Với hàng loạt sự kiện đó, tại Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 10 tổ chức tại Singapore ngày 05/06/2011, Việt Nam đã lên tiếng phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc cũng như đưa ra
Trang 1MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Chương 1: TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1.1 Khái quát Biển Đông 10 1.1.1 Vị trí địa lý, các địa danh và các quốc gia liên quan tới Biển Đông 11 1.1.2 Vai trò của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế 13 1.2 Chủ quyền, phương thức xác lập chủ quyền và quy định của pháp
luật quốc tế về chủ quyền của quốc gia trên biển 16 1.2.1 Khái niệm về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia 16 1.2.2 Thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế và các nguyên tắc xác lập chủ
quyền 17 1.2.3 Chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia trên biển 29 1.3 Tranh chấp Biển Đông và quy định của pháp luật quốc tế về giải
quyết tranh chấp 37 1.3.1 Tranh chấp trên Biển Đông – nguyên nhân phát sinh và tác động đối
với đời sống cộng đồng quốc tế 37 1.3.2 Quy định của pháp luật quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp quốc
tế về biển 43 1.3.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982 47
Trang 2Chương 2: VIỆT NAM VỚI TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ
VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG – NHÌN TỪ GÓC
2.1 Cơ sở pháp lý và thực tiễn xác lập chủ quyền của Việt Nam trên
Biển Đông 54 2.1.1 Cơ sở pháp lý xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông 54 2.1.2 Nguyên tắc, phương pháp xác lập chủ quyền trên biển của Việt
Nam 55 2.1.3 Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông – phù hợp Công ước Luật
Biển 1982, bảo đảm công bằng theo tuyên bố ứng xử Biển Đông và
các Hiệp định về phân định biển 58 2.1.4 Quan điểm về chủ quyền quốc gia trên biển và thực tiễn thực hiện
chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông 65 2.2 Tranh chấp Biển Đông đối với Việt Nam – cách ứng xử và tình hình
giải quyết 76 2.2.1 Tranh chấp Biển Đông đối với Việt Nam 76 2.2.2 Quan điểm của các nước và cộng đồng quốc tế về vấn đề giải quyết
tranh chấp Biển Đông 86 2.2.3 Khó khăn và thách thức với Việt Nam trong giải quyết tranh chấp
Biển Đông 95 2.2.4 Thực tiễn giải quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam 103 2.3 Cơ sở lịch sử, pháp lý xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam
tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 107 2.3.1 Cơ sở lịch sử cho chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa 107 2.3.2 Cơ sở pháp lý và thực tiễn thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 109
Trang 3Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN BIỂN VÀ
LỜI GIẢI CHO BÀI TOÁN “GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
3.1 Lời giải cho bài toán “giải quyết tranh chấp Biển Đông” 114 3.1.1 Áp dụng giải pháp tạm thời theo các mô hình hợp tác khai thác
chung 114 3.1.2 Áp dụng các giải pháp khác cho giải quyết tranh chấp Biển Đông 123 3.1.3 Xây dựng, hoàn thiện lộ trình giải quyết tranh chấp Biển Đông với
chiến lược và bước tiến cụ thể 125 3.2 Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên
biển 129 3.2.1 Hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam quy định về biển 129 3.2.2 Hệ thống chính sách pháp luật biển của các quốc gia và kinh nghiệm
cho Việt Nam 130 3.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ chủ quyền quốc
gia trên biển 136 3.2.4 Đề xuất luận cứ chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa
và Trường Sa 137 3.3 Kết hợp bảo vệ chủ quyền từ pháp lý tới thực tiễn 141 3.3.1 Đảm bảo cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên
biển 141 3.3.2 Kết hợp bảo vệ chủ quyền từ pháp lý tới thực tiễn 142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CHND : Cộng hòa nhân dân
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
COC : Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông
DOC : Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông 2002
UNCLOS : Công ước của Liên Hợp quốc về luật biển 1982 (Công ước
Luật biển 1982)
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Số
1.2 Sơ đồ các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
2.2 Bản đồ đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông 67
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, thời gian qua đề tài Biển Đông luôn hun nóng các diễn đàn khu vực cũng như quốc tế, trở thành chủ đề bàn luận chính trên các phương tiện truyền thông và là một trong những vấn đề mang tính cấp thiết quốc gia Sóng Biển Đông tưởng chừng đã được xoa dịu khi các bên cùng ngồi lại, đàm phán và nhất trí thông qua Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông Thế nhưng, khi Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông chưa kịp hình thành thì hàng loạt sự kiện đáng tiếc đã diễn ra khiến tình hình tranh chấp Biển Đông thêm căng thẳng và việc giải quyết mâu thuẫn càng trở nên khó khăn
Biển Đông tiếp giáp với Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc và là một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất trên Thế giới Vùng biển này không chỉ đóng vai trò sống còn cho thịnh vượng kinh tế của các nước Đông Nam Á và các quốc gia giao thương mà còn chiếm vị trí chiến lược trong giao thông vận tải và an ninh chính trị của các nước khu vực Do vậy, vấn đề Biển Đông không chỉ là mối quan tâm riêng của các bên liên quan mà còn là sự quan ngại của cả cộng đồng quốc tế Trong tranh chấp Biển Đông, khi hầu hết các quốc gia chỉ hướng tới yêu sách chủ quyền đối với các đảo nhỏ, bãi đá ngầm thì Trung Quốc là nước duy nhất đòi hỏi và tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn
bộ Biển Đông Với nền kinh tế ngày càng phát triển, với sự hùng mạnh về tiềm lực quân sự, cùng truyền thống sử dụng vũ lực để chiếm các đảo đang trong tình trạng tranh chấp, Trung Quốc thực sự trở thành mối đe dọa lớn với các nước còn lại và là tác nhân chính khiến vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp hơn
Mặc dù Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng diễn ra tại Hà Nội năm 2010 đã thống nhất phải giải quyết các tranh chấp Biển Đông bằng hòa bình, đối thoại nhưng phía Trung Quốc vẫn có những động thái thiếu tích cực cùng những hành động không thiện chí, nhằm đe dọa các bên tranh chấp khác Có thể kể đến sự kiện sáng 26/05/2011, khi ba tàu hải giám Trung Quốc chủ động cắt dây cáp thăm dò địa chấn của tàu khảo sát Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí
Trang 7quốc gia Việt Nam (PVN), tại vị trí cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải
lý, nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam Hay việc tàu cá Trung Quốc có sự yểm trợ của 2 tàu ngư chính cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển thuộc thềm lục địa Việt Nam Đặc biệt hơn, khi các quan chức Trung Quốc ngang nhiên phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng Việt Nam đang vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và Trung Quốc chỉ hành động nhằm bảo vệ chủ quyền của mình càng tăng thêm sự bức xúc trong dư luận và gây lo ngại đến việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông cũng như khu vực và trên Thế giới Với hàng loạt sự kiện đó, tại Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 10 tổ chức tại Singapore ngày 05/06/2011, Việt Nam đã lên tiếng phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc
cũng như đưa ra quan điểm “kiên trì giải quyết vụ việc trên bằng biện pháp hòa
bình theo luật pháp quốc tế và nguyên tắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông và giữ mối quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng” Các tổ chức, đoàn thể của Việt Nam cũng đã có những tuyên bố phản đối
hành động sai trái của Trung Quốc, kêu gọi Trung Quốc chấm dứt ngay và không tiếp tục tái diễn các hành động vi phạm trên các vùng biển của Việt Nam, đồng thời cũng đề nghị các tổ chức Luật sư các nước thành viên ASEAN có trách nhiệm bảo
vệ công lý, bảo vệ pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giữ gìn hòa bình và an ninh Thế giới, chung sức xây dựng một Thế giới dân chủ công bằng và văn minh
Biển Đông tưởng như đã lặng sóng khi Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 44 tại Bali, Indonesia năm 2011, đã đạt được sự nhất trí giữa các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc về việc chính thức thông qua Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông Quy tắc này được xem như bước khởi đầu và là dấu mốc quan trọng để các bên nỗ lực chung, tiếp tục đối thoại, hợp tác nhằm thúc đẩy hơn nữa sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau để cùng hướng tới một Bộ quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) trong
Trang 8tương lai Thế nhưng, khi Bắc Kinh khẳng định lại quan điểm không ủng hộ việc giải quyết đa phương những tranh chấp song phương và phản đối sự can thiệp của các cường quốc ngoài khu vực vào vấn đề này, với lập luận “Trung Quốc và các nước láng giềng có đủ khả năng, kinh nghiệm và hiểu biết để tự giải quyết”, đã làm xuất hiện hàng loạt nghi vấn Phải chăng vì Trung Quốc muốn ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ, thuyết phục các nước Đông Nam Á coi đây là công việc nội bộ trong khu vực nên mới chấp nhận ký văn bản hướng dẫn thực thi DOC Với tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc, liệu Bộ quy tắc ứng xử đã được
ký kết với quốc gia này có bảo vệ được lợi ích của các nước ASEAN và thực sự đem lại ý nghĩa cho các bên tranh chấp?
Biển Đông lại tiếp tục dậy sóng khi Trung Quốc ngang nhiên tiến hành một loạt các hành động tại các đảo tranh chấp như thể chúng từ lâu đã là của quốc gia này Với việc liên tục bắt giữ tàu cá và ngư dân của Việt Nam khi họ đang khai thác
cá tại vùng biển của quần đảo Hoàng Sa; hay việc cho phép công ty dầu khí của quốc gia mình tiến hành đấu thầu khai thác dầu gần quần đảo Hoàng Sa; cho Công
ty cổ phần vận tải biển Hải Hiệp Hải Nam mở tour du lịch đường biển từ Tam Á, Hải Nam đến đảo Đá Bắc, quần đảo Hoàng Sa cũng như việc công bố thực thi “Quy hoạch bảo vệ đảo toàn quốc” trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; tiếp đó cho thành lập thành phố Tam Sa để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam; công khai yêu sách chủ quyền qua việc
in bản đồ hình lưỡi bò trên hộ chiếu Tất cả việc làm đó cho thấy Trung Quốc dường như không quan tâm tới các nguyên tắc của pháp luật quốc tế hay các quy tắc ứng xử mà các bên đã ký kết Chiến lược và ý đồ của Trung Quốc vẫn rất khó đoán khiến cho Việt Nam cũng như các quốc gia liên quan khác không khỏi quan ngại
Tranh chấp Biển Đông không phải là một vấn đề mới nhưng với diễn biến phức tạp mang tính thời sự quốc tế cùng những thách thức và nguy cơ ẩn chứa thì Biển Đông đang nổi những hồi chuông cảnh tỉnh, hối thúc những hành động khẩn trương, phù hợp nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia Do vậy, việc tìm hiểu về Biển Đông, về tranh chấp tại Biển Đông, việc nghiên cứu về chủ
Trang 9quyền và phương thức xác lập chủ quyền quốc gia trên biển, hay quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp và giải pháp cho tranh chấp Biển Đông đang trở thành
yêu cầu cấp thiết và đòi hỏi thêm nhiều sự quan tâm Chính vì thế, “Chủ quyền của
Việt Nam trên Biển Đông – nhìn từ góc độ pháp lý, thực tiễn và lời giải cho bài toán “Giải quyết tranh chấp Biển Đông”” thực sự là một đề tài cần được tìm hiểu,
nghiên cứu và thảo luận nhiều hơn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi tình cờ đọc bài báo “Không thể chậm trễ” được đăng trên thanh niên online, kể về câu chuyện của hai nữ sinh phổ thông Việt Nam và Trung Quốc cùng tham gia chương trình Giao lưu văn hóa ở Mỹ và sống chung trong ngôi nhà của cha mẹ nuôi người Mỹ, nhiều người trong chúng ta không khỏi giật mình về hành động quá chậm trễ của Việt Nam trước vấn đề trọng đại của cả dân tộc – đó là chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Câu chuyện có thật đó kể rằng, trong ngày đầu nói chuyện với mọi người về đất nước mình, bạn học sinh Trung Quốc đã tranh thủ giới thiệu Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc khiến nữ sinh
Việt Nam bị bất ngờ, chỉ biết phản ứng đáp trả một cách bị động rằng: “Hoàng Sa,
Trường Sa là của Việt Nam” Khi khóa học kết thúc, trong buổi thuyết trình về một
đề tài lịch sử tại lớp học, bạn Trung Quốc đăng ký ngay đề tài về Hoàng Sa, Trường
Sa với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy đủ về mặt tư liệu khiến bài thuyết trình nhận được sự khen ngợi từ thầy giáo Khi lời khen đó trở thành chủ đề bàn luận trong bữa cơm tối tại nhà cha mẹ nuôi, bạn Việt Nam chỉ biết phản ứng bằng cách … bỏ cơm Câu chuyện đã phần nào phản ánh được mức độ quan tâm khác nhau giữa người dân Việt Nam và Trung Quốc trước cùng một vấn đề mà hai quốc gia đang phải giải quyết Chúng ta vẫn thường hô vang khẩu hiệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” nhưng lại thiếu những hành động thực tế để chứng minh cho bạn bè quốc tế biết rằng chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông không chỉ tồn tại trên khẩu hiệu
Vấn đề Biển Đông đặc biệt là vấn đề về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, là nghĩa
vụ của các học giả, các chuyên gia mà còn là vấn đề thu hút trọn vẹn sự quan tâm
Trang 10của những công dân yêu chuộng hòa bình và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Chính vì vậy, đã có nhiều quỹ liên quan tới Biển Đông được thành lập, có nhiều học giả đầu tư tiền bạc, trí tuệ để tìm hiểu về vấn đề Biển Đông Trong những năm gần đây, đã có khá nhiều luận văn, luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu, khai thác, nghiên cứu các vấn đề liên quan tới biển, đảo; tranh chấp biển, đảo; các biện pháp giải quyết tranh chấp biển, đảo hay chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông Và cũng có rất nhiều bài viết khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như đưa ra những đề xuất về giải pháp giải quyết tranh chấp tại các quần đảo này Có thể kể đến như:
- Cơ sở khoa học cho việc xác định biên giới và ranh giới chủ quyền nước Việt Nam trên biển theo Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982: Đề tài NCKH KHCN 06/05 - Chu Văn Ngợi
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên biển trong luật quốc tế hiện đại - Liên hệ với chủ quyền trên biển của Việt Nam - Luận văn Th.S Uông Minh Vương
- Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa – Luận án tiến sĩ Nguyễn Nhã
- Chủ quyền quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa – Luận văn Th.S Lê Thị Hạnh Lợi
- Chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Luận văn Th.S Lê Quang Thành
- Vấn đề khai thác chung giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Biển Đông - Luận văn Th.S Đỗ Quốc Quyền
- Hoàn thiện chính sách biển Việt Nam – Luận văn Th.S Phạm Thị Gấm
- Khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước - Luận văn Th.S Nguyễn Thị Lan Hương
So với các vấn đề pháp lý khác, có thể cho rằng các công trình nghiên cứu về
đề tài Biển Đông là tương đối đầy đủ và khá đa dạng Tuy nhiên, nếu làm một phép
so sánh giữa tình hình nghiên cứu đề tài này của Việt Nam với Trung Quốc – một
Trang 11quốc gia cùng có mối quan tâm tới Biển Đông, thì có lẽ tất cả chúng ta đều không khỏi ngỡ ngàng Bởi theo thống kê, kho tài liệu của Trung Quốc nghiên cứu về vấn
đề Biển Đông là hết sức phong phú và vô cùng đồ sộ Đó không chỉ đơn thuần là những công trình nghiên cứu khoa học, những bài viết chuyên sâu hay hệ thống tin tức trên phương tiện truyền thông mà còn là những hình ảnh tư liệu, những tấm bản
đồ, những quyển sách chuyên khảo và cả những quyển sách mang tính phổ thông Chúng ta có thể biện minh rằng Trung Quốc lớn hơn Việt Nam về diện tích, đông hơn Việt Nam về dân số, mạnh hơn Việt Nam về tiềm lực kinh tế nên có sự khác biệt này là điều đương nhiên Thế nhưng, để có thể bảo vệ chủ quyền quốc gia, chúng ta không được phép biện minh cho những thiếu sót của mình mà ngay lập tức phải tự thay đổi và hoàn thiện thiếu sót ấy bằng những hành động cụ thể, kịp thời
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đã phần nào chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, đưa ra cách nhìn, cách giải quyết về vấn đề tranh chấp biển, đảo cũng như khẳng định được Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại và có giá trị về mặt khoa học, lý luận nên việc áp dụng vào thực tiễn chưa đạt hiệu quả khiến bài toán về tranh chấp Biển Đông vẫn chưa tìm được lời giải phù hợp Do đó, vẫn cần những nghiên cứu tổng hợp, chuyên sâu và mang giá trị thực tiễn cao hơn
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu
Trước vấn đề chung hết sức cấp thiết của toàn dân tộc - bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, là công dân Việt Nam, là một thạc sĩ luật học tương lai, tác giả nhận thấy phần nào trách nhiệm của mình trong việc nghiên cứu, tổng hợp những luận chứng pháp lý, thực tiễn nhằm chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông cũng như phân tích và lựa chọn những giải pháp tối
ưu nhất cho bài toán giải quyết tranh chấp Biển Đông Chính vì vậy, với đề tài luận văn này, tác giả hi vọng mình có thể đóng góp một phần tiếng nói cũng như trí tuệ, giúp đặt thêm những viên gạch nhỏ xây nền tảng pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ toàn vẹn chủ quyền của Việt Nam trên biển
Trang 12Chúng ta đều biết, trải qua quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời, Việt Nam luôn nhận được sự đồng thuận và ủng hộ từ cộng đồng quốc trong những cuộc đấu tranh bảo vệ giang sơn, bờ cõi Chính sự ủng hộ đó và tinh thần hữu nghị
đã giúp chúng ta giữ được độc lập, sự bình yên và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Ngày nay, khi chủ quyền lãnh thổ đang bị xâm phạm, nhưng không phải bằng các cuộc chiến tranh xâm lược bất hợp pháp mà bằng các cuộc chiến ngoại giao bên bàn tròn nghị sự, liệu rằng chỉ với tinh thần yêu chuộng hòa bình chúng ta có một lần nữa bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền quốc gia Bởi lẽ đó, trên cơ sở pháp luật quốc tế, Việt Nam cũng cần chuẩn bị những bằng chứng lịch sự hùng hồn, những lập luận đanh thép làm hành trang cho tiến trình gìn giữ và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Với việc tìm hiểu quan điểm, cách ứng xử và thực tiễn bảo vệ chủ quyền của các bên tranh chấp, nghiên cứu này cũng nhằm mục đích đưa ra giải pháp hiệu quả cùng những chiến lược phù hợp nhất cho bài toán “giải quyết tranh chấp Biển Đông” với mong muốn có thể vận dụng chúng vào việc giải quyết tranh chấp trong thực tế
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên Biển Đông đang tồn tại rất nhiều quan điểm, bất đồng về việc xác lập chủ quyền của các quốc gia cũng như còn khá nhiều mâu thuẫn trong việc phân chia lợi ích từ biển Chính vì vậy, nghiên cứu này không hướng tới việc tìm hiểu và giải quyết cụ thể từng tranh chấp, bất đồng mà chỉ tập trung nghiên cứu một cách chung nhất, khái quát nhất về những tranh chấp trên Biển Đông, các cơ sở pháp lý và thực tiễn xác lập chủ quyền quốc gia trên biển cũng như quan điểm và quy định của pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp liên quan tới biển, đảo Từ cái nhìn tổng quan
đó, sẽ đưa ra giải pháp cụ thể hơn trên phương diện pháp lý đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông của Việt Nam mà đặc biệt là vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa
Cơ sở pháp lý và thực tiễn xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông chính là bằng chứng lịch sử và là luận chứng thuyết phục nhất chứng minh và khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển Vì thế, cần coi trọng việc tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu và hoàn thiện hồ sơ pháp lý để có thể đề ra những chiến lược và giải pháp đúng đắn nhất áp dụng cho vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông
Trang 134 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, của tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác
Quá trình nghiên cứu được bắt đầu bằng phương pháp thu thập thông tin qua sách báo, tài liệu để chọn ra những khái niệm và tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho lý luận của đề tài, tiếp đó tác giả tiến hành việc phân tích các tài liệu đã thu thập được
và tổng hợp chúng để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù mới cũng như các quan điểm, nhận định mang ý kiến cá nhân
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả có sử dụng các bằng chứng, lập luận của các nhà sử học, nhà nghiên cứu có kiến thức chuyên sâu về lịch sử Biển Đông, về
sự hình thành và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, sử dụng kiến thức và khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao về luật biển, về giải quyết tranh chấp quốc tế liên quan tới biển để xem xét, tham khảo nhận định của họ về quá trình chiếm hữu hợp pháp của Việt Nam tại Biển Đông cũng như các giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông nhằm tìm ra phương pháp tối ưu nhất có thể thỏa mãn mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu đã được xác định và lựa chọn, luận văn được tư duy và viết theo hướng kết hợp đồng thời hai phương pháp diễn dịch và quy nạp nhằm tạo sự hài hòa, chặt chẽ và logic cho các luận điểm được trình bày
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tổng hợp, khái quát để đưa ra cái nhìn toàn diện đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông và chủ quyền quốc gia trên biển nói chung Qua đó, bổ sung và nâng cao hơn tầm nhìn và sự hiểu biết về cơ sở pháp lý xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên biển cũng như thực trạng
và giải pháp đối với tranh chấp của Việt Nam tại Biển Đông Với những luận điểm, luận cứ đưa ra, luận văn cũng góp phần làm phong phú hơn hệ thống tài liệu nghiên cứu về biển, đảo của Việt Nam Mặc dù các kết luận đưa ra theo quan điểm cá nhân nhưng có tham khảo ý kiến, bài viết của các chuyên gia về luật biển nên luận văn có
Trang 14thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các cá nhân đang quan tâm và có mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề Biển Đông trên góc độ lý luận và khoa học
Về thực tiễn, với những kiến nghị, giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông cùng những đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về luật biển, mặc dù chưa thể góp phần giúp quốc gia giải quyết dứt điểm vấn đề tranh chấp nhưng nghiên cứu này cũng phần nào thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả đối với vấn đề chung liên quan tới vận mệnh của toàn dân tộc Từ cái nhìn tổng quan về toàn cảnh Biển Đông hiện nay cùng những phân tích cụ thể về thực trạng, khó khăn cũng như nguy cơ, thách thức mà Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt, độc giả có thể thấy được ảnh hưởng và tầm quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam nói chung và vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng Qua đó, mỗi cá nhân sẽ tự nhận thấy một phần trách nhiệm của mình trong việc đóng góp sức lực, trí tuệ để cùng chung tay, đồng lòng gìn giữ và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển
Qua việc biểu dương sức mạnh pháp lý và tinh thần hòa bình trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam, nghiên cứu cũng thêm lần nữa khẳng định lập trường tôn trọng pháp luật quốc tế của Việt Nam, cùng mong muốn hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng cũng như hi vọng được đón nhận thêm
nhiều sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế
6 Cơ cấu của luận văn
Theo yêu cầu chung của một nghiên cứu khoa học, luận văn có bố cục gồm
ba phần chính: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Trong đó, phần nội dung được chia thành ba chương với các mục lớn và mục nhỏ tương ứng với từng chương Cụ thể:
Chương 1: Tranh chấp Biển Đông và quy định của pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp chủ quyền quốc gia trên biển
Chương 2: Việt Nam với tranh chấp Biển Đông và vấn đề chủ quyền trên Biển Đông – nhìn từ góc độ pháp lý, thực tiễn
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ chủ quyền
quốc gia trên biển và lời giải cho bài toán “giải quyết tranh chấp Biển Đông”
Trang 15có tên gọi là “South China Sea” (Biển Nam Trung Hoa) [88]
Hình 1.1: Toàn cảnh khu vực Biển Đông ( Nguồn : http://community.middlebury.edu/)
Trang 16“South China Sea” cũng là thuật ngữ tiếng Anh phổ biến nhất và là tên gọi
quốc tế của vùng biển này, được ra đời vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương với các nước phương Tây qua con đường tơ lụa Tuy nhiên, tên gọi này chỉ mang ý nghĩa về mặt thuật ngữ mà không có ý nghĩa về mặt chủ quyền Chính vì vậy, các quốc gia còn có nhiều cách gọi khác nhau để phản ánh chủ quyền lịch sử của mình với khu
vực biển này như: “Biển Đông” theo cách gọi của Việt Nam, “Nam Hải” hay “Nam
Trung Quốc Hải” theo cách gọi của Trung Quốc, còn Philippines gọi là biển Luzon
theo tên hòn đảo lớn Luzon của nước này [81]
1.1.1 Vị trí địa lý, các địa danh và các quốc gia liên quan tới Biển Đông
1.1.1.1 Địa lý Biển Đông
Biển Đông nằm ở phía Tây của Thái Bình Dương, là một biển kín được bao bọc bởi đảo Đài Loan, quần đảo Philippines ở phía đông, các đảo Indonesia và bán đảo Malaysia ở phía nam và đông nam, bán đảo Đông Dương ở phía tây và lục địa Nam Trung Hoa ở phía Bắc Diện tích Biển Đông khoảng 3.400.000 km2, độ sâu trung bình khoảng 1.140m và độ sâu cực đại khoảng 5.016m [71, tr.1]
Theo Ủy ban Thủy văn học quốc tế, đường ranh giới cực bắc của Biển Đông
là đường nối điểm cực bắc của đảo Đài Loan đến Thanh đảo của Trung Hoa, gắn vị trí vĩ độ 25010’N, ranh giới phía cực nam của biển là vùng địa hình đáy bị nâng lên giữa đảo Sumatra và Borneo (Kalimantan) gần vĩ độ 3000’S [71, tr.1]
1.1.1.2 Các địa danh trên Biển Đông
Biển Đông có các vịnh lớn như: Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, các nhóm đảo lớn: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo, đá nhỏ cùng nhiều bãi cạn, bãi ngầm
và các vùng biển khác Trong đó, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nước mặn, diện tích khoảng 160.000km2, chu vi 1.950km, với khoảng 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, tập trung chủ yếu
ở phía bờ Việt Nam Đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nằm khoảng giữa vịnh với diện tích 2,5km2, cách bờ biển Việt Nam khoảng 110km [71, tr.2] Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và CHND
Trung Hoa thì: “Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển
Trang 17lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18 0 30 ’ 19 ’’ Bắc, kinh tuyến 108 0 41 ’ 17 ’’ Đông qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16 0 57 ’ 40 ’’ Bắc
và kinh tuyến 107 0 08 ’ 42 ’’ Đông”
Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) nằm sâu vào phía bờ tây nam của Biển Đông là kết quả miền địa động học tách giãn, cắt trượt tạo địa hào, dọc kinh tuyến Vịnh dài khoảng 2.300km và có diện tích khoảng 293.000km2, được bao bọc bởi bờ biển của Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia [71, tr.2] Đây là một vịnh nông với độ sâu trung bình khoảng 60m, không có nhiều đảo nhỏ như Vịnh Bắc Bộ nhưng lại có nhiều đảo lớn như đảo Phú Quốc rộng hơn 568km2 Tài nguyên thiên nhiên của vùng biển này bao gồm hai loại: một bên là tài nguyên sinh vật biển với khoảng hơn 100 loài cá, trong số đó có khoảng 20 loài cá có tầm quan trọng về kinh
tế, và bên kia là tài nguyên khoáng sản chứa trong các trầm tích của thềm lục địa
Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là "cát vàng" (tiếng Anh: Paracel Islands), nằm
ở tọa độ: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông, là một nhóm khoảng 30 đảo và bãi đá cạn nằm trong một vùng rộng khoảng 14.000km2 Quần đảo nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý về phía đông, cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) khoảng 120 hải lý và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc ở điểm gần nhất khoảng 140 hải lý [71, tr.3] Quần đảo gồm hai nhóm đảo là An Vĩnh (nhóm đảo phía Đông) và Lưỡi Liềm (nhóm đảo phía Tây), cùng nhiều bãi đá ngầm
Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung Quốc: Nam Sa quần đảo; tiếng Tagalog: Kalayaan; tiếng Malaysia và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly) là nhóm gồm hơn 100 đảo, bãi đá và rạn san hô phân bố trên một diện tích rộng 160.000 km2 đến 180.000km2 [71, tr.3] Nằm trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏ, khí đốt Mặc dù Trường Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ
Trang 18nhiều thế kỷ đến nay nhưng hiện tại có nhiều quốc gia khác cũng đang tuyên bố chủ
quyền tại quần đảo này
1.1.1.3 Các quốc gia liên quan tới Biển Đông
Biển Đông được bao quanh bởi bờ biển của 9 quốc gia là: Việt Nam, Trung
Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Campuchia [71] Hầu hết các quốc gia có biên giới với vùng biển này đều đang tranh cãi và có những yêu sách khác nhau về chủ quyền cũng như các nguồn tài nguyên trên Biển Đông Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế mở rộng vùng biển của mình ra 200 hải lý từ lãnh hải của họ, chính điều đó đã tạo lên những vùng biển chồng lấn trên Biển Đông [14]
Biển Đông có thể thông thương được với các biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và khu vực lân cận qua các eo biển Chính điều này đã tạo sự gắn kết và quan hệ mật thiết giữa Biển Đông và các quốc gia ngoài khu vực qua con đường giao thương hàng hải quốc tế
1.1.2 Vai trò của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế
Không chỉ là tuyến đường huyết mạch trong giao thương hàng hải, Biển Đông còn chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng về chủng loại, phong phú về trữ lượng, đặc biệt quan trọng cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước trong khu vực Có lẽ vậy mà không có một vùng biển nào trên Thế giới với diện tích tương đương lại chiếm một vị thế quan trọng về phương diện giao thông, kinh tế,
chính trị, quân sự như Biển Đông
1.1.2.1 Vai trò trong giao thông hàng hải
Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, tất cả các tuyến đường hàng không
và hàng hải quốc tế nối liền hai khu vực Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương hay tuyến đường huyết mạch nối liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương đến Đông Nam Á đều đi qua Biển Đông Với sự góp mặt của hai cảng lớn thế giới là cảng Hong Kong ở phía bắc và cảng Singapore ở phía nam, Biển Đông cũng được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của Thế giới Khối lượng hàng hóa vận chuyển qua tuyến đường này rất lớn, chỉ riêng dầu lửa đã có hơn 90% nhu
Trang 19cầu của Nhật Bản, hơn 50% lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc vận chuyển qua Biển Đông [71, tr.2]
Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại
từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Nằm trên lộ trình năng lượng trọng yếu với nhiều thương vụ buôn bán dầu Thế giới đi qua, Biển Đông được ví như một van điều tiết dòng chảy dầu thô giữa vùng Vịnh và các nền kinh tế ở Đông Nam Á
Như vậy, Biển Đông đang nắm giữ vị trí chiến lược trong giao thương hàng hải của các quốc gia khu vực nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung Nếu các loại tàu biển không chạy qua Biển Đông mà vòng qua Nam Australia hoặc đi theo đường mới thì cước phí vận tải sẽ tăng lên gấp nhiều lần, khi đó thiệt hại về kinh tế
càng chứng tỏ tầm quan trọng của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế
1.1.2.2 Vai trò trong phát triển kinh tế quốc gia
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng
cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các quốc gia ven biển, đặc biệt là tiềm năng sinh vật biển và khoáng sản phong phú, đa dạng Với trữ lượng tương đối lớn cùng đối tượng khai thác đa dạng, nhiều sinh vật có giá trị sử dụng, xuất khẩu cao, hoạt động khai thác có thể tiến hành quanh năm, Biển Đông đã đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho các quốc gia khu vực Chính vì vậy, các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines đều phát triển và trở thành những quốc gia đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu Thế giới
Biển Đông cũng được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất Thế giới với hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan … trong đó Indonesia đã là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu khí (OPEC) Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí với tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn
Trang 20dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối [9,10] Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng mỗi ngày Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn mỗi năm, duy trì được trong vòng 15 đến 20 năm tới [88] Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên Thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi
là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo
Cùng với khu hệ sinh vật biển phong phú, Biển Đông còn có cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái biển đa dạng với vùng triều cửa sông, rừng ngập mặn, rạn san hô, đầm phá ven biển, các đảo ven bờ và vùng khơi Chính điều này cũng tạo cho các nước khu vực Biển Đông một lợi thế về phát triển du lịch sinh thái biển Ngành du lịch biển có khả năng mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế của các quốc gia ven biển nên đang giữ vai trò quan trọng và trở thành mũi nhọn phát triển
1.1.2.3 Vai trò với chính trị và an ninh quốc phòng
Phía tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimata
và eo biển Malaca Phía bắc và phía đông Biển Đông giao lưu thuận lợi với Thái Bình Dương qua các eo biển sâu rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải lý, sâu 70m và eo biển Bashi sâu hơn 1.800m [71, tr.2-3] Chính khả năng trao đổi với các vùng biển lân cận qua các eo biển này của Biển Đông đã tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trong an ninh quốc phòng khu vực
Các đảo và quần đảo trong Biển Đông cũng có ý nghĩa phòng thủ quan trọng
Trang 21đối với nhiều nước Trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông
1.2 Chủ quyền, phương thức xác lập chủ quyền và quy định của pháp luật
quốc tế về chủ quyền của quốc gia trên biển
1.2.1 Khái niệm về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia
Lãnh thổ quốc gia được hiểu là một phần trái đất, bao gồm vùng đất, vùng
nước, vùng trời, khoảng không và lòng đất nằm trên, dưới vùng đất và vùng nước
đó thuộc về chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của một quốc gia [68, tr.159] Lãnh thổ quốc gia là cơ sở địa lí và vật chất cho sự tồn tại của quốc gia nhất định
Chủ quyền quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ quyền làm chủ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một nước độc lập, được thể hiện trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao và được bảo đảm toàn vẹn, hoàn toàn, đầy đủ mọi mặt từ lập pháp tới hành pháp và cả tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của nó Đây là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của quốc gia, bao gồm hai nội dung chủ yếu là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, thông qua những quyết định về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng phải trên cơ sở ý chí chủ quyền của nhân dân Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia, không có sự
áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng động quốc tế [68, tr.41]
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng định quyền làm chủ của quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình, được giới hạn ở biên giới quốc gia nên mọi hành động vượt qua phạm vi biên giới quốc gia đều là hành
Trang 22động xâm phạm chủ quyền và trái với pháp luật quốc tế Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm, mỗi quốc gia có toàn quyền định đoạt mọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ hay can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác cũng trở thành tư tưởng chủ đạo trong các nguyên tắc cơ bản của quan hệ pháp luật quốc tế
Theo luật pháp quốc tế hiện đại, lãnh thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia Do đó, chủ quyền lãnh thổ chính là quyền lực tối cao, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình Chỉ quốc gia mới thực sự có quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt một cách độc lập, hoàn toàn lãnh thổ đó Để một bộ phận lãnh thổ được coi là thuộc một quốc gia nào đó, điều kiện pháp lý cần thiết là lãnh thổ này phải được đặt dưới chủ quyền của quốc gia đó Vì vậy, trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, xác định được chủ quyền quốc gia có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Theo án lệ của tòa thì khi có hai hay nhiều quốc gia đưa ra yêu sách, luận thuyết, chứng cứ pháp lý trái ngược nhau về chủ quyền trên cùng một khu vực lãnh thổ, để xác định chủ quyền thuộc về ai, ta cần xem xét quốc gia nào đã xác lập được một danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ phù
hợp với các quy định của luật pháp quốc tế
1.2.2 Thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế và các nguyên tắc xác lập chủ quyền
Dù lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm nhưng không phải vì
vậy mà nó không có sự thay đổi một cách hợp pháp dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy định Mọi sự thay đổi lãnh thổ quốc gia phải được thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và quyền dân tộc
tự quyết Nếu một quốc gia muốn xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của mình thì quốc gia đó phải tuân theo các căn cứ hay điều kiện pháp lý như:
- Việc xác lập phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp, áp dụng với một đối tượng phù hợp;
- Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và thực hiện theo đúng cách thức mà luật pháp quốc tế đòi hỏi;
- Xác lập chủ quyền lãnh thổ cần phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự
Trang 23quyết của cư dân sống trên phần lãnh thổ được thụ đắc
Do đó, để biết được ai mới là chủ thực sự của một lãnh thổ và một cộng đồng dân cư ổn định cần hiểu được việc xác định danh nghĩa chủ quyền đó diễn ra như thế nào Nó có tôn trọng các nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ, có tiến hành theo các phương thức thụ đắc hay tuân theo các nguyên tắc và phương thức xác lập chủ quyền đã được pháp luật quốc tế thừa nhận hay không
1.2.2.1 Vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ
Pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế lâu đời đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ và biên giới quốc gia Vì thế, việc xác lập chủ quyền lãnh thổ trên đất liền hay trên các vùng biển, đảo đều phải hội đủ các yếu tố theo luật pháp quốc tế của từng thời điểm lịch sử Phương thức chiếm hữu và thụ đắc lãnh thổ vì thế cũng thay đổi theo thời gian
Ở thế kỷ XIV và XV, các nước phương Tây đã thừa nhận việc cấp đất của Giáo hoàng đủ để trao chủ quyền cho một nước đối với lãnh thổ vô chủ Tập quán này xuất phát từ sắc lệnh của Giáo Hoàng Alexandre VI ký ngày 4 tháng 5 năm
1493 xác định nguyên tắc phân chia các vùng lãnh thổ mới phát hiện ngoài Châu Âu giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, các nước Hà Lan, Anh, Pháp đã phát triển và dần trở thành cường quốc Nhằm bảo vệ quyền lợi của mình trước sắc lệnh của Giáo Hoàng Alexandre VI, các nước đã tìm ra nguyên tắc mới về thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ phát hiện Từ đó hình thành
thuyết "quyền phát hiện" và thuyết "quyền ưu tiên chiếm hữu" một vùng lãnh thổ
thuộc về quốc gia nào đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên Trên thực tế, việc phát hiện như thế chưa bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó xác định chính xác thế nào là phát hiện, hay làm thế nào để xác nhận
và xác định giá trị pháp lý của việc phát hiện ra một vùng lãnh thổ Vì thế, việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu vết trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện Sau hội nghị Berlin về châu Phi năm 1885 của 13 nước Châu Âu với Hoa
Trang 24Kỳ và sau khoá họp của Viện Pháp Luật Quốc Tế ở Lausanne (Thụy Sĩ) năm 1888, nguyên tắc chiếm hữu thật sự trở thành quan điểm chiếm ưu thế trên Thế giới
Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888 có nhấn mạnh: “mọi sự
chiếm hữu muốn tạo nên một danh nghĩa sở hữu độc quyền thì phải là thật sự tức là thực tế, không phải là danh nghĩa” [31] Chính tuyên bố này đã khiến cho nguyên
tắc chiếm hữu thực sự của Định ước Berlin không chỉ có giá trị với các nước ký kết
mà trở nên phổ biến trong luật pháp quốc tế
Như vậy, thực tiễn và pháp luật quốc tế đã thừa nhận các nguyên tắc xác lập chủ quyền lãnh thổ gồm: nguyên tắc quyền phát hiện và nguyên tắc chiếm hữu thực
sự Bên cạnh đó việc xác lập chủ quyền lãnh thổ có thể tiến hành qua các phương thức như: kế thừa quốc gia, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia, mở rộng chủ
quyền theo Công ước Luật biển 1982 và xác định lãnh thổ do kề cận địa lý
a Vấn đề kế thừa quốc gia
Trong thực tiễn pháp luật quốc tế, có nhiều quan điểm khác nhau về kế thừa quốc gia Nhưng nhìn chung, vấn đề kế thừa được đặt ra khi có sự thay đổi triệt để
về chủ quyền của một quốc gia tại vùng lãnh thổ nhất định do việc xuất hiện hoặc chấm dứt tồn tại của một quốc gia Trong hai Công ước Viên về kế thừa quốc gia do
Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc soạn thảo (Công ước Viên về kế thừa theo điều ước quốc tế ngày 22/8/1978 và Công ước Viên về kế thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ, công nợ quốc gia ngày 07/4/1983) thì kế thừa quốc gia là thuật ngữ chỉ sự thay thế của một quốc gia này cho một quốc gia khác trong việc hưởng quyền và gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với lãnh thổ nào đó Các quốc gia mới giành được độc lập không nhất thiết phải tôn trọng các điều ước trước đó, việc kế thừa do quốc gia mới quyết định Vì vậy, nghiên cứu việc kế thừa quốc gia phải căn
cứ vào từng trường hợp cụ thể Trong thực tiễn, việc kế thừa quốc gia đã được tiến hành theo các trường hợp như: kế thừa quốc gia sau cách mạng xã hội; kế thừa quốc gia do kết quả của phong trào giải phóng dân tộc; kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang hay khi thay đổi lớn về lãnh thổ quốc gia Quốc gia
kế thừa sẽ kế thừa toàn bộ lãnh thổ của quốc gia để lại dẫn tới hệ quả quốc gia kế
Trang 25thừa thường có lãnh thổ lớn hơn các quốc gia ban đầu
b Hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia
Hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia là hành vi pháp luật thể hiện ý chí độc lập của quốc gia, có tính chất quốc tế về cả hai phương diện hình thức và nội dung do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện, có mục đích tạo ra các kết quả nhất định trong các quan hệ quốc tế Thường có các dạng như: hành vi công nhận, hành vi cam kết, hành vi phản đối, hành vi từ bỏ Các hành vi này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: tuyên bố, công hàm, phát biểu của các vị lãnh đạo Nhà nước hoặc các tuyên bố chung Dù được tiến hành theo hình thức nào đi chăng nữa thì hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia cũng chỉ có ý nghĩa đối với pháp luật quốc tế khi được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và phải phù hợp với nguyên tắc và quy định của pháp luật quốc tế, nhằm tạo ra một kết quả nhất định trong quan hệ quốc tế
c Vấn đề mở rộng chủ quyền theo Công ước Luật biển 1982
Theo quy định của pháp luật quốc tế, ngoài việc xác lập lãnh thổ đối với vùng đất vô chủ, quốc gia ven biển còn được mở rộng chủ quyền và quyền chủ quyền ra các vùng biển theo các nguyên tắc nhất định khác như nguyên tắc đất thống trị biển Đất thống trị biển là nguyên tắc thể hiện sự cụ thể của học thuyết Res nullius, cho phép quốc gia ven biển mở rộng chủ quyền quốc gia ra hướng biển phù hợp với các nhân tố chính trị và khoa học kỹ thuật nhưng không tách rời các cơ sở pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận
Khoản 1, Điều 2 - Công ước Luật biển 1982 có quy định, “Chủ quyền của
quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải”
Còn theo Khoản 1, 2, Điều 49 - Công ước Luật biển 1982 thì:
“1 Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước ở phía trong
đường cơ sở quần đảo được vạch ra theo đúng Điều 47, được gọi là vùng nước quần đảo, bất kể chiều sâu về khoảng cách xa bờ của chúng như thế nào
Trang 262 Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên vùng nước quần đảo cũng như đến đáy vùng nước đó và lòng đất tương ứng đến các tài nguyên ở đó”
Như vậy, lãnh thổ là điều kiện tiên quyết để mở rộng chủ quyền quốc gia ra vùng nước lãnh hải và các vùng khác như vùng nước quần đảo Chính chủ quyền của quốc gia quần đảo trên các đảo của mình là cơ sở cho cộng đồng quốc tế chấp nhận học thuyết quốc gia quần đảo và mở rộng chủ quyền đó ra vùng nước quần
đảo, bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của chúng như thế nào
Nguyên tắc đất thống trị biển còn thể hiện ở việc quốc gia được quyền hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ của mình ra biển Ngay cả khi một vùng đáy biển gần lãnh thổ của một quốc gia hơn là lãnh thổ của mọi quốc gia khác người ta cũng không thể coi nó thuộc quốc gia này nếu nó không phải là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó ra biển Tuy nhiên, các quốc gia cũng không thể lạm dụng nguyên tắc đất thống trị biển để mở rộng mãi thẩm quyền của mình ra biển hoặc đơn phương yêu sách những vùng biển rộng lớn hơn, không phù hợp với luật quốc tế
d Vấn đề xác lập lãnh thổ do kề cận địa lý
Trong lịch sử, yêu sách về chủ quyền đối với các lãnh thổ đảo, luận cứ về sự
kế cận địa lý cũng đã được các quốc gia sử dụng, chẳng hạn như Argentina đã từng yêu sách về quần đảo Manvinat, Hoa Kỳ và Hà Lan cùng yêu sách về đảo Palmas Tuy vậy, nó không bao giờ được công nhận như bộ phận cấu thành của một quy tắc luật quốc tế cho phép giải quyết xung đột có lợi cho một trong hai quốc gia mà lãnh thổ của quốc gia đó nằm gần những lãnh thổ đảo đang tranh chấp hơn
1.2.2.2 Nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ
Thụ đắc lãnh thổ là việc thiết lập ranh giới địa lý chủ quyền của một quốc
gia đối với một vùng lãnh thổ theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của luật pháp quốc tế Việc thụ đắc lãnh thổ cũng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế cũng như thiết lập quy tắc xử sự mới trong thực tiễn quan hệ quốc tế Tuy nhiên, do chế định lãnh thổ có những đặc thù riêng nên không phải bất kỳ một sự thụ đắc lãnh thổ nào cũng đều
Trang 27phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế Liên quan trực tiếp tới vấn
đề thụ đắc lãnh thổ, có những nguyên tắc cơ bản sau:
a Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
Đây cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất, nguyên tắc nền tảng của Luật quốc tế hiện đại và được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 2 – Hiến chương
Liên Hợp quốc: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ
quyền của tất cả các nước thành viên” Vì vậy, các quốc gia khi có bất kỳ hành vi
pháp lý quốc tế nào hay khi xác lập chủ quyền lãnh thổ cho mình đều phải tôn trọng nguyên tắc này của luật pháp quốc tế
b Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
Nguyên tắc này được hình thành trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và đã được khẳng định trong Hiến Chương Liên Hợp quốc Tại Khoản 4, Điều 2 Hiến Chương Liên hợp quốc, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực đã được đưa ra, có giá trị như một nguyên tắc pháp lý chung, áp dụng cho tất
cả các quốc gia “Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ
lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với mục đích của Liên hợp quốc” Nghị quyết số 2625 năm 1970 của
Đại Hội đồng Liên Hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã quy
định rõ: “Các quốc gia có bổn phận không đe dọa hay sử dụng vũ lực để vi phạm
các biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hay như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia” Theo đó: “Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”
Hiến chương Liên Hợp Quốc tuy không quy định cụ thể các biện pháp vũ lực nào là bất hợp pháp nhưng lại quy định các biện pháp vũ lực hợp pháp để chống lại xâm lược, thực hiện quyền tự vệ nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia trong các điều từ 42 đến 47 [36] Bên cạnh đó, Hiến chương cũng quy định về những trường hợp sử dụng hợp pháp sức mạnh phi vũ trang tại các điều 41 và 50 [36], đó
Trang 28là các biện pháp cắt đứt hoàn toàn hay một phần quan hệ kinh tế, giao thông đường sắt, đường biển, đường hàng không, bưu điện, bưu chính, điện đài, các phương tiện thông tin và cắt đứt quan hệ ngoại giao
Như vậy, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực nên được hiểu với nội hàm rộng hơn, nó không chỉ là việc cấm sử dụng lực lượng vũ trang mà còn cấm cả sự cưỡng bức phi vũ trang Điều này có thể thấy rõ hơn qua Định ước Henxiki năm 1975 về an ninh và hợp tác của các nước Châu Âu, có quy
định các quốc gia tham gia sẽ “khước từ mọi biện pháp mang tính cưỡng bức đối
với quốc gia, thành viên khác, khước từ tiến hành hành vi cưỡng bức về kinh tế”
c Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế gắn liền với nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và là hệ quả tất yếu của nguyên tắc này
Trước chiến tranh Thế giới thứ hai, luật pháp quốc tế đã ghi nhận một số biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, xong vào thời điểm đó nguyên tắc này chưa trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại
Nó lần đầu tiên được ghi nhận tại Khoản 3, Điều 2 - Hiến chương Liên hợp quốc [36] và trở thành nguyên tắc cơ bản, bắt buộc chung đối với các thành viên
Ngày nay, với mục đích đảm bảo hòa bình, an ninh và công lý quốc tế nguyên tắc này đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản, nền tảng, có tính xuyên suốt và bao trùm Điều này không chỉ ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc mà còn thể hiện trong các điều từ 279 đến 299 - Phần XV Giải quyết các tranh chấp của Công ước Luật biển 1982 [14] và trong hầu hết các điều ước quốc tế đa phương cũng như song phương, điều ước quốc tế khu vực cũng như điều ước mang tính toàn cầu Chính vì vậy, việc tuân thủ nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong việc thụ đắc lãnh thổ là nghĩa vụ bắt buộc đối với mỗi quốc gia thành viên của Liên hợp quốc
d Nguyên tắc dân tộc tự quyết
Ra đời trong thời kỳ cách mạng tư sản, nguyên tắc dân tộc tự quyết đã được
Trang 29ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng như: Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc, Nghị định 1514 (XV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 14/12/1960, tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia năm 1970 [68, tr.53-54]
Một trong những căn cứ của việc xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ mà quốc gia phải tuân theo là phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết của cư dân sống trên phần lãnh thổ được thụ đắc Chính vì vậy, đây có thể được coi là một trong những bước ngoặt lớn trong lịch sử xác lập chủ quyền lãnh thổ nói riêng và sự phát triển của luật pháp quốc tế nói chung
Tuy nhiên, theo giáo sư người Nga B.M Climeco thì nguyên tắc dân tộc tự quyết không loại trừ những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác Hơn thế nữa, trong khi thực hiện quyền dân tộc tự quyết, vẫn có thể sử dụng các phương thức đó như những phương thức bổ trợ Quan điểm này là hoàn toàn có cơ sở, có thể áp dụng cho việc lựa chọn và sử dụng các phương thức thụ đắc lãnh thổ, bởi lẽ trên thực tế không thể áp dụng các nguyên tắc dân tộc tự quyết đối với mọi vùng lãnh thổ, đặc biệt là những vùng có tính đặc thù riêng
e Nguyên tắc chiếm hữu thực sự
Một trong những điều ước quốc tế có ý nghĩa then chốt trong việc đánh giá tính hợp pháp của việc xác lập lãnh thổ là Định ước Berlin ký ngày 26/06/1985, các nước thành viên đã thông qua một nghị quyết về Châu Phi, theo đó tại Điều 33 và Điều 34 có xác định nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thật sự và các điều kiện chủ yếu để có việc chiếm hữu thực sự Quốc gia được công nhận là chủ sở hữu lãnh thổ mới nếu ngoài việc phát hiện đầu tiên phải thực hiện tiếp theo đó các hành động thực tế như: phải có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các nước ký Định ước; phải duy trì trên những vùng lãnh thổ mà nước ấy chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các quyền mà nước ấy đã giành, được tôn trọng
Mặc dù chỉ có hiệu lực ở Châu Phi và với các nước thành viên, nhưng đến năm 1988, Viện pháp luật quốc tế Lausanne đã ra tuyên bố khẳng định nguyên tắc này khiến nó trở nên phổ biến, chiếm ưu thế và được thừa nhận chung Tuy Hiệp
Trang 30ước Saint Germain 1919 về chấm dứt sự tồn tại đế quốc Hung và Áo đã tuyên bố hủy bỏ Định ước Berlin năm 1985 vì lý do trên Thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, nhưng nguyên tắc này vẫn giữ nguyên giá trị và vẫn được các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng trong thực tiễn xét xử, giải quyết tranh chấp lãnh thổ Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:
- Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do Nhà nước tiến hành Cá nhân không
có quyền thiết lập chủ quyền lãnh thổ vì cá nhân không phải là chủ thể của các quan
hệ quốc tế;
- Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hoà bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là vô chủ hoặc là đã được quốc gia làm chủ chủ động từ bỏ Dùng vũ lực để chiếm hữu một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp;
- Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực hiện những hành động chủ quyền phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó;
- Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục trên vùng lãnh thổ đó
Cùng với sự phát triển của Luật quốc tế, việc thụ đắc lãnh thổ trong mọi trường hợp cũng cần phải xem xét phù hợp với các nguyên tắc pháp luật khác như: nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế; nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác; nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ … Việc thụ đắc lãnh thổ cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế nhằm
đảm bảo hòa bình và an ninh Thế giới
1.2.2.3 Phương thức thụ đắc lãnh thổ
Thông thường để xác định chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ đang có
tranh chấp, người ta thường phải trả lời các câu hỏi như: Lãnh thổ đó có phải là vô chủ không? Ai là người đầu tiên xác lập chủ quyền trên lãnh thổ đó? Ai đang thực hiện chủ quyền trên lãnh thổ đó? Phương thức thụ đắc lãnh thổ đã được dùng để thiết lập chủ quyền lãnh thổ là gì? Hiện nay, trên Thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, vì vậy các nguyên tắc, quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ chủ yếu được sử dụng để phân xử các trường hợp tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh hay làm cơ sở chứng minh các quyền của quốc gia đối với lãnh thổ tranh chấp Do
Trang 31đó, nghiên cứu các phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế là rất quan trọng
và mang tính cấp thiết trong việc giải quyết tranh chấp về lãnh thổ
Trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ, học thuyết và thực tiễn quốc tế thường chia thành các phương thức thụ đắc lãnh thổ chính gồm: thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu, thụ đắc do tác động của tự nhiên, thụ đắc bằng chuyển nhượng, thụ đắc bằng xâm chiếm, thụ đắc theo thời hiệu
ủy quyền, thực hiện với các đối tượng không phải là các vùng lãnh thổ đang thuộc
sở hữu của một quốc gia Theo đó, một quốc gia muốn thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức chiếm hữu phải có hành động trên thực tế, sở hữu lãnh thổ vô chủ và đồng thời phải có ý chí chiếm hữu lãnh thổ vô chủ đó
Khái niệm về vùng đất vô chủ được thay đổi theo thời gian Trước thế kỷ XIX, các luật gia tư sản cho rằng lãnh thổ vô chủ là bất kỳ lãnh thổ nào vốn không thuộc chủ quyền của một quốc gia văn minh Còn với các luật gia phương Tây thì một lãnh thổ tuy có người ở xong nếu ở đó chưa có một tổ chức chính trị (Nhà nước) thì đó là lãnh thổ vô chủ Như vậy, một lãnh thổ bị coi là vô chủ thậm chí trong trường hợp nó đã có cư dân bản địa nhưng không có một thiết chế Nhà nước, hoặc có nhưng bị coi là nền văn minh thấp hơn tiêu chuẩn lúc bấy giờ ở Châu Âu
Lãnh thổ bị bỏ rơi là vùng đất, đảo trước kia đã từng được chiếm hữu, thuộc chủ quyền của một quốc gia nhưng sau đó Nhà nước chiếm hữu từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ đó Để kết luận một lãnh thổ bị bỏ rơi cần có đủ 2
yếu tố: thứ nhất, Nhà nước phải chấm dứt mọi hoạt động thực tế đối với lãnh thổ;
thứ hai, Nhà nước không có một biểu hiện nào của ý chí khôi phục lại chủ quyền
đối với lãnh thổ
Ngày nay, các luật gia tiến bộ đều cho rằng việc giành chủ quyền trên một
Trang 32lãnh thổ có cư dân phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết Quyền phát hiện cũng như chiếm hữu là một sự đòi hỏi đồng thời của hai điều kiện về yếu tố vật chất, yếu tố tinh thần và chúng phải được thực hiện bởi Nhà nước Một nguyên tắc
tập quán đã tồn tại trong Luật quốc tế đó là “việc chiếm cứ một lãnh thổ vô chủ chỉ
có thể là hành động của một quốc gia; một cá nhân hay một công ty tư nhân không thể thụ đắc chủ quyền cho chính họ” Tuy nhiên, khi cả hai bên tranh chấp lãnh thổ
đều không có bằng chứng về việc thực hiện chủ quyền thì vai trò hoạt động của các
cá nhân cũng có giá trị nhất định mặc dù cá nhân không có quyền hạn đích thực trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ
b Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên
Theo phương thức này, một quốc gia có quyền mở rộng ranh giới địa lý của lãnh thổ thông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ chính hoặc do sự xuất hiện của các hòn đảo mới trong phạm vi đường biên giới quốc gia
Những vùng đất hoặc các hòn đảo mới xuất hiện trong phạm vi lãnh hải của một quốc gia bao gồm cả lãnh hải của lục địa và lãnh hải của các đảo nằm riêng biệt, không những chỉ trở thành một bộ phận lãnh thổ của quốc gia đó mà theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 còn cho phép quốc gia đó mở rộng thêm đường biên giới quốc gia trên biển và các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia
c Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng
Là phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng sự chuyển giao một cách hòa bình chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác Hình thức chuyển nhượng thông thường được hợp thức thông qua các điều khoản của một điều ước chính thức mà trong đó miêu tả rõ ràng về vùng đất được chuyển nhượng cũng như các điều kiện
để việc chuyển nhượng được hoàn thành Phương thức này có tác dụng thay thế chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang cho quốc gia khác trên một bộ phận lãnh thổ, quốc gia chuyển nhượng không thể chuyển giao nhiều hơn những quyền mà bản thân nó có
d Thụ đắc do xâm chiếm
Trang 33Là phương thức thụ đắc lãnh thổ được tiến hành thông qua hành động sử dụng vũ lực của một quốc gia để sáp nhập lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ nước mình Sự phát triển của luật pháp quốc tế trong giai đoạn từ Hiệp ước Briand-Kellogg (Hiệp ước chung về việc không thừa nhận chiến tranh ngày 27/08/1928) tới chiến tranh Thế giới thứ II đã tác động đến phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm Với sự xuất hiện nguyên tắc cấm đe dọa bằng vũ lực và sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các nước, việc xâm chiếm lãnh thổ nước khác bằng hành động vũ trang đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Từ sự thay đổi sau các cuộc chiến tranh xâm
lược, Liên Hợp Quốc đã có Nghị quyết 2625 năm 1970 nhấn mạnh rằng: “Lãnh thổ
của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực” Do sự xuất hiện nguyên tắc bất khả xâm
phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, việc thay đổi chủ quyền lãnh thổ quốc gia bằng
vũ lực hay bằng các hành động như xâm chiếm, chinh phục khác đều trở nên bất hợp pháp Chính vì vậy, phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm hiện nay đã hoàn toàn bị bác bỏ
e Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu
Phương thức thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu trong luật pháp quốc tế được hiểu là việc xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng việc chiếm hữu trên thực tế liên tục trong một thời gian dài và không có sự phản đối với một vùng lãnh thổ không phải
là vô chủ, có nguồn gốc thuộc về một quốc gia khác hoặc một vùng lãnh thổ vốn rất khó xác định rõ đã thuộc về ai Sự thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu đòi hỏi việc thực hiện chủ quyền trên thực tế trong một thời gian tương đồi dài, nhưng thực tiễn luật pháp quốc tế chưa hề định ra một thời hạn chung nào cho tất cả mọi trường hợp
Hình thức thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu được hình thành vào thời kỳ mà việc gây chiến tranh xâm lược và xâm chiếm bằng vũ lực những vùng lãnh thổ của các nước khác chưa bị luật pháp quốc tế lên án và nghiêm cấm Người ta phân biệt hai trường hợp thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu diễn ra từ lúc bắt đầu chiếm hữu:
Trang 34- Chiếm hữu một vùng lãnh thổ mà nguồn gốc không rõ ràng, vốn rất khó xác định rõ đã thuộc về ai hoặc khó chứng minh tính hợp pháp của việc chiếm hữu;
- Chiếm hữu một vùng lãnh thổ mà trước đó đã được coi là thuộc về một quốc gia khác Theo Luật pháp quốc tế hiện đại việc chiếm hữu này nhằm mục đích tạo
ra chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó theo thời hiệu là bất hợp pháp
Sự khác nhau giữa chiếm hữu thực sự và thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu là
ở chỗ: sự chiếm hữu thực sự hàm ý cả quyền sở hữu lãnh thổ về pháp lý và trên thực tế còn thụ đắc theo thời hiệu chỉ đòi hỏi sự thực hiện chủ quyền trên thực tế đối với lãnh thổ đó mặc dù trong một thời gian dài, về mặt pháp lý, vùng lãnh thổ
đó chưa phải là bộ phận lãnh thổ của quốc gia chiếm hữu Còn sự giống nhau là ở chỗ việc thực hiện quyền lực quốc gia và các chức năng nhà nước thích hợp với các điều kiện của vùng lãnh thổ trong hai trường hợp đều như nhau
Luật pháp quốc tế hiện đại không chấp nhận phương thức thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu khi nó dùng để biện minh cho những hành động xâm lược Một số nước đã dùng hành động quân sự xâm chiếm những vùng lãnh thổ vốn thuộc chủ quyền của một nước khác, thiết lập quyền kiểm soát ở đó rồi lợi dụng nguyên tắc thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu, lâu dần biến lãnh thổ nước khác thành lãnh thổ của mình một cách bất hợp pháp Sự chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác một cách bất hợp pháp như vậy đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại: nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, nguyên tắc bất khả
xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
1.2.3 Chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia trên biển
1.2.3.1 Biên giới biển và nguyên tắc xác định ranh giới biển
Biên giới biển là đường vạch ra để phân định vùng lãnh hải của quốc gia với
vùng biển tiếp liền mà quốc gia ven bờ có quyền chủ quyền hoặc với nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác có bờ biển đối diện hay kế bên bờ biển của quốc gia này Ranh giới ngoài của lãnh hải – đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển
Trang 35Đường biên giới quốc gia trên biển được xác định theo Công ước Luật biển
1982 (UNCLOS) và các điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc gia nhập với các nước láng giềng cũng như trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế Sau khi xác định cụ thể đường biên giới biển, quốc gia phải công bố công khai, chính thức và thể hiện rõ ràng trên hải đồ tỷ lệ lớn Hoạt động phân định biển là một hành vi mang tính quốc tế nên cần tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định như:
- Nguyên tắc thỏa thuận: do việc xác lập ranh giới biển liên quan tới giới hạn
thụ đắc các vùng biển trên cơ sở pháp luật quốc tế của ít nhất là hai quốc gia ven biển nên các bên cần thông qua đàm phán, thương lượng để thỏa thuận các phương pháp và tiêu chuẩn phân định Nguyên tắc này được đề cập trong các Điều 15, Điều
74, Điều 83 – UNCLOS [14]
- Nguyên tắc công bằng: nguyên tắc này chưa được quy định rõ ràng trong
Công ước Luật biển năm 1982 mà mới chỉ được đề cập trong Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục địa và trong các phán quyết của Tòa án Quốc tế Qua thực tiễn xét xử của Tòa án Quốc tế, nguyên tắc công bằng và tiêu chuẩn công bằng đã ra đời Tuy nhiên, vẫn chưa có nguyên tắc và tiêu chuẩn nào được nhất trí trong lĩnh vực phân định biển Các chuyên gia cho rằng công bằng nên được hiểu một cách đơn giản là sự xem xét và đặt lên bàn cân tất cả các hoàn cảnh hữu quan để tìm ra được một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận và coi kết quả nó mang lại là công bằng Do đó, công bằng trong phân định biển chỉ mang tính tương đối mà thôi
- Nguyên tắc đường trung tuyến: áp dụng trong trường hợp hai quốc gia có bờ
biển kề nhau hoặc đối diện nhau và được quy định tại Điều 15 - UNCLOS như sau:
“Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được
quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại” Tuy nhiên, nguyên tắc này không
áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc các hoàn cảnh đặc
biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác
Trang 361.2.3.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia
Công ước Luật biển năm 1982 đã định ra khung pháp lý cho các quốc gia trong việc xác định ranh giới, biên giới trên biển cũng như phương thức phân định các vùng biển và quy chế pháp lý cụ thể cho từng vùng Theo Công ước, mỗi quốc gia ven biển có năm vùng biển, bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trong mỗi vùng biển, quốc gia có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán khác nhau Quốc gia có chủ quyền đối với vùng nội thủy, lãnh hải; có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Hình 1.2: Sơ đồ các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
của quốc gia (nguồn http://vnexpress.net/ )
Trang 37a Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
a1 Nội thủy
Nội thủy được định nghĩa tại Khoản 1, Điều 8 - UNCLOS: “là các vùng
nước ở phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” Cũng theo
Công ước này, có thể thấy, mỗi quốc gia có thể có một hay nhiều vùng nước nội thủy với những chế độ pháp lý khác nhau như: các vùng nước nằm bên trong đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, tiếp giáp với bờ biển như: vịnh, cửa sông, vũng đậu tàu là nội thủy thông thường; hay các vùng nước có các đường hàng hải quốc tế đi qua mà vốn trước đó chưa được coi là nội thủy nhưng do việc vạch đường cơ sở thẳng, vùng này đã bị gộp vào nội thủy là vùng nội thủy tồn tại quyền
đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài
Các vùng nước nội thủy được coi như lãnh thổ đất liền, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ Chủ quyền này bao trùm
cả vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bên dưới vùng nước nội thủy Chủ quyền tuyệt đối thể hiện qua việc mọi sự ra vào nội thủy của phương tiện bay nước ngoài trên vùng trời nội thủy đều phải xin phép, tàu thuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tự do thông thương và có đi có lại còn tàu thuyền quân sự, tàu thuyền Nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại phải xin phép theo quy định của Luật biển quốc tế và pháp luật quốc gia
Chủ quyền đầy đủ thể hiện ở việc quốc gia ven biển không chỉ có quyền tài phán về Dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài vi phạm khi hoạt động trong nội thủy
mà còn có quyền tài phán về Hình sự đối với các vi phạm xảy ra trên tàu nước ngoài đang hoạt động trong vùng này khi: hành vi phạm tội do một người ngoài thủy thủ đoàn thực hiện; thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp; hậu quả của nó ảnh hưởng tới an ninh trật tự của cảng
Các quy định về nội thủy cho lãnh thổ đất liền kể trên cũng được áp dụng với các đảo Về đường cơ sở thông thường để xác định vùng nước nội thuỷ của đảo là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của đảo, như đã được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn được quốc gia ven biển chính thức công bố
Trang 38Đối với đường cơ sở của các mỏm đá, Điều 6 - UNCLOS quy định: "trong
trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven
bờ bao quanh thì đường cơ sở là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá, như đã được thể hiện trên các hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận" Trong nội thủy, quốc gia sở hữu đảo có chủ quyền hoàn
toàn, tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền
a2 Lãnh hải
Công ước Luật Biển 1982 không đưa ra một định nghĩa cụ thể về lãnh hải,
nhưng có thể hiểu, lãnh hải là vùng biển nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Điều 3 – UNCLOS đã ấn định chiều rộng lãnh hải của quốc gia không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (có thể là đường cơ sở thông thường hoặc đường
cơ sở thẳng) [14] Trong đó, đường cơ sở thông thường chính là “ngấn nước triều
thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận” (Điều 5 - UNCLOS); còn đường cơ sở
thẳng dược xác định bằng phương pháp quy định tại Điều 7 - UNCLOS, đó là đường nối liền bằng các đoạn thẳng những điểm thích hợp có thể lựa chọn ở những điểm ngoài cùng, nhô ra nhất của bờ biển, tại ngấn nước triều thấp nhất Khi vạch đường cơ sở thẳng cần tuân thủ điều kiện về tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển ở bên trong các đường cơ
sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức được đặt dưới chế độ nội thủy Tuy nhiên, quốc gia ven biển có thể tính đến lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng
Cũng theo Điều 3 - UNCLOS thì các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của các đảo của mình không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ
sở được vạch ra theo đúng Công ước Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng của lãnh hải
Cũng giống như nội thủy, chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng
Trang 39đến vùng trời trên lãnh hải, đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này Chủ quyền này là hoàn toàn và đầy đủ, trên cả ba mặt lập pháp, hành pháp và xét xử Tuy nhiên, tại lãnh hải tồn tại quyền đi qua không gây hại – được hiểu là việc đi qua nhưng không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, quyền này tồn tại đồng thời với chủ quyền quốc gia trong lãnh hải nhưng không làm mất đi chủ quyền đó Quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình cũng như thực hiện quyền tài phán phù hợp với các quy định của luật pháp quốc gia và quy định của pháp luật quốc tế
b Các vùng biển quốc gia có quyền chủ quyền và quyền tài phán
b1 Vùng tiếp giáp lãnh hải
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với tàu thuyền nước ngoài Công ước Luật biển 1982 cũng đã giới hạn chiều rộng
vùng tiếp giáp lãnh hải tại Khoản 2 Điều 33, theo đó: “Vùng tiếp giáp không thể mở
rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải” Tại
vùng biển này, quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát nhằm: ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình hoặc trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình
Với các đảo đáp ứng được tiêu chuẩn để hưởng quy chế đảo thì cũng có vùng tiếp giáp và vùng tiếp giáp đó cũng được xác định theo các quy định áp dụng với lãnh thổ đất liền
b2 Vùng đặc quyền về kinh tế
Điều 55 - UNCLOS quy định: “Vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng nằm
ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này (phần V – Vùng đặc quyền kinh tế), theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, các quyền cũng như các quyền tự do khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh”
Trang 40Vùng đặc quyền về kinh tế mở rộng ra không quá 200 hải lý tính từ đường cơ
sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải với đặc thù về sự cân bằng giữa “các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển” - quy định tại Điều 56 với “các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác” – quy định tại Điều 58 của Công ước Tại vùng biển này, các quốc gia khác được hưởng quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp ngầm theo Điều 87 [14], quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và các quy định của Công ước, nhất
là những khuôn khổ của việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay, dây cáp, ống dẫn ngầm; còn quốc gia ven biển có:
- Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió… Tính đặc quyền của quốc gia ven biển thể hiện trong việc nó có toàn quyền đánh giá nguồn tiềm năng đối với các tài nguyên sinh vật, thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc khai thác, duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình không khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức Bên cạnh đó quốc gia ven biển cũng có nghĩa vụ “tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền về kinh tế” khi khả năng khai thác của quốc gia không đáp ứng được tổng khối lượng cho phép đánh bắt
- Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc lắp đặt và quản lý các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, nghiên cứu khoa học
về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển cũng như các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định Quyền này được mở rộng không chỉ đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trong cột nước trong vùng đặc quyền về kinh tế mà còn với các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng
Với các đảo đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn theo Điều 121 – UNCLOS [14] thì