Mục tiêu nghiên cứu Với đề tài “Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc dưới góc độ pháp lý quốc tế và giải pháp cho Việt Nam trong đấu tranh, phản bác lại yêu sách này”, luận văn sẽ đi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
“Y£U S¸CH §¦êNG L¦ìI Bß CñA TRUNG QUèC
D¦íI GãC §é PH¸P Lý QUèC TÕ Vµ GI¶I PH¸P CHO VIÖT NAM TRONG §ÊU TRANH, PH¶N B¸C L¹I Y£U S¸CH NµY”
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
“Y£U S¸CH §¦êNG L¦ìI Bß CñA TRUNG QUèC
D¦íI GãC §é PH¸P Lý QUèC TÕ Vµ GI¶I PH¸P CHO VIÖT NAM TRONG §ÊU TRANH, PH¶N B¸C L¹I Y£U S¸CH NµY”
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ nhiệt tình từ Quý Thầy cô công tác tại Khoa Luật- ĐHQGHN cũng như sự động viên, chia sẻ của rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp và người thân Vì vậy, trước kết quả đã đạt được, rất mong muốn có cơ hội được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của bản thân tới những người đã giúp đỡ tôi trong suối thời gian qua
Trước hết, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy cô trong Khoa Luật- ĐHQGHN- những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về Luật Quốc tế nói chung và Luật Biển quốc tế nói riêng Chính những tri thức uyên bác và sự tận tình của Thầy cô đã tạo cho tôi niềm say mê và quyết định lựa chọn vấn đề biển đảo làm đề tài luận văn của mình
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, xin gửi tới Thầy- PGS.TS Nguyễn Bá Diến- Người đã tận tâm hướng dẫn tôi từ lúc bắt đầu lựa chọn đề tài cho đến khi hoàn thiện Luận văn.Trong quá trình triển khai thực hiện, Thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để đưa ra những định hướng đúng đắn, truyền thụ những kinh nghiệm quý báu, chỉ bảo tận tình giúp tôi có thể chỉnh sửa và hoàn thiện luận văn
Bên cạnh đó, xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân, bạn
bè và đồng nghiệp- những người đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này Cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà sử học, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về Luật Biển - những người đã tạo nên nguồn tài liệu quý giá giúp tôi có thêm tư liệu làm phong phú hơn công trình nghiên cứu của mình
Mặc dù tôi đã cố gắng, nỗ lực thực hiện Luận văn với tất cả niềm say mê của mình, tuy nhiên, do thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những điểm thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ Quý Thầy cô, Quý bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” CỦA TRUNG QUỐC 7
1.1 Thời điểm xuất hiện của yêu sách “đường lưỡi bò” 7
1.2 Sự thay đổi của bản đồ yêu sách “đường lưỡi bò” từ sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập đến nay 11
Chương 2: SỰ PHI LÝ CỦA YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỜI BÒ” DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 18
2.1 Yêu sách “đường lưỡi bò” dưới ánh sáng của các nguyên tắc chung của luật quốc tế 18
2.1.1 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới góc độ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 18
2.1.2 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới ánh sáng của các nguyên tắc đặc thù trong Luật Biển quốc tế 25
2.2 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới góc độ là “đường biên giới quốc gia trên biển” 35
2.2.1 Dựa trên các nguyên tắc xác lập “đường biên giới quốc gia trên biển” 36
2.2.2 Dựa trên các phương pháp xác lập “đường biên giới quốc gia trên biển” 36
2.2.3 Dựa trên quy trình thủ tục xác lập “đường biên giới quốc gia trên biển” 39
2.2.4 Dựa trên đặc điểm của “đường biên giới quốc gia trên biển” 42
2.2.5 Dựa trên quy chế pháp lý của vùng nước bên trong “đường biên giới quốc gia trên biển” 46
2.3 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới góc độ là “đường quy thuộc đảo” 50
Trang 62.3.1 Hoàng Sa, Trường Sa trong yêu sách “đường lưỡi bò” không
phải là “quần đảo” hay “quốc gia quần đảo” theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 50 2.3.2 Vùng biển của đảo trong phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò” không
phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 52 2.3.3 Trung Quốc cố tình vận dụng sai các quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982 về vạch đường cơ sở thẳng và đường cơ sở quần đảo 54 2.3.4 Quy chế pháp lý của “vùng nước quần đảo trong yêu sách
“đường lưỡi bò” không phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 55 2.3.5 Trung Quốc có sự mâu thuẫn trong việc xác định địa vị pháp lý của đảo 56
2.4 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới giác độ là
“đường vùng nước lịch sử” 60
2.4.1 Yêu sách “Đường lưỡi bò” không đáp ứng các yếu tố cấu thành
của vùng nước lịch sử 61 2.4.2 Vùng nước lịch sử theo “đường lưỡi bò” không phù hợp với bất
kỳ quy chế pháp lý nào theo quy định của UNCLOS 1982 64 2.4.3 Các tuyên bố và văn bản pháp luật về biển đảo của Trung Quốc
không có sự thống nhất trong việc yêu sách “đường lưỡi bò” là
“đường vùng nước lịch sử” 64
2.5 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới giác độ là
“đường quyền lợi lịch sử” 65
2.5.1 Trung Quốc sử dụng thuật ngữ chưa được thừa nhận trong pháp
luật quốc tế nhằm biện minh cho yêu sách của mình 65 2.5.2 Trung Quốc có nhiều điểm mâu thuẫn trong việc luận giải về
“đường quyền lợi lịch sử” 67 2.5.3 Trung Quốc không có đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để đòi quyền
sở hữu đối với các đảo trong Biển Đông cũng như quyền ưu tiên đặc biệt trong vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông 69 2.5.4 Quy chế pháp lý của áp dụng cho các vùng biển trong “đường lưỡi
bò” theo thuyết “đường quyền lợi lịch sử” của Trung Quốc không phù hợp với các quy định của luật pháp và tập quán quốc tế 71
Trang 7Chương 3 GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐẤU
TRANH PHẢN BÁC YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” TẠI CÁC THIẾT CHẾ TÀI PHÁP QUỐC TẾ VÀ CÁC TỔ
CHỨC QUỐC TẾ 75
3.1 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại các thiết chế tài phán quốc tế 76
3.1.1 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại Tòa án Công lý Quốc tế 76
3.1.2 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại Tòa án Quốc tế về Luật Biển 82
3.1.3 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại Tòa Trọng tài được thành lập theo phụ lục VII Công ước Luật Biển năm 1982 86
3.1.4 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại Tòa Trọng tài đặc biệt được thành lập theo Phụ lục VIII Công ước Luật Biển năm 1982 89
3.1.5 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại Tòa Trọng tài thường trực Lahay 91
3.2 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại các tổ chức quốc tế 94
3.2.1 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại Liên hợp quốc 94
3.2.2 Giải pháp cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” tại ASEAN 99
3.3 Một số biện pháp bổ trợ khác 100
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 115
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHND Cộng hòa Nhân Dân
CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
EEZ Vùng đặc quyền kinh tế
ICJ Tòa án Công lý Quốc tế
ITLOS Tòa án Quốc tế về Luật Biển
PCA Tòa Trọng tài thường trực La Hay
UNCLOS 1982 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” do Sở Phương vực
(Trung Hoa dân quốc) biên soạn năm 1947 8
Hình 1.2 Bản đồ “đường lưỡi bò” gồm 11 đoạn của Cộng hòa Trung Hoa
Hình 1.3 Bản đồ “đường lưỡi bò” được đính kèm trong các Công hàm
Hình 1.4 Bản đồ “lưỡi bò” 10 đoạn được Tập đoàn xuất bản bản đồ Trung
Quốc (Sinomaps Press) phát hành hồi đầu năm 2013 15
Hình 2.4 Nét vẽ các đoạn “đường lưỡi bò” trong trong một số bản đồ của
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ 21, “Thế kỷ của biển và đại dương”, khai thác biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và các quốc gia không có biển, trong đó có Việt Nam Với vị thế là một quốc gia được sinh ra từ biển với đường bờ biển dài hơn 3260km, chạy dọc từ Bắc xuống Nam, Biển và hải đảo ngày càng có vai trò quan trọng trong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại
và tương lai Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ
để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá
Xuất phát từ tiềm năng kinh tế và vị trí địa chiến lược ở Biển Đông nên Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã trở thành “miếng mồi béo bở” để các quốc gia “tranh nhau giằng xé”, tạo nên cục diện tranh chấp phức tạp giữa hai nước
ba bên (Việt Nam-Trung Quốc-Đài Loan) trên quần đảo Hoàng Sa và năm nước sáu bên (Việt Nam-Trung Quốc-Đài Loan- Philppines-Malaysia và Brunei) trên quần đảo Trường Sa Đặc biệt là vào ngày 7/5/2009, Trung Quốc, với công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 gửi lên Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, đã chính thức yêu cầu lưu truyền trong cộng đồng bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” với 9 đoạn trên Biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong
đó Điều này đã cho thấy Trung Quốc muốn “độc chiếm Biển Đông”, biến Biển Đông thành “bàn đạp” để mở rộng yêu sách chủ quyền ra Thái Bình Dương, từ đó góp phần thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” và tham vọng “bá chủ toàn cầu”
Nhằm hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã sử dụng hàng loạt các chiến lược chiến thuật và tiến hành các hoạt động thực thi trên thực tế trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng, thông tin truyền thông cho đến lĩnh vực pháp lý Các hoạt động này không
Trang 11chỉ làm cho bầu không khí Biển Đông vốn đã “phức tạp” lại càng trở nên “căng thẳng” mà còn gây ra nhiều tác động tiêu cực cho Việt Nam, chẳng hạn: Với tuyên
bố: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và
các vùng nước liền kề, có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và vùng đất dưới đáy biển” [85], [86] yêu sách
“đường lưỡi bò” của Trung Quốc đã “nuốt trọn” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa cùng nhiều bãi cạn bãi ngầm khác không những xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này mà còn xâm phạm tới các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Với yêu sách
“đường lưỡi bò” chiếm 80% diện tích Biển Đông, Trung Quốc đã vây hãm con đường ra biển của Việt Nam, phá vỡ tuyến phòng thủ chiến lược phía Tây Nam của
Tổ quốc, gây ra tác động tiêu cực đối với ngành kinh tế biển của Việt Nam, triệt tiêu nguồn sinh kế của hàng triệu ngư dân Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, phá vỡ thế trận an ninh nhân dân của Việt Nam…
Xuất phát từ các phân tích trên có thể thấy việc nghiên cứu về “Yêu sách
đường lưỡi bò của Trung Quốc dưới góc độ pháp lý quốc tế và giải pháp cho Việt Nam trong đấu tranh, phản bác lại yêu sách này” là yêu cầu cấp thiết đã và đang
đặt ra cho Việt Nam trong thời gian hiện nay Do đó, học viên đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu trong phạm vi Luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu
Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là một đề tài đã được khai thác một cách rộng rãi trong và ngoài khu vực Đông Nam Á dưới nhiều góc độ khác nhau, từ luật học cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng Đây
là đề tài thu hút sự nghiên cứu của rất nhiều luật gia, nhà nghiên cứu, học giả trong nước và quốc tế với các ấn phẩm sách, báo, tạp chí, đề tài, chuyên đề, bài viết, tiêu biểu như Giáo sư Carl Thayer của trường Đại học New South Wales thuộc Học viện Quốc phòng Australian, Giáo sư Erik Franckx - Giám đốc Trung tâm Luật quốc tế trường Đại học quốc Vrije Universiteit Brussel và là thành viên của Tòa án Trọng tài Thường trực… Trong thời gian gần đây, yêu sách này đang
Trang 12trở thành một chủ đề nóng trong các hội nghị, diễn đàn an ninh, pháp lý trong nước cũng quốc tế
Bản thân Trung Quốc- quốc gia khởi xướng yêu sách “đường lưỡi bò” đã có rất nhiều chuyên trang nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu như nansha.org.cn, chinesejil.oxfordjournals.org… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về yêu sách “đường lưỡi bò” cũng thu hút được sự tham gia rộng rãi của các học giả Trung Quốc và Đàii Loan
với các tác phẩm tiêu biểu như: Yann-huei Song (宋燕輝), “Bàn về chế độ pháp luật
của vùng nước mang tính lịch sử Nam Hải”, tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 8, 1993;
Chiu Hungdah (丘宏達), “Chế độ pháp luật của vùng nước mang tính lịch sử Nam Hải
nước ta”, tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 8, 1993; Zhao Guocai (趙國材), “Theo quan điểm luật quốc tế phân tích chế độ pháp luật của vùng nước mang tính lịch sử ở Nam Hải nước ta”, tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 8, 1993; Yann-huei Song
(宋燕輝), “Vùng nước mang tính lịch sử và tranh luận chủ quyền Nam Hải”, tạp chí Chính Sách Quốc Tế, số 96, 1994; Phan Thạch Anh, “Nam Hải và tập quán quốc tế
của quyền lực mang tính lịch sử”, tạp chí Chính sách quốc gia, số 96, tháng 10, 1994;
Zhiguo Gao (高之國), “The South China Sea: From Conflict to Cooperation”, Ocean Development & International Law,Vol.25, 1994; Li Jinming (Lý Kim Minh), “Đường
đứt đoạn Nam Hải: Bối cảnh mới và luận điểm pháp luật”, tạp chí Hiện Đại Quốc Tế
Quan Hệ, tháng 9, 2013; Wang Junmin (王军敏), “Quyền lợi của Trung Quốc tại Nam
Hải nhìn theo luật quốc tế”, Thời báo Học Tập, 7/7/2014…
Riêng ở Việt Nam hiện nay, “đường lưỡi bò” cũng được nghiên cứu rộng rãi trong các trang mạng như nghiencuubiendong, biendong.net, qncbd.wordpress.com, vietnamnews.vn, daidoanket.com và rất nhiều trang mạng khác Ngoài ra, trên các tạp chí cũng có rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu tên tuổi nghiên cứu sâu về
vấn đề này, ví dụ như PGS.TS Nguyễn Hồng Thao với bài viết “yêu sách đường
đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc dưới góc độ luật pháp Quốc tế” đăng trên tập san
biên giới lãnh thổ số 5/4- 1999, PGS.TS Vũ Dương Huân với bài viết Phân tích một
số lập luận của Trung Quốc về “Chủ quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông”, Ths
Trang 13Hoàng Việt với bài viết “Phân tích các yêu sách về “đường lưỡi bò: theo luật quốc
tế”, Phạm Hoàng Quân với bài viết ““Đường chữ U” và những toan tính của học giới Trung Quốc”; Trần Công Trục - Lê Phúc - Minh Hiển - Lê Bình - Thu Lan với
bài viết “Biển Đông: Phi lý yêu sách “Đường lưỡi bò””…
Tuy nhiên, mỗi nhà nghiên cứu lại cung cấp cho độc giả những cái nhìn khác nhau về yêu sách ấy Các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một khía cạnh nhỏ của vấn để này Vì vậy, để có một cái nhìn toàn diện và khách quan nhất về yêu sách “đường lưỡi bò”, luận văn sẽ tập chung phân tích yêu sách này trên cơ sở các quy định của luật pháp quốc tế, từ đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong đấu tranh phản bác yêu sách này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc dưới góc độ pháp lý
quốc tế và giải pháp cho Việt Nam trong đấu tranh, phản bác lại yêu sách này”,
luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu và phân tích về về sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” trên cơ sở vận dụng các quy định của luật pháp quốc tế, qua đó đề xuất một số giải pháp thiết thực cho Việt Nam trong việc đấu tranh, phản bác yêu sách này tại các tổ chức quốc tế cũng như các thiết chế tài phán quốc tế, góp phần bảo vệ sự toàn
vẹn về chủ quyền biển đảo
Để đạt được mục tiêu trên, học viên đặt ra những mục tiêu cụ thể để lần lượt
tập chung nghiên cứu giải quyết vấn đề bao gồm: i) Nghiên cứu một cách tổng quan
về lịch sử hình thành và phát triển của yêu sách “đường lưỡi bò”, trong đó nêu rõ
thời điểm xuất hiện và sự thay đổi và phát triển của yêu sách này; ii) Làm sáng tỏ
tính phi lý của “đường lưỡi bò” thông qua việc phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các nguyên tắc đặc thù của Luật biển quốc tế hiện đại và nguyên tắc đặc thù trong xác lập chủ quyền biển đảo; quy định của Công ước Luật Biển năm
1982, các án lệ của Tòa án Công lý quốc tế về “đường biên giới quốc giới quốc gia trên biển”, “đường quy thuộc đảo”, “đường vùng nước lịch sử” và “đường quyền lợi
lịch sử”; iii) Đề xuất một số kiến nghị cho Việt Nam trong việc đấu tranh phản bác
yêu sách “đường lưỡi bò” tại các tổ chức quốc tế và các thiết chế tài phán quốc tế
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, học viên sẽ tập trung nghiên cứu một cách toàn diện về: i)
các tài liệu của Trung Quốc có liên quan đến yêu sách “đường lưỡi bò”, từ văn kiện pháp lý về chủ quyền biển đảo, bản đồ “đường lưỡi bò” và công trình nghiên cứu của
các học giả Trung Quốc và Đài Loan liên quan đền yêu sách này; ii) Các bằng chứng
lịnh sử và căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó có các quy định của pháp luật quốc tế đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế và phán quyết của một số cơ quan tài phán khác; Các quy định của pháp luật Việt Nam và các
quốc gia trong khu vực liên quan tới chủ quyền biển đảo; iii) Cơ chế giải quyết tranh
chấp của các tổ chức quốc tế và các thiết chế tài phán quốc tế liên quan đề biển đảo
Mặc dù có rất nhiều căn cứ có thể được áp dụng để làm rõ tính phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” song do thời gian có hạn nên trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, học viên chỉ nghiên cứu các vấn đề dưới góc độ pháp lý quốc tế mà cụ thể là các nguyên tắc chung của luật quốc tế, quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 và các án lệ của Tòa án Công lý quốc tế về “đường biên giới quốc gia trên biển”, “đường quy thuộc đảo”, “đường vùng nước lịch sử” và “đường quyền lợi lịch sử”
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Thu thập tài liệu để rà soát, phân tích và tham khảo các nguồn thông tin, tài liệu tham khảo;
- Tổng hợp và kế thừa các nghiên cứu trước đây có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của tác giả;
- Sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp sử dụng các phương pháp hệ thống - cấu trúc, lịch sử,
so sánh, lấy ý kiến chuyên gia… để làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu
- Vận dụng các quan điểm, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà Nước đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển, Đảo để phân tích thực hiện luận văn
Trang 15- Nghiên cứu trực tiếp trên các căn cứ pháp lý quốc tế chung, các văn bản pháp luật của các quốc gia trong khu vực có liên quan tới chủ quyền biển đảo
6 Những đóng góp và tính mới của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu những tri thức chung về khoa học pháp lý cũng như kế thừa một cách hợp lý những giá trị các công trình nghiên cứu khoa học trước về đề tài “đường lưỡi bò”, bài luận văn xây dựng và khai thác một khía cạnh riêng với
phạm vi đã được xác định là “Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới góc độ
pháp lý quốc tế” Trong đó, tính mới và sự đóng góp của Luận văn thể hiện ở chỗ: i)
Phân tích và trình bày một cách chi tiết và cụ thể về lịch sử hình thành của yêu sách
“đường lưỡi bò” theo các công bố chính thức của Chính quyền Trung Quốc và các
công trình nghiên cứu của học giả nước này; ii) Nghiên cứu và phân tích về bản
chất pháp lý của “đường lưỡi bò” một cách có hệ thống theo những tiêu chí và căn
cứ pháp lý khác nhau, từ đó chỉ ra được sự phi lý của yêu sách này; iii) Chỉ ra được
các tổ chức quốc tế và thiết chế tài phán Việt Nam có thể sử dụng được và triển
vọng của Việt Nam khi sử dụng các các cơ chế đó; iv) Góp phần bổ sung và làm
sáng tỏ hơn các căn cứ pháp lý trong việc chứng minh, bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam nói
chung; v) Có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý,
làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Luật quốc tế…
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bảng từ viết tắt và bảng phụ lục, nội dung Luận văn sẽ bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của yêu sách
Trang 16Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” CỦA TRUNG QUỐC
1.1 Thời điểm xuất hiện của yêu sách “đường lưỡi bò”
Mang trong mình dòng máu “Đại Hán”, từ lâu trong lịch sử tư tưởng “bá quyền”, “sự hiếu chiến” đã ăn sâu vào tiềm thức của giới chức lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc, hình thành nên chủ nghĩa “dân tộc cực đoan” với “giấc mộng Trung Hoa”, biến Trung Quốc thành cường quốc số một trên thế giới về mọi mặt, trong đó
có vấn đề biển đảo Tư tưởng đó đã cổ xúy mạnh mẽ cho những yêu sách phi lý và hành động gây hấn ngang ngược, bất chấp các quy định của của luật pháp và tập quán quốc tế của Trung Quốc trên Biển Đông, trong đó có yêu sách “đường lưỡi bò”
“Đường lưỡi bò” hay “đường chữ U”[90] (tiếng Anh là “U shaped line”, [44],
tiếng Trung là ““U 形线), “đường đứt khúc 9 đoạn” (Tiếng Anh là “the nine dotted line”, tiếng Trung là “九段),"đường đứt khúc” hay “ranh giới lưỡi bò”, “đường lưỡi rồng” [49] … đều là cách gọi khác nhau mà Nhà nước, học giả Trung Quốc,
Đài Loan và các học giả khác trên thế giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ven Biển Đông như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines và Brunei Con đường này có lịch sử hình thành vô cùng phức tạp, cụ thể:
Theo phần lớn các học giả ở cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan, năm 1947,
Ty Phương vực thuộc Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc đã xuất bản bản đồ “vị trí các đảo Nam Hải”, trong đó có xuất hiện đường biên giới quốc gia do 11 đoạn tạo thành [116], [117] Trong bản đồ này, “đường lưỡi bò” thể hiện bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa)
và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa) và đánh dấu rõ ràng Bãi ngầm James Shoal (Tăng Mẫu) ở cực Nam vào khoảng 40 vĩ Bắc [78, tr.287-288] Sau đó, vào tháng 01 năm 1948, Bộ Nội Vụ nước Cộng Hòa Trung Hoa chính thức công bố
Trang 17một bản đồ có tên Nanhai zhudao weizhi tu (Bản đồ các đảo Nam Hải), tháng 2 năm
1948 bản đồ này được xuất bản chính thức và trên bản đồ này có xuất hiện một đường
mà nhiều học giả gọi là “đường chữ U” hay “đường đứt khúc” gồm 11 đoạn [118] Trong khi đó, một số học giả lại gọi đó là “đường lưỡi bò” vì đường “nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông” [63]
Hình 1.1: Bản đồ “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” do Sở Phương vực (Trung Hoa
dân quốc) biên soạn năm 1947
(Nguồn: Trung Hoa dân quốc (biên soạn) (1947), Bản đồ “Nam Hải chư
đảo vị trí đồ” do Sở Phương vực, http://alohas.archives.gov)
Một số học giả khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc [44], chẳng hạn: Zou Keyuan (Châu Khắc Uyên)- Giáo sư Luật quốc tế, Nghiên cứu viên Viện phát triển Chiến lược biển- Cục Hải dương Trung Quốc, Cao Chí Quốc (Gao Zingua)- Thẩm phán ITLOS, Giả
Trang 18Binh Binh (Ja Bing Bing)- Giáo sư Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh cho rằng bản đồ
“đường lưỡi bò” lần đầu tiên được xuất hiện trong một bản đồ cá nhân có tên là Hu Jinjie (Hồ Tấn Tiếp)- người Trung Quốc vào tháng 12 năm 1914, sau khi Trung Hoa Dân Quốc giành lại nhóm đảo Dongsha (hay Pratas) từ đế quốc Nhật vào tháng 10 năm 1909 (theo lịch âm Trung Quốc) Cũng lưu ý rằng “đường lưỡi bò” của Hu Jinjie
là một đường liên tục chạy từ biên giới đất liền của Trung Quốc và Việt Nam vòng
xuống bao lấy Hoàng Sa (với điểm tận cùng phía Nam khoảng 15°, 16° vĩ bắc) sau đó vòng lên bọc lấy Pratas, chạy xuyên qua eo biển Đài Loan và cuối cùng kết thúc ở đường ranh giữa biển Hoa Đông và Hoàng Hải [111], [114] Như vậy, “đường lưỡi bò” của Hu Jinjie không chứa Đài Loan (lúc đó còn trong tay Nhật) và Trường Sa [37] Các bản đồ của Trung Quốc xuất bản từ giai đoạn những năm 1920 và 1930 sau đó đều dựa trên bản vẽ của Hu về vùng biển này [112]
Trong khi đó, Giả Vũ (Jia Yu)- Nghiên cứu viên Sở nghiên cứu chiến lược phát triển hải dương Cục hải dương quốc gia Trung Quốc, Lý Kim Minh (Li Jinming)- Giáo
sư Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Hạ Môn Trung Quốc [79], … lại cho rằng bản đồ “đường lưỡi bò” được xuất hiện vào năm 1935: Tháng 4 năm 1935, “Ủy ban
đo đạc thủy bộ” công bố bản đồ các đảo ở Biển Đông thể hiện bao trùm xung quanh
cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa) và đánh dấu rõ ràng Bãi ngầm James Shoal (Tăng Mẫu) ở cực Nam vào khoảng 40 vĩ Bắc [119]
Một số học giả khác, tiêu biểu như Nien-Tsu Alfred Hu- Giảng viên Đại học Quốc gia Cheng Kung, Đài Loan, M Sheng-Ti Gau – Giảng viên Đại học Hải dương Quốc gia Đài Loan… lại chỉ ra rằng bản đồ “đường lưỡi bò” đã được Vụ Biên giới lãnh thổ, Bộ Nội vụ Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chính thức xuất bản lần đầu tiên vào tháng 12/1946 [80, tr.58] Trong bản đồ này, “đường lưỡi bò” được thể hiện gồm 11 nét bao trùm phần lớn Biển Đông và các đảo ở khu vực này [100]
Trang 19Hình 1.2 Bản đồ “đường lưỡi bò” gồm 11 đoạn của Cộng hòa Trung Hoa năm 1946
(Nguồn: (1) Chang I (1994), Nan-Hai Tsu-Yuan K’ai-Fa yu Chu-Ch’uan
Wei-Hu (The Resources Exploitation and Sovereignty Protection of the South Sea), Taipei County, Taiwan: P’an Shih Library, December 1994
(2) Tsu Alfred Hu (2010), "South China Sea: Troubled Waters or a Sea of
Opportunity?", Ocean Development & International Law, Vol 41:3, pp 203-213)
Đến tháng 12/1947, “đường lưỡi bò” mới được một viên chức của Chính phủ Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu (Bạch Mi Sơ) vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin về việc Pháp chiếm đóng các đảo Trường Sa năm 1933 những tác giả không nêu rõ đó là bản đồ nào Lý do
để viên chức họ Bạch vẽ đường này cũng chưa thật rõ ràng [69], tuy nhiên ông này
đã từng hiệu đính bản đồ có “đường lưỡi bò” tương tự trong tập Bản đồ Kiến thiết
Trung Hoa mới (中 國 建 設 新 地 圖 - Zhongguo Jianshe xin ditu - Trung quốc
kiến thiết tân địa đồ) in vào giữa những năm 1930 Chính trong bản đồ này “đường lưỡi bò” lại mở rộng thêm lần nữa tới tận 4° vĩ bắc, bao luôn cả bãi cạn James [69]
Trang 20Mặc dù không có sự thống nhất về thời điểm xuất hiện của bản đồ yêu sách
“đường lưỡi bò”, song giới nghiên cứu Trung Quốc và Đài Loan đều có điểm chung
trong việc: i) Nhận định năm 1947 là thời điểm bản đồ “đường lưỡi bò” được Trung Quốc chính thức xuất bản; ii) Chứng minh rằng bản đồ “đường lưỡi bò” có nguồn gốc tư nhân; iii) Khẳng định các quốc gia hữu quan và cộng đồng quốc tế thừa nhận
sự tồn tại của yêu sách này
1.2 Sự thay đổi của bản đồ yêu sách “đường lưỡi bò” từ sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập đến nay
Theo nhận định của các học giả Trung Quốc, trên cơ sở kế thừa lập trường, chủ trương của chính quyền Tưởng Giới Thạch trước đó về vấn đề quyền lợi ở Biển Đông, CHND Trung Hoa đã tiếp tục xuất bản bản đồ thể hiện yêu sách chủ quyền biển đảo của mình Tương tự như cách vẽ trong bản đồ được công bố năm 1948, các bản đồ của CHND Trung Hoa về cơ bản đều dùng đường đứt khúc để đưa các đảo ở Biển Đông vào phạm vi yêu sách chủ quyền của họ, chẳng hạn: Năm 1949, CHND Trung Hoa cũng cho
ấn hành một bản đồ, trong đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như trên bản đồ trước
đó gồm 11 đoạn Vị trí, hướng đi của từng đoạn được thể hiện cụ thể như sau: Bắt đầu từ ranh giới Trung-Việt, hai đoạn đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ; Đoạn thứ ba và thứ tư của đường này phân cách bờ biển Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tương ứng; Đoạn thứ năm và thứ sáu trên "đường lưỡi bò" đi qua Bãi cạn James (thực thể địa lý biển cực nam mà Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc đều tuyên bố chủ quyền, giới hạn ở 4° vĩ Bắc), di chuyển theo hướng đông bắc, hai đoạn tiếp theo nằm giữa quần đảo Trường Sa ở phía này, và Borneo (Indonesia, Malaysia, và Brunei) và Philippines (tỉnh Palawan) ở phía kia Đoạn thứ chín, thứ mười, và thứ mười một phân cách Philippines với Trung Hoa Dân Quốc [106].Theo bản đồ này, “đường lưỡi bò” được thể xuất phát từ biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, chạy xuống phía Nam tương tự như hình dáng của bờ Biển Đông và Đông Nam Việt Nam tới cực Nam của bãi đá san hô Scaborough Shoal (Tăng Mẫu) và sau đó quay ngược lên phía Bắc theo hướng đi song song với đường bờ biển phía Tây Sabah của Malaysia và Palawan của Philippines và quần đảo Luzon, kết thúc tại khoảng giữa eo Bashi nằm giữa Đài Loan và Philippines Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa
Trang 21độ xác định chính xác [109] Các bản đồ ra đời sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vẫn giữ lại đường 11 đoạn được vẽ theo kỹ thuật trên
Mãi cho tới năm 1953, dưới sự phê chuẩn của Thủ tướng Chu Ân Lai, đường
11 đoạn đã được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ mà không
rõ nguyên nhân Sau đó, năm 1954, Nhà xuất bản bản đồ đồ quốc doanh Xinhua đã phát hành “Bản đồ quy hoạch hành chính nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa”, xóa bỏ hai đoạn trong khu vực Vịnh Bắc Bộ và một đoạn gần Đài Loan, đồng thời
bổ sung thêm một đoạn ở quần đảo Ryukyu của Nhật Bản, khiến “đường lưỡi bò” từ
11 đoạn xuống chỉ còn 9 đoạn Năm 1959, Chỉnh phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã tập hợp Bộ Ngoại giao, Tổng Cục Đo đạc và Bản đồ, Cục Khảo sát và Bản
đồ Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Viện Khoa học Trung Quốc và các đơn vị khác để xây dựng "Atlas về ranh giới nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ", trong
đó đánh dấu ranh giới phía Nam của Trung Quốc là Bãi ngầm Tăng Mẫu (James Shoal) và “đánh dấu các khu vực truyền thống trên Biển Nam Hải” Năm 1962, Nhà xuất bản bản đồ phát hành “Bản đồ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” với tỉ lệ 1: 4.000.000, trong đó, trên Biển Đông có vẽ đường biên giới truyền thống gồm 9 đoạn Cách vẽ này được Trung Quốc tiếp tục duy trì trong thời gian sau đó
Trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” như trên, song cả Chính phủ Cộng hòa Trung Hoa lẫn Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đều chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về yêu sách này
Ngày 06/05/2009, với tư cách là thành của Công ước Luật Biển năm 1982, Việt Nam đã gửi Báo cáo chung với Malaysia và Báo cáo riêng về thềm lục địa mở rộng của mình lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc Tuy nhiên, ngay sau đó, phái đoàn thường trực của CHND Trung Hoa tại Liên hợp quốc đã gửi hai công hàm số hiệu CML/17/2009 và CML/18/2009 với nội dung giống nhau tới Tổng thư ký Liên hợp quốc để phản đối hai bản báo cáo trên, trong đó khẳng định:
“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng nước liền kề, có quyền chủ quyền và quyền tài
phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và vùng đất
Trang 22dưới đáy biển (xem bản đồ đính kèm) Lập trường này luôn được Chính
phủ Trung Quốc duy trì, và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng rãi”
(Nguyên văn: China has indisputable sovereignty over the islands in the South China Sea and the adjacent waters, and enjoys sovereign rights
and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabed and subsoil thereof (see attached map) The above position is consistently held
by the Chinese Government, and is widely known by the international community) [85], [86]
Đi kèm với tuyên bố trên là tấm bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” với chín đoạn bao quanh các vùng biển và bốn nhóm đảo chính trên Biển Đông là Dongsha Qundao, Xisha Qundao, Zhongsha Qundao và Nansha Qundao (theo cách gọi của tiếng Việt được lần lượt gọi là quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa) Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công khai yêu sách “đường lưỡi bò” với cộng đồng quốc tế
Hình 1.3 Bản đồ “đường lưỡi bò” được đính kèm trong các Công hàm ngày
07/5/2009 của Trung Quốc
(Nguồn: Permanent Mission of the People’s Republic of China the United Nations, Note Verbale No CML/17/2009, Official website of United Nations
– Ocean and the Law of the Sea, http://www.un.org)
Trang 23Kể từ khi yêu sách “đường lưỡi bò” được Trung Quốc chính thức hóa đã làm cho bầu không khí Biển Đông vốn đã “ngột ngạt” lại càng trở nên “căng thẳng” Hàng loại các quốc gia xung quanh Biển Đông đã lên tiếng phản đối chính thức yêu sách này, tiêu biểu như Việt Nam với Công hàm số 86/HC-2009 ngày 08/05/2009 [90]; Indonesia với Công hàm số 480/POL-703/VII/10 ngày 08/07/2010 [89]; Philippines với Công hàm số 000228 ngày 05/04/2011 [88], trong đó đều khẳng định yêu sách
“đường lưỡi bò” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý
Nhằm đáp trả Công hàm số 000228 của Philippines, ngày 14/04/2011, Trung
Quốc đã gửi Công hàm CML/8/2011 nhắc lại các lập luận được đề cập trong hai
Công hàm năm 2009, đồng thời khẳng định: “chủ quyền và các quyền chủ quyền,
quyền tài phán của Trung Quốc trên Biển Đông dựa trên những cơ sở lịch sử và pháp lý phong phú”, “quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) được hưởng đầy đủ Lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và Thềm lục địa” (Nguyên văn: “China‟s
sovereignty and related rights and jurisdiction in the South China Sea are supported
by abundant historical and legal evidence”; “China‟s Nansha Island is fully entitled
to Terriorial Sea, Exclusive Economic Zone (EEZ) and Continential Shelf”) [87]
Tháng 01 năm 2013, Tập đoàn xuất bản bản đồ Trung Quốc (Sinomaps Press) đã xuất bản bản đồ “đường lưỡi bò” 10 đoạn Trong bản đồ “đường lưỡi bò” mới này, đoạn thứ 10 không chỉ lấn thêm vào Đài Loan – tiếp nối nhịp độ duy trì chính sách “một Trung Quốc” của chính quyền Bắc Kinh mà còn “động chạm” tới Nhật Bản khi “đường lưỡi bò” đang ngày càng gần với hòn đảo cực Tây của nước này, đảo Yonaguni – nằm trong chuỗi đảo Ryukyu trên biển Hoa Đông (cách Đài Loan khoảng 70km) [36]
Trang 24Hình 1.4 Bản đồ “lưỡi bò” 10 đoạn được Tập đoàn xuất bản bản đồ Trung Quốc
(Sinomaps Press) phát hành hồi đầu năm 2013
(Nguồn: Sống Mới (2013), Đường lưỡi bò Trung Quốc 'liếm' cả Biển Đông lẫn Hoa Đông?, Tin nhanh Việt Nam ra thế giới, http://vietbao.vn, (tháng 01/2013)).
Sau đó, bất chấp các nỗ lực xoa dịu tình hình trên Biển Đông của các bên liên quan và cộng đồng quốc tế, Trung Quốc tiếp tục gây rối bằng cách công bố các bản đồ mới, lần đầu tiên đưa hàng trăm đảo trên Biển Đông vào phạm vi yêu sách
“đường lưỡi bò”, cụ thể: Vào tháng 06/2014, nhà xuất bản Bản đồ tỉnh Hồ Nam Trung Quốc đã chính thức công bố và cho lưu hành “Bản đồ địa hình” và bản đồ hành chính “Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” khổ dọc, trong đó có thể hiện yêu sách “đường lưỡi bò” với 10 đoạn Theo tấm bản đồ mới này, khu vực đường
10 đoạn đã bao phủ hơn 130 đảo lớn nhỏ trên Biển Đông, chiếm tới 90% diện tích của Biển Đông, thay vì hơn 80% mà đường 9 đoạn trước đó đã thể hiện Tỷ lệ vùng biển và các đảo trên Biển Đông tương đương với phần đất liền Điều đáng chú ý là với tuyên bố đường đứt đoạn là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, lần đầu tiên trong lịch sử, chiều dọc của Bản đồ nước CHND Trung Hoa đã dài hơn chiều ngang Hơn 3.000km chiều dọc đã được cộng thêm hơn 2.000km của Đường đứt đoạn để thành 5.500km so với chiều ngang là 5.200km [27]
Trang 25Hình 1.5 Bản đồ dọc phi lý của Trung Quốc (Ảnh: Xinhua)
(Nguồn: Quang Minh (2014), Động cơ của Trung Quốc sau việc phát hành bản đồ khổ dọc?, http://news.zing.vn/Dong-co-cua-Trung-Quoc-sau-viec- phat-hanh-ban-do-kho-doc-post433638.html, (ngày 05/07/2014))
Gần đây nhất, ngày 07/12/2014, trước khi hết thời hạn mà Toà trọng tài quốc
tế yêu cầu Trung Quốc phải đưa ra tài liệu biện luận về vụ kiện Phi-Trung, Trung
Quốc đã công khai "Báo cáo trình bày lập trường chính thức của Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa về vụ kiện trọng tài do Philipines khởi xướng".Với 06 mục và 93
nội dung cụ thể, Báo cáo này đã trình bày về cơ sở pháp lý về vụ kiện của Philippines, giải thích về lập trường của Trung Quốc về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như chủ trương của nước này trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, chứng minh rằng Tòa trọng tài hiện tại không có thẩm quyền để giải quyết các yêu cầu do Philippines đưa ra… Trong đó, Trung Quốc đó tái khẳng định lập luận về chủ quyền của họ đối với quần đảo Nam Sa (tức
quần đảo Trường Sa cả Việt Nam” và cho rằng quần đảo này có “đầy đủ các vùng
biển, bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa” [84] Đây chính là
Trang 26một trong những quan điểm liên quan đến yêu sách “đường lưỡi bò” được Trung Quốc công khai hóa với cộng đồng quốc tế 03 năm trước đó tại Công hàm số CML/8/2011 đề ngày 14/4/2011 gửi tới Tổng Thư kí Liên hợp Quốc
Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu và phân tích về lịch sử hình thành và phát triển của yêu sách “đường lưỡi bò” có thể thấy yêu sách này sử hình thành của rất mập
mờ và không có cơ sở pháp lý rõ ràng Mặc dù được đưa ra một cách không chính thức
từ hai chính quyền: một là Cộng Hòa Trung Hoa, sau thất bại năm 1949 phải chạy ra Đài Loan (từ thời điểm này gọi là chính quyền Đài Loan), và từ chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập từ năm 1949 tới nay (gọi tắt là chính quyền Trung Quốc), [55] song cho tới nay chính phủ Trung Quốc vẫn chưa có một sự giải thích cặn kẽ nào về lịch sử hình thành và bản chất pháp lý của yêu sách “đường lưỡi bò” cho con đường này Điều đó đã dẫn tới một làn sóng tranh luận vô cùng sôi nổi về bản chất pháp lý của con đường này ở trong nước, khu vực và nhiều nơi khác trên thế giới
Trong khi chính phủ Trung Quốc duy trì một chính sách mơ hồ về yêu sách
“đường lưỡi bò” thì giới nghiên cứu nước này, từ các chuyên gia pháp lý, chuyên gia lịch sử cho tới các chuyên gia bản đồ học, lại tích cực nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ bản chất pháp lý của yêu sách “đường lưỡi bò” Trên cơ sở phân tích các công trình nghiên cứu của của các học giả Trung Quốc và Đài Loan, có thể thấy, cho đến nay , có nhiều cách giải thích khác nhau về bản chất pháp lý của yêu sách
“đường lưỡi bò” Trong đó, theo kết quả nghiên cứu chuyên sâu của các học giả liên quan đến vấn đề này như của Lưu Nam Lai (Liu Nanlai), Lý Kim Minh (Li Jinming), Quản Kiến Cường (Guan Jianqiang), Phó Côn Thành (Kuen-chen Fu), Triệu Lý Hải (Zhao Lihai), Trần Hồng Du (Hurng-Yu Chen), Hoàng Dị (Huang Yi), Tôn Kiến Minh (Kuan-ming Sun), Vương Quân Mẫn (Wang Junmin), Trương Khiết… có bốn trường phái tư tưởng, học thuyết chủ đạo về ý bản chất pháp lý của
“đường lưỡi bò”, đó là: thuyết “đường biên giới quốc gia trên biển”; thuyết “đường quy thuộc đảo”; thuyết “vùng nước lịch sử”; và, thuyết “đường quyền lợi mang tính lịch sử” Nội dung cụ thể của bốn tư tưởng, học thuyết này được thể hiện cụ thể trong Chương 2 của Luận văn này
Trang 27Chương 2
SỰ PHI LÝ CỦA YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỜI BÒ”
DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ
2.1 Yêu sách “đường lưỡi bò” dưới ánh sáng của các nguyên tắc chung của luật quốc tế
2.1.1 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới góc độ các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế
Với việc chính thức hóa yêu sách “đường lưỡi bò” trước cộng đồng quốc
tế vào ngày 07/05/2009 thông qua Công hàm CML 17/2009 và CML 18/2009, cùng với hàng loạt các hoạt động nhằm hiện thực hóa yêu sách chủ quyền của mình trên Biển Đông, Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ
bản của luật quốc tế, trong đó nghiêm trọng hơn cả là những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; Nguyên tắc không sử dung vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế; Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)
2.1.1.1 Yêu sách “đường lưỡi bò” đi ngược lại với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia, mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, có tiềm lực manh hay yếu, đều hoàn toàn bình đẳng với nhau
về mặt chủ quyền Soi chiếu các quy định của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia vào yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc có thể thấy sự vi phạm được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Bằng việc đưa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
vào phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này Bởi lẽ, thông qua những ghi chép trong các tài liệu lịch sử trong nước, từ các tác phẩm của tư nhân như Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn, Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1896) của Đỗ Bá…
Trang 28cho đến sách chính sử của nhà nước như Đại Nam thực lục tiền biên (1844) và Đại Nam thực lục chính biên (1848), Minh Mệnh chính yếu (1791-1840), Đại Nam nhất thống chí (1865-1882) của Quốc sử quán triều Nguyễn… có thể khẳng định, muộn nhất từ thế kỷ XVII, Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền một cách thực sự, liên lục, hoàn bình bằng Nhà nước với sự thừa nhận/ không phản đối của các quốc gia láng giềng và cộng đồng quốc tế Bên cạnh đó, các tư liệu nước ngoài, trong có Trung Quốc và các nước phương Tây cũng trực tiếp thể hiện chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Từ đó tới nay, trải qua những thăng trầm của lịch sử, Nhà nước Việt Nam vẫn liên tục hành xử chủ quyền của mình trên quần đảo này phù hợp với các quy định của luật pháp và tập quán quốc tế về xác lập, thực thi chủ quyền biển đảo Như vậy, ngay từ rất sớm, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đã
là một phận “máu thịt”, không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam Với việc tuyên bố
“chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa” [85] và vẽ
quy thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa này vào phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” – một trong những yếu tố cấu thành không thể thiếu của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Thứ hai, Không chỉ yêu sách đối với các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền
của Việt Nam trên Biển Đông, bằng việc tuyên bố “có chủ quyền không thể tranh
cãi đối với các đảo ở phía biển Nam Trung Hoa và các vùng nước phụ cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan của chúng” [85], [86] trong Công hàm CML 17/2009 và
CML 18/2009, yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc còn xâm phạm nghiêm
trọng các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán phán
của Việt Nam và các quốc gia khác Hơn nữa, thông qua việc tuyên bố quần đảo
Trường Sa có đầy đủ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Công hàm CML 8/2009, yêu sách “đường lưỡi bò” đã xâm phạm nghiêm trọng các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam và các quốc gia khác trên Biển Đông
Trang 292.1.1.2 Yêu sách “đường lưỡi bò” vi phạm nguyên tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”
Dưới ánh sáng của nguyên tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế”, sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, Bất chấp các quy định của luật pháp quốc tế, Trung Quốc đã sử
dụng vũ lực chiếm đóng trái phép hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo này đã là bộ phận “máu thịt” thiêng liêng không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam Hiện trạng chiếm đóng của Trung Quốc trên hai quần đảo này là kết quả của hàng loạt các hành động sử dụng vũ lực vào các năm 1946 [31], 1956 [28, tr.47-49], 1959, 1974, 1988, 1992 [22, tr.75-76], 1995 Trong khi đó, Nghị quyết 2625 ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã quy định:
Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng
đe doạ hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp [8]
Như vậy, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của của Việt Nam trên Biển Đông- một trong những biểu hiện cơ bản của nguyên tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” Hành động này trái với luật pháp quốc tế và không tạo ra chứng cứ để quy thuộc chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo, đá mà họ đã chiếm đoạt bằng vũ lực, do vậy đã bị cộng đồng quốc tế lên án mạnh mẽ và chắc chắn sẽ bị các Toà án quốc tế bác bỏ một khi chúng được đưa ra Tòa án quốc tế nhằm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông
Hai là, Không chỉ sử dụng vũ lực chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo
Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc còn ban
Trang 30hành hàng loạt các chiến thuật, chiến lược cũng như thực hiện các hoạt động đe dọa,
dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo trên thực tế nhằm tác động tới các quyết sách chính trị, kinh tế-xã hội, ngoại giao của Việt Nam và các quốc gia khác Trong khi đó, theo nguyên tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”, hành vi mà các chủ thể của Luật quốc tế sử dụng không nhằm tấn công, xâm lược nhưng để gây sức ép, đe dọa các quốc gia khác hoặc các hành vi được sử dụng hàm chứa nguy cơ, mầm mống dẫn đến việc sử dụng vũ lực [12, tr.83] chính là những hành vi đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế Soi chiếu quy định trên vào cách hành động của Trung Quốc có thể khẳng định quốc gia này đã sử dụng hàng loạt các hành động đe dọa sử dụng vũ lực nhằm hiện thực hóa yêu sách
“đường lưỡi bò”, vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế
2.1.1.3 Yêu sách “đường lưỡi bò” phá vỡ các quy định của nguyên tắc “hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế”
Là một bên trong tranh chấp Biển Đông, đồng thời cũng là thành viên của Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Công ước Luật Biển năm 1982… Việt Nam
và Trung Quốc hoàn toàn có quyền vận dụng lựa chọn các phương pháp nhằm giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế Tuy nhiên, bất chấp các quy định của luật pháp quốc tế, Trung Quốc đã có những hành động đi ngược lại với các quy định của tắc này với những biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Với vị thế là một trong năm Ủy viên thường trực của Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc, thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982 và nhiều điều ước quốc tế khác, có công dân là thẩm phán tại hầu hết các thiết chế tài phán quốc
tế như Tòa án Công lý Quốc tế (Bà Xue Hanqin) [74], Tòa án Luật Biển Quốc tế (Ông Gao Zhinguo [76], Tòa trọng tài thường trực La Hay (Ông Liu Zhenmin, Ông Ông Liu Daquin, Bà Xue Hanqin và Giáo sư Liu Nanlai) [99]… lẽ ra Trung Quốc phải tích cực sử dụng các thiết chế này để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, tuy nhiên trên thực tế, quốc gia này lại tỏ ra quan ngại trong vận dụng cơ chế này Trung Quốc từ chối các biện pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và kiên trì lập trường giải quyết song phương đối với quần đảo Trường Sa
Trang 31thông qua việc tuyên bố quần đảo Hoàng Sa “không có tranh chấp”, thuộc chủ quyền
“chủ quyền bất khả tranh nghị của Trung Quốc” và không chấp nhận bất cứ giải pháp giải quyết tranh chấp nào cho vấn đề chủ quyền đối với quần đảo này [28] Trên thực
tế, Trung Quốc cũng đã nhiều lần từ chối các đề nghị dàn xếp hữu nghị hoặc đưa tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa ra trọng tài, tiêu biểu là sự kiện ngày ngày 29/09/1933, ngày 18/02/1937 và ngày 04/07/1947 [22, tr.66-68] Gần đây, khi Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài được thành lập theo phụ lục VII, Công ước Luật Biển năm 1982, Trung Quốc đã từ chối tham gia vụ kiện và “kêu gọi Philippines bãi bỏ vụ kiện để "trở lại hướng đi đúng" là giải quyết tranh chấp bằng kênh song phương” Qua phân tích trên có thể khẳng định, trong khi luật pháp quốc
tế yêu cầu các quốc gia tích cực sử dụng các biện pháp nhằm giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, Trung Quốc, ngược lại, còn cố tình trì hoãn hoặc gây cản trở cho việc áp dụng các biện pháp trên Đây là một trong những biểu hiện tiêu biểu thể hiện sự vi phạm nguyên tắc “hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế” trong quá trình hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc
Thứ hai, Không chỉ dừng lại ở việc trì hoãn giải quyết các tranh chấp quốc
tế, Trung Quốc còn liên tục có những hành động làm căng thẳng thêm tình hình Biển Đông, điển hình là việc áp dụng các biện pháp “trừng phạt kinh tế” với Philippines, hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; phun vòi rồng vào tàu kiểm ngư Việt Nam khi tàu này đang thi hành nhiệm vụ bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa khai thác với thời gian ngày càng kéo dài; bắt bớ trái phép tàu và ngư dân các nước khi họ đang khai thác trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền
và quyền tài phán của quốc gia mình; tiến hành “siêu đảo hóa” các bãi ngầm trên quần đảo Trường Sa; tăng cường tập trận và tập bắn đạn thật trên Biển Đông… Những hành động này khiến cho tình hình Biển Đông vốn “căng thẳng” lại càng trở nên “dậy sóng”, đi ngược lại với yêu cầu “các quốc gia trong tranh chấp cũng như các quốc gia khác sẽ từ bỏ bất kỳ hành vi nào có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình
Trang 32hình hiện tại gây nguy hiểm cho việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, và sẽ hành động phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc” được quy định trong nguyên tắc “hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế”
2.1.1.4 Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc không tuân thủ các quy định của nguyên tắc “Tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế”
Với tham vọng “độc chiếm Biển Đông”, soán ngôi “cường quốc số một” của
Mỹ, Trung Quốc đã bất chấp các quy định của luật pháp và tập quán quốc tế xuất bản bản đồ “đường lưỡi bò” chiếm 80% diện tích Biển Đông và thực hiện hàng loạt các hoạt động nhằm hiện thực hóa yêu sách trên Những động thái này của Trung Quốc đã phá vỡ các chuẩn mực chung mà nguyên tắc “tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế” yêu cầu các quốc gia thực hiện, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Nhằm hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã sử
dụng vũ lực chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam rồi ngang nhiên tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo này; thực hiện hàng loạt các hoạt động gây hấn làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông, không chấp nhận vấn đề "quốc tế hóa Biển Đông " thông qua việc từ chối giải quyết các tranh chấp phát sinh từ yêu sách "đường lưỡi bò" Những hành động này là biểu hiện tiêu biểu thể hiện sự vi phạm nguyên tắc "bình đẳng chủ quyền quốc gia", nguyên tắc "Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế", nguyên tắc "hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế" được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 Bên cạnh đó, những hành động cũng cho thấy, Trung Quốc đã không làm tròn được nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận với vị thế
là một thành viên của Liên hợp quốc và là một trong năm Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 của Hiến chương
Thứ hai, Nhằm hợp pháp hóa yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã cố
tình giải thích sai lệch quy định của Công ước Luật biển năm 1982 về quy chế đảo, quần đảo; cách xác định đường cơ sở; cách xác định, phạm vi và quy chế pháp lý các vùng biển (Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, vùng nước lịch sử và vùng nước quần đảo), cũng như các quy định về danh
Trang 33nghĩa lịch sử Qua đó, giới nghiên cứu nước đi đến kết luận “đường lưỡi bò” là
“đường biên giới quốc gia trên biển”, là “đường quy thuộc đảo”, “đường vùng nước lịch sử” và “đường quyền lợi lịch sử” Ngoài ra, việc Trung Quốc tiến hành các hoạt động gây hấn, can thiệp và lấn chiếm trên Biển Đông còn xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán được Công ước Luật Biển năm 1982 ghi nhận cho Việt Nam và các quốc gia thành viên khác trong khu vực Biển Đông, chẳng hạn: Việc phía Trung Quốc ra thông báo phạm vi và thời gian nghỉ đánh bắt
cá ở Biển Đông là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển của Việt Nam theo đúng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 mà tiêu biểu là quyền của quốc gia ven biển đối với việc khai thác tài nguyên sinh vật biển được ghi nhận trong điểm a, khoản 1, Điều 56 UNCLOS 1982; quyền tự do hàng hải của quốc ven biển theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 87 UNCLOS 1982 Là một trong những quốc gia đầu tiên tham gia vào quá trình soạn thảo UNCLOS 1982 và
đã tiến hành phê chuẩn Công ước này từ năm 1996, với vị thế đó, Trung Quốc phải tuân thủ nghiêm chỉnh các nghĩa vụ mà Công ước đã đặt ra, song trên thực tế, quốc gia này lại thường xuyên có những hành động đi ngược lại với những quy định trên Điều này đã phán ánh chân thực quá trình trỗi dậy, tìm cách "viết lại luật biển" [52]
để khẳng định tham vọng biển của Trung Quốc
Thứ ba: Bằng các hành động làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp Biển
Đông, cản trở quá trình xây dựng Bộ quy tắc Biển Đông (COC), Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ được quy định trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002; Tuyên bố tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 13 diễn ra ở Hà Nội ngày 29/10/2010 [61]; Bản Quy tắc hướng dẫn thực thi DOC thông qua ngày 21/7/2011 [60];…
Thứ tƣ, Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương ở cấp độ khu vực và toàn
cầu, những hành động nhằm hiện thực hóa yêu sách "đường lưỡi bò" của Trung Quốc còn thể hiện sự không tuân thủ các điều ước quốc tế song phương được Trung Quốc ký với Việt Nam và một số quốc gia khác trong khu vực Biển Đông, chẳng
Trang 34hạn: Các hành động sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp Biển Đông đã đi ngược lại với các nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ được ghi nhận trong Tuyên về các nguyên tắc
cơ bản giải quyết vấn đề biên giới - lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19/10/1993; đi ngược lại phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và cam kết “thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán” được ghi nhận trong Thỏa thuận về các nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc ngày 11/10/2011 [105] Với Philippines, việc Trung Quốc đưa Bãi cạn Scarborough vào phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò” đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Philippines trên Bãi cạn này, đi ngược lại với cam kết
“tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau [95] được ghi nhận trong Khoản 11, Tuyên bố Chung của nước CHND Trung Hoa và Cộng hòa Philippines ngày 15/05/2000
2.1.2 Sự phi lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới ánh sáng của các nguyên tắc đặc thù trong Luật Biển quốc tế
Dưới ánh sáng của các nguyên tắc đặc thù trong Luật Biển quốc tế hiện đại
có thể khẳng định, yêu sách “đường lưỡi bò” đã vi phạm các nguyên tắc sau:
2.1.2.1 Yêu sách “đường lưỡi bò” không được hình thành dựa trên các quy định của nguyên tắc thỏa thuận
Trong khi Luật biển quốc tế hiện đại, tiêu biểu là Điều 15, Điều 74, Điều 83, Điều 280, Điều 281 UNCLOS 1982 yêu cầu các quốc gia có liên quan cần thông qua đàm phán, thương lượng để thoả thuận các phương pháp và tiêu chuẩn phân định, cũng như việc giải quyết các tranh chấp biển [103], Trung Quốc, ngược lại, đã bất chấp các quy định này, đơn phương áp đặt ý chí của mình lên khoảng 80% diện tích Biển Đông thông qua yêu sách “đường lưỡi bò”, cụ thể như sau:
Mặc dù không có sự công bố rõ ràng về tọa độ và phạm vi địa lý chính xác của yêu sách này, song thông qua các miêu tả trong bản đồ “đường lưỡi bò” có thể thấy khu vực Trung Quốc yêu sách đã bao gồm các vùng đặc quyền kinh tế và thềm
Trang 35lục địa chồng lấn song phương và đa phương với Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia và Brunei Trong khi đó, theo quy định của Công ước Luật Biển năm
1982, Trung Quốc cần có sự thỏa thuận với các quốc gia này để phân định các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn Tuy nhiên, bất chấp quy định luật pháp quốc tế, Trung Quốc đã đơn phương áp đặt ý chí của mình với khoảng 80% diện tích Biển Đông mà không có bất kỳ sự thỏa thuận nào với các quốc gia khác Chính bởi ý chí đơn phương áp đặt đó nên ngay sau khi Trung Quốc chính thức công bố yêu sách “đường lưỡi bò” thông qua Công hàm CML 17/2009 và CML 18/2009 vào ngày 07/05/2009, hàng loạt các quốc gia trong khu vực đã liên tiếng phản đối, cụ thể: Việt Nam với công hàm 86/HC-2009 [90] ngày 08/05/2009; Indonesia với Công hàm số 480 /POL-703/VII/10 ngày 08/07/2010 [89]; Philippines với Công hàm số 000228 ngày 05/4/2011 [88], trong đó khẳng định yêu sách của Trung Quốc
là không có cơ sở pháp lý Sự phản đối chính thức của các quốc gia trong khu vực
đã nhấn mạnh rằng yêu sách mà Trung Quốc đưa ra đã không tuân thủ nguyên tắc thỏa thuận- một nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong phân Mọi tuyên bố của Trung Quốc về “đường lưỡi bò” chỉ là sự áp đặt chủ quan của Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông, xem thường luật pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước láng giềng
2.1.2.2 Yêu sách “đường lưỡi bò” không tuân thủ nguyên tắc công bằng trong phân định biển
Thứ nhất, Trên cơ sở phân tích các quy định của nguyên tắc công bằng trong
Điều 15, Điều 59, Điều 74 và Điều 83 Công ước Luật biển năm 1982 và thực tiễn xét
xử của các cơ quan tài phán quốc tế có thể khẳng định, một trong những điều kiện tiên quyết để có thể khẳng định yêu sách “đường lưỡi bò” là kết quả phân định công bằng đó là yêu sách này cần được xác lập dựa trên sự thỏa thuận của các quốc gia có quyền và lợi ích liên quan Tuy nhiên, trên thực tế, yêu sách “đường lưỡi bò” không được xác lập trên cơ sở thỏa thuận mà chỉ là ý chí áp đặt đơn phương của Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng các vùng biển đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán của Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei trên Biển Đông
Trang 36Thứ hai, Dựa trên kết quả của việc phân định có thể thấy với yêu sách
“đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã biến khoảng 80% diện tích Biển Đông thành “ao nhà” của mình không thể là kết quả của một giải pháp công bằng Bởi lẽ, với việc đưa bốn nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa, Trung Sa và các vùng nước xung quanh các đảo này vào phạm vi yêu sách của mình, Trung Quốc đã “lấn chiếm” nhiều vùng biển đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia trong khu vực khiến cho mỗi nước chỉ còn lại phần diện tích rất nhỏ so với những gì họ được hưởng đúng theo quy định của Công ước Luật biển Một số tính toán sơ bộ về diện tích vùng "lấn chiếm" như sau: Việt Nam 1.170.000km2, Philippines 620.000km2, Malaysia 170.000km2, Brunei 50.000km2
và Indonesia 35.000km2 [33]
Thứ ba, Giả sử trong trường hợp Trung Quốc có tiến hành thỏa thuận, đàm
phán phân định biển với các quốc gia trong khu vực Biển Đông thì yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc cũng không thỏa mãn các quy định của nguyên tắc công bằng do không được tạo lập trên cơ sở cân nhắc mọi hoàn cảnh có ảnh hưởng Thực tiễn xét của các cơ quan tài phán quốc tế đã chỉ ra một số hoàn hành đặc biệt có tác động tới kết quả phân định biển, tiêu biểu như: hình dạng bờ biển phức tạp, lồi lõm, khúc khủy, hướng đi chung của bờ biển; sự hiện diện của đảo, tính tỷ lệ giữa chiều dài bờ biển và diện tích phân định, sự hiện diện của các yếu tố lịch sử… [7] Tuy nhiên, Trung Quốc đã cố tình vận dụng sai các quy định trên, chẳng hạn:
- Xét về yếu tố bờ biển: Các nghiên cứu cho thấy, đường bờ biển của Trung
Quốc trong Biển Đông là 2800km [82] trong khi đó của Việt Nam là 3260km, Philippines là 36.289km, của Malaysia là 4675km, của Indonesia là 54.716km [94] Như vậy, thật vô lý khi rõ ràng Trung Quốc có tỉ lệ đường bờ biển nhỏ hơn rất nhiều song lại được hưởng diện tích vùng phân định lớn hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia khác
- Xét về sự hiện diện của đảo: Thực tiễn xét xử của các cơ quan tài phán
quốc tế đã chỉ ra rằng: Sự tồn tại của một đảo hoặc các đảo trong khu vực phân định
có thể tác động làm sai lệch đường phân định [7] Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 121
Trang 37Công ước Luật Biển năm 1982, đảo “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một
đời sống kinh tế riêng” có cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, ngược lại, nếu
không thỏa mãn các yếu tố này thì chỉ có nội thủy và lãnh hải Trong khi đó, Hoàng
Sa và Trường Sa của Việt Nam - hai trong số bốn nhóm thực thể lớn ở Biển Đông
bị Trung Quốc yêu sách, được cấu thành chủ yếu từ các đảo này đều rất nhỏ, cằn cỗi, không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho sự phát triển của đời sống kinh
tế riêng nên không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Theo số liệu thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2014, diện tích Biển Đông 3,5 triệu km2,trong khi diện tích mà Trung Quốc yêu sách theo “đường lưỡi bò” lên tới khoảng 2 triệu km2 [103] Như vậy, căn cứ vào số liệu này có thể khẳng định, kết quả phân định theo yêu sách “đường lưỡi bò” không có tính chất công bằng
2.1.2.3 Yêu sách “đường lưỡi bò” không tuân thủ các quy định của nguyên tắc “đất thống trị biển
Nguyên tắc “đất thống trị biển” là sự phát triển của thuyết Mere Clausum (đươ ̣c khởi xướng bởi tác phẩm cùng tên của John Selden – người Anh năm 1635 Đây đồng thời là nguyên tắc của luật tập quán, hình thành từ thực tiễn xét xử của Tòa
án Công lý Quốc tế Trong phán quyết lịch sử của Tòa án về phân định Thềm lục địa
Biển Bắc ngày 20/02/1969, Tòa đã khẳng định: “Thềm lục địa của bất kỳ quốc gia
nào cũng phải là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của nó và không được cản trở sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của nước khác” [72] Theo nguyên tắc,
việc mở rộng chủ quyền quốc gia ra biển không thể tách rời yếu tố chủ quyền lãnh thổ, là cơ sở để khẳng định chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia trên biển, góp phần giải quyết công bằng và hiệu quả tranh chấp trên biển giữa các quốc gia
Nguyên tắc “đất thống tri ̣ biển” là nguyên tắc qua n tro ̣ng hàng đầu của luâ ̣t biển quốc tế hiê ̣n đa ̣i nhưng Trung Quốc la ̣i vi pha ̣m mô ̣t cách nghiêm tro ̣ng và có
hê ̣ thống đối với nguyên tắc này Sự vi pha ̣m này được thể hiê ̣n qua các hành đô ̣ng
và khía cạnh như sau:
Thƣ́ nhất: Ngày 15/5/1996, Trung Quốc đưa ra Tuyên bố về đường cơ sở
thẳng áp du ̣ng cho lãnh thổ đa ̣i lu ̣c và quần đảo Hoàng Sa Đường cơ sở của Hoàng
Trang 38Sa đươ ̣c Trung Quốc va ̣ch ra theo 28 điểm cơ sở ta ̣o thành mô ̣t vòng khép kín Cách thức hoạch định của Trung Quốc dựa trên Điều 47 UNCLOS về đường cơ sở của quốc gia quần đảo Tuy nhiên, Hoàng Sa gồm chủ yếu là các rạn san hô nằm xa cách nhau không đáp ứng được quy định tại Điều 46(b) Công ước, và càng không phải là quốc gia quần đảo để có thể hoa ̣ch đi ̣nh đường cơ sở theo phương thức này Quan tro ̣ng hơn, chủ quyền đối với Hoàng Sa còn đang trong tình trạng tranh chấp , Viê ̣t Nam có rất nhiều bằng chứng có giá tri ̣ cao hơn để chứng mi nh chủ quyền đối với quần đảo này Hành vi và lập luận của Trung Quốc trong vụ Giàn khoan HD
981 hồi tháng 5-7/2014 hoàn toàn là sự ngụy biện cho hành vi xâm lấn quyền chủ quyền và quyền tài phán mà Trung Quốc thực hiê ̣n đối với vùng biển và thềm lu ̣c
đi ̣a của Viê ̣t Nam
Thƣ́ hai: Ngày 07/5/2009, Trung Quốc sử du ̣ng hai Công hàm CML /17/2009
và CML/18/2009 cùng với việc đính kèm bản đồ “đường 9 đoa ̣n” để yêu sách bố nhóm đảo chính và trên 50% diê ̣n tích Biển Đông chỉ bằng những khẳng đi ̣nh hết sức “đơn giản” Tiếp đó , ngày 14/4/2011, trong Công hàm CML /8/2009, Trung Quốc tiếp tu ̣c khẳng đi ̣nh la ̣i yêu sách năm 2009 và còn khẳng định quần đảo Nam
Sa (Trường Sa) có đầy đủ các vùng biển, bao gồm cả lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a Lâ ̣p trường này tiếp tu ̣c được nhắc la ̣i trong văn kiê ̣n ngày 07/12/2014 phản đối vụ kiện của Philippines Quần đảo Trường Sa tuy có rô ̣ng lớn hơn Hoàng Sa, nhưng cũng chỉ bao gồm các đảo rất nhỏ , nằm rải rác trên diê ̣n tích biển vô cùng rô ̣ng lớn, không đủ khả năng là quần đảo cũng như quốc gia quần đảo Các quần đảo Đông Sa , Trung Sa la ̣i càng không thể nào đáp ứng đượ c những điều kiê ̣n này Bởi vâ ̣y, dù có tận dụng triệt để quy định tại Điều 121 UNCLOS thì cả bốn nhóm đảo Đông Sa , Tây Sa, Trung Sa và Trường Sa đều không thể ta ̣o ra mô ̣t vùng biển liền mạch và rộng lớn như vùng biển mà “đường lưỡi bò” bao bọc
Thƣ́ ba: Từ cuối năm 2014 đến nay , Trung Quốc không ngừng đẩy ma ̣nh
hoạt động cải tạo các đá ở Biển Đông tại các vị trí mà nước này chiếm đóng , đă ̣c biê ̣t là đối với đá Gaven , Tư Nghĩa, Gạc Ma, Xu Bi, Châu Viên, Chữ Thâ ̣p, Vành
Khăn Mưu đồ của Trung Quốc là muốn biến các đá này không chỉ trở thành các
Trang 39căn cứ quân sự hùng ma ̣nh trên Biển Đông mà còn trở thành các đảo để được
hưởng thêm các vùng biển cũng như thềm lu ̣c đ ịa xung quanh Hành động của Trung Quốc thực chất vẫn là sự tiếp nối và hiê ̣n thực hóa các lâ ̣p luâ ̣n đưa ra trước đó (năm 2009, 2011)
Thƣ́ tƣ: Với lâ ̣p luâ ̣n cho rằng vùng biển thuô ̣c quyền tài phán của Trung
Quốc là vùng biể n trong pha ̣m vi “đường lưỡi bò” , Trung Quốc ngang nhiên quy
đi ̣nh và thực thi Lê ̣nh cấm đánh bắt cá hàng năm vào mùa đánh bắt cao điểm của ngư dân các nước quanh Biển Đông Thực tế, hành vi này của Trung Quốc không chỉ vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền , nguyên tắc tự do biển cả mà sâu xa hơn cũng vẫn là sự vi pha ̣m nguyên tắc “đất thống tri ̣ biển” trên cơ sở mở rô ̣ng mô ̣t cách bất hợp pháp phạm vi tài phán quốc gia
Nói tóm lại , cùng với sự vi pha ̣m hàng loa ̣t các nguyên tắc cơ bản của Luâ ̣t
quốc tế, Trung Quốc đồng thời vi pha ̣m hàng loa ̣t nguyên tắc mang tính nền tảng của Luật Biển quốc tế trong đó có nguyên tắc “đất thống trị biển” Những tuyên bố
và hành động trên thực tế của Trung Quốc cho thấy rõ âm mưu muốn “cải biên” luật biển nhằm giành thế đô ̣c tôn trước hết là ta ̣i các vùng biển câ ̣n lãnh thổ Trung Quốc , sau là các đa ̣i dương lớn như Thái Bình Dương , Ấn Độ Dương và khôn g ngoa ̣i trừ
cả những đại dương xa xôi khác trên thế giới , từ đó chi phối tới mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng kinh tế – quân sự trên toàn cầu, phục vụ giấc mộng “bá quyền Trung Hoa”
2.1.2.4 Yêu sách “đường lưỡi bò” đi ngược lại với nguyên tắc “bảo vệ môi trường biển”, “bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên trên biển”
Bất chấp các quy định của Luật Biển quốc tế hiện đại về “bảo vệ môi trường biển”, “bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên trên biển”, từ khoảng cuối năm 2013, đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động lấn biển, nạo vét, san lấp và cải tạo với quy mô rất lớn đồng loạt trên nhiều thực thể do quốc gia này chiếm đóng trên Biển Đông mà chưa thấy có dấu hiệu giảm tốc [24] Đặc biệt nghiêm trọng là tại sáu bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép (Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Huy Gơ/Tư Nghĩa, Gạc Ma và Xu Bi) Mặc dù, ngày 9/4/2015, Người phát ngôn Bộ
Trang 40Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh đã khẳng định các dự án của Trung Quốc
đã được “đánh giá và kiểm tra chặt chẽ về mặt khoa học” và được thực hiện “dựa trên những tiêu chuẩn cao về bảo vệ môi trường” và “tính toán đầy đủ về mặt bảo
vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản”, song cho đến nay,Trung Quốc vẫn chưa đưa
ra được bất cứ bản đánh giá độc lập, khách quan nào về tác động môi trường của những hoạt động này [20] Trên thực tế, hành vi “đảo hóa” này của Trung Quốc đã hủy hoại nghiêm trọng môi trường biển của quần đảo Trường Sa, một vùng biển rất quan trọng cho sự cân bằng sinh thái của Biển Đông, vi phạm nhiều quy định của luật pháp quốc tế và đi ngược lại với xu thế khu vực về bảo vệ môi trường biển.Trong một tuyên bố gần đây, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippinescho biết các hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc ở Biển Đông đã phá hủy khoảng
300 mẫu vuông (tức là khoảng 121héc-ta) san hô và chắc chắn con số này chưa phải
là cuối cùng Hành động phá hủy san hô này có thể dẫn đến phá hỏng cân bằng sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học cũng như làm giảm nguồn lợi thủy sản ở Biển Đông, đe dọa đến nguồn sống duy nhất của hàng triệu ngư dân (trong đó có cả ngư dân Trung Quốc) trong khu vực, làm thiệt hại của các nước khu vực ít nhất là 108,9 triệu đô-la Mỹ mỗi năm [9], vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “bảo vệ mô môi trường biển”, “bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên trên biển”, gây ra tác hại lâu dài đối với ngư dân trong vùng Biển Đông - những người phải dựa vào biển để mưu sinh qua nhiều thế hệ
2.1.2.5 Yêu sách “đường lưỡi bò” xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc “tự
do biển cả” và “sử dụng biển cả vì mục đích hòa bình”
Trong khi Luật Biển quốc tế hiện đại yêu cầu các quốc gia phải tôn trọng nguyên tắc “tự do biển cả” và “sử dụng biển cả vào mục đích hòa bình” thì Trung Quốc với tham vọng “độc chiếm Biển Đông” của mình đã có những hành động xâm phạm nghiêm trọng hai nguyên tắc này với những biểu biện cụ thể như sau:
Thông qua việc yêu sách khoảng 80% diện tích Biển Đông, phạm vi yêu sách của Trung Quốc không chỉ giới hạn ở các vùng biển đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam và một số quốc gia khác trong khu vực