Song thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học đã bộc lộ một số hạn chế chưa đáp ứng được sự mong đợi của lãnh đạo nhà trường như: việc đầu tư mua sắm thiết bị dạy học còn chưa hợp lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU TÍNH
QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC PHÚ THỌ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THỰC HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU TÍNH
QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC PHÚ THỌ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THỰC HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Thuần
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú
Thọ đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Văn Thuần
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu, các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào./
Tác giả
Lê Thị Thu Tính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới: Các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Quản lý giáo dục Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn các cấp lãnh đạo, cán bộ, giảng viên Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện cho tác giả tham gia khóa học và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS
Phạm Văn Thuần – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học
Quốc gia Hà Nội đã mang lại cho tác giả tri thức, những kinh nghiệm quý báu
về khoa học quản lý, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Do điều kiện thời gian và năng lực nên chắc chắn luận văn còn những khiếm khuyết nhất định Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp ý kiến chân thành của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Tính
Trang 5KÝ HIỆU TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THỰC HÀNH 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu trong nước 6
1.1.2 Nghiên cứu ngoài nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý trường học 11
1.2.3 Khái niệm dạy học thực hành 14
1.2.4 Thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học 15
1.3 Một số vấn đề lý luận về thiết bị dạy học thực hành trong các trường Cao đẳng 19
1.3.1 Vai trò của thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng 19
1.3.2 Yêu cầu đối với thiết bị dạy học 24
1.3.3 Một số đặc thù của thiết bị dạy học thực hành trong các trường cao đẳng 25
1.4 Nội dung quản lý thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành 29
1.4.1 Tổ chức việc nhận thức cho cán bộ quản lý, giảng viên và học sinh, sinh viên về vai trò của thiết bị dạy học 29
Trang 71.4.2 Tổ chức bộ máy quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường 29
1.4.3 Quản lý đầu tư, phân bổ thiết bị dạy học 30
1.4.4 Quản lý khai thác, sử dụng thiết bị dạy học 31
1.4.5 Bảo quản và bảo dưỡng thiết bị dạy học………31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành 32
1.5.1 Yếu tố chủ quan 32
1.5.2 Yếu tố khách quan 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC PHÚ THỌ 35
2.1 Khái quát về khách thể khảo sát và tổ chức khảo sát 35
2.1.1 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 35
2.1.2 Đặc thù về dạy và học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ gắn với thực hành 37
2.1.3 Tổ chức khảo sát 42
2.2 Thực trạng thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 43
2.2.1 Thực trạng quy mô thiết bị dạy học 43
2.3.2 Thực trạng chất lượng thiết bị dạy học 44
2.3 Thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 46 2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên và học sinh, sinh viên về vai trò của thiết bị dạy học 46
2.3.2.Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường 47
2.3.3 Thực trạng quản lý đầu tư, phân bổ thiết bị dạy học 48
2.3.4 Thực trạng quản lý khai thác, sử dụng thiết bị dạy học 51
2.3.5 Thực trạng bảo quản và bảo dưỡng thiết bị dạy học 60
2.4 Đánh giá chung thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 63
2.4.1 Điểm mạnh 63
Trang 82.4.2 Điểm yếu 64
2.4.3 Thuận lợi 64
2.4.4 Khó khăn 65
2.4.5 Nguyên nhân của thực trạng 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC PHÚ THỌ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THỰC HÀNH 67
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 67
3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống cấu trúc 67
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 68
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 68
3.1.5 Đảm bảo tính khoa học 68
3.2 Một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành 69
3.2.1 Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của thiết bị dạy học và quản lí thiết bị dạy học cho cán bộ, giảng viên và học sinh, sinh viên 69
3.2.2 Cải tiến quản lý đầu tư mua sắm thiết bị dạy học để đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo 71
3.2.3 Xây dựng quy trình sử dụng thiết bị dạy học 74
3.2.4 Tăng cường các biện pháp bảo quản thiết bị dạy học 78
3.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ khai thác sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học cho cán bộ quản lý, giảng viên và HSSV 81
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.4 Khảo nghiệm mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 85
3.4.1 Tính cấp thiết của các biện pháp 86
Trang 93.4.2 Tính khả thi của các biện pháp 87
3.4.3 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các biện pháp 89
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cấu trúc kiến thức chương trình đào tạo cao đẳng Dược 27
Bảng 1.2 Cấu trúc kiến thức chương trình đào tạo cao đẳng ngành Hộ sinh 28
Bảng 2.1 Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành dược 38
theo học chế tín chỉ 38
Bảng 2.2 Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành điều dưỡng 40
theo học chế tín chỉ 40
Bảng 2.3: Đánh giá về chất lượng của thiết bị dạy học 44
Bảng 2.4 Mức độ nhận thức của cán bộ, GV và HSSV về thiết bị dạy học 46
Bảng 2.5 Đánh giá về đầu tư thiết bị dạy học 50
Bảng 2.6 Đánh giá về mức độ sử dụng thiết bị 53
Bảng 2.7 Mức độ hiểu về tính năng và cách thức sử dụng thiết bị 54
Bảng 2.8 Thực trạng và nguyên nhân sử dụng thiết bị dạy học đối với giảng viên 56
Bảng 2.9 Đánh giá của cán bộ, giảng viên về hiệu quả giảng dạy khi sử dụng thiết bị dạy học 58
Bảng 2.10 Đánh giá của HSSV về hiệu quả giảng dạy và học tập khi sử dụng thiết bị dạy học 59
Bảng 2.11 Ý thức bảo quản thiết bị dạy học 61
Bảng 3.1 Tính cấp thiết của các biện pháp 86
Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp 87
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý thiết bị dạy học 87
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đánh giá về chất lượng của thiết bị dạy học 45
Biều đồ 2.2: Mức độ nhận thức của cán bộ, giảng viên và HSSV về thiết bị dạy học 46
Biểu đồ 2.3 Ý thức bảo quản thiết bị dạy học 61
Biểu đồ 3.1 Mối tương quan giữa các biện pháp 88
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình dạy học 19
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước ta luôn xem giáo dục là quốc
sách hàng đầu Đảng ta đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là
nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ” Trong những năm gần đây ngành giáo dục nước ta đang nỗ
lực đổi mới nội dung, phương pháp để nâng cao tính tích cực, chủ động trong dạy và học nhằm ngày càng khẳng định chất lượng giáo dục và đào tạo Trong
đó việc tăng cường cơ sở vật chất – thiết bị dạy học được coi là một yếu tố quan trọng, là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá, kiểm định về một nhà trường
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và IX có đoạn viết: “Tăng
cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và từng bước hiện đại hóa nhà trường, lớp học sân chơi, bãi tập, máy tính nối mạng internet, thiết bị học tập và giảng dạy hiện đại, thư viện…” và “Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tư duy sáng tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”
Xác định được vai trò, tầm quan trọng của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đối với quá trình đào tạo, Lãnh đạo trường Cao đẳng Dược Phú Thọ coi
đó là một trong các khâu đột phá để làm nên thương hiệu Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ là mô hình trường ngoài công lập đầu tiên có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Dược gắn kết đào tạo với sản xuất kinh doanh dưới hình thức công ty nằm trong nhà trường Bên cạnh đó, chương trình đào tạo ngành dược và các ngành có liên quan có số giờ học thực hành chiếm tỷ trọng tương đối cao của mỗi môn học, học phần Lãnh đạo nhà trường luôn khẳng định: học phải đi đôi với hành, không học chay, do vậy, việc quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm
Trang 13góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo khẳng định uy tín và thương hiệu của Nhà trường
Trong những năm gần đây Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở vật chất, thiết bị để đáp ứng yêu cầu đào tạo với quy
mô ngày càng tăng và chương trình đào tạo có đổi mới Song thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học đã bộc lộ một số hạn chế chưa đáp ứng được sự mong đợi của lãnh đạo nhà trường như: việc đầu tư mua sắm thiết bị dạy học còn chưa hợp lý; sự phối hợp giữa các khoa, bộ môn và các phòng ban với bộ phận phụ trách quản lý thiết bị dạy học còn chưa chặt chẽ; công tác bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị còn chưa kịp thời; việc kiểm tra tình trạng sử dụng của thiết bị còn chậm; hoạt động tuyên truyên, hướng dẫn sử dụng thiết
bị trong học tập và giảng dạy cho cán bộ, giảng viên và HSSV chưa thường xuyên nên vẫn còn tình trạng HSSV lúng túng gây hỏng thiết bị, dụng cụ trong quá trình sử dụng
Với những lý do như đã trình bày ở trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý
thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành” nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quản lý thiết bị
dạy học ở Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ và đưa ra những biện pháp quản
lý thiết bị dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành và góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành, phù hợp yêu cầu đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý thiết bị dạy học ở trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đáp ứng yêu
cầu dạy học thực hành
Trang 144 Câu hỏi nghiên cứu
Trước yêu cầu tăng cường dạy học thực hành trong các trường cao đẳng nghề nói chung, Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ nói riêng, làm thế nào
để nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, phù hợp với xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục?
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, trước yêu cầu tăng cường dạy học thực hành tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, Nhà trường đã trang bị nhiều thiết bị dạy học hiện đại Tuy nhiên, hoạt động quản lý thiết bị dạy học còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
Nếu nghiên cứu và xác định được các biện pháp quản lý thiết bị dạy học phù hợp như: Quản lý đầu tư, mua sắm; ban hành các quy trình quản lý
sử dụng, bảo quản thiết bị; Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giảng dạy,
kỹ thuật viên, thì sẽ nâng cao nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học tại các trường cao đẳng đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
- Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ theo yêu cầu dạy học thực hành
Thời gian khảo sát từ năm 2014 đến nay
Trang 157.2 Giới hạn về khách thể khảo sát
- Cán bộ quản lý Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ: Ban Giám hiệu nhà trường, Trưởng các Khoa, bộ môn, Trưởng các phòng, Giám đốc các trung tâm, cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý thiết bị
- Giảng viên, kỹ thuật viên của nhà trường
- Khảo sát 300 HSSV của nhà trường
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận:
Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ thêm khái niệm thiết bị phục vụ cho dạy – học và công tác quản lý thiết bị dạy học trong đào tạo; chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số biện pháp quản lý hiệu quả cho công tác này
8.2.Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn nghiên cứu một số bất cập trong quản lý TBDH và đề xuất các biện pháp quản lý TBDH ở Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lí thiết bị dạy học trong nhà trường
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu, xác định các khái niệm
cơ bản để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: để thu thập ý kiến của các đối
tượng thông qua các câu hỏi đóng và mở về các vấn đề liên quan đến công tác quản lý thiết bị dạy học Đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý, GV và HSSV nhà trường
Trang 16- Phương pháp phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập
những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào GV và CBQL
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về công tác quản
lý thiết bị dạy học tại các trường Cao đẳng
9.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Vận dụng một số công thức toán học, thống kê để xử lý, phân tích số liệu thu được về mặt định tính và định lượng
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học trong các Trường
Cao đẳng đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành
Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng
Dược Phú Thọ
Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại Trường Cao đẳng
Dược Phú Thọ đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THỰC HÀNH
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu trong nước
Khi nghiên cứu về giáo dục học chúng ta đã biết một kết luận quan
trọng, đó là: “Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận
thức khoa học” Về mặt lý thuyết, học tập là quá trình nhận thức, vì vậy việc
học của HSSV chỉ có hiệu quả khi nó diễn ra theo đúng quy luật nhận thức đi
từ cụ thể, trực quan đến tư duy khái quát, trừu tượng Đồng thời, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức và thực hành độc đáo của học sinh, sinh viên do giáo viên tổ chức, điều khiển, quản lý theo một chương trình, một mục tiêu đã xác định
Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới khẳng định vai trò của phương tiện, thiết bị dạy học trực quan trong quá trình dạy học
Thiết bị dạy học có tác dụng minh họa cho bài giảng của GV về những
sự vật hiện tượng và các quá trình sảy ra trong thực tế tạo điều kiện cho HSSV nắm vững, chính xác và sâu sắc kiến thức nhằm phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của HSSV
Ngày nay trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, yêu cầu giảng viên phải sử dụng thiết bị dạy học trực quan làm công cụ nhận thức, công cụ tìm kiếm thông tin và rèn luyện kỹ năng vận dụng lý thuyết để nâng cao kết quả học tập của người học trong quá trình dạy học Xác định được vai trò quan trọng của thiết bị dạy học trong quá trình giáo dục, chính vì vậy trong nhiều năm qua đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các vấn đề quản lý bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học trong các nhà trường
Trang 18Ở Việt Nam trong rất nhiều các văn bản của Đảng và Nhà nước quy định về việc quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật trong nhà trường nói chung và thiết bị dạy học nói riêng như: Luật Giáo dục 2005, Thông tư số 57/2011/TT-BGDĐT ngày 2/12/2011, Quyết định số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng
11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng… Nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm có công trình nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Vũ Bích Hiền, Phạm Văn Thuần, Ngô Quang Sơn
Trong dân gian Việt Nam có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy,
trăm thấy không bằng một làm” ý muốn nói đến mức độ tác động khác nhau
của các hoạt động thực tế sinh động lên giác quan của con người trong quá trình lĩnh hội tri thức
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, Người có nhấn mạnh: Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì học vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cùng các cộng sự với công trình “Quản lý
giáo dục một số vấn đề lý luận và thức tiễn” có nội dung nghiên cứu về quản
lý cơ sở vật chất – kỹ thuật của nhà trường Trong đó các tác giả đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của thiết bị dạy học, cơ sở phân loại và một số biện pháp quản lý thiết bị trong các nhà trường
Trong cuốn “Quản lý tài chính và cơ sở vật chất trong giáo dục” của
tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền và Nguyễn Vân Anh đã có chuyên đề nghiên cứu, phân tích về nghiệp vụ quản lý tài sản cơ sở vật chất trong các cơ sở giáo dục, trong đó có đề ra một số biện pháp quản lí tài sản, cơ sở vật chất hướng đến nâng cao chất lượng dạy và học Tác giả đã phân tích khá cụ thể về vai trò
và cách thức sử dụng hiệu quả phương tiện, thiết bị trong quá trình dạy học
Đề tài cấp Bộ “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng thiết bị giáo dục ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng” được thực
Trang 19hiện năm 2005 của tác giả Ngô Quang Sơn đã có những đánh giá cụ thể về quản lý thiết bị dạy học [27]
Tác giả Phạm Văn Thuần với đề tài: “Quản lý thiết bị giáo dục ở các
trường phổ thông đáp ứng yêu cầu dạy học theo tiếp cận năng lực” trên Tạp
chí thiết bị giáo dục năm 2016, đã phân tích khá cụ thể về vai trò của thiết giáo dục trong quá trình dạy học, đồng thời chỉ ra một số giải pháp quản lý thiết bị giáo dục trong các trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay [30]
Tác giả Nguyễn Văn Thành với đề tài: “Quản lý thiết bị giáo dục ở
Trường trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” đã phân tích
thực trạng và đưa ra một số biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các Trường trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Tác giả Lương Thị Vân Anh đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý thiết bị dạy
học tại các trường Trung học phổ thông huyện Thủy nguyên thành phố Hải Phòng” trên cơ sở phân tích thực trạng đã đưa ra một số biện pháp quản lý
việc trang bị, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học tại các trường trung học phổ thông ở Huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng
1.1.2 Nghiên cứu ngoài nước
Ở Ấn Độ, khi tổng kết quá trình dạy học người ta đã khẳng định:
* Tôi nghe – tôi quên
Khi HSSV chỉ được nghe giảng, sự hình thành khái niệm phụ thuộc nhiều vào vốn kiến thức và sự hiểu biết của các em và kinh nghiệm, kỹ năng truyền thụ của GV Nếu HSSV không có trí tưởng tượng tốt sẽ rất khó hình dung được các sự vật, hiện tượng mà GV trình bày
* Tôi nhìn – tôi nhớ
Kiến thức thu nhận được qua việc nhìn là rất sinh động, liên tục và chính xác làm cho học sinh, sinh viên nhớ lâu Điều này có nghĩa là nếu sử dụng các dụng cụ, phương tiện có tính trực quan sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức
* Tôi làm – tôi hiểu
Khi nghiên cứu về một vấn đề mà người học sử dụng tất cả các giác quan để nhận biết đặc biệt là được trực tiếp thực hiện các thao tác của quá
Trang 20trình thông qua các thiết bị, phương tiện thì hiệu quả sẽ rất toàn diện và chính xác Bởi vậy việc học bằng thực hành là có hiệu quả nhất nghĩa là phải có vật
tư, thiết bị thực hành cho người học thì mới đạt tới mục tiêu giáo dục cao
Tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị trường học chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục và đào tạo khi được quản lý tốt Chính vì vậy cho nên
đi đôi với việc đầu tư trang bị, điều quan trọng hơn hết là phải chú trọng đến việc quản lý tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị nhà trường Vì tài sản cơ sở vật chất thiết bị trường học là một lĩnh vực mang tính kinh tế - giáo dục lại vừa mang tính khoa học giáo dục, cho nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ theo các yêu cầu chung về quản lý tài sản công và quản lí khoa học, mặt khác, cần phải tuân thủ theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trong các yếu tố quan trọng quyết định điều kiện đầu vào mà tất cả các cơ sở giáo dục đều hết sức quan tâm, tuy nhiên việc nghiên cứu về thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Đặc biệt ở Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ trong những năm qua công tác quản lý thiết bị dạy học cũng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý” Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển,
động viên, kiểm tra, điều chỉnh,… theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác
động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống
cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” Giáo trình Khoa học quản
lý- Tập 2- NXB KHKT-2001
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu
Trang 21Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú
Fayel quan niệm về quản lý như sau: Quản lý là một hoạt động mà mọi
tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy
Tác giả Đặng Quốc Bảo đã dẫn chứng tuyên ngôn quan niệm P
Drucker: "Mục tiêu cuối cùng của khoa học quản lý là phải làm sao cho tổ
chức hạn chế được rủi ro, vượt qua những rủi ro lớn, đưa rủi ro đến mức thấp nhất, tránh được rủi ro" [1, tr.125]
Theo quan niệm của Peter F Dalark: Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã viết: “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [2,tr.9]
Theo giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý là sự tác động
có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan”
Tuy có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học về “quản lý”, nhưng suy cho cùng bản chất của quản lý chính là hoạt động nhằm tạo
Trang 22ra sự đoàn kết, nỗ lực chung của tất cả các thành viên trong tổ chức nhằm huy động tất cả các nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực,… để đạt được mục tiêu chung của tổ chức và đảm bảo mục tiêu riêng của từng cá nhân một cách hài hòa
Quan điểm của tác giả đồng thuận với định nghĩa quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các
cơ hội của tổ chức để hoàn thành những mục tiêu xác định của tập thể
1.2.2 Quản lý trường học
Trước khi nghiên cứu về khái niệm quản lý trường học thì trước hết cần phải hiểu khái niệm quản lý giáo dục
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
“Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người, nhờ
có giáo dục mà các thế hệ loài người nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc và nền văn minh của cả nhân loại được thiết
kế bổ sung, và từ đó xã hội loài người không ngừng phát triển” [33, tr.12]
Giáo dục còn là một khoa học, một quá trình vì vậy nó cần được quản lý, từ
đó hình thành nên một dạng quản lý trong hệ thống quản lý xã hội gọi là
“quản lý giáo dục”
Có nhiều định nghĩa của nhiều tác giả khác nhau về quản lý giáo dục: Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã trích dẫn quan điểm của Bush T (trong
tác phẩm Theories of education management , PCP, London, 1995): “Quản lý
giáo dục một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”[23, tr.17]
Trong cuốn “Quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn” có trình bày quan điểm của Nguyễn Ngọc Quang:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
Trang 23nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [23, tr 16]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc:
Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” Hoặc, “Quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra [22, tr.16]
Trên thực tế: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có
tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đặt ra” [23, tr.16]
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thể quản lý giáo dục, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức và công cụ quản lý giáo dục Các yếu tố này không tách rời nhau mà chúng có quan hệ tương tác với nhau, gắn bó với nhau Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận những tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một hướng nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức Chủ thể quản lý giáo dục chính là bộ máy quản lý các cấp; đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật
và các hoạt động thực hiện các chức năng của quá trình giáo dục đào tạo
Mục tiêu của quản lý giáo dục là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học hoặc đối với những thông số chủ yếu của mỗi nhà trường trong hệ thống giáo dục
Nội dung quản lý giáo dục là: xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm phát triển giáo dục; ban hành và
Trang 24tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục như: tiêu chuẩn tổ chức bộ máy đội ngũ, cơ sở vật chất, chương trình giáo dục,…
Quá trình quản lý giáo dục là quá trình thực hiện hóa tuần tự các chức năng của quản lý (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) nhằm đưa hệ thống giáo dục tới các mục tiêu đã đặt ra
1.2.2.2 Quản lý trường học/ nhà trường
“Nhà trường là một cơ sở giáo dục, là nơi tổ chức quá trình dạy học,
giáo dục, đào tạo con người theo yêu cầu xã hội Trong nhà trường diễn ra các hoạt động giáo dục toàn diện và quá trình quản lý giáo dục, trong đó hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học là trung tâm” [12, tr.11]
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ Nó là tế bào của hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tập hợp những người thực hiện nhiệm vụ chung: Dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra Như vậy, có nghĩa nhà trường vừa là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:
Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình giáo dục đào tạo với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy và trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý trường học là hoạt động
của các cơ quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục” [33, tr.369]
Về bản chất, quản lý trường học/ nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường
Tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền quan niệm:
Trang 25Quản lý nhà trường là quá trình tác động có mục đích, có định hướng,
có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng Nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán bộ nhân viên, người học, các bên liên quan,…) và huy động sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục
và đào tạo, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động [12, tr 31-32]
Tóm lại, quản lý nhà trường là quản lý hệ thống sư phạm chuyên biệt
nó đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có định hướng của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của nhà trường Quản lý nhà trường thực chất
là quản lý hoạt động sư phạm của thầy, hoạt động học tập của trò được diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học Đồng thời quản lý các yếu tố có tính chất điều kiện như: đội ngũ cán bộ, GV, tổ chức hoạt động của các đoàn thể trong trường; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài chính, của nhà trường
1.2.3 Khái niệm dạy học thực hành
Quá trình dạy học nói chung thường được chia một cách tương đối thành hai giai đoạn: giai đoạn dạy học lý thuyết và giai đoạn dạy học thực hành
Dạy học lý thuyết là truyền đạt và lĩnh hội hệ thống các tri thức chung
và tri thức lý thuyết cơ sở, chuyên môn nghề nghiệp để từ đó phát triển năng lực trí tuệ, tư duy nghề nghiệp, giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên
Dấu hiệu để nhận biết dạy học thực hành đặc biệt trong giáo dục nghề nghiệp là không nặng về cung cấp và truyền đạt thông tin mà chủ yếu là các hoạt động thực tế để hình thành kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo, phát triển khả năng xử lý tình huống và khẳng định trình độ nghề nghiệp Dạy học thực hành luôn luôn gắn liền với các thiết bị, phương tiện và dụng cụ dạy học
Dạy học thực hành là phương pháp giảng dạy trên cơ sở sự quan sát GV làm mẫu thông qua việc sử dụng các thiết bị, phương tiện, dụng cụ để từ đó HSSV hiểu rõ hơn về bản chất của vấn đề và có thể tự lực thực hiện được các
Trang 26bài tập, các nội dung công việc thuộc chuyên ngành, từ đó hình thành các kỹ năng, kỹ xảo mà người học sẽ phải thực hiện trong hoạt động nghề nghiệp sau này Dạy học thực hành còn giúp người học củng cố kiến thức chuyên ngành, xây dựng phẩm chất, tác phong công nghiệp, phát triển năng lực tư duy để có
đủ khả năng xử lý các tình huống nghề nghiệp trong thực tế cuộc sống
Dạy học thực hành là một quá trình giáo dục và giáo dưỡng được tổ chức một cách có kế hoạch là một quá trình giảng dạy, học tập và lao động Quá trình ấy cùng với quá trình giảng dạy lý thuyết và hoạt động ngoài giờ tạo nên một thể thống nhất trong đào tạo nói chung và đào tạo nghề nghiệp nói riêng Từ đó có thể rút ra khái niệm dạy học thực hành cho HSSV là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể thực hiện được công việc chuyên môn của mình trong thực tế cuộc sống
1.2.4 Thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học
1.2.4.1 Khái niệm thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học hay còn gọi là thiết bị giáo dục, học cụ, phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học là một bộ phận của cơ sở vật chất nhà trường, là điều kiện tiền đề hay yếu tố “đầu vào”, là một tiêu chuẩn đánh giá rất quan trọng của bất kỳ một nhà trường hay một cơ sở giáo dục nào
Thiết bị dạy học là hạt nhân của cơ sở vật chất là một trong sáu yếu tố quan trọng của quá trình giáo dục:
*Mục tiêu đào tạo
*Nội dung đào tạo
*Phương pháp đào tạo
*Lực lượng đào tạo
*Đối tượng đào tạo
*Cơ sở vật chất (Hạt nhân là TBDH)
Theo tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền:
Tài sản cơ sở vật chất nhà trường chính là hệ thống các thiết bị trường học và các phương tiện vật chất, kỹ thuật khác nhau dùng cho quá trình dạy học và giáo dục, bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc (đất đai, nhà cửa), thiết bị
Trang 27dùng cho công tác giảng dạy và học tập, thiết bị dùng cho công tác quản lý,… được sử dụng để phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra
Thiết bị giáo dục bao gồm: thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống Tất
cả các thiết bị này nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [13, tr.163]
Thiết bị dạy học là các phương tiện vật chất cần thiết được GV và HSSV sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục, là công cụ
hỗ trợ giáo viên trong quá trình giảng dạy, giúp người học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, trong hoạt động khám phá và lĩnh hội tri thức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường
1.2.4.2 Phân loại thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học trong các nhà trường rất đa dạng và phong phú nên việc phân loại chúng cũng tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau Song có thể phân loại một cách tương đối theo các nhóm như sau:
(1) Theo đặc điểm của các nhiệm vụ dạy học:
Hệ thống các thiết bị truyền đạt thông tin
Hệ thống các thiết bị kiểm tra kiến thức
Hệ thống các thiết bị rèn luyện kỹ năng
Hệ thống các thiết bị tự học
Hệ thống các thiết bị làm quen với quá trình sản xuất
(2) Theo nguyên tắc làm việc của các thiết bị
Các ph thiết bị ương tiện cơ khí
Các thiết bị thủ công
Các thiết bị cơ điện
Các thiết bị điện tử
Các thiết bị tự động, bán tự động hay thô sơ
(3) Theo đặc tính tác động đến các giác quan
Trang 28Các thiết bị giành cho tập thể lớp
(5) Về phía giáo viên thì phân loại theo dạng sản phẩm là phổ biến nhất
Tranh ảnh, bản đồ: để minh họa một sự vật, một hiện tượng ở nhiều môn học
Băng ghi âm, ghi hình: tái hiện, hiện thực thông qua âm thanh, hình ảnh
1.2.4.3 Quản lý thiết bị dạy học
Quản lý thiết bị dạy học là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị dạy học phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo Có thể nói, quản lý thiết bị dạy học là một trong những công việc quan trọng của người quản lý, đây là một đối tượng quản lý quan trọng trong các nhà trường
Trang 29Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ: tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị trường học chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục và đào tạo khi được quản lý tốt Chính vì vậy cho nên đi đôi với việc đầu tư trang bị, điều quan trọng hơn hết là phải chú trọng đến việc quản lý tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị nhà trường [13, tr.163]
Quản lý tốt thiết bị dạy học sẽ làm cho thiết bị dạy học có mối liên hệ mật thiết với giảng viên và HSSV, phù hợp với nội dung và phương pháp giảng dạy nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo
Tuy nhiên, để quản lý thiết bị dạy học có hiệu quả cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất là nguyên tắc về tính mục đích: khi sử dụng bất kỳ một thiết
bị nào trong quá trình dạy học thì cần phải xác định được nhiệm vụ của nó với chương trình đang học Nếu sử dụng thiết bị mà không xác định được nhiệm
vụ rõ ràng của nó đối với chương trình đang giảng dạy thì tốt nhất không nên
sử dụng, vì điều đó sẽ gây nên các hậu quả tiêu cực về mặt sư phạm
Thứ hai là nguyên tắc về tính phù hợp: mỗi thiết bị dạy học có vị trí nhất định theo nội dung bài học, người giáo viên phải xác định phương pháp
sử dụng thiết bị đó cho phù hợp với tiến trình bài học
Thứ ba là nguyên tắc về tính kế thừa và phát triển: trong quá trình quản
lý và sử dụng thiết bị dạy học phải đảm bảo nguyên tắc các thiết bị mới được
kế thừa và thay thế thiết bị cũ, hỏng, lạc hậu song phải đảm bảo về mục đích
và tính phù hợp khi sử dụng
Thứ tư là nguyên tắc tuân thủ chu trình quản lý: việc sử dụng thiết bị dạy học trong nhà trường không chỉ là công việc riêng của giáo viên, nó gắn với các khâu cung cấp, bảo quản, kế hoạch, dự toán và nó còn liên quan đến người quản lý nhà trường và nhà sản xuất
Trang 301.3 Một số vấn đề lý luận về thiết bị dạy học thực hành trong các trường Cao đẳng
1.3.1 Vai trò của thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng
Quá trình dạy học xét theo quan điểm hệ thống đó là một chỉnh thể, có cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năng riêng và có mối quan hệ biện chứng với nhau
1 Mục tiêu dào tạo M 4 Lực lượng đào tạo GV
2 Nội dung đào tạo N 5 Đối tượng đào tạo TR
3 Phương pháp đào tạo P 6 Điều kiện đào tạo CSVC,
TBDH
Các yếu tố này thực sự có ý nghĩa khi chúng được đặt trong mối quan
hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Qua sơ đồ mối quan hệ giữa các yếu tố này của quá trình dạy học, đã thể hiện được vị trí quan trọng của TBDH
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình dạy học
Như vậy thiết bị dạy học chiếm vị trí hết sức quan trọng, là một yếu tố gắn chặt vào quá trình sư phạm, là đối tượng của công tác quản lý trường học nói chung và quản lý giáo dục đào tạo trong các trường cao đẳng nói riêng
Trang 311.3.1.1 Thiết bị dạy học nâng cao năng lực nhận thức và rèn kỹ năng của học sinh, sinh viên
Chức năng chủ yếu của thiết bị dạy học là tạo điều kiện cho người học nắm vững, chính xác và sâu sắc kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của họ Đã có nghiên cứu tổng kết rằng:
“ Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau khi học như sau:
20% qua những gì mà ta nghe được
30% qua những gì mà ta nhìn được
50% qua những gì mà ta nghe được và nhìn được
80% qua những gì mà ta nói được
90% qua những gì ta nói được và làm được” [9, tr.98]
Rõ ràng kiến thức người học thu nhận được qua việc nhìn và trực tiếp thực hiện các quá trình trên các mô hình mô phỏng hoặc thiết bị, dụng cụ dạy học,… là chiếm tỷ lệ rất cao so với cách tiếp cận kiến thức qua các giác quan khác Thiết bị dạy học trực quan hóa hoạt động nhận thức của người học, minh họa cho những sự vật, hiện tượng, các quá trình sảy ra trong thực tế mà giáo viên và HSSV không thể tiếp cận trực tiếp được; tạo động cơ hứng thú học tập của người học, cung cấp các cứ liệu thực nghiệm nhằm khái quát hóa hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái niệm, định luật, mô phỏng các hiện tượng, quá trình; đề cập ứng dụng của kiến thức trong đời sống và kỹ thuật; đồng thời giúp ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa kiến thức kỹ năng của HSSV; hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá quá trình và kết quả học tập
Chúng ta đều biết rằng, nhận thức là quá trình phản ánh thực tiễn lên bộ não con người thông qua hệ thống các giác quan Người học khó có thể tưởng tượng được, hiểu được, khái quát được một sự vật hiện tượng nào đó mà chưa
có chút biểu tượng ban đầu nào về nó Do vậy trong rất nhiều trường hợp giáo viên phải dẫn dắt người học từ những minh họa, quan sát thực tiễn thông qua các thiết bị dạy học trước khi xây dựng các khái niệm, định luật Thiết bị dạy học giúp cụ thể hóa những cái trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và
Trang 32thiết bị phức tạp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác được của chúng
Thiết bị dạy học sẽ làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú nhận thức của học sinh, sinh viên vì được tiếp xúc với các tình huống thực tiễn, tư duy của học sinh, sinh viên luôn được đặc trước các vấn đề có tính mới sẽ thúc đẩy sự suy nghĩ, tìm tòi, khám phá phát triển khả năng tu duy Đồng thời, khi làm việc với thiết bị dạy học, các đức tính cẩn thận, kiên trì, kỷ luật, chính xác của người học được rèn luyện Đó là những phẩm chất rất cần thiết mà được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài thông qua các hoạt động thực hành thực tế đa dạng
1.3.1.2 Thiết bị dạy học vật chất hóa phương pháp đào tạo, làm tăng năng suất lao động của GV và học sinh, sinh viên
Với mỗi nội dung dạy học, sẽ có các phương pháp dạy học phù hợp, nhưng lựa chọn phương pháp nào lại có phần liên quan đến TBDH Sự tương thích của TBDH với phương pháp dạy học sẽ giúp cho người giáo viên thể hiện nội dung dạy học có hiệu quả cao nhất Có thể nói TBDH là phương tiện,
là cầu nối giữa người dạy và người học và thực sự ngay trong bản thân TBDH
đã có chứa nội dung dạy học, chứa đựng tính mục đích của dạy học Thông qua TBDH người học có thể dễ dàng tìm ra câu trả lời hoặc tìm thấy phần nào câu trả lời cho mình mà không nhất thiết đòi hỏi giáo viên phải giải thích nhiều Như vậy nhờ TBDH mà giáo viên đã tạo được vùng giao thoa về sự hiểu biết giữa thầy và trò về nội dung cần truyền đạt của thầy Nhờ vậy sẽ rút ngắn được thời gian giảng dạy và giải phóng người thầy khỏi một khối lượng công việc tay chân, mà việc lĩnh hội kiến thức của học sinh lại nhanh hơn Do
đó sẽ làm tăng năng suất lao động của GV và học sinh, sinh viên
Như đã nói ở trên, các thành tố của quá trình dạy học luôn có mối quan
hệ và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, với hình thức tổ chức dạy học cũng vậy nó phụ thuộc nhiều vào TBDH Nếu không có TBDH thì hình thức tổ chức dạy học thường là thuyết trình, giảng giải Rõ ràng trong trường hợp đó mục đích
Trang 33sư phạm, ý đồ sư phạm của người thầy bị hạn chế nhiều và nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của thầy hay của trò Ngay cả khi có TBDH thì số lượng và chất lượng thiết bị cũng ảnh hưởng đến hình thức tổ chức dạy học Chẳng hạn như khi lên lớp thực hành, nếu thiết bị đủ cho từng nhóm hay từng học sinh, sinh viên thì hình thức tổ chức dạy học sẽ khác nhau để đảm bảo sự tương thích và khai thác được khả năng học tập của học sinh Đồng thời, thông qua việc quan sát người học hoạt động tự chủ với các thiết bị dạy học, giáo viên có thể phát hiện được những khó khăn trở ngại mà HSSV gặp phải
để động viên kịp thời và đưa ra những định hướng cần thiết giúp học sinh, sinh viên vượt qua
Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ đòi hỏi
tư duy và hoạt động của con người cần phải nhanh chóng, chính xác và hiệu quả,
do vậy việc đào tạo thế hệ trẻ trong các nhà trường không thể mãi sử dụng các phương tiện, thiết bị thô sơ, lạc hậu, đơn lẻ Với các thiết bị công nghệ hiện đại cho phép mở ra những khả năng sư phạm không giới hạn đối với công tác giáo dục và đào tạo Chúng không chỉ cho phép việc truyền đạt kiến thức đồng thời tới số lượng lớn HSSV mà còn giúp cho quá trình trao đổi, định hướng, điều khiển giữa GV và HSSV được duy trì liên tục Đó là điều vô cùng quan trọng và
là một trong những đặc điểm của nhà trường hiện đại
1.3.1.3 Thiết bị dạy học góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Khái niệm chất lượng:
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, chất lượng được định nghĩa như sau: Chất lượng – Phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với các sự vật khác
Theo tác giả Lê Đức Phúc: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với những sự vật khác
Chất lượng giáo dục
Trang 34Tác giả Đặng Xuân Hải cho rằng: chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục đích và có thể hiểu thông qua 2 khía cạnh: tuân theo các chuẩn quy định đối với giáo dục; đạt được các mục tiêu đề ra cho quá trình giáo dục
Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành các Quyết định số BGDĐT ngày 01/11/2007 ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng; Quyết định số 08/VBHN-BGDĐT ngày 04/03/2014 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Cao đẳng Với 10 tiêu chuẩn cụ thể như sau:
66/2007/QĐ-Tiêu chuẩn 1 Sứ mạng và mục tiêu của trường cao đẳng
Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý
Tiêu chuẩn 3: Chương trình đào tạo
Tiêu chuẩn 4: Hoạt động đào tạo
Tiêu chuẩn 5 : Đội ngũ cán bộ quản lý, GV và nhân viên
Tiêu chuẩn 6: Người học
Tiêu chuẩn 7: NCKH; ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ Tiêu chuẩn 8: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác Tiêu chuẩn 9: Tài chính và quản lý tài chính
Tiêu chuẩn 10 Quan hệ giữa Nhà trường và xã hội
Ta nhận thấy, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là 1 trong 10 tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá và đảm bảo chất lượng của một nhà trường cao đẳng Thiết bị dạy học là một thành tố gắn chặt với quá trình dạy học Thiết bị dạy học có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện các mục tiêu, nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước: Học đi đôi với hành, giáo dục gắn kết với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Thiết bị dạy học là công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp người học dễ dàng lĩnh hội kiến thức, giúp người học hình thành những kỹ năng, thói quen cần thiết để rèn luyện và ứng dụng trong đời sống xã hội Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định rằng: thiết bị dạy học tham gia và hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học ở các mặt:
Trang 35Là phương tiện giảng dạy
Là đối tượng của nhận thức
Là trực quan sinh động
Là kỹ thuật, kỹ xảo sư phạm
Là công cụ huấn luyện
Là phương pháp giáo dục khoa học
Là phương tiện và công cụ để tiếp cận với KHKT tiên tiến và công nghệ thông tin hiện đại
Thiết bị dạy học cho phép trình bày các vấn đề trừu tượng một cách sinh động, dễ hiểu do khả năng sư phạm to lớn hỗ trợ cho người dạy và người học như: tốc độ truyền tải thông tin nhanh mà không làm giảm chất lượng thông tin, tính trực quan cao, tạo ra những vùng hợp tác giữa thầy và trò, củng
cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc, học tập, sự khéo léo, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tạo ra sự hứng thú, lôi cuốn khi học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
1.3.2 Yêu cầu đối với thiết bị dạy học
1.3.2.1 Tính khoa học sư phạm
Thiết bị dạy học phải phù hợp với các yêu cầu về mặt sư phạm như độ
rõ, kích thước, màu sắc,… đảm bảo mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực giúp người học dễ dàng tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với chương trình học, giúp giáo viên truyền đạt cho HSSV các kiến thức phức tạp một cách thuận lợi, phát triển khả năng tư duy logic cho HSSV
Thiết bị dạy học phải phù hợp với nội dung dạy học, nhiệm vụ sư phạm
và phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao khả năng tiếp thu của HSSV đồng thời thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các hình thức
tổ chức dạy học tiên tiến
Trang 36Thiết bị dạy học phải có màu sắc hài hòa nên gần giống như vật thật, tỷ
lệ giữa các đường nét, hình khối phải cân xứng; phải làm cho giáo viên, HSSV thích thú khi sử dụng, kích thích tính yêu nghề và yêu thích môn học
1.3.2.4 Tính nhân trắc học
Thiết bị dạy học phải phù hợp với tâm sinh lý của học sinh, sinh viên
và giáo viên, đặc biệt là tâm lý lứa tuổi
Thiết bị dạy học dùng để biểu diễn trước mặt HSSV nên có kích thước
đủ lớn, phù hợp với không gian Các thiết bị dùng cho cá nhân không nên chiếm quá nhiều diện tích học tập
Thiết bị dạy học phải đảm bảo các yêu cầu về an toàn kỹ thuật, khi sử dụng không gây độc hại hay nguy hiểm cho giáo viên và HSSV
1.3.2.5 Tính kinh tế
Mức độ giá thành của các thiết bị dạy học phải tương xứng với hiệu quả giáo dục và đào tạo Nội dung và đặc tính kết cấu của thiết bị dạy học đảm bảo chi phí tài chính thấp nhất mà vẫn đáp ứng chất lượng sử dụng
1.3.3 Một số đặc thù của thiết bị dạy học thực hành trong các trường cao đẳng
Thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng là tất cả các chủng loại thiết
bị, mô hình học cụ, đồ dùng, phương tiện dạy học dùng cho dạy - học lý thuyết và thực hành theo yêu cầu các chương trình đào tạo của nhà trường
Đối với một người được đánh giá là có trình độ chuyên môn cao thì yếu tố không thể thiếu được trong nhân cách của họ đó là nắm chắc khối lượng kiến thức cơ bản và thành thạo kỹ năng nghề nghiệp Về kỹ năng nghề nghiệp có được thông qua học thực hành, thực tập thực tế và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
Trang 37Điều này liên quan trực tiếp và có tính quyết định đến TBDH, thông qua TBDH
để có thể học tập, rèn luyện đạt được trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cần có
Giáo dục học cổ truyền chú trọng đến việc truyền đạt tri thức thuần tuý Giáo dục học hiện đại, ngoài những kiến thức mang tính lý thuyết còn đặc biệt quan tâm đến kỹ năng nghề nghiệp; thông qua công cụ, phương tiện, thiết
bị vật chất để truyền tải tri thức đến với đối tượng đào tạo
Một thiết bị dạy học trực quan, một mô hình giảng dạy được áp dụng trong giờ học không đơn thuần chỉ là phương tiện giúp người dạy truyền dạy
có hiệu quả nội dung kiến thức cho HSSV mà còn là đối tượng nhận thức của học sinh, sinh viên Nó còn là yếu tố kích thích tính tò mò, lòng say mê và tích cực học tập của người học Hơn thế nữa trong một chừng mực nhất định nào đó nó còn góp phần giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ cho HSSV
Hoạt động nói chung của mỗi cá nhân quyết định sự phát triển của cá nhân đó và hoạt động nhận thức trong học tập là để tiếp thu tri thức khoa học,
kỹ năng nghề nghiệp và hình thành thái độ, hành vi đúng đắn, lúc đó TBDH
là đối tượng nhận thức của người học Những khái niệm trừu tượng, chỉ bằng lời nói giải thích khó có thể diễn tả hết ý nghĩa, lúc đó TBDH sẽ mô hình hoá khái niệm trừu tượng đó để sao cho dễ hiểu, dễ nhận biết, TBDH chính là đối tượng của nhận thức
Từ nhận thức nghề nghiệp, kiến thức nghề nghiệp thu nhận được muốn
có tay nghề phải thông qua thực hành, việc thực hành từ rèn luyện các động tác, thao tác cơ bản đến luyện tập kỹ năng nghề phải thông qua công cụ, mà công cụ trong thực hành nghề nghiệp chính là TBDH Không có TBDH thì không thể có kỹ năng nghề nghiệp được
Trong mỗi nhà trường tùy theo các chương trình đào tạo của nhà trường
mà đòi hỏi phải trang bị các loại TBDH khác nhau phù hợp với nội dung giảng dạy Chẳng hạn, đối với các trường cao đẳng nghề như nghề cơ điện thì cần sử dụng các loại thiết bị điện, các thiết bị hàn, thiết bị tiện, thiết bị phay, Trong các trường cao đẳng nhạc họa thì nhất thiết phải sử dụng các thiết bị
Trang 38âm nhạc như: các loại đàn, sáo, nhị, loa, trống, chiêng,… Các ngành đào tạo cao đẳng Dược, cao đẳng Y tế cũng đòi hỏi cần có các thiết bị dạy học phù hợp với đặc thù của ngành Đây là ngành liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người nên càng cần đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp phải chính xác điều đó đồng nghĩa với việc người học phải được thực hành, thí nghiệm nhuần nhuyễn thông qua việc sử dụng các thiết bị dạy học; một số thiết bị đặc trưng như: ống nghiệm và hóa chất, dược liệu, dược phẩm, kính hiển vi, máy móc phục vụ bào chế và sản xuất thuốc, máy chiếu, máy chụp, máy siêu âm, mô hình giải phẫu cơ thể,…
Chương trình đào tạo các ngành nghề được quy định rất cụ thể: chẳng hạn chương trình khung đào tạo trình độ cao đẳng ngành dược được Bộ Giáo dục và đào tạo quy định như sau:
Bảng 1.1 Cấu trúc kiến thức chương trình đào tạo cao đẳng Dược
TT Khối kiến thức tối thiểu Số đơn vị học trình
1 Kiến thức giáo dục đại cương tối thiểu
(Chưa kể các phần nội dung Giáo dục Thể
chất và Giáo dục Quốc phòng)
2 Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp tối thiểu: 70 41 29
- Kiến thức cơ sở khối ngành và ngành 23 16 7
- Kiến thức ngành và chuyên ngành 47 25 22
Nguồn trích: Thông tư số 11 /2010/TT-BGDĐT ngày 23/3/2010 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chương trình khung đào tạo trình độ cao đẳng ngành hộ sinh được Bộ Giáo dục và đào tạo quy định như sau:
Trang 39Bảng 1.2 Cấu trúc kiến thức chương trình đào tạo cao đẳng ngành Hộ sinh
1 Kiến thức giáo dục đại cương (chưa kể các
phần nội dung Giáo dục Thể chất và Giáo dục
Quốc phòng – an ninh)
2 Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp tối thiểu: 85 40 45
- Kiến thức cơ sở khối ngành và ngành 39 24 15
Nguồn trích: Thông tư số 11 /2010/TT-BGDĐT ngày 23/3/2010 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Từ cấu trúc kiến thức của hai chương trình trên có thể thấy rằng yêu cầu dạy và học thực hành trong các trường cao đẳng nói chung và các khối ngành chăm sóc sức khỏe nói riêng là đặc biệt quan trọng và quyết định kỹ năng nghề nghiệp của người học Học thực hành nhất thiết phải sử dụng tới thiết bị dạy học, học lý thuyết cũng cần sử dụng TBDH hỗ trợ để nâng cao hiệu quả dạy và học
Bởi vậy, TBDH vừa là phương tiện của việc giảng dạy, là công cụ của luyện tập vừa là đối tượng của nhận thức Nó là một nhân tố không thể thiếu được trong cấu trúc toàn vẹn của quá trình giáo dục
Sự hỗ trợ đắc lực của thiết bị sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học, làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện: mục tiêu đào tạo – nội dung đào tạo – phương pháp đào tạo và làm cho chất lượng giảng dạy và học tập được nâng cao
Trang 401.4 Nội dung quản lý thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng đáp ứng yêu cầu dạy học thực hành
1.4.1 Tổ chức việc nhận thức cho cán bộ quản lý, giảng viên và học sinh, sinh viên về vai trò của thiết bị dạy học
Quản lý việc nhận thức của cán bộ, GV và HSSV về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học đặc biệt là hoạt động thực hành nghề nghiệp là một trong những nội dung quan trọng và tương đối khó khăn của người đứng đầu nhà trường Thực chất là dưới các tác động khác nhau cần phải làm cho họ hiểu được thiết bị dạy học là một thành tố không thể tách rời quá trình dạy học và không thể có chất lượng hiệu quả trong việc giảng dạy nếu vẫn còn dạy chay, học chay
Ngày nay thiết bị dạy học không chỉ được sử dụng đơn thuần như một công cụ minh họa mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức của cán bộ quản lý, GV và HSSV đặc biệt là các thiết bị có ứng dụng thành tựu công nghệ cao như công nghệ thông tin và truyền thông
Vì vậy, cần phải làm cho cán bộ quản lý, giảng viên và HSSV nhận thức đầy đủ về vai trò của thiết bị dạy học đối với hoạt động dạy và hoạt động học để đạt được chất lượng đào tạo cao nhất so với mục tiêu đề đặt ra
1.4.2 Tổ chức bộ máy quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường
Tổ chức bộ máy quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong nhà trường thực chất là việc thành lập và phân công trách nhiệm và quyền hạn cho
cá nhân, một nhóm người hay bộ phận nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để đạt được mục đích cao nhất trong công tác quản lý thiết bị
Đối với bộ máy quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở Trường cao đẳng cần phân chia rõ các cấp độ quản lý để quy định rõ phạm vi và trách nhiệm quản lý Cụ thể, phạm vi quản lý phải rõ ràng về ranh giới và quyền hạn được quản lý như: quản lý ai? khi nào? quản lý đến đâu? trách nhiệm quản lý cũng phải cụ thể: quản lý cái gì? quản lý như thế nào?