1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam

103 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 42,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

N hãn hiệu hàng hoá đóng vai trò bảo hộ chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đó thông qua việc đảm bảo độc quyền trong việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó để xác định hàng hoá, dịch vụ của m ình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT & -

LÃ THỊ XUÂN ANH

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỂ VIỆC BẢO HỘ NHÃN HIỆU

HÀNG HOÁ ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60105

NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM DUY NGHĨA

HÀ NỘI - 2005

Trang 2

MỤC LỤC

NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VÀ

PHÁP LUẬT NH ÃN HIỆU HÀNG IIO Á 10

1.1 Lịch sử hình thành nhản hiệu hàng hoá 10

1.2 Khái niệm, chức năng, đăc điẽm và ý nghĩa của nhân hiệu hàng hoá 13

1.2.1 Khái n iệ m 13

1.2.2 Chức năng và dặc đ iểm 24

1.2.3 Ý nghĩa của nhãn hiệu hàng hoá 26

1.3 Pháp luật nhãn hiệu hàng h o á 27

1.3 ỉ Nhỡn hiệu hàng hoá và điêu kiện báo h ộ 29

1.3.2 Xác lập quyền d ối với nhãn hiệu hàng hoá 34

1.3.3 Nội dung và giới hợn quyền sờ hữu nlìãn hiệu hàng h o á 36

1.3.4 Các biện pháp bảo đảm thực thi quyén đối với nhãn hiệu hàng ìioá 38

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT NHÃN H IỆU HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM .40

2.1 Nguồn pháp luật nhản hiệu hàng hoá ử Vỉệt N a m 40

2 1 ỉ Các diều ước quốc t ể về nhõn hiệu liàng hoá mà Việt Nam tliam g ia 40

2.1.2 Các văn bản pháp luật nhãn hiệu lùmg Itoá ỞViệt N a m 46

2.2 Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật nhản hiệu hàng hoá ở Việt Nam 47

2 2 1 Các quy định pháp luật vê' nhỡn hiệu hàng lioá â Việt N a m 47

2.2.2 Hệ thống các cơ quan quản l</và bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt N am 62

2.2.3 Thực tiễn áp dụng quy định pliáp luật nhãn hiệu hàng hoá ở Việt N a m 64

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG H OÀN TH IỆN PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ Ở VIỆT N A M 83

3.1 M ột sô' phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật nhản hiệu hàng hoá ở Việt N a m 83

3.2 M ột số kiến nghị vé việc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp liên quan đến nhăn hiệu hàng h o á 90

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHẦN MỞ ĐẦU 3

Chương 1

Trang 3

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

D A N H M Ụ C C Á C T H U Ậ T N G Ữ V I Ê T T Ắ T

3 GATT Hiệp định chung về T h u ế quan và thương mại

6 TRIPs Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Luận vãn cao học

2

LăThị Xuàn Anh

Trang 4

Ché độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U

1 T í n h c ấ p t h i ế t c ủ a đ ề tà i

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng Vai trò này ngày càng được khẳng định rõ hơn trong nền kinh tế tri thức

Vì vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là mối quan tâm hàng đầu đối với Việt N am cũng như các cá nhân, tổ chức Việt Nam Đ ặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hàng hoá chứa đựng "hàm lượng sở hữu trí tuệ" cao vì cá nhân, tổ chức V iệt N am không chỉ lo đối mặt với sức ép cạnh tranh trong nước

mà còn cả nước ngoài cho nên họ luôn hướng tới m ục tiêu cải tiến chất lượng, kiểu dáng hàng hoá và chú trọng đầu tư quảng bá sản phẩm , m ở rộng thị phần với mục đích khẳng định vị th ế trên thị trường

Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được đẩy m ạnh, đặc biệt việc V iệt Nam nỗ lực trở thành thành viên của W TO, V iệt Nam tới đây sẽ có thị trường tự do, không có rào cản trong thương mại quốc tế Cá nhân, tổ chức

V iệt Nam chịu sức ép cạnh tranh lớn không chỉ trong nước m à còn đối mặt với những cá nhân, tổ chức nước ngoài Vì vậy, cá nhân tổ chức Việt nam cần có những bước chuyển m ình để thích nghi với tình hình mới

Để đáp ứng được tình hình mới này, cá nhân, tổ chức V iệt nam cần nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ Theo đó, cá nhân, tổ chức V iệt N am cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững trong đó có việc xây dựng, phát triển,

q u ảng bá và bào vệ các đối tượng sở hữu trí tuệ bắt đầu từ thị trường trong nước

N hãn hiệu hàng hoá ià một trong đối tượng của sở hữu trí tuệ Nhãn hiệu hàng hoá đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển của từng cá nhân,

tổ chức: việc tăng giá trị cúa nhãn hiệu hàng hoá được khẳng định thông qua

Luận văn cao học

3

Lã Thị Xuân Anh

Trang 5

Chê độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

việc chiếm lĩnh và m ở rộng thị phần Do vậy, các cá nhân, tổ chức không chỉ cuan tâm việc tổ chức và sản xuất mà còn chú trọng hơn nữa việc phát triển rhãn hiệu hàng hoá Vì hình ảnh cua cá nhân, tổ chức gắn liền với hàng hoá, cịch vụ của cá nhân, tổ chức Nhãn hiệu hàng hoá là m ột công cụ không thể tiiếu được để cá nhân, tổ chức giao thiệp với công chúng

N hãn hiệu hàng hoá, thông qua những giá trị đặc biệt, iàm phong phú và táng cường mối quan hệ giữa người tiêu dùng với hàng hoá, dịch vụ của cá r.hân, tổ chức - chủ sở hữu nhãn hiệu đó Nhãn hiệu hàng hoá không chỉ xác dịnh nguồn gốc của hàng hoá mà còn có thiết lập m ối quan hệ với người tiêu dùng trên cơ sở niềm tin thông qua việc khẳng định uy tín, danh tiếng của cá nhân, tổ chức cũng như đảm bảo chất lượng ổn định của hàng hoá

N hãn hiệu hàng hoá đóng vai trò bảo hộ chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá

đó thông qua việc đảm bảo độc quyền trong việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá

đó để xác định hàng hoá, dịch vụ của m ình hoặc hàng hoá, dịch vụ của người được uỷ quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó

N hãn hiệu hàng hoá thúc đẩy sáng kiến và hoạt động kinh doanh của cá nhàn, tổ chức, tạo các lợi ích kinh tế cho các cá nhân, tổ chức có hoạt động kinh doanh hiệu q u ả vì cá nhãn, tổ chức có thể khai thác lợi nhuận từ nhãn hiệu hàng hoá thông qua việc cấp Li-xăng, ch uyển nhượng nhãn hiẽu hàng họá N hãn hiệu hàng hoá được coi như tài sản của cá nhân, tổ chức - tài sản vô hình Đôi khi giá trị của nhãn hiệu hàng hoá chiếm tới 70-80% sản nghiệp thương mại của m ột cá nhân, tổ chức

Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tạo cho các cá nhân, tổ chức m ôi trường pháp lý cạnh tranh lành m ạnh, đảm bảo cho cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh ở điều kiện trung thực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế -

xã hội, thương mại quốc tế

Theo báo cáo hoạt động sở hữu trí tuệ hàng năm của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ K hoa học và công nghệ), số lượng các vụ vi phạm về quyền sở hữu nhãn

Luận văn cao học

4

Lã Thị Xuân Anh

Trang 6

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhan hiệu hàng hoá ở Việt Nam

hiệu hàng hoá ngày càng gia tăng, tính chất của hành vi vi phạm cũng ngày càng tinh vi và phức tạp hơn Đây cũng là thực trạng của m ột số nước đang phát triển Hệ quả này là do hệ Ihống pháp luật nhãn hiệu hàng hoá còn thiếu sót, chưa rõ ràng và khổng nhất quán, việc áp dụng pháp luật về lĩnh vực này chưa triệt để, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý và c ơ quan thực thi chưa thống nhất, các cá nhân, tổ chức Việt Nam chưa nhân thức đúng mức giá trị đích thực của nhãn hiệu hàng hoá

Đê góp phần hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu hàng hoá nói riêng ở Việt Nam, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc

tế và toàn cầu hoá lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bản luận vãn với đề tài: " C h ế đ ộ pháp lý vê việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở V iệt N a m " sẽ phần nào giải quyết các vấn đề sau:

- Hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở V iệt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế; cơ sở để Việt Nam tham gia một số công ước, điều ước quốc tế khác về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, thúc đẩy nhanh quá trình gia nhập WTO;

Xây dựng môi trường pháp lý cạnh tranh lành m ạnh, nâng cao hiệu quả thực thi hộ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá nói riêng;

- Nâng cao ý thức pháp luật cho cá nhân, tổ chức V iệt N am trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu hàng hoá nói riêng

2 T ì n h h ìn h n g h iê n c ứ u

Lĩnh vực sở hữu trí tuệ được nhiều chuyên gia, các nhà nghiên cứu pháp luật q u an tâm Vì vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết củ a các tác giả trong nước và nước ngoài đề cập đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở V iệt Nam Thạc sỹ Lê Mai Thanh đã có Luận vãn cao học "Quyền ưu tiên đối với việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp tại V iệt Nam, năm 1999"

đề cập chủ yếu vấn đề quyền ưu tiên trong việc đãng ký các đối tượng sở hữu

Luận văn cao học

5

Lã Thị Xuân Anh

Trang 7

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

công nghiệp ở V iệt N am , sở hữu công nghiệp là m ột bộ phận của sở hữu trí tuệ Đ ặc biệt có nhiều hội thảo về nhãn hiệu hàng hoá, sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ của V iệt N am trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như hội thảo : "Thực thi quyền sở hữu trí tuệ" do Bộ K hoa học và cô n g nghệ và Đại sứ quán

H oa Kỳ ở V iệt N am tổ chức vào tháng 10 năm 2000 tại H à N ội; hội thảo:

"Thực thi quyền sở hữu trí tuệ" d o Cục Sở hữu trí tuệ và cơ quan sáng ch ế và nhãn hiệu Hoa K ỳ tổ chức tháng 11 năm 2001 tại thành p h ố H ổ C hí M inh; hội thảo: "Sở hữu công nghiệp và hội nhập của V iệt N am vào hệ thống đa biên"

do Cục Sở hữu trí tuệ và V iện sở hữu trí tuệ của Liên bang Thuỵ Sỹ tổ chức tháng 3 năm 2002 tại Hà N ội; hội thảo: "Pháp luật, chính sách và quản lý sở hữu trí tuệ" do C ục Sở hữu trí tuệ; D ự án Star Việt N am (D ự án H ỗ trợ triển khai H iệp định Thương m ại V iệt N am -H oa K ỳ) và V iện Sở hữu trí tuệ Q uốc tế

tổ chức vào tháng 10 năm 2002 tại H à Nội Đề tài nghiên cứu khoa học gần đây nhất m ang tính quốc g ia là đề tài số Q G 01.10 về "những vấn đề lý luận

và thực tiễn hoàn thiện khung pháp luật V iệt N am về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong xu th ế hội nhập quốc tế và khu vực" do K hoa L uật - Đ ại học Q uốc gia Hà Nội thực hiện

Tuy nhiên, đến nay chưa có m ột luận văn thạc sỹ Luật học hay luận án tiến sỹ Luật học nghiên cứu chuyên sâu về "C hế độ pháp lý về việc bảo hộ

về nhãn hiệu hàng hoá cũng không nằm ngoài quy luật phát triển đó Khoa học - Kỹ thuật phát triển kéo theo sự phát triển về sở hữu trí tuệ trên th ế giới

Để đáp ứng những đòi hỏi m ới, pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá nói riêng cần điều chỉnh cho phù hợp

3 M ụ c đ íc h v à n h i ệ m v ụ n g h iê n c ứ u

* Muc dich nshiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề lý luận và đặc đ iểm củ a nhãn hiệu hàng hoá và phân tích luật thực định cũng như thực trạng áp dụng quy định pháp

6 - —

Trang 8

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

luật về nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam, đề tài đề xuất những định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

* Nhiém vu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận và đặc điểm của nhãn hiệu hàng hoá và quyền bảo

hộ nhãn hiệu hàng hoá

- Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá theo luật Việt Nam và các điều ước quốc tế

mà Việt N am đã tham gia

- Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam , so sánh đối chiếu để làm sáng tỏ những điểm phù hợp và những điểm còn hạn c h ế của pháp luật hiện hành Từ đó đề xuất m ột số phương hướng hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở V iệt Nam

4 P h ạ m vi n g h iê n c ứ u

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và đặc điểm của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở V iệt Nam và thực trạng của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá theo các quy định của pháp luật hiện hành ờ V iệt N am và các điều ước quốc tế m à Việt N am đã tham gia đồng thời so sánh và nêu ra những thay đổi,

bổ sung, phương hướng hoàn thiện của hệ thống pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá để đáp ứng những yêu cầu mới trong lộ trình gia nhập WTO

5 P h ư ơ n g p h á p n g h iê n c ứ u

Trong qúa trình nghiên cứu, tác giả của luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đi từ nội dung có tính chất lý luận đến các vấn đề thực tiễn, từ đó đưa ra một số phương hướng hoàn thiện vấn đề đang nghiên cứu, Đồng thời tác giả sử dụng kết hợp với m ột số phương pháp cụ thể như phương phân tích luật thực định, phương pháp điều tra, so sánh, thống kê, tổng hợp

6 Ý n g h ĩ a lý l u ậ n v à t h ự c tiễ n

Luận văn cao học

7

Lã Thị Xuân Anh

Trang 9

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Khái quát chung những vấn đề lý luận về nhãn hiệu hàng hoá, quá trình hình thành và phát triển pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở V iệt Nam

- Phân tích thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở V iệt Nam, chỉ ra những thành công, hạn ch ế và nguyên nhân của vấn đề này

- So sánh, đối chiếu những quy định của pháp luật hiện hành với thực tiễn để làm sáng tỏ những bất cập và vướng m ắc của hệ thống pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá

m ong muốn nhận được những ý kiến đóng góp chân thành từ phía thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, cộng sự và đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn

Luận văn cao học

8

Lã Thị Xuân Anh

Trang 10

chỉnh và thành cổng hơn, cũng như sẽ giúp tôi trong việc định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Luận văn cao học

9

Lã Thị Xuân Anh

Trang 11

Ché độ pháp lý vé việc bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Chương 1

NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHẢN HIỆU HÀNG HOÁ VÀ

PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ 1.1 L ịc h s ử h ì n h t h à n h n h ã n h iệ u h à n g h o á

Khi sự lưu thông hàng hoá phát triển, con người đã biết dùng ký hiệu riêng gắn lên sản phẩm để phân biệt sản phẩm của người này với người khác Đặc biệt khi con người biết chế tạo các sản phẩm cơ khí thì nền sản xuất phát triển sang m ột bước ngoặt mới Các nhà sản xuất khác nhau đã đưa ra thị trường nhiều sản phẩm cùng loại Đây là động lực đầu tiên thúc đẩy xã hội cần có một quy ước riêng để phân biệt các sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Bên cạnh những yếu tô' tích cực, xuất hiện dấu hiệu tiêu cực thể hiện sự cạnh tranh thiếu lành mạnh Các nhà sản xuất với m ục đích chiếm lĩnh được thị trường, tiết kiệm chi phí đã sử dụng biện pháp sao chép, làm giả, làm nhái nhãn hiộu của chủ thể khác gây thiệt hại cho họ ngày càng nhiều Chính vì vậy các vụ kiện tại toà án gia tăng hàng ngày V ấn đề đặt ra đối với toà án là giải quyết cho ai được quyền làm chủ sở hữu nhãn hiệu đó Theo nguyên tắc thông thường, toà án sẽ giải quyết quyền đó thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu đó Đầu tiên toà án chỉ theo dõi những nhãn hiệu bị tranh chấp sau này theo dõi cả những nhãn hiệu chưa bị tranh chấp để đề phòng các tranh chấp trong tươns lai Cuối cùng toà án theo dõi cả những nhãn hiệu chưa được sử dụng mới chỉ là có ý định sử dụng của chủ sở hữu nhãn hiệu, s ổ theo dõi nhãn hiệu hàng hoá dần dần trở thành "Sổ đăng bạ nhãn hàng", và bắt đầu từ đây hình thành phương thức đăng ký nhãn hiệu hàng hoá Nhưng các quá trình đăng ký này chỉ thực hiện theo m ột thông lệ chứ không phải tuân thủ theo một quy định của văn bản pháp luật nào

Theo W IPO , Luật Nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên được ban hành tại Pháp (1857) Theo luật này, quyền đối với Nhãn hiệu hàng hoá phát sinh dựa theo hai cơ sở: i) đăng kỷ nhãn hiệu theo luật định', ii) sử dụng nhãn hiệu. Đăng ký

Luận văn cao học

10

Lã Thị Xuân Anh

Trang 12

nhãn hiệu theo luật định là việc ghi nhận chủ thể nộp đơn sớm nhất sẽ có quyền đối với nhãn hiệu thuộc về chủ thể đó Đối lập cơ sở trên - pháp luật xác nhận quyền của chủ thể bằng cách nộp đơn xin đăng ký, cơ sở thứ hai được công nhân quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá bằng việc chủ thể sử dụng nhãn hiệu trên thực tế sớm nhất Việc công nhận này được xác m inh qua các hoạt động kinh doanh có chứa yếu tô' nhãn hiệu của chủ thể.

K ế tiếp nước Pháp là Italia (1968), Bỉ (1879), Hoa Kỳ (1881), Anh (1883), Đức (1894), Nga (1896) đã lần lượt ban hành Luật Nhãn hiệu hàng hoá của m ình [23] Cho đến nay hầu hết các nước trên th ế giới đều có luật về nhãn hiệu hàng hoá Đa số các quốc gia áp dụng cơ sở đăng ký nhãn hiệu hàng hoá theo luật định, chỉ có một số ít các nước áp dụng theo cơ sở sử dụng nhãn hiệu như Hoa Kỳ, Canada, Philipines

Vào cuối th ế kỷ 19, giai đoạn mà Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp, Việt Nam được thừa hưởng một số di sản của nước Pháp m ang sang trong đó

có hệ thống Luật s ở hữu trí tuệ năm 1893 Năm 1894, Thực dân Pháp tham gia ký kết c ỏ n g ước Paris và Thoả ước Madrid Sau khi giành được độc lập, năm 1949, V iệt N am mới nhận sự chuyển giao thành viên của Công ước Paris

và Thoả ước M adrid từ Thực dân Pháp Sau năm 1954, chính quyền miền Nam V iệt N am vần duy trì hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ Tiếp theo đó năm 1957, chính quyền miền Nam Việt Nam ban hành hai đạo luật liên quan đến lĩnh vục sở hữu trí tuệ Đó là đạo luật số 12/57 ngày 01/08/1957 về bảo hộ sáng c h ế và đạo luật sô' 13/57 ngày 01/08/1957 về nhãn hiệu hàng hoá Ngoài

ra, chính quyền m iền Nam Việt Nam còn ban hành đạo luật số 14/59 ngày 11/06/1959 về chống sản xuất hàng giả ở giai doạn này m iền Bắc Việt Nam không có những đạo luật cụ thể về nhãn hiệu hàng hoá, nguyên nhân chủ yếu

là do vào thời điểm này N hà nước nắm giữ từ bí quyết, công nghệ sản xuất cho đến việc phân phối các sản phẩm Vì vậy các nhà m áy, xí nghiệp không có quyền định đoạt đối với các sản phẩm do chính họ sản xuất M ột đặc trưng

Chế độ pháp lý vê việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Luận văn cao học

11

Lã Thị Xuân Anh

Trang 13

Chế độ pháp lý vẻ việc bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là: hình thức sở hữu các đới tượng sở hữu công nghiệp là tư hữu Trong khi đó, tại những thập kỷ 60 và 70 của th ế

kỷ trước, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà không thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân Vì vậy lĩnh vực sở hữu trí tuệ không được quan tâm Tuy nhiên, ở giai đoạn đó, Chính phủ Việt Nam có những chỉ thị, thông tư khuyến khích việc sáng tạo cải tiến kỹ thuật như Chỉ thị 105-TTg ngày 11/03/1959 về việc:

"Tổ chức và lãnh đạo phòng trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát m inh của quần chúng"; T hông tư 567/KHKT-PM SK ngày 09/07/1966 của Ưỷ ban Khoa học và Kỹ thuật N hà nước về tổ chức đăng ký, xác m inh, áp dụng, phổ biến và khen thưởng sáng kiến.v.v

Một thời gian dài lĩnh vực sở hữu trí tuệ bị bỏ quên, mãi đến năm 1981,

V iệt Nam mới thực sự có quy định pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực này bao gồm nhãn hiệu hàng hoá Pháp luật về sở hữu trí tuệ lúc này mới được quan lủm hơn vì tại thời điểm này, Việt Nam đã qua khỏi chiến tranh, đang tập trung thực hiện công cuộc xây dựng nền kinh tế mới Chính phủ ban hành các quv định liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ như Nghị định 31/CP ngày 23/01/1981 về sáng kiến, sáng chế; Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 về nhãn hiệu hàng hoá Năm 1986, lĩnh vực sở hữu trí tuệ như nhận được làn gió mới - V iệt N am chuyển sang nền kinh tế thị trưòng, nhà nước thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân, đầu tư nước ngoài phát triển Trước những yêu cầu của thực tế, pháp iuật V iệt Nam đòi hỏi phải có những quy định pháp luật về quyền sở hũu trí tuệ nói chung và những quy định pháp luật nhãn hiệu hàng hoá nói riêng

Khi người nước ngoài đầu tư vào V iệt Nam, các sản phẩm của họ được nhập khẩu từ ngoài vào V iệt Nam hoặc chuyển giao công nghệ và sản xuất tại

V iệt N am đòi hỏi phải bảo hộ về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích cho các sản phẩm của họ

Luận văn cao học

12

Lã Thị Xuân Anh

Trang 14

Ché độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Chính vì vậy k ế tiếp Luật đầu tư nước ngoài vào V iệt Nam năm 1987 là Pháp lệnh Sở hữu công nghiệp năm 1989 Tiếp theo đó, năm 1995, Bộ luật dân

sự được ban hành và các chương I & II, phần thứ sáu quy định về quyền sở hữu trí tuệ N gày 24/10/1996 Chính phủ ban hành tiếp Nghị định 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp thay th ế các Đ iều lệ do Chính phủ ban hành trước đây về sáng kiến, sáng chế (Nghị định 31/CP ngày 23/01/1981 sửa đổi ngày 20/03/1990), về nhãn hiệu hàng hoá (Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 sửa đỏi ngày 20/03/1990), về kiểu dáng công nghiệp (Nghị định 85/H Đ BT ngày 13/05/1988 sửa đổi ngày 20/03/1990) về giải pháp hữu ích (Nghị định 200/H Đ B T ngày 28/12/1988) và Nghị định 84/HĐBT ngày 20/03/1990 về việc sửa đổi các Điều lệ nói trên Q uốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự sửa đổi vào tháng 5/2005 trong đó một số điều trong phần thứ sáu

- quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ của Bộ luật dân sự được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Dự án Luật Sở hữu trí tuệ đang tiếp tục được thảo luận, dự định sẽ thông qua vào cuối năm 2005 Nhãn hiệu hàng hàng nằm trong tổng thể đó là lĩnh vực sở hữu trí tuệ - lĩnh vực đang được quan tâm của V iệt Nam

1 2 K h á i n iệ m , c h ứ c n ă n g , đ ặ c đ iể m v à ý n g h ĩa c ủ a n h ã n h iệ u h à n g h o á

1.2.1 Khái niệm

Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng phải đối diện với nhiều chúng loại hàng hoá cũng như sự đa dạng các loại dịch vụ được cung cấp ngày càng nhiều ở cấp độ quốc gia và quốc tế Điều này dẫn đến nhu cầu sử dụng những nhãn hiệu để người tiêu dùng có thể phân biệt các hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau T ừ thực tế đó, pháp luật V iệt Nam đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hoá trong đó bao gồm cả nhãn hiệu dịch

vụ và những quy định cụ thể kèm theo với m ục đích tạo cho người tiêu dùng

có nhận thức để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại

- - - - 13

Trang 15

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

N hãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch

vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau N hãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc [ 1, Đ785]

Nhãn hiệu hàng hoá được định nghĩa dựa vào chức năng phân biệt của nhãn hiệu hàng hoá Từ định nghĩa này cho thấy chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu hàng hoá là chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Để thực hiện chức năng phân biệt, nhãn hiệu hàng hoá giúp người tiêu dùng nhận biết được, phân biệt được hàng hoá hay nói cách khác một nhãn hiệu hàng hoá có khả năng tự phân biệt đồng thời có khả năng phân biệt với các hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác

Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2005 không đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu hàng hoá mà chỉ đưa ra những nguyên tắc chung điều chỉnh lĩnh vực này

N hững khái niệm và những điều khoản kèm theo sẽ được quy định chi tiết trong Luật Sở hữu trí tuệ dự kiến được thông qua cuối năm 2005

Dự thảo 4 Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng thuật ngữ nhãn hiệu bao hàm nhãn

hiệu hàng hoánhãn hiệu dịch vụ. Trong đó nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác nhau Dấu hiệu này được bảo hộ nếu được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố

đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc, có khả năng phân biệt và không thuộc các trường hợp mà luật quy định có khả năng gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng, m ang tính m ô tả hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu

•V.V [5, Đ77]

Đ ịnh nghĩa nhãn hiệu của Dự thảo 4 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi các thuật ngữ cho phù hợp với điều kiện thực tế Chủ thể được xác định trong định nghĩa

là cá nhân, tổ chức kinh doanh phù hợp hơn so với Bộ luật Dân sự năm 1995

Luận văn cao học

14

Lã Thị Xuân Anh

Trang 16

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

sử dụng cơ sở sản xuất kinh doanh Vì thuật ngữ "cơ sớ sản xuất kinh doưnh"

chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế ở thập kỷ 90 của th ế kỷ trước, khi mà việc sản xuất kinh doanh m ang tính nhỏ lẻ, không phát triển m ạnh như hiện nay

N hư vậy, nhãn hiệu hàng hoá được hiểu là một sự xác định riêng biệt của một hàng hóa hay dịch vụ dưới hình thức m ột tên gọi, từ ngữ, chữ số, tên người, tổ hợp m àu sắc, châm ngôn, biểu tượng, hình tượng, dấu hiệu m à một nhà sản xuất khắc, in, đóng dấu, kèm, cặp vào sản phẩm của m ình, khiến cho

nó được phân biệt với sản phẩm của chủ thể khác

Trang 17

Chê độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Nhãn hiệu hàng hoá kết hợp

Hình 1.3

Tương tự nhãn hiệu hàng hoá đối với sản phẩm, nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu m à các cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ như ngân hàng, xây dựng, quảng cáo.v.v sử dụng cho các dịch vụ của mình để phân biệt dịch vụ cùng loại của các cá nhân, tổ chức khác Thuật ngữ nhăn hiệu hàng hoá trong pháp luật nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam được dùng chung để chỉ nhàn hiệu hàng hoá cho sản phẩmnhăn hiệu hàng hoá cho dịch vụ. Vì vậy, những quy phạm pháp luật liên quan nhãn hiệu hàng hoá đổng thời áp dụng cho nhãn hiệu dịch vụ

Vì m ang chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ thể này với chủ thể khác, nên m ột nhãn hiệu hàng hoá chỉ có thể cấp cho m ột cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, cùng với sự phát triển của nền kinh

tế thị trường, sự đa dạng của các thành phần kinh tế cũng như các hoạt động kinh doanh m à dãn đến cách thức sử dụng nhãn hiệu cũng đa dạng hơn Từ thực tiễn đó, pháp luật Việt Nam thừa nhận cả những biến thể của nhãn hiệu, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá quy định thêm khái niệm về nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu chứng nhận

Luận văn cao học

16

Lã Thị Xuân Anh

Trang 18

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Nhãn hiệu tập th ể là nhãn hiệu hàng hoá được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể đó quy định N hãn hiệu tập thể được sở hữu bởi m ột tổ chức nhưng bản thân tổ chức lại không trực tiếp sử dụng nó mà từng thành viên của tổ chức sử dụng và khai thác các quyền đối với nhãn hiệu

đó đồng thời phải tuân thủ theo quy định chung đã thiết lập N hãn hiệu tập thể chịu sự ràng buộc giữa các thành viên khác trong tổ chức Việc dịch chuyển quyền phải được tất cả các thành viên đồng ý chấp nhận Hơn nữa, khi đăng

ký nhãn hiệu tập thể ngoài những quy định chung đối với m ột nhãn hiệu thông thường, người nộp đơn phải nộp kèm theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể Nhãn hiệu tập thể có tác dụng thông báo cho công chúng về những khía cạnh đặc trưng của sản phẩm mà nhãn hiệu tập thể được sử dụng Đ iểm đặc trưng của nhãn hiệu tập thể là từng thành viên có quyền sử dụng đồng thời nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu riêng của mỗi thành viên

Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu hàng hoá tương tự với nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau, và các nhãn hiệu hàng hoá trùng nhau do cùng m ột chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm , dịch vụ tương tự vói nhau hoặc có liên quan tới nhau Để tránh sự nhầm lẫn về đặc tính cũng như nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, nhãn hiệu liên kết cũng có những quy ch ế chặt chẽ khi đăng ký và sử dụng Vì vậy việc chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu liên kết chỉ được thực hiện đổng thời đối với tất cả các nhãn hiệu liên kết

Nhãn hiệu nổi tiếng là một khái niệm mới mà pháp luật về sở hữu công nghiệp mới đưa vào Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng liên tục cho hàng hoá, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được người tiêu dùng biết đến m ột cách rộng rãi Quyén phát sinh từ nhãn hiệu nổi tiếng phải thông qua thủ tục công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nó

17

TRUNơrôn TTỚNTSTITTThư viên

V ả 0 / 0 0 6^0

Trang 19

Chè độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

không tự phát sinh quyền Thú tục công nhận nhãn hiệu nổi tiếng khác hoàn toàn với việc xác lập quyền đối sở hữu công nghiệp với m ột nhãn hiệu hàng hoá thông thường Việc chứng minh nhãn hiệu có phải là nổi tiếng không, không được quy định cụ thể ờ trong pháp luật hiện hành Chủ sở hữu phải có nghĩa vụ chứng m inh trước cơ quan có thẩm quyền rằng nhãn hiệu đã được công chúng chấp nhận và biết đến rộng rãi thông qua các bằng chứng như việc quảng bá hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu, hợp đồng m ua bán hàng hoá, dịch vụ, doanh thu từ việc bán hàng hoá, dịch vụ V iệc chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng phải đảm bảo duy trì uy tín của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng

Dự thảo 4 Luật Sở hữu trí tuệ có riêng m ột điều khoản riêng quy định về

tiêu ch í đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng. Việc đánh giá nhãn hiệu hàng hoá thông qua tiêu chí:

i) Sô' lượng người tiêu dùng m ua bán, sử dụng, biết đến hàng hoá,

dịch vụ m ang nhãn hiệu;

ii) Doanh số từ việc bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ m ang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, dịch vụ đã được cung cấp;iii) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa/dịch vụ m ang nhãn hiệu đó lưu

hành;

iv) Thời gian sử dụng nhãn hiệu;

v) Ưy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu;

vi) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

vii) Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu ià nổi tiếng

viii) G iá trị của nhãn hiệu dưới hình thức chuyển nhượng quyền đối với

nhãn hiệu, chuyển giao quyền sử dụng, góp vốn đầu tư, và

Trang 20

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

tuệ là một điểm mới Điều này tạo ra sự thuận lợi cho việc xác định nhãn hiệu

là nổi tiếng Hiện nay, pháp luật không đưa ra tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi

tiếng cho nên chủ sở hĩai nhãn hiệu chứng m inh nhãn hiệu của m ình là nổi tiếng rất khó khăn

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cần thúc đẩy các quan hệ thương mại m à các quốc gia quy định thêm về nhãn hiệu chứng nhận Nhãn

hiệu chứng nhận là bộ phận của nhãn hiệu hàng hoá Có thể hiểu nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu do chủ sở hữu cho phép chủ thể khác dùng

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu được chủ sở hữu nhãn hiệu dùng để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đó do các cá nhân, tổ chức khác sản xuất hoặc cung cấp [5, Đ77]

Ví du: nhãn hiệu "SOMFY" của công ty SOM FY được gọi là dấu hiệu chứng nhận nếu như Công ty ADEM VA chủ sở hữu nhãn hiệu "SOMFY- TEC" đồng ý việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu "SOM FY" cho sản phẩm nhóm 7 và nhóm 9 ở Việt Nam vì nhãn hiệu "SOMFY-TEC" cho sản phẩm nhóm 7 và nhóm 9 đã đăng ký trước ở Việt Nam

Nhãn hiệu hàng hoá khác với tên thương mại

Nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại là hai đối tượng khác nhau của luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại cùng thực hiện chức năng phân biệt Tuy nhiên, nhãn hiệu hàng hoá để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại trong khi đó tên thương m ại là tên cá nhân, tổ chức để phân biệt cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác, do đó khi đặt tên phải theo những tiêu chí, yêu cầu khác nhau

Tên thương mại được đề cập trong tại Điều 24 Luật Thương mại năm

1997 chỉ m ang tính liệt kê, không khái quát Việc đưa khái niệm tên thương

m ại vào Luật Thương mại là không hợp lý vì vậy Luật Thương mại thông qua

Luận văn cao học

19

Lã Thị Xuân Anh

Trang 21

Chê độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

vào tháng 5/2005 đã bỏ điều này Vấn đề này được đề cập trong dự thảo 4 Luật Sơ hữu trí tuệ

Tên thương mại là tên gọi cua tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh đoanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh [5, Đ81].Tên thương m ại là tên gọi xác định của thương nhân được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thương nhân sử dụng trong các giao dịch thương m ại

Tên thương mại có thể đặt theo tên riêng, theo ngành nghề kinh doanh hoặc tên bất kỳ và phải tuân thủ các yêu cầu sau:

- K hông được trùng hoặc có thể gây nhầm lẫn với tên thương mại của thương nhân khác;

- Không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đước và thuần phong m ỹ tục của Việt nam;

- Phải được viết bằng tiếng Việt Nam và có thể được viết thêm bằng tiếng nước ngoài

Tên thương mại đồng nhất hoá những người cùng hoạt động dưới một hãng chung đồng thời cá biệt hoá thương nhân này với thương nhân khác trong lưu thông thương mại Tên thương mại phải được ghi trong các hoá đơn, chứng từ, giấy tờ giao dịch của thương nhân

Tên thương mại có thành phần cấu tạo gồm thành phần xác định hình thức cá nhân, tổ chức như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và thành phần phân biệt như V iệt Thành, Thành Đạt và cũng có thể là thành phần chỉ lĩnh vực kinh doanh như xây dựng, vận chuyển, tư vấn Vì vậy tên thương mại đầy đủ rất dài và khó ghi nhớ Thông thường, chỉ bảo hộ thành phần phân biệt như Công ty TNHH V iệt Thành chỉ bảo hộ phần chữ "VIỆT

T H À N H ", Công ty TN HH Tư vấn thiết k ế Thành Đ ạt chỉ bảo hộ phần chữ

"T H À N H ĐẠT"

Luận văn cao học

20

Lã Thị Xuân Anh

Trang 22

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Tên thương mại được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: a) là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được; b) có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh m ang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh [9, Đ14]

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó vơí các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và lãnh thổ kinh doanh [5, Đ81]

Xuất phát từ những đặc điểm của nhãn hiệu như có tính phân biệt cao, nhãn hiệu có thể được cấu thành từ yếu tô' nhìn thấy như từ ngữ, hình ảnh, con

số, màu sắc Phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu được thực hiện trên toàn quốc Trong khi đó tên thương mại chỉ bảo hộ theo khu vực như theo quận, huyện hoặc tỉnh, thành phố

N hư vậy m ột cá nhân, tổ chức chỉ có duy nhất m ột tên thương mại, nhưng có thể có nhiều mặt hàng với những nhãn hiệu hàng hoá khác nhau Trong m ột số trường hợp tên thương mại là nhãn hiệu hàng hoá vì tên thương mại đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá

Ví du:

- Công ty Cổ phần Kỹ thuật SEEN đăng ký nhãn hiệu hàng hoá "SEEN" cho các sản phẩm nhóm 9 "Thiết bị và dụng cụ khoa học, thiết bị bán hàng tự động"

Luận văn cao học

21

Lã Thị Xuân Anh

Trang 23

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Thời hạn bảo hộ tên thương mại không hạn chế Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là 10 năm và có thê gia hạn nhiều lần Q uyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tự phát sinh khi tên thương mại đáp ứng các tiêu chuẩn m à pháp luật quy định không phải thông qua việc xác lập quyền như đối với nhãn hiệu hàng hoá

Nhãn hiệu hàng hoá khác với nhăn hàng hoá

Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, hình vẽ, hình ảnh, dấu hiệu được in chìm , in nổi trực tiếp hoặc được dán, đính, cài chắc chắn trên hàng hoá hoặc bao bì để thể hiện các thông tin cần thiết, chủ yếu về hàng hoá đó Ghi nhãn hàng hoá là việc ghi các thông tin cần thiết, chủ yếu về hàng hoá lên nhãn hàng hoá nhằm cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cơ bản để nhận biết hàng hoá, làm căn cứ để người m ua quyết định lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng hàng hoá, các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra giám sát [14,Đ3]

Nhãn hàng hoá là phương tiện để thể hiện nhãn hiệu hàng hoá Phần nổi trội trên nhãn hàng hoá có thể có các đấu hiệu chỉ nhà sản xuất hay dòng sản phẩm của nhà sản xuất đó, gọi chung là nhãn hiệu hàng hoá Phần này của nhãn hàng hoá có thể đăng ký bảo hộ như nhãn hàng hoá

V í du:

- Dấu hiệu trên nhãn hàng hoá có thể đăng ký làm nhãn hiệu hàng hoá;

Luận văn cao học

22

Lã Thị Xuân Anh

Trang 24

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

- Nhãn hàng hoá là nhãn hiệu

■— — SƯỜN HEO SpJrpf Rm 0 f Porir Havour

ở Việt N am thương hiệu chưa được định nghĩa chính thức nhưng Hiệp hội M arketing Hoa Kỳ định nghĩa như sau: 'Thương hiệu là một cá i tên, một

từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vè, hay tổng hợp tất cả các yểu

t ố k ể trên nhầm xá c định một sân phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm)

Luân văn cao hoc

23

Lã Thỉ Xuân Anh

Trang 25

người bán và phân b iệĩ các sản phẩm (dịch vụ) đó với cá c đấi thủ cạnh tranh”

[2 3 ].

T ó m lại th ư ơ n g h iệ u là h ìn h th ứ c thể h iệ n b ên n g o à i, tạ o ra ấn tư ợ n g , th ể

h iệ n c á i bên tr o n g ( c h o s ả n p h ẩm h o ặc cá n h â n , tổ c h ứ c ) T h ư ơ n g h iệ u tạ o ra

n h ậ n th ứ c và n iề m tin c ủ a người tiê u d ù n g đ ố i với s ả n p h ẩ m và d ịc h vụ m à cá

n h â n , tổ chứ c c u n g ứ ng T u y v ậy, th u ậ t n g ữ n à y k h ô n g đ ư ợ c g h i n h ậ n tro n g

c á c văn b ản q u y p h ạ m p h á p luật vì v ậy k h ô n g s ử d ụ n g th u ậ t n g ữ n à y th a y th ế

c h o n h ã n hiệu h à n g h o á h o ặ c tên th ư ơ n g m ại.

N h ã n h iệ u h à n g h o á với vai trò q u a n trọ n g là p h â n b iệ t h à n g h o á, d ịc h vụ

c ù n g loại củ a c h ủ th ể n à y với c h ủ th ể k h á c đ ã p h ần n à o h ạ n c h ế sử n h ầ m lẫn

c ú a ng ư ờ i tiêu d ù n g tro n g v iệc lựa c h ọ n h àn g h o á , d ịc h vụ.

1.2.2 Chức năng và đặc điểm

a) Chức năng

Chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ

N g ư ờ i tiê u d ù n g lự a c h ọ n h à n g h o á c ă n c ứ v ào d ấ u h iệ u h a y n h ã n h iệ u

h à n g h o á m à n h à sản x u ấ t g ắn trên sản p h ẩm h ay b a o bì s ả n p h ẩm N h ư vậy,

n h ã n h iệ u h à n g h o á c ó ch ứ c n ă n g p h ân b iệt h à n g h o á c ù n g lo ạ i c ủ a c á c n h à

sả n x u ấ t k h á c n h a u C h ứ c n ă n g n ày c ủ a n h ãn h iệ u h à n g h o á tạ o c h o ng ư ờ i tiêu

ng ư ờ i tiê u d ù n g b iế t rõ c h ấ t lư ợ ng c ủ a sản p h ẩm , b iế t sả n p h ẩ m đ ư ợ c c h ế tạ o

từ n g u y ê n vật liệ u g ì, b iế t g iá th à n h c ủ a sả n p h ầm v à c á c th ô n g tin về sản

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Luận vàn cao học

24

Lã Thị Xuân Anh

Trang 26

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

phẩm đó N hư vậy, nhãn hiệu hàng hoá có chức năng thông tin gián tiếp về sản phẩm

b) Đặc điểm

Nhãn hiệu hàng hoá có đặc điểm dễ nhận biết, dễ ghi nhớ

Do nhãn hiệu hàng hoá có chức năng phân biệt cao nên nhãn hiệu hàng hoá có đặc điểm dễ nhận biết, dễ ghi nhớ N hãn hiệu hàng hoá là từ ngữ, chữ cái, hình vẽ, hình ảnh được kết hợp sáng tạo tạo nén m ột tổng thể độc đáo, gây

ấn tượng cho người tiêu dùng Nhãn hiệu hàng hoá được thể hiện trên sản phẩm , bao bì sản phẩm , tờ rơi, biển quảng cáo ở vị trí nổi trội, dễ nhìn thấy

Nhăn hiệu hàng hoá là tài sản vô hình, phi vật chất

Nhãn hiệu hàng hoá là tài sản vô hình, phi vật chất khác với những tài sản thông thường Đối với tài sản thông thường giá trị của nó bị hao mòn thông qua việc sử dụng, ngược lại nhãn hiệu hàng hoá, giá trị của nó tăng theo

sự tích luỹ uy tín, danh tiếng của nhà sản xuất Nếu tách riêng nhãn hiệu ra khỏi sàn phẩm, giá trị bản thân của nhãn hiệu không lớn, chỉ giới hạn trong chi phí thiết kế, lựa chọn và đăng ký Nhưng khi được sử dụng cho hàng hoá

và hàng hoá đó chiếm được niềm tin của người tiêu dùng thì nhãn hiệu trở nên

có giá trị

Ví du:

N hãn hiệu p /s, nhãn hiệu KINH ĐÔ, nhãn hiệu VIN A M ILK v.v có giá trị hàng chục triệu USD

G iá trị củ a nhãn hiệu được hiểu là triển vọng lợi nhuận m à nhãn hiệu đó

có thể đem lại cho nhà sản xuất, nhà đầu tư trong tương lai G iá trị của nhãn hiệu có được căn cứ vào sự nỗ lực của chủ nhãn hiệu trong sản xuất sản phẩm hợp thị hiếu người tiêu dùng, trong quảng cáo tiếp thị sản phẩm, trong tổ chức

hệ thống phân phối sản phẩm, trong dịch vụ đảm bảo hậu m ãi sản phẩm, việc người tiêu dùng biết đến sản phẩm, lựa chọn, sử dụng và tin tưởng vào sản phẩm VI vậy giá trị nhãn hiệu tiềm ẩn trong niềm tin của người tiêu dùng vào

Luân vân cao hoc

25

Lã Thị Xuân Anh

Trang 27

uy tín của sản phẩm mang nhãn hiệu Nhãn hiệu có uy tín tạo cho người tiêu dùng tin tưởng vào sản phẩm mang nhãn hiệu đáp ứng đầy đủ những nhu cầu của họ như chất lượng, kiểu dáng, sự tiện lợi.v.v Tóm lại, nhãn hiệu như cây cầu nối giữa người tiêu dùng và sản phẩm.

Ví du:

Khi lựa chọn sản phẩm là xe máy, người tiêu dùng thích m ua xe m áy có nhãn hiệu H ONDA hơn xe máy mang nhãn hiệu khác, hoặc

Người tiêu dùng m ua cà phê thích chọn cà phê m ang nhãn hiệu TRƯNG

N G U Y ÊN vì đây là những nhãn hiệu tin cậy của người tiêu dùng

Nhãn hiệu hàng hoá mang tính lãnh thổ

Nhãn hiệu hàng hoá mang tính lãnh thổ, có nghĩa rằng nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ ở Việt Nam chỉ có giá trị ngăn cấm người khác xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam , không có quyền ngăn cấm người khác xâm phạm quyền năng này ở ngoài lãnh thổ V iệt Nam

Ví ciu:

Nhãn hiệu VINATABA được bảo hộ cho sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam Trong khi đó, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam có xuất khẩu sang Hoa Kỳ sản phẩm thuốc lá m ang nhãn hiệu VINATABA Việc này đã bị m ột Công ty của

H oa Kỳ khởi kiện vì đã xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá của họ

đã đăng ký trước ở Hoa Kỳ

Nhũn hiệu hàng hoá mang tính độc quyền

Quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ thuộc người đầu tiên sáng tạo, thiết k ế và đăng ký nhãn hiệu đó Chủ sở hữu nhãn hiệu có toàn quyền sử dụng, quyền chuyển dịch, khai thác giá trị từ nhãn hiệu hàng hoá Bất kỳ m ột hành vi xâm phạm quyền năng này sẽ bị ngăn cản và xử lý theo pháp luật

1.2.3 Ý nghĩa của nhăn hiệu hàng hoá

Chê độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Luân ván cao hoc

2 6

Lă Thi Xuân Anh

Trang 28

Chê độ pháp lý vé việc bảo họ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Với chức năng và đặc điểm trên, nhãn hiệu hàng hoá tạo cho người tiêu dùng ấn tượng khác biệt giữa các hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Từ đó người tiêu dùng có sự lựa chọn chính xác các sản phẩm

có uy tín, danh tiếng và tin tưởng vào sản phẩm m ình đã quyết định lựa chọn Điều này có ý nghĩa bảo vệ người tiêu dùng và nhà sản xuất

Nhãn hiệu hàng hoá được đăng ký sẽ hạn chế rủi ro cho các chủ sở hữu trong thương m ại, hạn chế nguy cơ chủ thể khác đề nghị ngừng sử dụng nhãn hiệu do chính họ thiết kế, tạo hiệu quả cao cho việc tổ chức, cá nhân đầu tư, quảng bá sản phẩm mang nhãn hiệu

N hãn hiệu hàng hoá được bảo hộ, chủ sở hữu độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó vì vậy có quyển ngăn cản cá nhân, tổ chức sử dụng nhãn hiệu vào mục đích kinh doanh Hơn nữa nhãn hiệu hàng hoá đăng ký là cơ sở pháp lý để chủ sở hữu có quyền khởi kiện đối với những hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá Trong trường hợp bị khởi kiện, nhãn hiệu

đã được đăng ký là căn cứ để chứng m inh trước cơ quan chức năng và toà án rằng: "chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có các quyền năng đối vori nhãn hiệu hàng hoá theo luật định" Nhãn hiệu gắn chữ 'T M " hay ® là dấu hiệu chỉ nhãn hiệu đã được đăng ký Dấu hiệu tạo sự thuận lợi cho người tiêu dùng dễ nhận biết và lựa chọn sản phẩm, cơ sở để cơ quan quản lý thị trường, cơ quan hải quan nhân biết hàng hoá vi phạm và tịch thu chúng

1.3 Pháp luật nhãn hiệu hàng hoá

V ào cuối th ế kỷ 19, các phát m inh về khoa học - công nghệ tiên tiến thực

sự bùng nổ, từ những sự sáng tạo đó các nhà sản xuất đã ứng dụng kết quả đó vào sản xuất hàng hoá, tiến hành các dịch vụ Đây là bước nhảy vọt trong quá trình thúc đẩy phát triển hàng hoá Kể từ đó hàng hoá, dịch vụ không chỉ đa dạng về chủng loại, số lượng m à còn phong phú về m ẫu m ã, kiểu dáng Bên cạnh những yếu tố tích cực của thị trường hàng hoá nhiêu thành phấn, bên trong nó còn chứa đựng yếu tố tiêu cực kìm hãm sự phát triển xã hội Sự cạnh

Luận ván cao học

27

Lã Thị Xuân Anh

Trang 29

tranh giữa thương nhân này với thương nhân khác, giữa nhà sản xuất này với nhà sản khác xảy ra quyết liệt Bước đầu sự cạnh tranh này đi theo chiều hướng lành m ạnh nhưng trong quá trình cạnh tranh có nhiều yếu tố tác động khiến sự cạnh tranh này tách làm hai chiều hướng: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Sự cạnh tranh không lành m ạnh đã gây thiệt hại không những cho người tiêu dùng cũng như những nhà sản xuất mà còn gây rối loạn thị trường, phá vỡ trật tự xã hội và kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội Đứng trước thực trạng như vậy, các nhà làm luật thấy rằng cần có quy định pháp luật riêng điều chỉnh lĩnh vực này Vì vậy pháp luật nhãn hiệu hàng hoá ra đời nhằm tạo môi trường pháp lý cho các hoạt động kinh doanh của các

cá nhân, tổ chức; ổn định thị trường hàng hoá, trật tự xã hội; tạo đà phát triển kinh tế - xã hội

Việt Nam cũng theo xu hướng phát triển chung của th ế giới Hơn nữa, hội nhập quốc tế đã đặt ra cho Việt Nam phải có những quy định phù hợp với chuẩn mực quốc tế có nghĩa rằng để hoà nhập vào m ột sân chơi chung Việt Nam phải đáp ứng những quy định chung vốn có của nó Với m ục đích đẩy mạnh việc hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng đã hoạch định k ế hoạch, chiến lược hội nhập riêng cho m ình Đ ó là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt N am bao gồm cả hệ thống pháp luật nhãn hiệu hàng hoá Pháp luật nhãn hiệu hàng hoá điều chỉnh nhóm quan hộ xã hội liên quan đến lĩnh vực nhãn hiệu

Luật nhãn hiệu hàng hoá bao gồm nội dung sau:

- Nhãn hiệu hàng hoá và điều kiện bảo hộ;

- Xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá;

- Nội dung và giới hạn quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá;

- Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá; chuyển dịch quyển

sở hữu nhãn hiệu hàng hoá;

- Các biện pháp bảo đảm thực thi quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Luận vàn cao học

28

Lã Thị Xuân Anh

Trang 30

Chê độ pháp lý vê việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

1.3.1 N hăn hiệu hàng hoá và điều kiện bảo hộ

N hư đã được phân tích ở mục 1.2.2, chức năng quan trọng của nhãn hiệu hàng hoá là chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của chủ thể này với chủ thể khác do vậy nhãn hiệu hàng hoá phải có khả năng phân biệt, cụ thể là nhãn hiệu đó có đủ khả năng tác động vào nhận thức của người tiêu dùng, để người tiêu dùng có thể nhận biết, ghi nhớ và so sánh nhằm m ục đích xác định, chọn lựa hàng hoá, dịch vụ

Đê thực hiện chức năng này, nhãn hiệu hàng hoá phải hội tụ đầy đủ các điều kiện như nhãn hiệu hàng hoá không m ô tả hàng hoá, địch vụ m ang nhãn hiệu, không trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ hoặc nộp đơn sớm hơn hoặc được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5 năm cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự, tên thương m ại, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ, không trùng với kiểu dáng công nghiệp của người khác đã nộp đơn hay đang được bảo hộ, không trùng với m ột hình tượng, nhân vật đã thuộc quyền tác giả của người khác trừ trường hợp được người đó cho phép.Pháp luật nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam không quy định trực tiếp về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá mà đưa ra những dấu hiệu loại trừ để dựa vào đó kết luận nhãn hiệu có khả năng bảo hộ hay không Cụ thể Nghị định 63/CP đưa ra 3 dấu hiệu: dấu hiệu bị loại trừ, dấu hiệu loại trừ và dấu hiệu loại trừ khác

ư) Dấu hiệu bị loại trừ là dấu hiệu không có khả năng tự phân biệt

/) Nhãn hiệu dạng chữ viết không có khả năng tự phân biệt

- Các ký tự thuộc ngôn ngữ mà người tiêu dùng V iệt Nam có hiểu biết thông thường không thể nhận biết, không đọc được, không hiểu được, không nhớ được, không có nguồn gốc từ chữ Latinh

n h ư chữ Hàn Q uốc, chữ N hật, chữ Slavơ V.V.;

- - - 29

Luận văn cao học L ã Thị Xuárt Anh

Trang 31

Chế độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

- Các chữ viết mặc dù có nguồn gốc Latinh nhưng chỉ bao gồm

m ột chữ cái hoặc chi bao gồm chữ số, hoặc m ặc dù có từ hai chữ cái trở lên không thể đọc được như đọc một từ kể cả khi có kèm theo chữ số

V í du :

"SO FT" làm nhãn hiệu cho sản phẩm giấy ăn hoặc

"EL EC TR O N IC ” cho sản phẩm điều hoà V.V.;

- Một tập hợp quá nhiều chữ cái hoặc từ ngữ khiến cho không thể nhận biết và ghi nhớ được như "M X K N 4 5 r.v v

ii) Nhãn hiệu ở dạng hỉnh ảnh không có khả năng tự phân biệt

- H ình hoặc hình học đơn giản như hình tam giác, hình tứ giác, hình tròn được thể hiện dưới dạng rời rạc, hoặc đơn lẻ;

- H ình vẽ không tạo được ấn tượng như m ảng m àu hoặc vệt màu;

- H ình vẽ quá rắc rối, phức tạp khiến người tiêu dùng không thể ghi nhớ được như nhiều hình vuông chồng chéo lên nhau -V.V

Luận văn cao học

30

Lã Thị Xuàn Anh

Trang 32

Chẻ độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

- Hình ảnh, biểu tượng, nhãn hiệu tượng trưng đã được sử đụng rộng rãi và đã mất khả năng phân biệt như 5 vòng tròn lồng vào nhau biểu tượng dùng cho thể thao v.v

- Hình ảnh mang tính mô tả như giọt nước dùng cho nước tinh khiết v.v

Hi) Nhãn hiệu kết hợp chữ viết và hình ảnh không cố khả năng tự phân biệt

- Các nhãn hiệu kết hợp gồm cả thành phần chữ viết và hình ảnh bị coi là không có khả năng phân biệt nếu phần chữ viết và hình ảnh thuộc các điểm đã nêu ở (i) và (ii) tạo thành một tổng thể không tác động cho người tiêu dùng dễ nhận biết và dễ ghi nhớ [8, Đ6]

- Tuy nhiên, tính chất "khả nâng tự phân biệt" không mang ý nghĩa tuyệt đối Điều này còn phụ thuộc vào thực tế sử dụng nhãn hiệu trên thị trường vì trong quá trình sử dụng hàng hoá, dịch vụ khiến dấu hiệu trở nên có khả năng phân biệt ví dụ như "333" là dấu hiệu trở thành nhãn hiệu hàng hoá

hiệu hàng hoá của chủ thể khác

Bên cạnh khả năng tự phân biệt, nhãn hiệu hàng hoá còn phải có khả năng phân biệt với nhãn hiệu hàng hoá của chủ thể khác Như vậy, nhãn hiệu không được trùng lặp hay tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của chủ thể khác cho hàng hoá, dịch vụ cùng loại

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ tại Việt Nam (kể cả các nhãn hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các điều ước quốc tế

mà Việt Nam tham gia);

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá nêu trong đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng

Luận vân cao học

31

Lã Thị Xuân Anh

Trang 33

Chế độ pháp lý về việc bdo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

hoá đã được nộp ở Việt Nam, có ngày ưu tiên sớm hơn (kể cả các đơn về nhãn hiệu hàng hoá được nộp theo các điều ước quốc tế

mà Việt Nam tham gia);

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoácủa người khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo

hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ chưa quá 5 năm , trừ trường hợp đình chỉ vì nhãn hiệu hàng hoá không được sử dụng;

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác được coi là nổi tiếng (theo Đ iều 6bis Công ước Pari) hoặc với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi;

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ;

- Trùng với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc đã được nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ với ngày ưu tiên sớm hơn;

- Trùng với một hình tượng, nhân vật đã thuộc quyền tác giả của người khác mà không được người đó cho phép [8, Đ6]

Dự thảo 4 Luật Sở hữu trí tuệ có m ột số điểm mới về dấu hiệu loại trừ đối với trường hợp không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác cho hàng hoá/dịchvụ trùng hoặc tương tự với danh m ục hàng hoá, dịch vụ đăng ký kèm theo nhãn hiệu m à Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó đã bị chấm dứt hiệu lực Dự thảo 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thời gian từ khi hết hiệu lực hoặc bị chấm dứt hiệu lực chưa quá 3 năm Khoảng thời gian này theo Dự thảo quy định phù hợp với Điều 6.9, Hiệp định Thương mại V iệt Nam - Hoa Kỳ

D ự thảo quy định thêm trường hợp trùng với tên giống cây trồng mới đang được bảo hộ của người khác cho sản phẩm giống cây hoặc hạt

Luận văn cao học

32

Lã Thị Xuân Anh

Trang 34

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

giống hoặc hàng hoá, dịch vụ tương tự Như vậy, dự thảo m uốn nâng cao tính phân biệt cứa nhãn hiệu hàng hoá nên quy định dấu hiệu loại trừ rõ hơn

c) Dấu hiệu loại trừ khác

Nhãn hiệu hàng hoá phải đảm bảo trật tự xã hội, tránh gây người tiêu dùng nhầm lẫn nguồn gốc, xuất xứ, bản chất, giá trị của hàng hoá /dịch vụ

Ví du:

Nhà hàng V ân Nam xin đăng ký nhãn hiệu dịch vụ "Vân Nam và hình" ch o dịch vụ khách sạn, ăn uống (nhóm 43) N hãn hiệu "Vân Nam" dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng hiểu rằng đồ ăn đến từ Vân N am - Trung Quốc

Nhãn hiệu phải đáp ứng phải thoả m ãn các dấu hiệu sau:

Nhãn hiệu không phải là tên gọi, biểu tượng của m ột quốc gia, của

m ột vùng lãnh thổ (quốc kỳ, quốc huy, quốc hiệu, tên nước, tên địa phương) hoặc nhãn hiệu không tương tự gây nhầm lẫn vóri tên gọi, của

m ột quốc gia, của một vùng lãnh thổ gây nên sự nhầm tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu có nguồn gốc từ nước, vùng đó

Nhãn hiệu không bị coi là có khả năng gây nhầm lẫn hoặc hiểu sai lạc về bản chất, giá trị của hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu: nhãn hiệu

là từ ngữ hoặc/và hình ảnh gây nên ấn tượng sai lạc về tính nãng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ

Ví du:

Hình 1.6Nhãn hiệu "ba gạch" xin đăng ký cho sản phẩm quần áo, giày thể thao (nhóm 28) bị coi là gây nhầm lẫn với nhãn hiệu "ba gạch" của

Luận văn cao học

33

Lã Thị Xuân Anh

Trang 35

Chẻ độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

hãng ADIDAS Vì người tiêu dùng quá quen thuộc các sản phẩm như giày, quần áo thể thao có ba gạch chéo là của ADIDAS

Nhãn hiệu không bị coi là gây ấn tượng sai lạc về thành phần cấutạo của hàng hoá, dịch vụ,

"SUNSET" & "SUNRISE", tương tự cấu trúc của từ ngữ như "PHOTONICA"

& "PHOTOKINA" hoặc tương tự về cách phát âm "W H ITE & CASE" &

”YK" hoặc gây nhầm lẫn bằng thị giác chẳng hạn như nước tinh khiết "Lavie"

& nước tinh khiết "Laviel", thuốc giảm đau Panadol & thuốc giảm đau Panadox hoặc gây nhầm lẫn bằng thính giác chẳng hạn hai dược phẩm có tên Depakine với D abakine Chính vì vậy pháp luật không chỉ đưa ra khái niệm , dấu hiệu, chức năng của nhãn hiệu hàng hoá m à còn đưa ra những quy định, biện pháp bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá

1.3.2 Xác lập quyền đôi với nhãn hiệu hàng hoá

Nguyên tắc xá c lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá

Cá nhân, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật có quyền đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho hàng hoá, dịch vụ đã được đăng ký kinh doanh do mình sản xuất hoặc người khác sản xuất m à họ không phản đối về việc đăng ký đó

Trên phạm vi quốc tế, có hai hệ thống xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá: nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc sử đụng đầu tiên Việt Nam cũng như đa số các quốc gia trên thế giới xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên có nghĩa rằng hai hay nhiều

Luận văn cao học

34

Lã Thị Xuân Anh

Trang 36

Chê độ pháp lý vé việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

người nộp đơn đăng ký cùng một nhãn hiệu hàng hoá cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ thì người nào nộp đơn sớm hơn thì quyền thuộc về người đó

Người nộp đơn được hưởng quyền ưu tiên trong trường hợp đơn đầu tiên cho nhãn hiệu hàng hoá đã được nộp tại quốc gia khác là thành viên của Công ước Paris hoặc hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hàng hoá đã được triển lãm tại quốc gia là thành viên của Công ước Paris trong thời hạn 6 tháng kể từ khi nộp đơn đầu tiên hoặc tính từ ngày sản phẩm m ang nhãn hiệu hàng hoá được trưng bày tại triển lãm

G iấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá xác nhận chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá và trên đó có ghi thời hạn hiệu lực của G iấy chứng nhận Thông thường hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có hiệu lực trong vòng 10 năm Tuy nhiên, nếu nhãn hiệu hàng hoá đăng ký quốc tế chỉ định tại Việt Nam (đăng ký quốc tế theo thoả ước M adrid) thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có hiệu lực trong vòng 20 năm Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có thể gia hạn hiệu lực liên tục cho những năm tiếp theo Giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá có thể bị đình chỉ hoặc huỷ bỏ vì những lý do không nộp lệ phí duy trì hoặc không gia hạn hiệu lực hoặc người nộp đơn khồng có quyền nộp đơn v.v

Đơn đăng ký xác lập quyền

Đơn đăng ký phải được làm theo mẫu quy định Trong hồ sơ yêu cầu bao gốm m ẫu nhãn hiệu, danh mục nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu, các tài liệu liên quan đến việc kinh doanh hợp pháp và quy ch ế sử dụng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận nếu đăng ký nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận M ẫu nhãn hiệu được in rõ ràng, sắc nét Hàng hoá, dịch vụ nêu trong đơn phải được phân nhóm phù hợp với Bảng phân loại quốc tế hàng hoá và dich vu theo Thoả ước Nice

Luận văn cao học

35

Lã Thị Xuân Anh

Trang 37

Thủ tục x ử lý đơn và cấp G iấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá

Đơn xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá được nộp tại cơ quan quản

lý nhà nước về sở hữu công nghiệp (Cục Sờ hữu trí tuệ) Đơn sẽ được công bố trên công báo về sở hữu công nghiệp sau khi được chấp nhận thông qua quá trình xét nghiệm hình thức Đơn được tiếp tục xét nghiệm nội dung Trong giai đoạn này nếu nhãn hiệu hàng hoá đáp ứng các yêu cầu của luật định thì

cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá, trong trường hợp ngược lại nhãn hiệu bị từ chối bảo hộ

Trong quá trình xét nghiệm đơn có thể được sửa đổi, tách và chuyển giao cho người khác hoặc các bên liên quan có quyền có ý kiến về việc cấp hay không cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá Trong trường hợp nhãn hiệu

bị từ chối, người nộp đơn có thể khiếu nại quyết định của cơ quan có thẩm quyền

1.3.3 N ội dung và giói hạn quyên sở hữu nhãn hiệu hàng hoá

Sau khi nhãn hiệu hàng hoá được đăng ký, chủ sở hữu có m ột số quyền năng đối với nhãn hiệu hàng hoá: quyền gắn nhãn hiệu đó lên hàng hoá, bao

bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh, có quyền lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá m ang nhãn hiệu đó, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ m ang nhãn hiệu đó Chủ

sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có quyền cho phép hoặc ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình

Chủ sờ hữu nhãn hiệu hàng hoá bị hạn chế m ột số quyền như không được phép ngăn cản người khác sử dụng nhãn hiệu đó không nhằm m ục đích kinh doanh hoặc trong m ột số khu vực không được phép ngăn cản người khác nhập khẩu song song nếu luật của quốc gia cho phép

C hủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có quyền khởi kiện hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những tổn thất do hành vi xâm phạm quyền

Chê độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Luận văn cao học

36

Lã Thị Xuân Anh

Trang 38

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

Ngoài những quyền đặc trưng của nhãn hiệu hàng hoá, chủ sở hữu nhãn hiệu có một số quyền tương tự với quyền sở hữu tài sản như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt nhãn hiệu hàng hoá

Theo đó, chủ sở hữu có quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá; chuyển dịch quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá cho chủ thể khác

H ình thức chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá là hình thức chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá cho phép chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu trong phạm

vi quyền sử dụng của m ình thông qua hợp đồng Hợp đồng này được gọi là Hợp đồng Li-xăng [8, Đ35] Theo Dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ hợp đồng này giữ nguyên tên gọi là Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá

Hợp đồng Li-xăng được chia thành hai loại: Hợp đồng độc quyền và hợp đồng không độc quyền

H ợp dồng độc quyền hợp đồng trong đó bên nhận được độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, bên giao không được ký hợp đồng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá với bất kỳ bên thứ ba nào và cũng không được sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó trong thời hạn của hợp đổng [5, Đ 177]

H ợp dồng không độc quyền là hợp đồng trong đó bên giao vẫn có quyền

sử dụng nhãn hiệu hàng hoá và đồng thời có quyền ký kết hợp đổng sử dụng nhãn hiệu không độc quyền với người khác [5, Đ177]

N hãn hiệu hàng hoá kết quả sáng tạo và đầu tư của chủ sở hữu vì vậy việc khai thác giá trị tiềm ẩn của nó cũng được chủ sở hữu sáng tạo Bên nhận trong H ợp đồng Li-xăng không chỉ sử dụng nhãn hiệu đó m à còn có thể tiếp tục khai thác giá trị của nhãn hiều bằng cách chuyển giao quyền sử dụng đó cho người thứ ba Điều này đã tạo ra dạng Hợp đồng Lỉ-xăng m ới-H ợp đồng Li-xăng thứ cấp

Luân văn cao hoc

37 -

Lã Thi Xuân Anh

Trang 39

Chế độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

H ợp đồng Li-xăng thứ cấp là hợp đồng mà trong đó bên giao là người được chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó theo m ột hợp đồng khác

Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có quyền định đoạt nhãn hiệu của mình dưới hình thức chuyển nhượng quyền, chuyển dịch quyền theo sự sáp nhập, hợp nhất, chia tách hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để thừa k ế hoặc từ bỏ toàn bộ hoặc một phần quyền đối với nhãn hiệu.Pháp luật nhãn hiệu hàng hoá quy định việc chủ sở hữu có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá hoặc chuyển nhượng hoặc chuyển dịch quyền cho người khác đã đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn và tạo khung pháp lý để chủ sở hữu có thể khái thác triệt để giá trị nội tại của nhãn hiệu hàng hoá

Bôn cạnh những quyền lợi, chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá phải có nghĩa

vụ nộp lệ phí duy trì, gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá hoặc có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ cho cơ quan chức năng khi khởi kiện những hành vi xâm phạm quyền

1.3.4 C á c biện pháp bảo đảm thực thi quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá.

Để bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá, pháp luật đặt ra những biện pháp để đảm bảo thực thi quyền đối vói nhãn hiệu hàng hoá như các biện pháp hoà giải, xử lý pháp hành chính, các biện pháp khẩn cấp tạm thời, truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng biện pháp biên giới hải quan

Biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải

Biện pháp này chủ yếu thoả thuận nhằm buộc bên xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá chấm dứt hành vi vi phạm m à không tiến hành các thủ tục tố tụng tại toà án Biện pháp hoà giải được các chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá áp dụng nhiều nhất vì tính hiệu quả và kinh tế của nó Hơn nữa, áp dụng

Luận ván cao học

38

Lã Thị Xuân Anh

Trang 40

Chê độ pháp lý về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam

biện pháp này không gây ra quan hệ xấu trong kinh doanh, đảm bảo được bí mật thương mại

Biện pháp xử lý hành chính

Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp thực thi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá thông qua con đường hành chính Biện pháp này thường được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu hàng hoá chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá không muốn giải quyết tranh chấp tại Toà án dân sự Biện pháp xử lý hành chính được chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá lựa chọn vì dễ thực hiện, nhanh chóng và ít tốn kém

T ru y cứu trách nhiệm hình sự

Truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng khi hành vi vi phạm pháp luật thật nghiêm trọng, tái phạm nhiều lần gây thiệt hại đến lợi ích cá nhân hoặc cộng đồng

Tóm lại, nhãn hiệu hàng hoá có vai trò quan trọng trong lưu thông thương mại Hơn nữa, pháp luật quy định cụ thể quyền và lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đã thúc đẩy sự sáng tạo trong sản xuất và trong kinh doanh thương mại, đề cao việc cạnh tranh lành mạnh, tạo nên trật tự kinh tế-

xã hội

Luận văn cao học

39

Lã Thị Xuân Anh

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w