả tang được quy định tại Sắc luật 002-SLt ngày 18/6/1957

Theo đó thì “những trường hợp phạm pháp quả tang bao gồm: đang làm việc

phạm pháp hoặc sau khi phạm pháp thì bị phát giác ngay; đang bị đuổi bắt sau khi phạm pháp; đang bị tạm giữ mà lẩn trốn; đang có lệnh truy nã” [8]

Như vậy, theo quy định này thì việc bắt người đang có lệnh truy nã là một trường hợp bắt người phạm tội quả tang Tuy nhiên, việc quy định như vậy là không phù hợp bởi người đang bị truy nã chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo, hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trước đó, đã bị phát hiện và đang

Trang 31

trong quá trình giải quyết nên BLTTHS năm 2003 đã không quy định việc bắt người đang bị truy nã là trường hợp bắt người phạm tội quả tang

* Bắt người đang bị truy nã: là trường hợp bắt người đã thực hiện hành

vi phạm tội đang trốn tránh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và đã có quyết định truy nã của CQĐT được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Đối tượng bắt trong trường hợp này phải là bị can, bị cáo

- Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

Để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội và sự trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của công dân đồng thời phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, BLTTHS năm 2003 quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và việc bắt trong trường hợp này không cần phải có lệnh bắt [30, Điều 82, Khoản 1]

- Thủ tục bắt người phạm tội quả tang hoặc đang có quyết định truy nã

Mọi công dân đều có quyền bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang có quyết định truy nã và có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt Sau khi bắt phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền [30, Điều 82]

1.2.2.2 Biện pháp tạm giữ (Điều 86 BLTTHS)

- Tạm giữ là BPNC trong TTHS do cơ quan THTT có thẩm quyền quyết định tước tự do thân thể trong thời hạn nhất định đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo Lệnh truy nã nhằm đảm bảo cho CQĐT có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để có cơ sở quyết định khởi tố

bị can, tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt [7, tr.272]

Như vậy, tạm giữ là BPNC nhằm hạn chế tự do trong một thời hạn

Trang 32

nhất định đối với người bị bắt trong các trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, đang bị truy nã, tự thú hay đầu thú để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra của người phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho CQĐT có đủ thời gian để thu thập tài liệu chứng cứ, bước đầu xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của người phạm tội hoặc người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để có cơ sở quyết định việc khởi tố bị can, tạm giam, áp dụng các BPNC khác hoặc trả tự do cho người bị bắt Đối tượng bị tạm giữ là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người đang bị truy nã Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 Điều 86 BLTTHS năm

2003 thì không phải mọi trường hợp bắt như trên đều phải tạm giữ mà tùy từng trường hợp cụ thể để áp dụng

- Thẩm quyền ra quyết định tạm giữ

Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLTTHS năm 2003 thì những người có quyền ra quyết định tạm giữ gồm: những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của BLTTHS năm 2003 và Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển

Trang 33

tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Thời hạn tạm giữ là không quá 3 ngày kể từ khi CQĐT nhận người bị bắt Trong trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày và trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tạm giữ lần hai nhưng không quá 3 ngày và mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn [30, Điều 86, Khoản 3]

1.2.2.3 Biện pháp tạm giam (Điều 88 BLTTHS)

Tạm giam là BPNC trong TTHS do cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt trên hai năm và có những căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [7, tr.276]

Tạm giam là BPNC nghiêm khắc nhất trong các BPNC của TTHS nhằm tước tự do và một số quyền công dân khác (như quyền bầu cử, ứng cử…) của bị can, bị cáo trong một thời gian nhất định để đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử không bị cản trở hoặc ngăn chặn họ không thể tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

* Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2003 thì tạm giam được áp dụng đối với:

+ Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng: đây là trường hợp bị can, bị cáo phạm tội mà theo quy định của BLHS thì mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt áp dụng đối với tội ấy

là đến mười lăm năm tù hoặc phạm tội mà mức cao nhất của khung hình phạt

là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có

Trang 34

thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Nếu bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà phải áp dụng BPNC khác trừ những trường hợp sau: bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng lại tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại cho an ninh quốc gia

* Thẩm quyền ra lệnh tạm giam

Theo quy định tại BLTTHS năm 2003 thì những người có quyền ra lệnh tạm giam gồm:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp,

- Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp,

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm TAND tối cao,

- Hội đồng xét xử,

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp Trong trường hợp này, lệnh tạm giam phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành [30, Điều 88, Khoản 3]

* Thủ tục tạm giam

Việc tạm giam phải có lệnh bằng văn bản của người có thẩm quyền trong đó ghi rõ lý do, thời hạn tạm giam, lệnh này phải giao cho người bị tạm giam một bản Sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan đã ra lệnh phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc biết

* Về thời hạn tạm giam

Trang 35

Thời hạn tạm giam được quy định cho từng giai đoạn tố tụng, theo đó:

- Thời hạn tạm giam để điều tra (Điều 120 BLTTHS): không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trường hợp vụ án phức tạp cần kéo dài thời hạn tạm giam để phục vụ cho việc điều tra thì có thể gia hạn tạm giam thời hạn gia hạn tạm giam là:

+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng

+ Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá 2 tháng và lần thứ hai không quá một tháng

+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: có thể được tạm giam không quá hai lần, lần thứ nhất không quá 3 tháng, lần thứ hai không quá 2 tháng

+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: có thể được gia hạn tạm giam ba lần và mỗi lần không quá 4 tháng

Khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung hoặc điều tra lại, trong trường hợp có căn cứ theo quy định của BLTTHS cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra không được quá thời hạn phục hồi điều tra quy định tại khoản 1 Điều 121 BLTTHS Như vậy, thời hạn tạm giam bị can để phục hồi điều tra là: không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng; không quá hai tháng đối với tội nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng, có thể được gia hạn một lần nhưng không quá hai tháng; không quá ba tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng và có thể được gia hạn một lần nhưng không qua ba tháng

Thời hạn tạm giam để điều tra bổ sung cũng được quy định tại khoản 4 Điều 121 BLTTHS, theo đó: Nếu hồ sơ do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn tạm giam bị can để điều tra bổ sung là không quá hai tháng Nếu hồ sơ do Tòa án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn tạm giam bị can

Trang 36

để điều tra bổ sung là không quá một tháng Viện kiểm sát và Tòa án chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần [30]

- Thời hạn tạm giam để truy tố (Điều 166 BLTTHS): Sau khi nhận hồ

sơ vụ án, trong trường hợp cần tiếp tục tạm giam bị can để hoàn thành việc truy tố thì thời hạn tạm giam là: không quá 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng

và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [30]

- Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 177 BLTTHS): Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu cần thiết phải áp dụng BPNC tạm giam đối với bị can thì thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá: 45 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá hai tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; không quá hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và không quá ba tháng mười lăm ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa nhận được hồ sơ vụ án đến ngày mở phiên tòa xét xử vụ án

Đối với các vụ án phức tạp (vụ án có nhiều bị can, phạm tội có tổ chức hoặc phạm nhiều tội; vụ án liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc nhiều địa phương; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau, cần có thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc để tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn) thì cần gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn tối đa để chuẩn bị xét xử trong các trường hợp này được tính như sau: Hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; Hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng; Ba tháng mười lăm ngày đối với tội

Trang 37

phạm rất nghiêm trọng và Bốn tháng mười lăm ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [30]

- Thời hạn tạm giam sau khi tuyên án (Điều 228 BLTTHS năm 2003): điều luật đã quy định cụ thể cho HĐXX trong việc áp dụng biện pháp bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án, đó là trường hợp: bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù nhưng đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì HĐXX ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án nhưng phải thuộc trường hợp thời hạn tù dài hơn thời hạn đã bị tạm giam; đối với trường hợp bị cáo không bị tạm giam mà bị xử phạt tù thì HĐXX có thể quyết định bắt tạm giam ngay nếu có căn cứ cho rằng bị cáo trốn hoặc tiếp tục phạm tội Thời hạn tạm giam sau khi tuyên án là 45 ngày [30]

- Tạm giam để xét xử phúc thẩm: thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm là không quá: sáu mươi ngày đối với vụ án do TAND cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu thụ lí để xét xử phúc thẩm và chín mươi ngày đối với

vụ án do Toà án quân sự Trung ương, Toà phúc thẩm TAND Tối cao thụ lí để xét xử phúc thẩm [30, Điều 243]

Đối với trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu cần thiết tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa

- Thời hạn tạm giam sau khi tuyên án phúc thẩm: được quy định như sau:

Đối với trường hợp bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì HĐXX ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án trừ trường hợp:

bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo và thời hạn tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn bị cáo đã bị tạm giam

Đối với trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì HĐXX có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau

Trang 38

khi tuyên án trừ trường hợp bị cáo: bị bệnh nặng; là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, không bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và là lao động duy nhất trong gia đình nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt; bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ

Thời hạn tạm giam là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày tuyên

án [30, Điều 243, Khoản 3]

Trong trường hợp hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét

xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết thì Hội đồng xét xử phúc thẩm

ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát

hoặc Toà án cấp sơ thẩm thụ lí lại vụ án [30, Điều 250, Khoản 5]

Ngoài các thời hạn nêu trên, BLTTHS còn đề cập đến thời hạn tạm giam đối với bị cáo đang bị tạm giam mà Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ án

để điều tra hoặc xét xử lại, theo đó: “Trong trường hợp huỷ bản án hoặc quyết

định bị kháng nghị để điều tra hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lí lại vụ án” [30, Điều 287]

1.2.2.4 Biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91 BLTTHS)

Cấm đi khỏi nơi cư trú là BPNC của TTHS áp dụng đối với bị can bị cáo, buộc họ không được đi khỏi nơi cư trú và phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan THTT [7, tr.283]

- Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng biện pháp này là bị can, bị cáo Điều luật không quy định cụ thể những bị can, bị cáo nào được áp dụng biện pháp này, tuy nhiên thực tiễn thì thường áp dụng đối với các bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm

Trang 39

trọng, lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn và có đủ cơ

sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn, gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội [7, tr.284]

Khi bị áp dụng biện pháp này, bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú và có mặt khi các cơ quan THTT triệu tập Trong thời gian bị áp dụng biện pháp này, bị can, bị cáo phải chịu sự quản lý, giám sát về việc đi lại của chính quyền xã, phường hoặc thị trấn nơi mình cư trú Trong trường hợp có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì bị can, bị cáo phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường hoặc thị trấn nơi

cư trú và phải được phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp này

Nếu bị can, bị cáo vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ bị áp dụng BPNC khác

- Thẩm quyền và thủ tục áp dụng

CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền quyết định việc áp dụng biện pháp này trong giai đoạn tố tụng của mình Những người có thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú gồm:

+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp; + Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp; + Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa;

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp [30, Điều 91, Khoản 2]

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải ghi rõ ngày tháng năm, họ tên, chức

vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú và nơi họ được phép cư trú Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú biết và phải làm

Trang 40

thủ tục bàn giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88, 120 của BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

+ Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam [30]

1.2.2.6 Việc hủy bỏ hoặc thay thế BPNC (Điều 94 BLTTHS)

Áp dụng các BPNC trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là cần thiết nhằm đạt được mục đích của TTHS Tuy nhiên, việc áp dụng các BPNC cũng cần phải đảm bảo theo đúng căn cứ và trong quá trình giải quyết

vụ án, khi những căn cứ để áp dụng các BPNC không còn hoặc việc áp dụng các biện pháp đó là không còn cần thiết thì cần phải thay thế hoặc hủy bỏ BPNC đối với người bị áp dụng BPNC BLTTHS năm 2003 đã quy định về vấn đề này như sau:

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w