1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5 : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 10

104 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tìm hiểu sâu về các kỹ năng luyện viết một bài văn miêu tả giàu hình ảnh, có sự sáng tạo, biểu cảm cao với các quy trình và biện pháp tổ chức dạy học cụ thể giúp cho giáo vi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ XUYÊN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG

SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA TRONG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ BAN

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Ban đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn các Thầy cô trong tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy học môn Ngữ Văn, phòng Đào tạo, trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tại trường

Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2013

Lê Thị Xuyên

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Thống kê tiết học văn miêu tả trong SGK Tiếng Việt 5………….26 Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm tại trường Tiểu học Trung Văn, Hà Nội … 86

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Phân loại bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa 41

Sơ đồ 2.2 Hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhận diện và phân tích giá trị của biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả……… 42

Sơ đồ 2.3 Hệ thống bài tập rèn kỹ năng tạo lập tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả……… 54

Sơ đồ 2.4 Hệ thống bài tập rèn kỹ năng chữa lỗi tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả……… 66

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các bảng ii

Danh mục các sơ đồ iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Văn miêu tả và biện pháp tu từ nhân hóa trong văn miêu tả 12

1.1.2 Đặc điểm nhận thức và việc hình thành kỹ năng của học sinh lớp 5 23

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Phân tích phần văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt 5 26

1.2.2 Thực tế rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả của học sinh lớp 5 31

Chương 2: ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA 37

2.1 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 37

2.1.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học Tập làm văn: rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản 37 2.1.2 Đảm bảo tính hệ thống, đa dạng, hấp dẫn 37

2.1.3 Đảm bảo tính vừa sức, tạo sức cho học sinh 38

2.1.4 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh lớp 5 38

2.2 Mô tả hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5 39

2.2.1 Bài tập rèn kỹ năng nhận diện và phân tích các biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả 42

2.2.2 Bài tập rèn kỹ năng tạo lập tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả 54

2.2.3 Bài tập rèn kỹ năng chữa lỗi tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả 66

Trang 6

2.3 Sử dụng hệ thống bài tập để rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân

hóa cho học sinh lớp 5 73

2.3.1 Quy trình tổ chức thực hành bài tập 73

2.3.2 Một số hình thức tổ chức thực hành bài tập 74

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79

3.1 Mục đích thực nghiệm 79

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 80

3.3 Nội dung thực nghiệm 80

3.3.1 Nội dung dạy học thực nghiệm 82

3.3.2 Phiếu bài tập thực hành ở nhà 85

3.4 Kết quả thực nghiệm 86

3.5 Nhận xét, đánh giá từ kết quả thực nghiệm 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 7

1.2 Xuất phát từ vị trí, vai trò của văn miêu tả và biện pháp tu từ nhân hóa

ở tiểu học

Nội dung dạy học Tập làm văn trong chương trình tiểu học tập trung vào một số thể loại như văn kể chuyện, văn miêu tả, viết thư, Trong đó, thể loại văn miêu tả chiếm thời lượng nhiều nhất, xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 5

Trang 8

Bắt đầu từ lớp 2, học sinh được làm quen một số kỹ năng đơn giản như: quan sát tranh trả lời câu hỏi, tả ngắn về cây cối, con vật, con người, quang cảnh, nói và viết về cảnh đẹp của đất nước,… Đến lớp 4, học sinh được rèn luyện

kỹ năng viết hoàn chỉnh bài văn miêu tả ở một số kiểu bài như: tả đồ vật, cây cối, con vật Lên lớp 5, văn miêu tả là thể loại chính trong chương trình, với

mục đích giúp học sinh tiếp tục hoàn thiện và nâng cao kỹ năng viết bài văn

miêu tả hoàn chỉnh ở lớp 4, nhưng ở 2 kiểu bài mới là văn tả cảnh, tả người

Như vậy, việc tìm hiểu việc viết văn miêu tả của học sinh ở cấp tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng, chính là tìm hiểu kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng việt mà các em tiếp nhận và rèn luyện trong suốt 5 năm học

Văn miêu tả với đặc trưng là thể văn có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, giúp hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng đánh giá, nhận xét Qua văn miêu tả giúp ta có thể cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế, sâu sắc hơn, làm cho tâm hồn, trí tuệ của chúng ta thêm phong phú Để văn miêu tả truyền đạt trọn vẹn ý nghĩa đó, một trong những cách thức hỗ trợ hữu hiệu, đó là sự có mặt của các biện pháp tu từ, thông qua những cách phối hợp sử dụng khéo léo các đơn vị từ vựng (trong phạm vi một câu hay một chỉnh thể trên câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu

từ, do mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh rộng Việc dạy học các biện pháp tu từ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi nó giúp người học biết cách sử dụng ngôn từ hiệu quả, ngôn từ ở đây không chỉ đảm bảo tính thông báo, thông tin mà còn mang tính thẩm mĩ và biểu đạt tình cảm Một trong những biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất trong văn miêu tả

đó là nhân hóa, khi học sinh có kĩ năng sử dụng biện pháp này các em sẽ nhận thấy cái hay, cái đẹp chứa đựng trong từng cách nhân hóa một sự vật Từ

đó, các em sẽ biết sử dụng sao cho đúng, hay để bài văn miêu tả gợi hình, gợi cảm

và sinh động hơn

Trang 9

1.3 Xuất phát từ những bất cập trong dạy học văn miêu tả, đặc biệt là việc hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp tu từ

Thực tế hiệu quả dạy học văn miêu tả ở tiểu học trong nhiều năm nay vẫn chưa cao Điều này thể hiện ở nhiều phương diện, trong đó cách hành văn thiếu sự sáng tạo và tính biểu cảm trong bài văn của các em cũng là một vấn đề đáng quan tâm Trước hết ở tính sáng tạo, học sinh mặc dù đã biết kết hợp sử dụng các biện pháp tu từ nhằm tạo nên sự sinh động, hấp dẫn cho bài văn nhưng hiệu quả rất thấp, có những bài văn sử dụng khá thành công các biện pháp tu từ nhưng hầu như cũng chỉ là sự bắt chước trong các bài văn mẫu có sẵn chứ không hoàn toàn là sự liên tưởng, cảm nhận của chính các

em Thậm chí nhiều khi chúng ta còn bắt gặp những cách miêu tả sai về mặt nghĩa Từ việc không biết cách sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ vào bài viết nên cảm xúc trong các bài văn thường hời hợt, thiếu độ chân thành Với chất lượng của việc học văn ở cấp học dưới như thế, phần nào khiến cho học sinh chưa thực sự cảm thấy yêu thích, cảm hứng với môn Ngữ văn khi lên học ở các cấp học cao hơn Vì vậy, trên cơ sở tác dụng quan trọng của các biện pháp tu từ, việc giúp các em viết được những bài văn hay là rất cần thiết

Dạy học sinh lớp 5 viết được một bài văn miêu tả có sự sáng tạo và biểu cảm cao, cho đến nay vẫn còn là một thách thức lớn đối với giáo viên tiểu học Nội dung kiến thức trong sách giáo khoa về cơ bản là hoàn toàn phù hợp và đáp ứng khả năng tiếp nhận của học sinh, mang đến hiệu quả nhất định để viết được một bài văn đạt yêu cầu trở lên Tuy nhiên, vấn đề về phương pháp, cách tổ chức để giúp cho tất cả các học sinh trong lớp có khả năng viết được bài văn miêu tả hay và ý nghĩa không phải công việc dễ dàng

Có thể kể ra một số nguyên nhân cơ bản như tập làm văn là một nội dung khó, đòi hỏi khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh phải tốt, có sự tinh tế, nhạy cảm khi quan sát các đối tượng miêu tả Mặt khác các tư liệu về phương pháp dạy học một kiểu bài cụ thể nhằm nâng cao, bồi dưỡng cho học sinh xây dựng một bài văn miêu tả hay cho từng lớp học còn rất ít, chưa được tập

Trang 10

trung Vì vậy, việc tìm hiểu sâu về các kỹ năng luyện viết một bài văn miêu

tả giàu hình ảnh, có sự sáng tạo, biểu cảm cao với các quy trình và biện pháp

tổ chức dạy học cụ thể giúp cho giáo viên có thể vận dụng vào dạy học trong các kiểu bài cụ thể, nhằm cải thiện chất lượng viết văn miêu tả của học sinh

là vấn đề hết sức ý nghĩa, được nhiều người quan tâm, đặc biệt là vấn đề sử dụng các biện pháp tu từ

Với vai trò quan trọng như vậy, việc dạy và học văn miêu tả ở chương trình tiểu học nói chung, lớp 5 nói riêng cần quan tâm chú trọng đến các biện pháp rèn luyện phù hợp với đặc trưng của thể loại để giúp học sinh có thể làm được bài văn miêu tả biểu cảm, giàu tính nghệ thuật Một trong những biện pháp gần gũi nhất với đặc trưng thể loại, góp phần làm tăng tính biểu cảm của bài văn miêu tả đó là cách sử dụng hiệu quả các phương tiện và biện pháp tu

từ, trong đó có biện pháp tu từ nhân hóa Đã có nhiều bài viết, công trình đề cập đến vấn đề về kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ trong văn miêu tả, tuy nhiên việc rèn luyện biện pháp này được thực hiện ở một khối lớp gắn với các dạng bài cụ thể thì chưa có Đặc biệt, việc rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

gắn với dạng bài cụ thể: tả cảnh vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ Với mong muốn

thực sự cải thiện tình hình dạy học Tập làm văn của học sinh lớp 5 đặc biệt là

trong dạy học phần văn miêu tả, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5” Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ phần nào hỗ

trợ hữu ích việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả, tạo một tiếng nói tích cực cho việc đổi mới phương pháp dạy học

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp

tu từ nhân hóa cho học sinh khối lớp 5 trong dạy học văn miêu tả hiện nay vẫn chưa có đề tài chuyên biệt nào Song dưới góc độ tìm hiểu về văn miêu tả

Trang 11

ở tiểu học, vận dụng các phương tiện, biện pháp tu từ vào dạy học văn miêu

tả là vấn đề đã được quan tâm từ rất lâu Trên cơ sở đó, có thể khái lược lịch

sử nghiên cứu các vấn đề liên quan trên đây dưới hai góc độ: 1) Về văn miêu tả; 2) Văn miêu tả trong nhà trường và việc rèn luyện kỹ năng viết văn miêu

tả cho học sinh tiểu học dưới góc độ sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

2.1 Những nghiên cứu về văn miêu tả

Văn miêu tả là một thể loại được các nhà nghiên cứu quan tâm chú

trọng từ cách đây gần một thế kỷ, năm 1918 trong cuốn “Việt Hán văn khảo”,

cách hiểu của Phan Kế Bính cũng khá gần với cách hiểu trong quan niệm hiện đại “Cảnh tượng của tạo hóa hiện ra trước mắt ta, chạm đến tai ta, nghìn hình muôn trạng, làm cho ta phải nhìn phải ngắm, phải nghĩ ngợi ngẩn ngơ

Ta cứ theo cái cảnh tượng ấy mà tả ra thì ta gọi là văn chương tả cảnh” [3]

Năm 1935, cuốn sách đầu tiên viết về chương trình giáo dục môn Văn

nước ta “Quốc văn giáo khoa thư” của tập thể các tác giả Trần Trọng Kim,

Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận biên soạn, trong cách chọn lọc nội dung đề tài đưa vào các đoạn văn, bài văn miêu tả, đã cho thấy các đề tài gần gũi với đời sống người Việt, như về con vật, đồ vật, người thân, cảnh vật…[12] Những nội dung đề tài này rất gần với các kiểu bài văn miêu tả được dạy trong chương trình hiện nay

Năm 1960, bằng những kinh nghiệm viết văn trong cuộc đời cầm bút của mình, nhà văn Tô Hoài đã mang đến bạn đọc, đặc biệt là các em học sinh những

cuốn sách giúp ích rất nhiều cho việc viết văn miêu tả, như: “Một số kinh nghiệm viết văn của tôi” (1960), “Sổ tay viết văn” (1967), về sau này, năm 1997 nội dung của hai cuốn sách này đã được biên soạn lại trong cuốn “Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả”, đây là cuốn sách được đông đảo bạn đọc biết đến hiện

nay Trong đó tác giả chỉ rõ các bước để viết được bài văn miêu tả hay, bắt đầu

từ việc quan sát, ghi chép, tích tũy vốn sống, vốn ngôn ngữ, vận dụng vào viết bài văn [8]

Trang 12

Đến năm 1995, tập thể các nhà văn như Vũ Tú Nam, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng, Phạm Hổ cũng dành cho bạn đọc những trang viết bổ ích về kinh nghiệm viết một bài văn miêu tả, văn kể chuyện hay trong cuốn

“Văn miêu tả và kể chuyện” Mặc dù những ý kiến của các nhà văn trong

cuốn sách này chỉ mới là những phát biểu lẻ tẻ đó đây, chưa phải là kết luận khoa học, nhưng hết sức có giá trị trong việc luyện viết văn miêu tả vì được chắt lọc từ những kinh nghiệm, tri thức, những khả năng mà họ tích lũy được

từ trong cuộc sống và cuộc đời sáng tác của mình Họ đã chỉ ra: Về cách thức miêu tả, “Người viết phải nhìn bằng con mắt bên trong mới thấy rõ được đối

tượng Mình có thấy rõ mới làm được người đọc thấy rõ Mình có thấy rõ mới làm lẩy ra được những cái chủ yếu để làm nổi bật trong mấy nét bút gọn và sắc không tỉa tót, tỉ mỉ rườm rà Đôi ba nét phác gây được ấn tượng có thể thay được đoạn văn tả dài Vậy phải chọn chữ và biết dùng khéo hình dung từ, biết cách làm văn sao cho khớp với nhịp điệu của ý nghĩ, tình cảm, cử chỉ, hành động” (nhà văn Bùi Hiển), “Quan sát bằng tấm lòng trước khi tôi viết tôi không có ý thức gì cả! Điều tôi viết là điều tôi thuộc lòng, là điều đã chín trong tâm tôi Tôi ghi nhận bằng cái tình của tôi” (nhà văn Nguyễn Quang Sáng),

“Sự quan sát trực tiếp, cảm nhận trực tiếp và cụ thể mới giúp cho mình miêu tả

đúng và cụ thể tạo điều kiện cho trí tưởng tượng được sáng tạo thêm ra”; Về tiêu chí đánh giá, “Miêu tả giỏi là những gì chúng ta viết, người đọc như nhìn

thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dòng sông người đọc nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy Thậm chí còn ngửi thấy được mùi mồ hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,… Nhưng đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài Còn có sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu tả về tâm trạng buồn, vui, yêu ghét của con người, con vật

và cả cỏ cây” (Phạm Hổ); hay nhận diện tính chân thực trong miêu tả, [9]

Các nhà văn, nhà nghiên cứu dù dưới góc độ nào cũng đã nhìn nhận văn miêu tả như một phương tiện để thể hiện nội dung cuộc sống Với các nhà nghiên cứu phê bình văn học, thì miêu tả theo đúng vai trò của nó là một

Trang 13

phương tiện thể hiện nội dung, ý nghĩa tác phẩm Tất cả những nghiên cứu trên đây chính là những gợi ý giá trị, giúp chúng tôi xác định cơ sở lý luận cho luận văn

2.2 Những nghiên cứu về văn miêu tả và việc dạy học văn miêu tả trong nhà trường tiểu học

Từ sau cách mạng tháng tám (1945), văn miêu tả chính thức được đưa vào nhà trường với tư cách là một thể loại văn học dành cho học sinh tiểu học Nhưng phải đến năm 1981 khi chương trình cải cách giáo dục đầu tiên thực hiện ở nước ta thì các công trình nghiên cứu về văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả mới được chú trọng với vị trí xứng đáng của nó Văn miêu tả được đưa vào dạy học từ lớp 2, lớp 3 của chương trình tiểu học, số tiết được nâng dần đến lớp 4, lớp 5 chủ yếu học viết văn miêu tả với các dạng bài khác nhau Mỗi dạng đều thực hiện theo quy trình: Quan sát tìm ý, lập dàn ý, làm bài miệng, làm bài viết, trả bài Cùng với việc đổi mới chương trình phổ thông, các sách và tài liệu tham khảo về phương pháp dạy văn miêu

tả trong nhà trường cũng trở nên phong phú hơn

Cuốn sách đầu tiên có thể kể đến là “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học” (năm 1993) của tác giả Nguyễn Trí, cuốn sách đã

từng được coi như một cẩm nang về phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học Tác giả đã chỉ rõ bản chất, đặc điểm của văn miêu tả nói chung, các kiểu bài văn miêu tả nói riêng, phương pháp dạy mỗi kiểu bài văn miêu tả Trong phần ngôn ngữ miêu tả, tác giả cũng đề cập đến khi nào vận dụng các phương tiện, biện pháp tu từ trong mỗi kiểu bài văn miêu tả để mang đến sự sinh động, cảm xúc cho bài viết Nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc liệt kê phương tiện, biện pháp nào được sử dụng trong bài chứ chưa nói tới vấn đề các biện pháp đó được sử dụng trong từng kiểu bài như thế nào

Năm 1996, các tác giả Nguyễn Quang Ninh và Đào Ngọc trong cuốn

“Rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt” dành cho chương trình đào tạo giáo viên tiểu

học đã đưa ra cái nhìn tổng quát về văn miêu tả Sự phân biệt văn miêu tả với

Trang 14

việc miêu tả lạnh lùng, chính xác (trong khoa học) “Văn miêu tả không phải là

sự sao chép máy móc thực tế khách quan, mà đó là kết quả của sự nhận xét, đánh giá, tưởng tưởng, hết sức phong phú của người viết” [18] Các tác giả cũng đã chú trọng đến vai trò của các biện pháp tu từ trong ngôn ngữ miêu tả, trong đó có các biện pháp tu từ như so sánh, phương tiện tu từ như nhân hóa, ẩn dụ,… Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp những đoạn văn miêu tả hay và điển hình về nhiều phương diện

Một số cuốn sách khác cũng góp phần hữu ích cho việc dạy và học văn

miêu tả như “Đọc và luyện văn” (1995) của Trịnh Mạnh, Nguyễn Huy Đàn;

“Văn miêu tả tuyển chọn” (1997) của tập thể tác giả Nguyễn Nghiệp, Nguyễn Giá, Nguyễn Trí, Trần Hòa Bình; “Dạy văn miêu tả cho học sinh tiểu học” (1999) của Hoàng Hòa Bình; “Vẻ đẹp của ngôn ngữ qua các bài tập đọc lớp

4 – 5” (2000) của Đinh Trọng Lạc, Bên cạnh đó cũng phải kể đến các bài viết, công trình nghiên cứu về việc dạy văn miêu tả ở tiểu học như “Kỹ năng quan sát trong văn miêu tả ở tiểu học”, “Văn miêu tả trong chương trình tập làm văn ở tiểu học”, “Một số vấn đề dạy – học văn miêu tả ở lớp 4 và 5 cải cách giáo dục”, “Dạy học sinh lớp 5 quan sát đối tượng khi làm văn miêu tả”, “Tìm hiểu giá trị của từ láy, tính từ tuyệt đối, biện pháp so sánh, nhân hoá trong viết văn mô tả”,… Những cuốn sách và tài liệu này đã mang đến

cho người đọc nguồn tư liệu phong phú phục vụ cho việc dạy và học văn miêu tả

Trong chương trình tiểu học hiện hành, văn miêu tả chiếm thời lượng nội dung đáng kể so với các thể loại khác như kể chuyện, viết thư, , xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 5 Cùng với đó, sách giáo khoa tiếng Việt 5 được biên soạn theo quan điểm dạy giao tiếp, quan điểm tích hợp và quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Từ việc đổi mới trong quan điểm biên soạn nội dung chương trình và sách giáo khoa này dẫn tới sự ra đời của hàng

loạt các sách tham khảo Có thể kể đến một số cuốn tiêu biểu như “Bài tập luyện viết văn miêu tả” của Vũ Khắc Tuân, “Văn miêu tả trong nhà trường

Trang 15

phổ thông” của Đỗ Ngọc Thống và Phạm Minh Diệu, “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” của tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí,… những

cuốn sách này đã trở thành tài liệu tham khảo hữu ích về mặt nội dung, phương pháp dạy học đối với việc dạy học văn miêu tả hiện nay

Việc sử dụng các phương tiện, biện pháp tu từ trong dạy học như một cách thức hữu hiệu nhằm tăng cường tính hình ảnh, biểu cảm cho bài văn nói chung và văn miêu tả nói riêng đã được khá nhiều người quan tâm, tìm hiểu

Như đề tài luận văn thạc sĩ của Lí Thị Sơn “Xây dựng hệ thống bài tập rèn cách sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa trong dạy học văn miêu tả ở lớp 4” [23], đề tài luận văn thạc sĩ Lê Thị Thu Trang “Rèn luyện cho học sinh THCS kỹ năng sử dụng phép so sánh và nhân hóa trong văn bản thuyết minh”, hoặc “Rèn luyện cho học sinh Trung học phổ thông sử dụng biện pháp

so sánh nhằm tăng tính biểu cảm cho bài văn nghị luận văn học” của Đinh

Thị Thu Hằng,… Các công trình này đã cho thấy các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa có tác dụng rất lớn đối với việc viết văn nói chung và văn miêu tả nói riêng

Vấn đề xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh lớp 5 trong dạy học văn miêu tả chưa từng xuất hiện trong công trình chuyên biệt nào Vì vậy, lựa chọn đề tài này chúng tôi mong muốn đóng góp một tư liệu hữu ích phục vụ cho việc dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng được hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng sử dụng biện pháp

tu từ nhân hóa và hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập này trong dạy học văn miêu tả nhằm củng cố kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa Đồng thời giúp các em có kỹ năng sử dụng hiệu quả biện pháp tu từ này trong viết văn tả cảnh nói riêng, viết văn miêu tả nói chung Từ đó, nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học

Trang 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Nghiên cứu, khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: văn miêu tả và đặc trưng cơ bản của văn miêu tả; Biện pháp tu từ nhân hóa và ý nghĩa của biện pháp tu từ này trong biểu đạt nội dung bài văn tả cảnh; Đặc điểm nhận thức và việc hình thành kỹ năng của học sinh lớp 5; Nghiên cứu, khảo sát mục tiêu, nội dung dạy học văn miêu tả trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 5; Thực tế rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu

từ nhân hóa và việc sử dụng biện pháp này của học sinh tiểu học hiện nay

(2) Đề xuất hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh lớp 5 trong dạy học văn miêu tả và hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

(3) Thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và khả năng thực thi hệ thống bài tập và quy trình rèn luyện các kỹ năng mà luận văn đề xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp tu từ nhân hóa trong văn miêu tả và hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho

học sinh lớp 5 trong dạy học văn miêu tả

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phần văn miêu tả ở các nội dung Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn trong chương trình Tiếng Việt 5 bậc tiểu học

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp điều tra khảo sát

Trong quá trình thu thập thông tin về tình hình thực tế rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa của giáo viên, sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa của học sinh trong dạy học văn miêu tả lớp 5, phương pháp này giúp chúng tôi xác định được mức độ sử dụng biện pháp này như thế nào Từ đó

có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm giúp học sinh sử dụng tốt biện pháp tu từ nhân hóa vào viết văn miêu tả

Trang 17

5.2 Phương pháp thống kê – phân loại

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra, thực nghiệm, để đi tới kết luận chính xác, tin cậy về tính hiệu quả, khả thi của quy trình rèn kỹ năng mà luận văn đề xuất

5.3 Phương pháp thực nghiệm

Là ứng dụng những đề xuất của luận văn vào thực tiễn dạy học để soi chiếu tính khả thi của nó

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được dự kiến chia thành 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Đề xuất hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu

từ nhân hóa trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Văn miêu tả và biện pháp tu từ nhân hóa trong văn miêu tả

1.1.1.1 Khái niệm và một số đặc trưng cơ bản của văn miêu tả

- Khái niệm văn miêu tả

Là thể văn ra đời từ rất lâu, sự tồn tại của khái niệm văn miêu tả gắn với những công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau Vì vậy, việc đi đến một khái niệm chung nhất không phải là công việc dễ dàng

Trước hết, ở thuật ngữ “miêu tả” nói chung, tác giả Đào Duy Anh

trong “Hán Việt Tự điển” đã giải nghĩa: “Miêu tả là lấy nét vẽ hoặc câu văn

để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra” [2] Cụ thể hơn, khái niệm “miêu

tả” hiểu theo nghĩa từ vựng trong “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên

là: “Dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được toàn thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người” [20] Những khái niệm về “miêu tả” được ghi trong từ điển như trên là những khái niệm sử dụng chung cho các loại hình nghệ thuật được bộc

lộ thông qua nghệ thuật miêu tả Còn trong một văn bản nghệ thuật, miêu tả lại có những đặc điểm riêng và được quan niệm theo nhiều cách khác nhau Các nhà phê bình lý luận văn học thì định nghĩa: “Miêu tả bao gồm những đoạn văn, đoạn thơ tái hiện sự việc, cảnh vật, con người và hành động của nhân vật được hình thành trực tiếp nhất thông qua một khối lượng chi tiết phong phú Miêu tả là biện pháp nghệ thuật giúp nhà văn làm hiện lên một cách cụ thể, dựng lên trước mặt người đọc một cách sinh động sự việc, cảnh vật, con người trong một khung cảnh và thời điểm nhất định” [6] Tuy nhiên, định nghĩa này mới chỉ đề cập nội dung miêu tả mà chưa chú ý đến ngôn ngữ

sử dụng trong miêu tả Bàn về vấn đề này, trong cuốn “Nghệ thuật làm văn”, các

học giả Pháp cho rằng “Miêu tả là biến thành cái mà giác quan có thể xúc cảm

Trang 19

được, là hình dung bằng miệng hay bằng viết một đối tượng vật chất, nói cách khác, là bộc lộ bằng từ mà các họa sỹ phác họa bằng màu sắc”

Nhìn chung, các quan niệm về miêu tả ở trên đã đề cập tới nhiều phương diện khác nhau của thuật ngữ “miêu tả” sử dụng trong văn bản nghệ thuật (văn miêu tả)

Dưới góc độ ngôn ngữ học, và trong vai trò là thể văn trong nhà trường, GS

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm về văn miêu tả như sau: “Miêu tả là một loại văn trong đó người viết (người nói) nêu lên các đặc điểm vốn có của sự vật, nhân vật trong thực tế đã được sàng lọc qua chủ quan của người viết (người nói)” [4]

Hay trong Sách giáo khoa “Tiếng Việt 4” do GS Nguyễn Minh Thuyết

chủ biên cho rằng “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật, giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy” [27] Gần với quan niệm này, tác giả Xuân Thị Nguyệt Hà trong

công trình Luận án Tiến sĩ “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học” cho rằng: “Văn miêu tả là một loại văn

dùng trong các phương tiện ngôn ngữ để vẽ lại những đặc điểm nổi bật của các khách thể trong hiện thực khách quan (cảnh vật, sự vật, con người) một cách cụ thể, sinh động, gợi hình, gợi cảm, tạo hiệu quả như thật với người đọc, người nghe” [5]

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về văn miêu tả trong trường tiểu học, chúng tôi lấy quan niệm của tác giả Xuân Thị Nguyệt Hà làm điểm tựa cho việc triển khai nghiên cứu, cụ thể là: “Văn miêu tả là một loại văn dùng trong các phương tiện ngôn ngữ để vẽ lại những đặc điểm nổi bật của khách thể trong hiện thực khách quan (cảnh vật, sự vật, con người) một cách cụ thể, sinh động, gợi hình, gợi cảm, tạo hiệu quả như thật với người đọc, người nghe”

Như vậy, theo khái niệm này, xét về mục đích của văn miêu tả chính là

để vẽ lại những đặc điểm nổi bật của khác thể thông qua quan sát, khơi gợi trí tưởng tượng và đồng thời có yếu tố tình cảm, sự đánh giá của người viết, làm cho đối tượng tiếp nhận văn bản cảm động, say mê Xét về đối tượng của văn

Trang 20

miêu tả là không giới hạn, hầu như bất kì sự vật, sự việc nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành phạm vi miêu tả Tuy nhiên, không phải sự miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả Bởi miêu tả không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giúp cho người đọc thấy rõ nét đặc trưng, đặc điểm, tính chất, càng không phải là việc sao chép một cách máy móc các sự vật, sự việc, mà đó phải là sự thể hiện được những nét tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ, bày

tỏ tình cảm, cảm xúc trong quá trình quan sát thực tế cuộc sống Và hơn thế miêu tả phải là “bằng những ngôn ngữ sinh động đã khắc họa lên bức tranh

đó, sự vật đó khiến cho người đọc, người nghe như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật, hiện tượng ấy và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà nhà văn nói đến”

Nói đến văn miêu tả chúng ta cũng đặc biệt chú ý đến ngôn ngữ của thể văn này Trong văn miêu tả, việc miêu tả lại các sự vật, sự việc qua ngôn ngữ không đơn thuần là công việc ghi chép hay còn gọi là trần thuật lại sự vật, sự việc mà đó phải là thứ văn chương bóng bẩy, sinh động, gợi hình, và cách hành văn trong kiểu miêu tả này thuộc vào phong cách ngôn ngữ văn chương

- Một số đặc trưng cơ bản của văn miêu tả

Mỗi thể loại văn học khác nhau thường có những đặc trưng, đặc điểm riêng biệt Việc khái quát đặc điểm của thể văn miêu tả đã được nhiều nhà

nghiên cứu quan tâm sâu sắc Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học”, tác giả Nguyễn Trí đã nêu rõ ba đặc điểm, đó là: văn

miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết; văn miêu tả mang tính sinh động tạo hình; ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc hình ảnh

Thứ nhất, văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình

cảm của người viết:

Đối tượng của văn miêu tả hướng đến vô cùng đa dạng, như tả đồ vật, con vật, thiên nhiên, con người,… và bằng ngòi bút miêu tả của mình, tác giả bao giờ cũng đánh giá những đối tượng này theo một quan điểm thẩm mĩ

Trang 21

nhất định Do vậy từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan của người viết Đặc điểm này làm cho văn miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trong khoa học (như trong sinh học, địa lí học, khảo cổ học,…) Miêu tả trong nội dung dạy học Tập làm văn cũng khác hẳn trong các môn khoa học tự nhiên và xã hội ở tiểu học Hãy so sánh hai đoạn miêu tả cùng hướng đến một đối tượng là tả cảnh bến cảng

Đoạn 1: “Bến cảng lúc nào cũng đông vui Tàu mẹ, tàu con đậu đầy

mặt nước Xe anh, xe em tíu tít nhận hàng về và chở hàng ra Tất cả đều bận rộn” (Phong Thu)

Đoạn 2: “Bến cảng lúc nào cũng rất nhiều tàu xe Tàu lớn, tàu bé đậu đầy mặt

nước Xe to, xe nhỏ nhận hàng về và chở hàng ra Tất cả đều hoạt động liên tục”

Ở đoạn thứ hai, không tồn tại cảm xúc của người viết, các chi tiết của cảnh vật hiện ra một cách chính xác nhưng thật lạnh lùng Còn ở đoạn thứ nhất, trích từ văn bản văn học của nhà văn Phong Thu, nên ngay trong từng câu miêu tả, người đọc đã thấy rõ cảm xúc của tác giả hòa vào không khí đông vui, nhộn nhịp của bến cảng Qua đó người đọc cũng cảm nhận được niềm vui của chính tác giả

Thứ hai, văn miêu tả có tính sinh động và tính tạo hình:

Có thể nói, một bài văn miêu tả có hay, hấp dẫn người đọc hay không chính là nhờ vào đặc điểm này Vậy thế nào là tính sinh động, tạo hình trong bài văn miêu tả? Đó là khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con người,… được miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng chữ như trong cuộc sống thực Đối tượng tiếp nhận tưởng như có thể cầm nắm được, có thể nhìn ngắm được hoặc nói như M.Gooc-Ky có thể “sờ mó” được Là bậc thầy về ngôn ngữ trong văn học Việt Nam, những đoạn văn miêu tả mang đặc điểm này xuất hiện nhiều trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân, như trong truyện

ngắn “Những chiếc ấm đất” khi miêu tả cảnh người đầy tớ già gánh nước từ

trên chùa về làng là một đoạn miêu tả giàu chất tạo hình “Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh

rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm màu Những hình sao

Trang 22

ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát Ví buổi trưa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví cổng chùa Đồi Mai

là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần” Như vậy làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả chính là những chi tiết sống gây ấn tượng, nếu tước bỏ chúng đi bài văn miêu tả sẽ mờ nhạt, thiếu độ sáng

Thứ ba, ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh:

Như trên đã khẳng định, văn miêu tả cho phép bộc lộ cảm xúc của tác giả, ghi dấu ấn của tác giả, đối tượng được miêu tả phải hiện lên một cách sinh động, tạo hình Do vậy, lẽ dĩ nhiên ngôn ngữ trong văn miêu tả phải giàu cảm xúc và hình ảnh Quan sát các bài văn miêu tả chúng ta thấy ngôn ngữ miêu tả trong đó thường giàu các tính từ, động từ Đặc biệt không thể không

kể đến sự có mặt các biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, so sánh,… Nhờ có sự phối hợp các tính từ chỉ màu sắc, phẩm chất, động từ và các biện pháp tu từ mà ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong lòng người đọc những ấn tượng, hình ảnh về sự vật được miêu tả Như đoạn văn của Đỗ Chu sau đây: “Đó là một buổi chiều mùa

hạ có mây trắng xô đuổi nhau trên cao Nền trời xanh vời vợi Con chim Sơn

ca cất tiếng hót tự do, tha thiết, đến nỗi khiến người ta phải ao ước giá mình

có một đôi cánh Trái khắp cánh đồng là nắng chiều vàng lịm và thơm hơi đất, làn gió đưa thoang thoảng lúa ngậm đòng và hương sen”

Từ những đặc điểm mà chúng tôi vừa phân tích trên đây đã thể hiện rõ những nét riêng của văn miêu tả Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5, chúng tôi cũng hoàn toàn căn cứ vào những đặc điểm này

1.1.1.2 Biện pháp tu từ nhân hóa và ý nghĩa của biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả

- Khái niệm biện pháp tu từ nhân hóa:

Trang 23

Để hiểu một cách chính xác, đầy đủ về biện pháp tu từ nhân hóa, trước

tiên cần lí giải từ thuật ngữ “tu từ”, theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” do tác giả Văn Tân làm chủ biên, in lần thứ hai, xuất bản năm 1977 cho rằng: “tu từ là sửa sang câu văn cho hay, cho đẹp” [24]

Trên trang http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn định nghĩa một

cách đầy đủ hơn: “Phép tu từ là biện pháp làm cho câu văn, từ ngữ trở nên bóng bẩy, dùng hình ảnh để người đọc dễ hiểu không nhàm chán, không chỉ khi viết văn mà trong đời sống hàng ngày chúng ta cũng thường dùng biện pháp tu từ để giao tiếp tốt hơn”; “Trong phép tu từ thì có tu từ so sánh ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ Tu từ là sửa sang cho câu văn hay và đẹp hơn”; “Tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn”

Những cách hiểu trên đây đã đề cập đến giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật về mặt ngôn ngữ của tu từ Xét về giá trị quan trọng của nó, nói như nhà nghiên

cứu Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” tu từ

chính là “Cái làm nên sự kỳ diệu của ngôn ngữ” Đặc biệt, các nhà nghiên cứu trong cuốn sách này cũng chỉ ra: biện pháp tu từ không tồn tại ở dạng độc lập, mà tùy theo sự kết hợp với các phương tiện ngôn ngữ khác nhau, tu từ được chia ra các kiểu, như: tu từ ngữ âm, tu từ từ vựng ngữ nghĩa, tu từ cú pháp, tu từ văn bản

Đi từ nội hàm khái niệm “nhân hóa”, trong cuốn “Từ điển tiếng Việt’ của Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng, đó là: “Gán cho loài vật hoặc vật vô tri hình dáng, tính cách hoặc ngôn ngữ của con người” [20]

Về biện pháp tu từ nhân hóa, theo tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn

“99 phương tiện và biện pháp tu từ” quan niệm: “Tu từ nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ,

Trang 24

tình cảm của mình” [13] Một cách hiểu khác khá phổ biến trong sách giáo

khoa Ngữ Văn phổ thông hiện nay, cho thấy việc giải thích biện pháp tu từ

này cũng gần với quan điểm trong những cuốn “Từ điển” mà chúng tôi kể trên, chẳng hạn như sách giáo khoa “Ngữ Văn 6” do Giáo sư Nguyễn Khắc Phi chủ biên khẳng định: “Nhân hóa là gọi hoặc tả một con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người ; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người” [21]

Mặc dù tồn tại nhiều cách hiểu về biện pháp tu từ nhân hóa, nhưng về

cơ bản nội dung của các khái niệm đều có sự tương đồng Tuy nhiên, xét trong phạm vi đề tài, chúng tôi có sự quan tâm nhất định về mặt nội dung và hình thức thể hiện của biện pháp Do vậy, ở đây chúng tôi xin chọn quan

điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp

tu từ” làm cơ sở lí luận cho đề tài, đó là: “Tu từ nhân hóa là một biến thể của

ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ, tình cảm của mình” Có thể lí giải sự lựa chọn của chúng tôi bằng cách chứng

minh sự phù hợp của khái niệm tu từ nhân hóa trên qua một ví dụ có sử dụng

biện pháp tu từ này:“Núi cao chi lắm núi ơi/ Núi che mặt trời chẳng thấy người thương”(Ca dao) Ở câu ca dao trên, ta thấy những từ ngữ vốn biểu thị

thuộc tính, dấu hiệu thể hiện sự trò chuyện, tâm tình, thân mật của con người như: “ơi”, “che”, “thấy”, đã được sử dụng để biểu thị thuộc tính của sự vật

“núi” trong bài ca dao có nội dung về một sự vật không phải con người Từ

đó làm cho sự vật ấy trở nên gần gũi, có tâm trạng, tình cảm như con người, đồng thời cũng là cách thức bày tỏ tình cảm thương mến của người viết đối

với sự vật

Trang 25

- Một số dạng thức thể hiện của tu từ nhân hóa

Xét về mặt hình thức, tu từ nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách sau:

*Cách 1: Nhân hóa để tả đặc điểm, tính chất, hoạt động bên ngoài:

Nghĩa là dùng từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính

chất, hoạt động không phải của con người, ví dụ: “ Đang bới đất bắt trùng, bắt dế và ve vãn mấy chị gà mái xinh tươi sau vườn, bỗng nhiên con gà trống

Cồ đứng sững lại Lông cổ nó xù lên Mồng dựng đứng Mặt đỏ như cục máu

Nó lắc lắc cái đầu nghe ngóng Phía cuối vườn bên cạnh, một chuỗi âm thanh là lạ vừa mới cất lên: Ó ọ o ò ò ” (trích Chuyện xóm gà – Trần Nhật Trường) Ở ví dụ này cho thấy, tác giả đã sử dụng những từ ngữ như: ve

vãn, mặt đỏ, lắc lắc cái đầu,… là từ ngữ chỉ tính chất, hành động thuộc về con người để biểu thị hoạt động, tính chất của con gà

*Cách 2: Nhân hóa để tả tâm trạng: Nghĩa là coi đối tượng không phải

là con người tâm tình và trò chuyện với nhau như con người, ví dụ: “Một hôm, qua một vũng cỏ xước xanh dài, chợt nghe tiếng khóc tỉ tê Tôi lắng tai, đoán ra tiếng khóc quanh quẩn đâu đây Vài bước nữa tôi gặp chị Nhà Trò ngồi gục đầu bên một tảng đá cuộị Chị Nhà Trò này đã bé nhỏ lại gầy guộc, yếu đuối quá, người bự những phấn, như mới lột Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh cô nàng mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn Hình như cánh yếu quá, chưa quen mở, mà cho dù có khoẻ cũng chẳng bay được xa Các chị Nhà Trò vốn họ bướm, cả đời chỉ biết vởn vơ quanh quẩn trong bờ bụi mà thôi, Nhà Trò đương khóc

Nghe như có điều oan trái chi đây, tôi bèn hỏi:

- Làm sao mà khóc đường khóc chợ thế kia, em?

Chị chàng ngẩng lên, nước mắt đầm đìa rồi cúi chào, lễ phép - các cô Nhà Trò bao giờ cũng lịch sự và mềm mại

- Em chào anh, mời anh ngồi chơi!

Tôi nói ngay:

- Có gì mà ngồi! làm sao khóc nào?

Trang 26

Thế là chị ta bù lu bù loa:

- Anh ơi!Anh ơi! Huhu Anh cứu em hu hu

- Ðứa nào Ðứa nào bắt nạt em?

- Thưa anh, bọn Nhện Anh cứu Hu hu

từ nhân hóa

- Ý nghĩa của biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả

- Trong văn miêu tả, bên cạnh việc sử dụng các biện pháp tu từ khác

như so sánh, ẩn dụ, điệp từ,… thì biện pháp nhân hóa được sử dụng rất hiệu quả Đặc biệt đối với những đối tượng miêu tả như đồ vật, loài vật, cảnh vật,… vốn là những vật vô sinh, nhưng nhờ có biện pháp tu từ nhân hóa mà

những sự vật này trở nên sống động, hấp dẫn hơn

Trước hết, chúng ta có thể thấy rõ ý nghĩa quan trọng của biện pháp tu

từ này qua những trang văn, trang thơ mà các nhà văn, nhà thơ của mọi thế hệ

đã rất chú trọng sử dụng, để góp phần thể hiện trọn vẹn, độc đáo nội dung, ý nghĩa những tác phẩm của họ Từ những trang sử thi – thể loại đầu tiên của

nền văn học sơ khai dân tộc “Đăm Săn”, chúng ta đã bắt gặp lối nhân hóa độc đáo: “Hãy đánh lên tất cả cho ở dưới vỡ toác các cây đòn ngạch, cho ở trên gãy nát các cây xà ngang, cho tiếng chiêng vang vọng khắp đó đây, khiến voi, tê giác trong rừng quên không cho con bú, ếch nhái dưới gầm sàn,

kì nhông ngoài bãi phải ngừng kêu, tất cả đều ngày đêm lặng thinh để nghe tiếng chiêng ăn đông uống vui như mừng mùa khô năm mới của ta vậy, ” ( trích Đăm Săn) Hay trong những vần thơ ca dân gian truyền miệng của nhân

dân, tu từ nhân hóa cũng là một cách thức, biện pháp truyền tải tình cảm hữu

Trang 27

hiệu, như trong những câu ca dao: “Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai/ Khăn thương nhớ ai, khăn chùi nước mắt/ Đèn thương nhớ ai, mà đèn không tắt/ Mắt thương nhớ ai, mắt ngủ không yên”(trích Ca dao) Đến những sáng tác thơ ca hiện đại, nhà thơ Xuân

Diệu cũng sử dụng nhân hóa như một phương tiện bộc bạch nỗi lòng sâu

kín:“Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối/ Đêm bâng khuâng đôi miếng lẫn trong cành,…” (trích Tương tư chiều – Xuân Diệu) Quan sát gần hơn trong

đời sống hàng ngày, nhân hóa còn là lối nói chúng ta bắt gặp rất nhiều trong ngôn ngữ của trẻ em, hầu hết, trong cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng của trẻ

em, những vật vô sinh đều có những tâm tư, xúc cảm giống như con người, nhất là trong mối quan hệ với các loài vật, đồ vật,… Hiểu rõ tâm lý, nhận thức của lứa tuổi ấy, nhà thơ Trần Đăng Khoa – nhà thơ của thiếu nhi trong những sáng tác giành cho thiếu nhi của mình, ông đã sử dụng rất đa dạng các

biện pháp tu từ nhân hóa, như trong bài “Mưa”, “Đám ma bác Giun”, “Sao không về Vàng ơi”,… Hay một nhà văn được mệnh danh là “bậc thầy về

ngôn ngữ” của làng văn học Việt Nam - Nguyễn Tuân, để cho ra đời những tác phẩm trường tồn như thế cũng rất coi trọng việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

trong các sáng tác của mình, thấy rõ nhất là trong kí “Sông Đà”, có đoạn ông miêu tả rất hay: “Phối hợp với đá, nước thác gieo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền xưng tên tuổi trước khi giao chiến”

Như vậy, bằng những cách thức riêng biệt của một biện pháp tu từ, tu

từ nhân hóa đã góp phần thổi hồn vào những vật vô sinh, làm nó trở thành hữu sinh dưới con mắt bạn đọc trong mỗi trang thơ, trang văn Nếu thiếu đi biện pháp này, khi đối tượng là những vật vô sinh chắc chắn rằng nhà văn sẽ không làm nên những đoạn văn, trang văn hay và độc đáo, gây ấn tượng nghệ thuật

Vấn đề viết văn miêu tả của học sinh trong nhà trường tiểu học, khi đối tượng miêu tả phần lớn là các sự vật, đồ vật, loài vật, thiên nhiên cây cối,… hay gọi chung là những vật vô sinh, việc vận dụng tối đa hiệu quả của

Trang 28

biện pháp tu từ nhân hóa bên cạnh các biện pháp tu từ khác như so sánh, điệp

từ, từ láy, rất hữu ích Nếu như điểm nổi bật của biện pháp tu từ so sánh là giúp tăng cường nhận thức về đối tượng miêu tả cho bài văn, giúp câu văn có hình ảnh hơn thì biện pháp tu từ nhân hóa có ý nghĩa làm cho đối tượng miêu

tả trở nên hấp dẫn, tràn đầy sức sống một cách lạ thường, như trong đoạn văn miêu tả loài vật - con mèo dưới đây:

“Rì rào, rì rào, con mèo nào mới về thế? - Cây Cau lắc lư chỏm lá trên cao tít hỏi xuống

- Rì rào, rì rào, chú bé leo lên đây nào!

Mèo con ôm ngay lấy thân cau trèo nhanh thoăn thoắt Rồi chú ngứa vuốt, cào cào thân cau sồn sột

- Ấy, ấy, chú làm xước cả mình tôi rồi Để vuốt sắc mà bắt chuột chứ!

- Cây Cau kêu lên Mèo con tiu nghỉu cúp tai lại tụt xuống đất

Mèo con lại nằm dài sưởi nắng và ngẫm nghĩ ” (trích Cái tết của mèo con – Nguyễn Đình Thi)

Qua đây, chúng ta thấy rằng, nếu như một bài văn miêu tả chỉ dừng lại

ở việc liệt kê các chi tiết, sự việc theo dàn ý, như những gì đối tượng miêu tả vốn có trong thực tế cuộc sống thì bài văn chưa thực sự có hồn Nhờ có biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong bài văn miêu tả mà khiến cho những

sự vật, hiện tượng bình thường trở nên sống động, có tâm tư, tình cảm như con người và mang một sức sống mới – sức sống của con người, như trong

đoạn trích miêu tả trong tác phẩm của Hồ Phương: “Con Ba Bớp vẫn phàm

ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống, ủi cả đất lên mà gặm Bọt mép nó trào ra, nom đến là ngon lành Con Hoa ở gần đó cũng hùng hục ăn không kém, mặc dù ả có bộ mã tiểu thư rất yểu điệu "cái rá cắn làm đôi" Gã công

tử bột vẫn sán ở bên cạnh ả, mồm vừa gau gáu gặm cỏ, mắt vừa liếc sang lem lém.Mẹ con chị Vàng ăn ở riêng một chỗ cùng con Cún Cu Tũn dở hơi chốc chốc lại chạy tới ăn tranh cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu dàng nhường cho

nó và đi kiếm một búi khác,…” (trích Cỏ non – Hồ Phương)

Trang 29

Không chỉ dừng lại ở việc khiến cho sự vật, hiện tượng trở nên sống động, mang sức sống của con người, việc sử dụng biện pháp nhân hóa còn giúp cho người viết dễ dàng bộc lộ tình cảm yêu ghét với đối tượng miêu tả trong bài văn hơn, ví dụ như trong đoạn văn miêu tả Dế Mèn trị tội bọn Nhện

bắt nạt nhân vật Nhà Trò trong tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài,

đã cho thấy thái độ yêu quý của tác giả đối với anh hùng Dế Mèn và thương

cảm đối với nhân vật Nhà Trò yếu ớt: “Cớ sao dám kéo cánh ra bắt nạt em Nhà Trò yếu ớt thế kiả Chúng mày có của ăn của để, đứa nào cũng béo múp mông đít cả lượt như thế mà cứ cố tình đòi nó một tí tẹo nợ đã mấy đời rôi, là không được Ta cấm từ giờ không được đòi nợ Nhà Trò nữạ Nó bé bỏng, làm chưa đủ nuôi thân, phải thương nó, xuý xoá công nợ cho nó Trên đời này, thù hằn, độc ác làm gì Thử trông đấy, bay bắt nạt nó, nhưng còn có ta khoẻ hơn, ta mới thử gió mấy cái đá hậu, mà xem ra chúng mày đã thất đánh nghĩ lắm rồi, phải không?” (trích Dế mèn phiêu lưu ký – Tô Hoài)

Như vậy, việc các em có viết được bài văn hay hay không bên cạnh việc các em biết khai thác ý, dẫn dắt ý, vai trò của các biện pháp tu từ là rất cần thiết Đặc biệt khi đối tượng miêu tả là các sự vật vô tri, vô sinh như cảnh vật, đồ vật, loài vật,… nếu các em không biết sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh thì việc miêu tả chỉ đơn thuần là liệt kê các sự việc, sự vật Do vậy, việc rèn kỹ năng sử dụng phép tu từ cho học sinh tiểu học trong viết văn miêu tả là vấn đề vô cùng quan trọng

1.1.2 Đặc điểm nhận thức và việc hình thành kỹ năng của học sinh lớp 5

Để có cơ sở lý luận đề xuất hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả, chúng tôi căn cứ vào đặc điểm nhận thức và việc hình thành kỹ năng của học sinh lớp 5

1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học lứa tuổi đã chỉ ra rằng,

ở độ tuổi 11 – 12, học sinh lớp 5 đã và đang trải qua những biến đổi về xúc cảm, tình cảm Các em bắt đầu đi vào cuộc sống tập làm người lớn, có thiên

Trang 30

hướng phát triển lòng yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây hoa lá, yêu thích sự khám phá, muốn được thể hiện những điều khám phá và cảm xúc của bản thân Trong tâm thức, các em đã nảy sinh ý nguyện tô điểm cho cuộc sống của mình thêm đẹp, các em biết cảm nhận và thể hiện những cảm xúc của mình

về cuộc sống con người, thiên nhiên xung quanh Tuy nhiên, đây cũng là lứa tuổi mà vốn sống, vốn kinh nghiệm còn hạn chế, nhiều khi cảm nhận của các

em còn mang tính trực giác, ngây thơ Bên cạnh các thể văn như kể chuyện, viết thư, thể văn miêu tả khá phù hợp với tâm lý tò mò, ưa quan sát, thích nhận xét, nhận xét thiên về cảm tính của học sinh ở độ tuổi này Thông qua việc thực hiện tiếp nhận kiến thức và thực hành viết văn miêu tả, sẽ góp phần tạo nên sự quan tâm của các em về thế giới xung quanh, bồi dưỡng thẩm mỹ, lòng yêu cái đẹp, phát triển ngôn ngữ cho các em

Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5 với việc rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả, chúng tôi chỉ tập trung vào một số đặc điểm có tính chất nổi trội như đặc điểm tư duy, tưởng tượng

Sự phát triển tư duy của học sinh ở độ tuổi này đã có sự phát triển nhất định, đã có sự hình thành tư duy trực quan, bắt đầu chuyển dần sang giai đoạn tư duy trừu tượng khái quát để chuẩn bị cho khả năng học lên những cấp cao hơn Điều này đáp ứng được yêu cầu việc của việc hình thành và vận dụng tốt các biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ nhân hóa vào bài văn miêu tả của các em

Sự phát triển của khả năng tưởng tượng ở giai đoạn này của học sinh lớp 5 có sự gia tăng rõ rệt so với độ tuổi đầu cấp Nó được thể hiện ở những dấu hiệu và những thuộc tính trong các hình ảnh tăng lên đáng kể Ở độ tuổi này, các em đã có khả năng tái tạo một cách rõ nét những hình ảnh đã quan sát được mà không cần có sự cụ thể hóa đặc biệt nào Do vậy, việc các em có khả năng miêu tả một cách sinh động, hấp dẫn, thậm chí là sáng tạo những sự vật, sự việc mà các em trực tiếp quan sát thấy, hoặc qua quan sát trên tranh ảnh, qua lời kể hoặc qua sách, báo, truyện, là hoàn toàn có thể

Trang 31

Từ việc phân tích một số đặc điểm của quá trình nhận thức của học sinh lớp 5 trên đây, chúng tôi thấy rằng việc học sinh sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa vào bài văn miêu tả là việc hoàn toàn phù hợp với khả năng nhận thức của các em

1.1.2.2 Việc hình thành kỹ năng

Dựa trên lý thuyết về hoạt động lời nói đã chỉ ra rằng: Muốn hình thành một kỹ năng cho học sinh, đó không phải là một việc làm đơn giản, dễ dàng mà cần phải thực hiện trên cơ sở xây dựng một quy trình để luyện tập

kỹ năng Quy trình đó theo quan điểm của các nhà Tâm lý giáo dục có thể gồm sáu bước cơ bản: Hướng dẫn lý thuyết, làm mẫu, người học xây dựng kế hoạch thực hiện, thực hành và luyện tập, tự kiểm tra, thao tác sáng tạo, được khái quát hóa thành ba giai đoạn chính: Hiểu cách làm; Làm thử; Luyện tập thành thạo Như vậy, ở đây giai đoạn cần nhiều thời gian và công sức nhất chính là giai đoạn ba: Luyện tập thành thạo, có nghĩa là phải thông qua hoạt động luyện tập thường xuyên, luyện tập có ý thức Do vậy muốn học sinh hình thành và thành thạo một kỹ năng nào đó phải có quá trình luyện tập Mặt khác, với đặc điểm bản chất của phân môn Tập làm văn là sản sinh ngôn bản, nên quá trình luyện tập cho học sinh thành thạo một kỹ năng nào đó thuộc phân môn này, bắt buộc phải thực hành qua việc luyện tập dưới dạng hệ thống bài tập Việc rèn luyện cho học sinh có kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả cũng tương tự, để giúp các em có thể sử dụng hiệu quả, phát huy cái hay của biện pháp tu từ này vào bài viết của mình

Trên cơ sở lý thuyết của việc hình thành kỹ năng đó, có thể khẳng định việc hướng dẫn học sinh thực hiện rèn luyện kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả thông qua hệ thống bài tập là hoàn toàn phù hợp

Trang 32

chương trình Tiếng Việt 5; Tìm hiểu việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả của

học sinh lớp 5

1.2.1 Phân tích phần văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt 5

Trên thực tế phần văn miêu tả được đưa vào dạy ngay ở những lớp đầu cấp của bậc tiểu học Ngay từ lớp 2, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các

em đã bắt đầu làm quen với phần văn miêu tả Lên lớp 4, lớp 5, học sinh chính thức đi vào các kiểu bài cụ thể: tả đồ vật, tả loài vật, tả cây cối, tả cảnh,

tả người Trong đó, so với các thể văn khác như kể chuyện, viết thư, thì văn miêu tả chiếm thời lượng lớn nhất trong phân môn Tập làm văn ở tiểu học

Có thể khái quát nội dung phần văn miêu tả ở tiểu học qua 2 mức độ sau:

+ Mức độ 1, cho lớp 2, lớp 3 với các kiểu bài về Quan sát và trả lời các câu hỏi; Tả ngắn về cây cối, con vật, người, quang cảnh Ở lớp 2 gồm có 7/34 tiết

học, chiếm khoảng 20% tổng số thời lượng phân môn Tập làm văn; Ở lớp 3

chỉ có 1 tiết là Nói và viết về cảnh đẹp đất nước

+ Mức độ 2, cho lớp 4 và lớp 5, được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

Bảng 1.1 Thống kê tiết học văn miêu tả trong SGK Tiếng Việt 5

STT Kiểu bài Lớp 4 (số tiết) Lớp 5 (số tiết)

6 Tổng số tiết TLV 30/68 tiết (chiếm 44%) 43/68 tiết (chiếm 62%)

Sở dĩ văn miêu tả được dạy nhiều như vậy là bởi văn miêu tả phù hợp với đặc điểm tâm lí tuổi thơ như chúng tôi đã nói ở trên Đồng thời, học văn miêu tả còn giúp nuôi dưỡng mối quan hệ của các em với thế giới xung quanh, tạo nên sự quan tâm của các em tới thiên nhiên cuộc sống Qua đó góp

Trang 33

phần giáo dục tình cảm, lòng yêu cái đẹp và sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ Hơn nữa, học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, giữa ngôn ngữ và cuộc sống, con người và thiên nhiên, xã hội để hình thành những tình cảm cao thượng đẹp đẽ

Đối tượng và chủ đề của văn miêu tả ở tiểu học chủ yếu xoay quanh những đề tài quen thuộc, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em, như: những đồ dùng học tập, những cây cối trong sân trường, trên đường phố, hay trong khu vườn nhà các em, ngôi nhà các em đang ở, hay chính những người thân trong gia đình các em,…

Giữa các khối lớp sẽ có những đặc thù riêng về nội dung và kỹ năng cần đạt Ở lớp 2, 3 chỉ yêu cầu học sinh viết đoạn văn ngắn từ 2 đến 7 câu, dựa trên câu hỏi gợi ý cho sẵn Đến lớp 4, 5 học sinh được viết các bài văn dài khoảng 15 đến 30 dòng có bố cục rõ ràng, từ ngữ dùng chính xác, đặt câu đúng Các câu văn viết mạch lạc sáng sủa, có tính liên kết, đảm bảo giải quyết yêu cầu của một đề bài

Đó là toàn bộ khái quát chung về phần văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng ở bậc tiểu học

- Riêng đối với nội dung dạy học và chương trình phần văn miêu tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5, được thể hiện như sau:

Trước tiên cần khẳng định nội dung dạy học Tập làm văn lớp 5 hiện hành đã có nhiều điểm mới so với chương trình trước đây, số tiết dạy của nhiều hơn, mức độ yêu cầu được giảm tải, nhưng không phải vì thế mà học sinh học ít dạng bài hơn Ngược lại, chương trình có thêm những dạng bài khác như thuyết trình tranh luận, lập chương trình hoạt động,… Như vậy, rõ ràng chương trình mới giúp cho học sinh có thêm nhiều kiến thức thực tiễn hơn, đáp ứng định hướng đổi mới chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Hiện nay, phần văn miêu tả lớp 5 được đưa vào dạy trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 5 với hai kiểu bài chính, đó là tả cảnh và tả người, bên cạnh đó còn có một số kiểu bài thuộc kiến thức lớp 4 được ôn tập lại, như

Trang 34

tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Thời lượng giành cho mỗi kiểu bài như sau:

Tả người: 14/68 tiết (chiếm 20,6%); Tả cảnh: 19/68 tiết (chiếm 27,9%), ba kiểu bài còn lại thuộc phần ôn tập là: 10/68 tiết (chiếm 14,7%) Như vậy phần văn miêu tả ở lớp 5 nói chung, hai kiểu bài chính tả cảnh và tả người nói riêng được giành hơn 60% thời lượng trong năm học, nhằm giúp học sinh luyện tập và làm bài tốt hơn Nghĩa là giúp học sinh có đầy đủ kiến thức và

kỹ năng làm được một bài văn miêu tả hay, sinh động, sáng tạo, giàu hình ảnh và cảm xúc ở hai kiểu bài này Tất cả các tiết học đều có kỹ năng luyện tập làm văn, nghĩa là phần văn miêu tả trong chương trình đã chú trọng đến vấn đề rèn kỹ năng thực hành cho học sinh Ở mỗi kiểu bài nói trên, ngoài việc tiếp tục rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản đã dạy ở lớp 4 (quan sát đối tượng miêu tả, lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả, dựng đoạn và viết bài văn miêu tả), chương trình còn chú trọng rèn luyện một số kỹ năng bộ phần

gắn với đặc điểm của từng kiểu bài cụ thể Ví dụ như học kiểu bài tả cảnh,

học sinh được luyện tập về cách tả từng phần của cảnh theo không gian; tả cảnh theo sự thay đổi của thời gian,… hay ở kiểu bài tả người, học sinh được luyện tập các bài như tả về ngoại hình của người; tả hoạt động của người

- Sách giáo khoa “Tiếng Việt lớp 5” chương trình tiểu học mới, được

biên soạn theo ba nguyên tắc: dạy theo quan điểm giao tiếp, dạy theo quan điểm tích hợp và dạy theo quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Sau đây chúng tôi xin trình bày tóm tắt ba quan điểm ấy

+ Dạy học theo quan điểm giao tiếp: Hướng đến thực hiện mục tiêu

“hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”, cũng như SGK Tiếng Việt các lớp khác, SGK Tiếng Việt 5 lấy nguyên tắc dạy học theo quan điểm giao tiếp làm định hướng cơ bản Nguyên tắc này được cụ thể hóa thông qua nội dung dạy học và phương pháp dạy học Về mặt nội dung, trong các bài học của các phân môn như Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn đã tạo ra những môi trường giao tiếp

Trang 35

có chọn lọc để học sinh có điều kiện mở rộng vốn từ theo định hướng nhằm trang bị những tri thức nền và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong

giao tiếp Ví dụ như khi dạy nội dung Luyện từ và câu có các bài Mở rộng vốn từ: Công dân, trật tự - an ninh, truyền thống, nam và nữ, trẻ em,… Về

mặt phương pháp dạy học, các kỹ năng nói trên được dạy thông qua việc tổ chức hoạt động giao tiếp cho học sinh

+ Dạy học theo quan điểm tích hợp: Tích hợp trong dạy học được hiểu

là trong một đơn vị học, thậm chí là một tiết học hay một bài tập, có nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và đồng thời tiết kiệm thời gian học tập cho người học Tích hợp có

thể thực hiện theo chiều ngang hoặc chiều dọc

Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Hướng tích hợp này thể hiện thông qua hệ thống các chủ điểm học tập Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau nhưng nay được tập hợp lại xung quanh các chủ điểm và các bài đọc

Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng Những kiến thức, kỹ năng đã được học trước đó theo nguyên tắc trọng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn trôn ốc)

Trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách, mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học Các chủ điểm được

mở rộng và nâng cao dần theo mỗi lớp Các kỹ năng giao tiếp ở các lớp cũng

được đòi hỏi cao dần về mức độ Có thể lấy ví dụ minh họa ở tuần 15, nếu như ở tuần học này giờ Tập làm văn số 1, học sinh được thực hiện những hoạt động giải quyết câu hỏi bài tập qua ngữ liệu Công nhân sửa đường như

(Xác định các đoạn văn của bài văn? Nêu nội dung chính của từng đoạn? Tìm những chi tiết tả hoạt động của bác Tâm trong bài? Viết 1 đoạn văn tả hoạt

động của một người mà em yêu thích?) thì ở giờ Luyện từ và câu các em sẽ

Trang 36

thực hiện các hoạt động (Liệt kê các từ ngữ chỉ người thân trong gia đình, chỉ những người gần gũi với em trong trường học, chỉ các nghề nghiệp khác nhau, chỉ các dân tộc an hem trên đất nước ta? Tìm các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ nói về quan hệ gia đình, thầy trò, bè bạn? Tìm các từ ngữ miêu tả hình dáng của người: mái tóc, đôi mắt, khuôn mặt, làn da, vóc người? Viết một đoạn văn khoảng 5 câu miêu tả hình dáng một người thân hoặc một

người em quen biết?), tiếp theo trong giờ Tập làm văn số 2 các em sẽ tiến

hành Lập dàn ý cho bài văn tả hoạt động của bạn nhỏ hoặc một em bé ở tuổi tập đi, tập nói

Như vậy, có thể thấy rằng nội dung giờ Luyện từ và câu phục vụ rất nhiều cho kỹ năng làm văn miêu tả (ở góc độ từ ngữ) như tìm từ và sử dụng

từ để viết đoạn văn miêu tả,… Việc dạy học theo hướng tích hợp nội dung này, giúp cho cả giáo viên và học sinh tập trung khai thác các vốn từ ngữ ở trong ngữ liệu, các bài tập, từ đó giúp các em có kỹ năng và kiến thức hoàn thiện để viết bài văn

+ Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh: Một trong

những nhiệm vụ trọng tâm của chương trình và sách giáo khoa mới là đổi mới phương pháp dạy và học Đó là chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học Bằng cách, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức hoạt động cho học sinh, mỗi học sinh sẽ hoạt động, bộc lộ khả năng của mình Thể hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của người học, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 không trình bày kiến thức như những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt Đối với nội dung dạy học Tập làm văn, nội dung cũng được trình bày theo hướng đó, học sinh học văn miêu tả sẽ được hỗ trợ

về mặt ngữ liệu và luyện các kỹ năng viết từ các nội dung khác như Tập đọc, Luyện từ và câu,… các em sẽ là người chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh nội dung bài học

Trang 37

Nội dung dạy học Tập làm văn lớp 5 đã tạo ra cơ chế và phương pháp dạy học văn miêu tả, chống lối dạy “sáo” coi việc rèn luyện bộ óc, phương pháp suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng kiến thức cho học sinh là điều cơ bản nhất Với cơ chế này, nội dung dạy học phần văn miêu tả đã đề cao tính chân thực khi miêu tả cũng như diễn tả tình cảm, cảm xúc, thể hiện ở phương pháp làm bài, không có tiết dạy lí thuyết kiểu bài riêng, các kiến thức về lí thuyết đều được rút ra qua các tiết thực hành và là nội dung ghi nhớ cuối bài Mỗi tiết học trong chương trình đều có nhiệm vụ và nội dung xác định, dạy mỗi loại tiết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ nội dung và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó

1.2.2 Thực tế rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả của học sinh lớp 5

1.2.2.1 Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong dạy học văn miêu tả

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, chúng tôi đã có những điều tra khảo sát một số giáo viên đang dạy lớp 5 tiểu học ở địa bàn Hà Nội về thực

tế việc rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong quá trình dạy văn miêu tả Thông qua đó, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Về cách thức rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh, đa số đều cho rằng chưa nắm chắc mục đích, tác dụng và đặc biệt là quy trình của từng kiểu bài tập rèn luyện kỹ năng cho học sinh mà thường khoán trắng cho học sinh tiến hành thực hiện các nội dung bài tập trong sách giáo khoa theo yêu cầu của đề bài, còn trong thời gian hướng dẫn tự học chủ yếu cho học sinh làm một số bài tập bổ trợ cho kiến thức bài học Họ rất ít quan tâm đến việc giành thời lượng cho phần rèn kỹ năng cho học sinh sử dụng các biện pháp tu từ, chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng Phần việc này nếu có cũng chỉ đan xen trong quá trình hướng dẫn học sinh viết đoạn văn, bài văn hoặc chữa bài tập trong sách giáo khoa Trong khi đó, học sinh rất cần sự hướng dẫn cụ thể các bước, cách thức hướng dẫn của giáo viên để có thể đi tới đích Qua đây cho thấy, thực tế nhiều giáo viên tiểu học hiện nay vẫn thiếu tầm

Trang 38

nhìn tổng quát về cách dạy và các kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh, trong quá trình dạy thể văn miêu tả

Với thực tế như vậy, cũng chính là một trong những nguyên do dẫn đến hiệu quả dạy văn miêu tả ở trường tiểu học chưa cao, lí giải thực trạng này chúng tôi cho rằng: Đó là do trình độ ngôn ngữ của một số giáo viên còn non kém, nên không tự tin tự mình tạo ra được những câu văn, đoạn văn hay

để làm mẫu cho học sinh hình thành ý tưởng xây dựng câu văn có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa; Hoặc do giáo viên chưa nhận thức rõ bản chất, mục đích cuối cùng của dạy văn miêu tả ở tiểu học chính là rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh, nên giáo viên vẫn chưa quan tâm đến các bước, quy trình để rèn một kỹ năng giúp học sinh học tốt phần văn miêu tả, trong đó có

kỹ năng sử dụng các biện pháp tu từ Cũng bởi vậy mà trong quá trình dạy, nhiều giáo viên chỉ quan tâm đến kết quả bài làm của học sinh mà không chỉ dẫn cho các em quy trình, cách thức để làm được bài văn ấy một cách tốt nhất; Bên cạnh đó cũng phải kể đến nguyên nhân nhiều giáo viên còn lúng túng về phương pháp dạy học, nên các tiết dạy còn cứng nhắc, khô khan dẫn đến tình trạng học sinh không hứng thú khi học văn miêu tả Đa số giáo viên còn thụ động, lệ thuộc vào sách giáo khoa, ít có sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tổ chức tiết dạy

Đặc biệt, việc chú trọng các kỹ năng rèn cho học sinh viết bài văn miêu tả hay, độc đáo còn rất ít được giáo viên quan tâm đến, trong đó, việc rèn luyện kỹ năng sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa cũng phản ánh rõ Chính vì vậy mà mỗi giờ học chỉ xung quanh việc trả lời các nội dung yêu cầu trong sách giáo khoa, học sinh không có cơ hội được thực hành sử dụng các biện pháp tu từ nên dẫn đến việc sử dụng các biện pháp này còn chưa chuẩn, chưa hay

1.2.2.2 Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả của học sinh

Chúng tôi tiến hành khảo sát điều tra ở một số trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội về việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa của học sinh tiểu học

Trang 39

Qua đó, đã cho thấy thực tế việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa của học sinh lớp 5 như sau:

- Đa số học sinh vẫn chưa nhận thức được vai trò quan trọng của biện pháp tu từ nhân hóa trong bài viết văn miêu tả hàng ngày của các em

- Chúng tôi điều tra thực tế một số bài văn tả cảnh của phần văn miêu

tả lớp 5, vì lớp này chỉ học hai kiểu bài chính là tả cảnh và tả người (kiểu bài

tả người không áp dụng được biện pháp tu từ nhân hóa), thấy rằng: Trong bài viết của học sinh, rất ít sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, có bài sử dụng nhiều nhất chỉ khoảng 4 – 5 biện pháp nhưng chỉ chiếm khoảng 10%, bài sử dụng 1 – 3 biện pháp thì khoảng 70%, số còn lại hầu như không thấy các em

sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

- Cụ thể hơn, đối với những bài có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa,

tỷ lệ sử dụng đúng và đạt hiệu quả tu từ chỉ chiếm khoảng 60%, các bài còn lại còn mắc lỗi về mặt logic nhận thức, chưa phù hợp với văn cảnh, tư tưởng tình cảm của người viết trong tổng thể bài viết

- Các biện pháp tu từ nhân hóa học sinh sử dụng vẫn chưa thấy có sự sáng tạo nhiều, thể hiện cái riêng của các em trong bài văn

Từ việc phân tích tình hình thực tế sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong dạy học văn miêu tả ở lớp 5, đã phản ánh khá chính xác thực tế dạy học văn miêu tả nói chung, thực tế hướng dẫn rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu

từ nhân hóa của giáo viên nói riêng Qua thực tế này chúng ta dễ dàng lí giải

vì sao hiện nay nhiều học sinh cảm thấy việc học phần văn miêu tả, nhất là văn tả cảnh lại nhàm chán, khô khan và khá khó Một phần do các em thiếu

sự quan sát thực tế quang cảnh xung quanh, mặt khác cũng chính là vì các em chưa được phát huy tốt nhất trí tưởng tượng, khả năng tư duy liên tưởng của mình trong việc miêu tả lại các sự vật, cảnh vật Mà các em có thể làm được điều đó khi biết cách sử dụng các biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ nhân hóa

Trang 40

Phân tích thực tế rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh lớp 5 trong viết văn miêu tả của giáo viên, thực tế sử dụng biện pháp

tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả của học sinh, một phần nói lên chất lượng dạy và học văn miêu tả ở lớp 5 nói riêng và tiểu học nói chung đang là vấn đề cần được quan tâm chú trọng Bởi lẽ, nếu ngay ở cấp dưới các em đã cảm thấy viết một bài văn là nặng nề, ngoài khả năng của các em, đặc biệt các em không cảm thấy yêu thích, hứng thú với môn học thì lên những cấp trên đây thực sự là cản trở cho việc học văn của các em

Ý thức tầm quan trọng của văn miêu tả ở cấp một, ý thức ý nghĩa quan trọng của biện pháp tu từ nói chung, biện pháp tu từ nhân hóa nói riêng trong một bài văn miêu tả Luận văn của chúng tôi hướng đến việc đề xuất “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh lớp 5 trong viết văn miêu tả” Mong rằng thông qua hệ thống bài tập tiến hành theo quy trình Nhận diện – Tạo lập – Chữa lỗi, giáo viên và học sinh sẽ

có tư liệu để rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa một cách tốt nhất

- Văn miêu tả là một thể loại văn chiếm vị trí quan trọng trong nội dung dạy học Tập làm văn thuộc môn Tiếng Việt ở tiểu học Văn miêu tả có những đặc trưng riêng như về nội dung như: giàu tính sinh động, tạo hình, tính sáng tạo, tính chân thực, tính hấp dẫn, truyền cảm ; về hình thức như:

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w