1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên : Luận văn ThS. Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên (Chương trình thí điểm )

87 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha và/hoặc mẹ bị nhiễm HIV và những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS.. Phương pháp nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thu Hoa

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo của Trường Đại học Giáo dục đã tạo cơ hội cho tôi được học tập

và nghiên cứu tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Phạm Thị Thu Hoa, người thầy đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và động viên tôi rất nhiều trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn các anh chị em trong lớp cao học Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên khóa 2 đã góp ý, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học thạc sỹ và thực hiện tốt luận văn của mình

Kính chúc quý vị luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, hình v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

7 1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu các rối loạn sức khỏe tinh thần ở trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới 7

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu các rối loạn sức khỏe tinh thần ở trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS trong nước 16

1.2 Một số vấn đề lý luận về sức khỏe tinh thần của trẻ em

20 1.2.1 Khái niệm về sức khỏe tinh thần 20

1.2.2 Khái niệm Trẻ em 23

1.2.3 Khái niệm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 23

1.2.4 Khái niệm về HIV/AIDS 25

1.3 Ảnh hưởng của HIV/AIDS lên trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS

25 1.3.1 Định kiến và phân biệt đối xử 27

1.3.2 Địa vị kinh tế và xã hội 28

1.3.3 Trình độ học vấn, giáo dục 29

1.3.4 HIV và sự mồ côi cha mẹ 30

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi (lứa tuổi nhi đồng) 30

1.4.1 Sự phát triển về thể chất 31

1.4.2 Đặc điểm hoạt động và giao tiếp của tuổi nhi đồng 32

1.4.3 Sự phát triển nhận thức và trí tuệ 32

1.4.4 Sự phát triển của xúc cảm - ý chí 33

1.4.5 Sự phát triển nhân cách 33

Trang 4

Chương: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Tổ chức nghiên cứu

35 2.1.1 Kế hoạch nghiên cứu 35

2.1.2 Triển khai nghiên cứu 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Nghiên cứu lý luận 44

2.2.2.Nghiên cứu bảng hỏi (anket) 44

2.2.3 Phương pháp thống kê 47

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1.Tỉ lệ các vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV

48 3.2 Tỷ lệ rối nhiễu sức khỏe tinh thần ở trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV

50 3.3 Tương quan giữa điểm chẩn đoán rối nhiễu tâm trí với một số biến số độc lập

51 3.4 Các vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV theo 5 hội chứng của SDQ25

52 3.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

55 3.5.1 Môi trường gia đình 55

3.5.2 Yếu tố kinh tế vàxã hội 65

3.5.3 Yếu tố tâm lý 67

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

1 Kết luận

73 2 Khuyến nghị

76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 82

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Ngưỡng đánh giá rối nhiễu tâm trí của bộ câu hỏi SDQ25

phiên bản tiếng Anh (Robert Goodman, 1997) 45

Bảng 2.2 Ngưỡng đánh giá rối nhiễu tâm trí của bộ câu hỏi SDQ25

phiên bản tiếng Việt của trung tâm Nghiên cứu và đào tạo phát triển

Bảng 3.3 Các vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ bị ảnh hưởng bởi

HIV/AIDS chia theo 5 hội chứng

52

Bảng 3.4 Người chăm sóc chính của trẻ 56

Bảng 3.5: Tương quan giữa tình trạng cha mẹ của trẻ với tỷ lệ rối

nhiễu tâm trí ở cả 2 nhóm trẻ em 58 Bảng 3.6: Mức độ hài lòng với cuộc sống của người chăm sóc trẻ 69

Bảng 3.7: Tương quan giữa tình trạng hạnh phúc gia đình với tỷ lệ

rối nhiễu tâm trí ở trẻ 70

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Trang

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố tổng điểm thô SDQ25 ở nhóm trẻ bị

ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 48 Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh tổng điểm thô SDQ25 giữa hai nhóm trẻ 49 Biểu đồ 3.3 So sánh Các vấn đề sức khỏe tinh thần theo 5 hội chứng

giữa nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và không bị ảnh hưởng bởi

HIV

53

Biểu đồ 3.4: So sánh tình trạng cha mẹ giữa 2 nhóm trẻ bị ảnh hưởng

bởi HIV và nhóm không bị ảnh hưởng bởi HIV 57 Biểu đồ 3.5: So sánh tỷ lệ bạo hành tinh thần trong gia đình ở hai

nhóm trẻ 60 Biểu đồ 3.6: So sánh tỷ lệ bạo hành thể chất trong gia đình ở hai

nhóm trẻ 61 Biểu đồ 3.7: So sánh tỷ lệ bị lạm dụng, bị bỏ rơi giữa hai nhóm trẻ 64 Biểu đồ 3.8: So sánh tình trạng kinh tế giữa hai nhóm trẻ 65 Biểu đồ 3.9: Tương quan giữa tình trạng thu mình ở hai nhóm trẻ bị

ảnh hưởng bởi HIV và không bị ảnh hưởng bởi HIV 71 Hình 1.1: Mô hình giải thích các trạng thái khỏe mạnh (tích cực) và

bệnh (tiêu cực) qua việc sử dụng các thuật ngữ sức khỏe tâm trí, rối

nhiễu tâm trí và bệnh tâm thần 21

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ chọn mẫu nghiên cứu 39

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ khoảng tuổi điều tra 43

Sơ đồ 3.1 Mối liên hệ giữa suy nghĩ, cảm nhận và hành động 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tốc độ phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng trong những năm qua đã phần nào tạo ra những áp lực mới với các gia đình Việt Nam Kèm theo sự phát triển kinh tế là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn Tỷ lệ người dân nông thôn di cư ra thành phố cũng như khắp nơi trong nước để tìm việc làm cũng ngày một tăng cao Hệ quả tất yếu của sự gia tăng chênh lệnh

về kinh tế, nạn thất nghiệp, tốc độ đô thị hóa nhanh, tình trạng di cư, gia đình tan vỡ và xói mòn các giá trị truyền thống là tỷ lệ trẻ em bị bỏ rơi, bị lạm dụng, bị bóc lột và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ngày càng cao

Trẻ em luôn là đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng trước những thay đổi lớn Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội (MOLISA) ước tính năm 2007 có hơn 2,5 triệu trẻ em sống trong “các hoàn cảnh đặc biệt”, chiếm gần 10% tổng số trẻ em trai và trẻ em gái ở Việt Nam Con số này bao gồm: 1,2 triệu trẻ khuyết tật; 300.000 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và AIDS, trong đó 4.720 trẻ nhiễm HIV; 168.000 trẻ mồ côi và trẻ không được cha mẹ đẻ nuôi nấng; 27.000 trẻ lao động; hơn 13.000 trẻ em đường phố; 20.000 trẻ sống trong các trung tâm

xã hội; 3.800 trẻ sử dụng ma túy; và ít nhất 850 trẻ bị lạm dụng tình dục [34]

Dễ dàng nhận thấy rằng trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ngày càng tăng

do số lượng người nhiễm HIV/AIDS trên toàn quốc liên tục tăng cao Hơn nữa những trẻ em này thường sống trong các gia đình khó khăn về kinh tế, bạo lực gia đình do cha là người sử dụng ma túy hoặc mẹ là người hành nghề mại dâm, mồ côi cha hoặc mẹ do ảnh hưởng bởi HIV và bị cộng đồng kỳ thị,

xa lánh Hầu hết các em đã từng trải qua những cú sốc lớn về tâm lý trong cuộc đời do phải trải qua sự đau khổ và mất mát người thân bởi HIV/AIDS Hiện nay có nhiều chương trình hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho các em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nhưng chủ yếu nhằm

Trang 8

vào hỗ trợ vật chất như cung cấp sữa, gạo, dinh dưỡng hoặc cung cấp các dịch

vụ dạy nghề Các tổ chức quan tâm đến vấn đề về sức khỏe tinh thần cũng như những dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho các em còn yếu và thiếu rất nhiều Đối với các nơi có dịch vụ chuyên môn thì dịch vụ đó thường nhỏ lẻ, không tập

trung hoặc không theo quy định

Có thể nói việc tập trung vào hỗ trợ vật chất, học tập, cũng như thuốc men cho người có HIV/AIDS đã làm giảm sự chú ý của các nhà chuyên môn đến vấn đề sức khỏe tinh thần của người có HIV nói chung và của trẻ có cha

mẹ có HIV nói riêng Phần lớn những nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của trẻ em tập trung vào trẻ em nói chung trong cộng đồng, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về sức khỏe tinh thần dành riêng cho trẻ có cha mẹ nhiễm HIV Như vậy có thể nói rằng vẫn còn thiếu những nghiên cứu mang tính chất đại diện

về các vấn đề sức khỏe tinh thần cho đối tượng chuyên biệt là trẻ em có cha

mẹ nhiễm HIV Những vấn đề về sức khỏe tinh thần nào mà các em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thường gặp phải; HIV/AIDS có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tinh thần của trẻ em vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ và cần nhiều hơn nữa những nghiên cứu chuyên sâu

Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng các vấn

đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV tại Hà Nội”nhằm

bước đầu tìm hiểu những vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ có HIV trên địa bàn thành phố Hà Nội

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng các vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV tại Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV/AIDS

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

Trang 9

Các vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha và/hoặc mẹ bị nhiễm HIV và những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS

3.2 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 2 nhóm trẻ:

- Nhóm 1: 40 trẻ em có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV lứa tuổi từ 7 đến 11 trên địa bàn quận Long Biên và huyện Gia Lâm

- Nhóm 2: 60 trẻ em trong độ tuổi 7 đến 11hiện đang sinh sống cùng trên địa bàn dân cư với nhóm trẻ trên (Quận Long Biên và huyện Gia Lâm) nhưng không có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV/AIDS

Cả hai nhóm này đều có tỉ lệ cân bằng về giới tính

4 Giả thuyết khoa học

Tỉ lệ các vấn đề sức khỏe tinh thần mắc phải ở trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV ở Hà Nội là khoảng từ 40% đến 50%

Những yếu tố về người chăm sóc chính của trẻ, sự mồ côi, kinh tế gia đình, sự kỳ thị và phân biệt đối xử, lạm dụng chất, bạo hành gia đình và tình trạng nhiễm HIV của cha và/hoặc mẹ của trẻ có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe tinh thần của trẻ em

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về các vấn đề sức khỏe tinh thần

- Xác định tỷ lệ trẻ em có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV có các vấn đề sức khỏe tinh thần

- Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố về người chăm sóc chính của trẻ, kinh tế hộ gia đình, sự kỳ thị và phân biệt đối xử, tình trạng lạm dụng chất, sự bạo hành gia đình và tình trạng nhiễm HIV của cha và/hoặc mẹ của trẻ với tình trạng sức khỏe tinh thần của các em

- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV

Trang 10

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- 40 trẻ em có cha và/hoặc mẹ nhiễm HIV trong độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi trên địa bàn 2 quận Long Biên và huyện Gia Lâm và 60 trẻ em có cha mẹ không nhiễm HIV/AIDS trên cùng địa bàn sinh sống

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp nghiên cứu lý luận được sử dụng chính là phương pháp nghiên cứu tài liệu, nhằm hệ thống hóa lý thuyết, cũng như những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được đăng tải trên các sách báo, tạp chí

và website khoa học về các vấn đề liên quan đến đề tài Phương pháp nghiên cứu lý luận được thực hiện qua các giai đoạn như thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa Phương pháp nghiên cứu lý luận được thực hiện nhằm xác định một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm các khái niệm về sức khỏe tinh thần, các vấn đề về sức khỏe tinh thần, dịch tễ học các vấn đề sức

khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp đánh giá bằng trắc nghiệm (test):Mục đích của phương

pháp này là xác định tỉ lệ các vấn đề về sức khỏe tinh thần mà trẻ em gặp phải Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi chẩn đoán sàng lọc rối nhiễu tâm trí Strengths and Difficulties Questionnaire (SDQ25)

do tác giả Robert Goodmanthuộc viện tâm thần London xây dựng cách đây gần 20 năm[31] SDQ25gồm 25 câu hỏi sàng lọc và đánh giá rối nhiễu tâm trí trong 5 lĩnh vực:

- Tăng động giảm chú ý (hyperactivity/inattention)

- Rối loạn hành vi (conduct problems)

- Rối loạn cảm xúc (emotional symptoms)

- Rối nhiễu trong quan hệ bạn bè (peer relationship problem)

- Mức độ thích ứng xã hội (prosocial behavior)

Trang 11

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket): Bên cạnh phương pháp

đánh giá bằng trắc nghiệm nhằm xác định tỉ lệ các vấn đề về sức khỏe tinh thần trẻ em gặp phải, nghiên cứu còn sử dụng bảng điều tra hộ gia đình Bảng hỏi này dựa trên các yếu tố nguy cơ gây ra các vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS nhằm cung cấp thêm các thông tin về tình trạng nhiễm HIV của cha mẹ trẻ, người chăm sóc chính hiện nay của trẻ, tình trạng kinh tế gia đình, sự lạm dụng chất, bạo hành gia đình và sự kỳ thị

và phân biệt đối xử đối với trẻ

7.2.3 Phương pháp sử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học:

Để trình bày và phân tích số liệu, nghiên cứu sử dụng chương trình phần mềm thống kê STATA dùng trong môi trường Window, phiên bản 11

Các thông số và phép toán thông kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích sử dụng thống kê mô tả với các chỉ số:

 Điểm tổng SDQ25

 Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí giữa hai nhóm trẻ bị ảnh hưởng và không bị ảnh hưởng bởi HIV

 Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí trong 5 lĩnh vực

 Mối tương quan giữa tỷ lệ rối nhiễu tâm trí và các yếu tố nguy cơ gây ra rối nhiễu tâm trí ở trẻ em

8 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn giúp chỉ ra mối tương quan giữa tình trạng người chăm sóc chính của trẻ, kinh tế gia đình, sự lạm dụng chất, bạo hành gia đình, sự lạm

Trang 12

dụng,bỏ rơi, sự kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS với thực trạng các vấn đề sức khỏe tinh thần của các em

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

- Kết quả của nghiên cứu thực trạng đưa ra được những con số chính xác về

tỉ lệ trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS có các vấn đề về sức khỏe tinh thần

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 13

Hiện nay các nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ có cha mẹ hoặc người chăm sóc có HIV hoặc bản thân trẻ

là người có HIV) trên thế giớiđược chia thành hai loại chủ yếu: (1) Các nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ của HIV ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe tinh thần của trẻ em và (2) các nghiên cứu tập trung vào các yếu tố bảo vệ sức khỏe tinh thần của trẻ em

1.1.1.1 Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ của HIV ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần trẻ em

HIV đưa ra những đe dọa trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của trẻ em và trẻ vị thành niên cũng như sự tồn tại và các chức năng của gia đình Các báo cáo gần đây của UNAIDS ước tính rằng gần 17 triệu trẻ em trên thế giới mồ côi do HIV/AIDS, và có đến 90% trong số đó sống ở vùng Saharan Châu Phi [43] Tuy nhiên, mồ côi chỉ là một phần của vấn đề Hiện nay còn có một số lượng lớn trẻ em hiện đang sống với cha mẹ có HIV/AIDS Đối với các em này, có vô vàn các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần, chẳng hạn như phải nghỉ học để ở nhà chăm sóc cha mẹ hiện đang ốm đau, gánh nặng tâm lý trong suốt quá trình chăm sóc cha mẹ ốm đau hoặc đối mặt với cái chết của cha mẹ

Mồ côi là một trong những vấn đề lớn mà hầu hết trẻ em có cha mẹ có HIV phải đối mặt Chính yếu tố này, cùng với những yếu tố như tình trạng gia đình, những sự kiện gây căng thẳng trong đời sống, khả năng ứng phó với những khó khăn và sự phục hồi cũng như tình trạng sức khỏe và các chức năng thần kinh có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ có HIV/AIDS

Năm 2007, tổ chức Plan Cameroon nhận thấy tỷ lệ trẻ em mồ côi do cha

mẹ nhiễm HIV/AIDS qua đời ở vùng Tây Bắc Cameroon là rất cao Chính vì vậy họ đã thực hiện nghiên cứu nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng tâm lý của việc mất cha mẹ và tuổi thơ mồ côi đối với trẻ em tại đây [29] Nghiên cứu

Trang 14

này được thực hiện trong suốt hai tháng cuối thu trong sáu vùng nông thôn của bốn quận huyện khác nhau của tỉnh Bamenda Nghiên cứu được thực hiện bởi đội thu thập thông tin thực địa, gồm ba cán bộ tâm lý trẻ em, thực hiện 18 cuộc thảo luận nhóm, 180 phỏng vấn cá nhân và 10 nghiên cứu trường hợp Khách thể nghiên cứu là trẻ em trong độ tuổi từ 8 đến 18 tuổi Nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của mồ côi cha mẹ và tuổi thơ mồ côi của trẻ, họ đã so sánh 4 nhóm mẫu gồm: trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, trẻ mồ côi cha, trẻ mồ côi mẹ và trẻ không mồ côi cha mẹ Bốn nhóm này không có sự khác biệt về tuổi Trong phiếu phỏng vấn cá nhân, thông tin mà nghiên cứu hướng đến bao gồm tình trạng gia đình, những sự kiện gây căng thẳng trong đời sống, thực trạng sức khỏe tinh thần, khả năng ứng phó với những khó khăn và sự phục hồi cũng như tình trạng sức khỏe tinh thần và các chức năng thần kinh Với nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tiểu sử Với thảo luận nhóm, nghiên cứu phát triển 5 câu chuyện ngắn nhằm xác định nhận thức của trẻ em về nhu cầu được hỗ trợ tâm lý Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng có sự khác biệt đáng kể giữa trẻ em trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ hoặc trẻ

em mồ côi cả cha lẫn mẹ ở một số các lĩnh vực sau:

- Trình độ giáo dục

- Sức khỏe tinh thần

- Kỹ năng xã hội và sự tự đánh giá bản thân

- Phơi nhiễm với các hình thức khác nhau của bạo lực gia đình

Những trẻ trai bị mồ côi thường có ý nghĩ tự tử nhiều hơn so với những trẻ trai không bị mồ côi Nhìn chung, ý định tử tự có ít hơn ở những trẻ không

mồ côi và trẻ mồ côi cha, nhưng lại có cao hơn ở những trẻ mồ côi và đặc biệt

là ở trẻ em gái mồ côi mẹ Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những rối loạn tinh thần ở trẻ mồ côi như stress sau sang chấn là 28%, trầm cảm là 45%, một con số khá cao so với toàn bộ mẫu được chọn Khi phân tích các

Trang 15

gia đình, người chăm sóc chính của trẻ dễ bị tổn thương và tỷ lệ tai nan giao thông cao là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của trẻ em Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ bị lạm dụng thể chất, lạm dụng tinh thần, bị bỏ rơi là rất cao ở tất cả các nhóm nghiên cứu Tỷ lệ trẻ bị lạm dụng tình dục là không cao hơn những tỷ lệ khác nhưng cũng gây nguy hiểm cho hơn 15% trẻ em gái được phỏng vấn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bạo lực gia đình làm cản trở sức khỏe tinh thần và lòng tự trọng cá nhân của các em, làm gia tăng nguy cơ tự tử và có mối quan hệ gần gũi với nguy cơ trẻ bị các vấn đề

về sức khỏe tinh thần, ví dụ như trầm cảm và rối loạn sau sang chấn

Trong gia đình cũng có nhiều bằng chứng tâm lý cho thấy cha mẹ có HIV/AIDS thường bị trầm cảm, đánh mất hy vọng và có những hành vi nguy

cơ như lạm dụng chất gây nghiện Và những điều này cũng có thể là yếu tố gia tăng các vấn đề về sức khỏe tinh thần cho trẻ em Trong nghiên cứu của mình về chức năng tâm lý giữa những trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và người chăm sóc trẻ ở Haiti của Mary C Smith Fawzi và cộng sự [23], bà đã sử dụng

bộ câu hỏi của Goodman về những khó khăn và những điểm mạnh của trẻ (SDQ25) nhằm đánh giá mức độ các triệu chứng tâm lý ở trẻ em từ 10 – 17 tuổi Bộ câu hỏi này cũng đã được chuẩn hóa tại Bangladesh với đường cong của độ hiệu lực là 0.84 đến 0.94 cho bảng chuẩn hóa dành cho cha mẹ tự điền hoặc phỏng vấn cha mẹ và 0.81 đến 0.89 cho bảng chuẩn hóa dành cho trẻ tự điền Bộ câu hỏi này đã được sử dụng để điều tra trên 492 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và 330 người chăm sóc trẻ ở Haiti Bên cạnh đó, các tác giả cũng sử dụng thang đo Hopkins Symptom Checklist-25 (HSCL-25) nhằm đo mức độ trầm cảm của cha mẹ/người chăm sóc của trẻ Mặt khác, các thông tin về nhân khẩu học xã hội của trẻ và cha mẹ/người chăm sóc trẻ như tình trạng kinh tế của gia đình, các hỗ trợ xã hội, chức năng thực hiện các vai trò của người chăm sóc trẻ cũng được phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên có mức độ lo âu cao, bao gồm, hay có cảm giác bồn chồn (86%), tăng

Trang 16

động (83%) và lo lắng nhiều (56%) Cha mẹ, người chăm sóc trẻ cũng có các dấu hiệu trầm cảm ở mức độ cao, như năng lượng giảm sút (73%), buồn chán (69%) Các triệu chứng trầm cảm của cha mẹ có mối liên quan mật thiết với các vấn đề về tâm lý của trẻ em (tỷ lệ OR = 1.6 – 2.4) và các chức năng tâm

lý (tỷ lệ OR = 1.6 dựa theo báo cáo của cha mẹ)

Nghiên cứu đã sử dụng các thang đo tâm lý khác nhau và thu thập các nguồn thông tin khác nhau để xác định mối liên hệ giữa tỷ lệ trầm cảm của cha mẹ/người chăm sóc trẻ với các vấn đề về tâm lý của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu là mới chỉ dừng lại ở các yếu

tố gia đình mà chưa đề cập đến các yếu tố xã hội và các yếu tố khác cũng đồng thời ảnh hưởng đến các vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ em Bên cạnh các yếu tố từ chính trong gia đình trẻ thì các yếu tố về văn hóa,

xã hội, đặc biệt là sự kỳ thị và phân biệt đối xử cũng được đề cập đến như một trong những yếu tố gây ra các vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha

mẹ có HIV/AIDS Nghiên cứu của tiến sỹ Boyes, M.E và các cộng sự đã chỉ

Trang 17

trầm cảm Kết quả nghiên cứu ở cả giai đoạn đầu (năm 2005) và giai đoạn theo dõi (năm 2009) cho thấy tỉ lệ trẻ em mồ côi cha mẹ do HIV/AIDS có lo

âu, trầm cảm cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ trẻ em không mồ côi do HIV/AIDS Đặc biệt hơn nữa là trong khi tỷ lệ trẻ em không mồ côi do HIV/AIDS có lo

âu, trầm cảm có chiều hướng giảm bớt thì tỷ lệ trẻ em mồ côi do HIV có lo

âu, trầm cảm lại có chiều hướng ngày càng gia tăng

Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa trẻ mồ côi vì HIV/AIDS với vấn đề sức khỏe tinh thần ở trẻ em, đặc biệt là vấn đề trầm cảm và lo âu Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đồng thời xác định sự kỳ thị là yếu tố chính dẫn đến những vấn đề về sức khỏe tinh thần ở trẻ em Điều này khiến nghiên cứu trở nên không khách quan vì chúng ta biết rằng các vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em không chỉ do một yếu tố môi trường xã hội mà còn do các yếu tố khác như gia đình, bạn bè, nhà trường và cả chính bản thân các em nữa tác động vào

1.1.1.2 Các nghiên cứu về yếu tố bảo vệ sức khỏe tinh thần của trẻ em

Với từ khóa là HIV/AIDS, trẻ em, yếu tố bảo vệ, sức khỏe tinh thần, nghiên cứu đã thu được một trăm sáu mốt nghiên cứu từ nguồn tìm kiếm online Trong số này có 29 nghiên cứu trực tiếp về sức khỏe tinh thần và sự phục hồi của trẻ em và gia đình bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Tám nghiên cứu phân tích định lượng Mười nghiên cứu định tính chỉ rõ những nguồn lực cá nhân góp phần giúp phục hồi sức khỏe tinh thần của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Có bốn nghiên cứu định tính nghiên cứu về nguồn lực gia đình Bên cạnh đó có mười nghiên cứu tập trung vào vấn đề tương tác cộng đồng của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và tình trạng sức khỏe tinh thần của trẻ Bốn trong số các nghiên cứu trên tập trung vào các can thiệp phục hồi sức khỏe tinh thần của trẻ

em Trong các nghiên cứu này thì trẻ em và trẻ vị thành niên bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thường có tỷ lệ cao là có những căng thẳng tâm lý khi so sánh với trẻ không bị ảnh hưởng bởi HIV Tuy nhiên, nhằm có những can thiệp sớm và quản

Trang 18

lý tốt hơn các yếu tố nguy cơ, các nguồn lực nhằm thúc đẩy các yếu tố bảo vệ trong các gia đình có cha mẹ có HIV và cộng đồng xung quanh gia đình đó cần được hiểu một cách đầy đủ và thấu đáo Đặc biệt, các nghiên cứu áp dụng quan điểm sinh thái và phát triển nhằm nghiên cứu yếu tố bảo vệ có nhiều khả năng chỉ ra được hình thái sức khỏe tinh thần thông qua sự tương tác giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng và các yếu tố xã hội

Tiến sỹ Ellen C Herenkohl và các cộng sự cho rằng các yếu tố bảo vệ trong quá trình phục hồi tâm lý có thể chia làm hai loại: yếu tố cá nhân và yếu

tố môi trường [24] Đặc điểm tính cách cá nhân bao gồm kỹ năng nhận thức, chỉ số IQ trên mức trung bình, khả năng ứng phó với những tình huống mới, phản ứng tích cực với những người khác, sự hoạt bát, sự ham hiểu biết, sự đồng cảm, sự hấp dẫn về ngoại hình, có nhiều mối quan tâm, hành vi hướng đến mục tiêu, khả năng thỏa mãn những nhu cầu của cha mẹ (điều này tạo ra

sự tự trọng cá nhân của trẻ từ cơ bản đến cao cấp), giới tính (trẻ trai thường dễ

bị tổn thương trong những gia đình có nhiều bất hòa), khả năng kiểm soát bản thân, và lòng tự trọng cao

Yếu tố bảo vệ từ môi trường bao gồm gia đình hoặc tổ chức nuôi dưỡng (trại mồ côi….) đến cộng đồng lớn hơn, cha mẹ, người đặt ra những quy tắc trong gia đình và chứng tỏ sự tôn trọng cá nhân của con họ, sự ổn định của gia đình, những lạm dụng trẻ em xảy ra trong giai đoạn cuối của tuổi dậy thì sẽ ít ảnh hưởng đến trẻ hơn trong giai đoạn đầu của tuổi ấu thơ Những ảnh hưởng

về sự phát triển nhận thức có sự khác biệt với những ảnh hưởng về sự phát triển cảm xúc xã hội

Các nghiên cứu trên thế giới về yếu tố bảo vệ sức khỏe tinh thần của trẻ

em có cha mẹ nhiễm HIV có thể tổng kết lại thành 3 yếu tố: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình và yếu tố văn hóa và cộng đồng

Tác giả Debra A Murphy and William D Marelich đã nghiên cứu khả

Trang 19

Với 111 trẻ từ 6 – 11 tuổi, nghiên cứu cắt dọc được thực hiện làm 4 lần: nghiên cứu ban đầu, 6 tháng sau, 12 tháng sau và 18 tháng sau đó Các bộ công cụ được sử dụng khá đang dạng và công phu bao gồm:

- Đo tải lượng virut HIV ở mẹ;

- Sử dụng bộ công cụ chiến lược đối phó ở trẻ em (Children’s Coping Strategies Checklist - Sandler, Tein, & West, 1994) nhằm đánh giá kết quả thu được từ các chiến lược ứng phó với những khó khăn của trẻ Trẻ sẽ xác định mức độ hài lòng của các chiến lược ứng phó mà trẻ đã thực hiện trong tháng qua khiến trẻ cảm thấy tốt hơn, xác định mức độ hài lòng và chúng cảm thấy như thế nào so sánh với những trẻ khác cũng như chúng cảm thấy thế nào trong việc ứng phó trong tương lai

- Đo mức độ trầm cảm bằng thang đo Children’s Depression Inventory (CDI; Kovacs, 1992) Tổng điểm thu được bao gồm 5 lĩnh vực: tâm trạng tiêu cực, các vấn đề liên cá nhân, cảm thấy không có hiệu quả gì, không cảm thấy vui vẻ và sự tự trọng thấp

- Thang đo sự lo âu Revised Children’s Manifest Anxiety Scale (Reynolds & Richmond, 1978, 1985) Tuy nhiên, sau đó các tác giả nhận thấy kết quả của thang đo này quá thấp nên họ đã không sử dụng thang đo này cho những lần nghiên cứu tiếp theo

- Thang đo cho trẻ tự định nghĩa bản thân mình, bao gồm tự đánh giá trí thông minh, tình trạng học đường, có được nhiều người yêu mến, có cảm thấy hạnh phúc và sự hài lòng về bản thân

- Thang đo hành vi của trẻ Child Behavior Checklist (Achenbach, 1991)

- Đo kỹ năng xã hội thông qua hệ thống Social Skills Rating System (Gresham & Elliott, 1988, 1990) Mẹ sẽ cũng cấp thông tin thông qua việc trả lời phiếu hỏi này

Trang 20

- Chức năng nhận thức Kaufman Brief Intelligence Test BIT; Kaufman & Kaufman, 1990), nhằm đo chức năng nhận thức có lời và không lời

(K Người lớn yêu thích của trẻ Thông tin này nhằm thu thập xem ai là người quan trọng nhất trong cuộc đời của trẻ Các mục được thiết kế dựa trên cuốn “My Family and Friends” (Reid & Landesman, 1986; Reid, Landesman, Treder, & Jaccard, 1989) Thông tin được chia làm 2 nhóm: Nhóm có người lớn yêu thích và có mối quan hệ tốt với người lớn và nhóm không có

- Hình thành những nhóm phục hồi Phân tích nhóm (Aldenderfer & Blashfield, 1984) nhằm xem xét nhóm phục hồi và nhóm không phục hồi Kết quả thu được từ nghiên cứu trên cho thấy mẹ có HIV là yếu tố nguy

cơ cao ảnh hưởng đến yếu tố phục hồi của trẻ Tuy nhiên, những trẻ có mẹ có HIV trong nhóm phục hồi có chiến lược ứng phó hiệu quả hơn những trẻ ở trong nhóm không phục hồi Trong nhóm phục hồi, những trẻ có mối quan hệ tốt với người chăm sóc đã học được và được củng cố các kỹ năng ứng phó từ người lớn Những trẻ được xác định trong nhóm phục hồi cũng có những bằng chứng về sự tự trọng cá nhân tốt hơn nhóm còn lại Thông tin từ mẹ của trẻ thu được về sự tự trọng cá nhân của trẻ là thông tin thứ cấp Tuy nhiên, những thông tin này cũng cho thấy trẻ trong nhóm phục hồi có tâm trạng tiêu cực ở mức độ thấp Điều này cũng liên quan đến kỹ năng ứng phó, những trẻ này có khả năng ứng phó với trầm cảm hiệu quả hơn nhóm không phục hồi Nhóm phục hồi cũng cho thấy có ít những triệu chứng của trầm cảm hơn nhóm còn lại Tóm lại, trẻ em trong nhóm phục hồi đảm nhiệm các chức năng trong một số lĩnh vực là tốt hơn với nhóm không phục hồi, đặc biệt là sự tự tin vào bản thân và tâm trạng tốt hơn nhóm còn lại Từ nghiên cứu trên cũng nhận thấy người lớn có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phục hồi tâm lý của trẻ em Sự trợ giúp của người lớn giúp trẻ có khả năng ứng phó tốt

Trang 21

Bên cạnh đó, trong một nghiên cứu của mình với 82 gia đình người Mỹ Latinh có cha hoặc mẹ có HIV, Dutra & Forehand [22] nhận thấy sự giám sát chặt chẽ của cha mẹ cùng với mối quan hệ tốt giữa cha mẹ và con cái làm tăng yếu tố phục hồi tâm lý của trẻ Brook và cộng sự vào năm 2002 cũng đã nghiên cứu và nhận thấy sự hiện diện của người cha trong gia đình có mối quan hệ mật thiết với khả năng ứng phó thích hợp của con cái với những ảnh hưởng của HIV[20] Một nghiên cứu 6 năm theo chiều dọc tại Anh của Stein, Rotheram-Borus, and Lester năm 2007[27] cho thấy kết quả thú vị Thông thường, cha mẹ mất sớm khiến các em vị thành niên phải học các kỹ năng làm cha mẹ để chăm sóc các em nhỏ hơn Điều này thường khiến các em trở nên căng thẳng hơn, thậm chí lạm dụng chất gây nghiện, hoặc có những vấn đề về hành vi Tuy nhiên trong nghiên cứu trên lại nhận thấy 6 tháng sau cái chết của cha mẹ, các em thường trưởng thành hơn, có các kỹ năng ứng phó tốt hơn

và ít sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá hoặc rượu bia hơn những trẻ vị thành niên không phải trải qua giai đoạn trở thành “cha mẹ bất đắc dĩ”

Ngoài ra còn một số các nghiên cứu tập trung vào các yếu tố phục hồi ở mức độ cộng đồng Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Orban và các đồng nghiệp thực hiện ở Mỹ[26], trẻ vị thành niên đánh giá hỗ trợ xã hội và

kỹ năng giải quyết vấn đề là những chiến lược hữu ích nhất dành cho họ Tuy nhiên kết quả lại cho thấy những chiến lược này lại ít được các em sử dụng, có lẽ

là bởi các em sợ vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử Ở Trung Quốc, nghiên cứu của Zhao và các đồng nghiệp[28] cũng nhận thấy rằng những hỗ trợ vô hình của gia đình làm giảm trầm cảm và cảm giác cô đơn và tăng tính tương tác xã hội ở trẻ em Điều này giúp làm giảm những hành vi phạm tội ở trẻ

Tiểu kết: Nhìn chung những nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ có HIV trên thế giới đã cho thấy sự quan tâm của giới chuyên môn về vấn

đề này Phương pháp nghiên cứu thường được sử dụng là dùng các trắc nghiệm tâm lý nhằm xác định tỷ lệ rối nhiễu tâm trí nói chung hoặc ở một loại bệnh cụ thể

Trang 22

(thường là đo mức độ trầm cảm và lo âu) Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng sẽ sử dụng các bảng hỏi phỏng vấn nhằm xác định các yếu tố phục hồi và các yếu tố nguy cơ gây ra các rối nhiễu đó Tuy vậy, không thấy các nghiên cứu này xây dựng độ hiệu lực và độ tin cậy của các công cụ phỏng vấn, điều tra này

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu các rối loạn sức khỏe tinh thần ở trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS trong nước

Vấn đề sức khỏe tinh thần ở trẻ em đã được quan tâm, đề cập đến nhiều trong thời gian gần đây, cả ở phương diện các nghiên cứu dịch tễ học xác định gánh nặng của bệnh tật trong cộng đồng, nghiên cứu cơ bản xây dựng công cụ chẩn đoán ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu, và các hoạt động vận động tác động chính sách, giáo dục dân chúng chú ý đến vấn đề này tại Việt Nam Năm 2004, trong khuôn khổ dự án nghiên cứu quốc tế về nghèo khổ trẻ

em (Young lives 2001 – 2005), Trần Tuấn và cộng sự (2004) báo cáo tỉ lệ rối nhiễu tâm trí trong học sinh độ tuổi lớp 2, 3 ở 31 xã thuộc 5 tỉnh của Lào Cai, Hưng Yên, Đã Nằng, Phú Yên, Bến Tre là 20% [15] Năm 2006, Ngô Thanh Hồi & CS sử dụng SDQ25 phiên bản RTCCD 2004 để tiến hành điều tra tỷ lệ trẻ có các vấn đề về sức khỏe tinh thần tại các trường phổ thông tại Hà Nội, kết quả sơ bộ cho thấy tỷ lệ chung xấp xỉ 20% [3], có khác nhau giữa các trường Tiếp theo đó, nhóm nghiên cứu của Quỹ Hội Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF) – Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phát triển Cộng đồng – Sở Y tế hai tỉnh Đà Nẵng và Khánh Hòa đã sử dụng SDQ25 tiến hành điều tra gánh nặng của các vấn đề sức khỏe tinh thần ở trẻ em 11 – 16 tuổi của hai tỉnh Đà Nẵng và Khánh Hòa trong năm 2006 Kết quả báo cáo là 11,6% rối nhiễu [41], (Trần Đức Thạch, Trần Thu Hà & CS, 2007) Đặng Hoàng Minh

và Hoàng Cẩm Tú, năm 2009 sử dụng công cụ YSR thực hiện khảo sát trên

1727 học sinh, lứa tuổi từ 11- 15, ở 2 trường THCS ở Hà Nội cho thấy tỉ lệ trẻ mắc các vấn đề về sức khỏe tinh thần là 10,94%[6]

Trang 23

Tuy nhiên, vấn đề về sức khỏe tinh thần ở nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cụ thể là nhóm trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam lại chưa được quan tâm một cách đúng mực Kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được xác định tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12 năm 1990, vấn đề chính được Việt Nam và cả thế giới quan tâm vẫn là làm thế nào tìm ra phương thuốc chữa được căn bệnh thế kỷ này, chứ chưa phải là vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần cho họ Chính vì vậy mà 22 năm sau kể từ khi phát hiện ra ca nhiễm bệnh đầu tiên, không có một nghiên cứu nào được thực hiện

ở Việt Nam đề cập riêng về dịch tễ học sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha

mẹ nhiễm HIV/AIDS Hầu hết các số liệu nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV được nằm trong các nghiên cứu tổng thể về thực trạng chung về sức khỏe của trẻ em (cả về mặt sức khỏe thể chất, tình trạng bệnh tật, sức khỏe tinh thần) Nghiên cứu của Phan Văn Tường, Phạm Thị Hồng, Nguyễn Nguyên Ngọc được đăng trên tạp chí Y học thực hành[11]

về “Đánh giá nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC) tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2011” cũng có một chút ít số liệu về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha

mẹ nhiễm HIV/AIDS Nghiên cứu này nhằm xác định các nhu cầu và sự đáp ứng các nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC), đồng thời tìm hiểu những rào cản ảnh hưởng đến sự đáp ứng nhu cầu đó Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính

và định lượng, 52 trẻ OVC từ 8-17 tuổi và 90 người chăm sóc chính cho trẻ

OVC đã được phỏng vấn, kết hợp với phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Kết quả

nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ OVC có 2 nhóm nhu cầu chăm sóc sức khỏe chính: (1) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất với hai nhu cầu chính là chăm sóc dinh dưỡng và chăm sóc y tế, (2) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần và xã hội bao gồm các nhu cầu: Chăm sóc tâm lý, giáo dục và nhu cầu được bảo vệ: pháp lý, khỏi bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị và bị lạm dụng, ngược đãi và đảm bảo có nơi

Trang 24

an toàn Bốn rào cản chính trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ OVC, gồm các rào cản về kinh tế, rào cản nhận thức của trẻ OVC và người chăm sóc trẻ, rào cản về sự kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ OVC và gia đình trẻ, và rào cản về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương.Tình trạng bị xa lánh và phân biệt đối xử được đề cập nhiều nhất ở trường học, tuy nhiên hầu hết các em đều được đi học Việc lo sợ bị xa lánh và kỳ thị khi tiết lộ tình trạng HIV đã ngăn cản việc người chăm sóc trẻ OVC đưa các em đi xét nghiệm HIV Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu là dù đã chỉ ra được nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tinh thần của trẻ có cha mẹ nhiễm HIV là có thật, nhưng những nhu cầu được chỉ ra trong nghiên cứu không dựa trên thực trạng tình hình sức khỏe tinh thần của các em

Trong báo cáo nghiên cứu về tình hình trẻ em Việt Nam năm 2010 của UNICEF [30] cũng nhận thấy rằng rất thiếu các nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của trẻ em có HIV/AIDS hoặc trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS Ngay

cả trong “Định hướng nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2012 – 2015” [12] do Cục phòng, chống HIV/AIDS của Bộ y tế đưa ra cũng không

có khuyến nghị nào đề cập đến vấn đề cần thiết phải có những nghiên cứu về vấn đề sức khỏe tinh thần của trẻ em có HIV/AIDS hoặc có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS Trong “Định hướng nghiên cứu khoa khọc về HIV/AIDS giai đoạn 2012 – 2015”, vấn đề về sức khỏe tinh thần mới chỉ được Bộ y tế quan tâm và khuyến nghị ở mức lồng ghép việc chăm sóc sức khỏe tinh thần vào các chương trình dự phòng, chăm sóc và điều trị liên quan đến HIV: “Trên thế giới, hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho nhữngngười nhiễm HIV và gia đình của

họ, giải quyết nhu cầu tình cảm đã chothấy kết quả tích cực cho bệnh nhân điều trị ARV và người nhiễm HIV.Các hỗ trợ kỹ thuật là cần thiết để lồng ghép chăm sóc sức khỏe tâm thầnvào các chương trình dự phòng, chăm sóc

và điều trị liên quan đến HIV”[12, Trg.5]

Trang 25

Có thể nói Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của việc thực hiện chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người có HIV/AIDS và những người có người thân có HIV/AIDS Ngoài ra, các vấn đề như nghiên cứu dịch tễ học các vấn đề về sức khỏe tinh thần của người nhiễm HIV/AIDS, hoặc có người thân nhiễm HIV/AIDS, sức khỏe tinh thần của trẻ em trong các gia đình có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS… vẫn còn là khoảng trống bỏ ngỏ cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách

Tiểu kết: Việt Nam đã có bước tiến lớn trong nghiên cứu và tác động chính sách chăm sóc sức khỏe tinh thần trẻ em trong thời gian gần đây Tuy nhiên, vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS vẫn còn là mảng trống chưa được các nhà nghiên cứu cũng như các nhà lãnh đạo quan tâm đúng mực

1.2 Một số vấn đề lý luận về sức khỏe tinh thần của trẻ em

1.2.1 Khái niệm về sức khỏe tinh thần

Ở Việt Nam hiện nay, từ “mental health” trong tiếng Anh được dịch ra thành một số thuật ngữ khác nhau như “sức khỏe tinh thần”, “sức khỏe tâm thần”, “sức khỏe tâm trí” Thuật ngữ “sức khỏe tâm thần” được dùng khá phổ biến trong ngành y Tuy nhiên, thuật ngữ này thường gây kỳ thị trong cộng đồng do người dân trong cộng đồng thường đồng nghĩa khái niệm “sức khỏe tâm thần” với khái niệm “điên”, “dở hơi” Chính vì vậy, để tránh hai lần kỳ thị lên các em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trong luận văn này chúng tôi sử

dụng khái niệm “sức khỏe tinh thần” tương đương với từ “mental health”

trong tiếng Anh

Theo Wikipedia, “Sức khỏe tinh thần là một khái niệm ám chỉ tình trạng tinh thần và cảm xúc tốt của mỗi cá nhân Các nền văn hóa khác nhau, các đánh giá chủ quan và các giả thuyết khoa học khác nhau đều có ảnh hưởng tới định nghĩa về khái niệm "sức khỏe tinh thần" Mặt khác, tình trạng thoải mái, không

có rối loạn nào về tinh thần chưa chắc đã được coi là sức khỏe tinh thần

Trang 26

Có một cách để nhận xét sức khỏe tinh thần là xem xem một người thể hiện chức năng của mình thành công tới mức nào Cảm thấy có đủ khả năng

tự tin, có thể đối mặt với những tình trạng căng thẳng ở mức bình thường, luôn giữ được các mỗi quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập,

và dễ hồi phục sau những tình huống khó khăn đều được coi là các dấu hiệu của một sức khỏe tinh thần”[13]

Theo WHO, Sức khỏe tinh thần nói đến một loạt các yếu tố có thể trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sự lành mạnh về tâm trí, một yếu tố quan

trọng trong định nghĩa của WHO về sức khỏe: “là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật” [37]

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xin được dùng định nghĩa về sức khỏe tinh thần theo từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng Theo từ điển

này, tác giả đã định nghĩa sức khỏe tinh thần “là một trạng thái thoải mái, dễ

chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái đảm bảo cho sự điểu khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường” [1,

Trg.719] Như vậy cách định nghĩa này cũng thống nhất với cách định nghĩa của WHO Hơn nữa, định nghĩa cũng đã chỉ ra được mối liên hệ giữa tình trạng sức khỏe tinh thần khỏe mạnh với sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường sống Chính định nghĩa trên cho chúng ta hiểu sức khỏe tinh thần là thứ có thể đo lường được, thông qua việc đo lường sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường sống của từng cá nhân

1.2.2 Khái niệm Trẻ em

Theo công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc “trẻ em” có nghĩa là

mọi người dưới 18 tuổi trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn"[40] Trong trường hợp ở Việt Nam

Trang 27

Luật Bảo vệ - chăm sóc – giáo dục trẻ em năm 2004 quy định độ tuổi của trẻ

em dưới 16 tuổi Bộ luật Lao động quy định người lao động là người ít nhất

đủ 15 tuổi Luật Thanh niên quy định thanh niên là từ 16 – 30 tuổi Bộ luật Dân

sự quy định 18 tuổi trở nên mới là người thành niên Bộ luật Hình sự quy định người 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi hành vi phạm tội Trong khi đó, Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em và nhiều điều ước, thỏa thuận quốc tế khác liên quan đến trẻ em mà Việt Nam đã ký kết, tham gia đều quy định độ tuổi trẻ em là dưới 18 tuổi Việc nâng quy định

độ tuổi trẻ em dưới 18 tuổi sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc đầy đủ, toàn diện, trở thành người có ích cho xã hội Chính vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi xin được sử dụng định nghĩa về trẻ em theo Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, coi

độ tuổi trẻ em là dưới 18 tuổi

1.2.3 Khái niệm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

Khái niệm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được dịch từ tiếng anh

“children affected by HIV/AIDS” Theo kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ

em bị ảnh hưởng bởi HIV và AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020[14], trẻ

em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS bao gồm:

Trẻ em nhiễm HIV

Trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV:

o Trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS;

o Trẻ em sống với bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng bị nhiễm HIV;

o Trẻ em sử dụng ma túy;

o Trẻ em bị xâm hại tình dục;

o Trẻ em là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy;

o Trẻ em là nạn nhân của tội mua bán người;

o Trẻ em lang thang;

Trang 28

o Trẻ em mồ côi do các nguyên nhân khác;

o Trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội; cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng

Bên cạnh đó, một số nhà khoa học cũng đang đề nghị một cách hiểu khác Theo họ thì khái niệm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được hiểu là:

- Trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp: là trẻ có HIV/AIDS trong cơ thể, được xét nghiệm có HIV dương tính (H+)

- Trẻ bị ảnh hưởng cận trực tiếp: là các trẻ bản thân không mắc nhưng có cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ nhiễm HIV/AIDS Các trẻ này có thể bị ảnh hưởng bởi các bệnh cơ hội do cha mẹ lây và các ảnh hưởng tâm sinh lý từ gia đình và xã hội

- Trẻ bị ảnh hưởng gián tiếp: là những trẻ bị mất cơ hội tiếp cận y tế do một ca nhiễm AIDS gây ra, ví dụ: một năm để nuôi một ca bị AIDS tốn khoảng 10 triệu, do ngân sách y tế có hạn nên một trẻ nghèo khác sẽ không có

10 triệu đó để mổ tim, uống thuốc chống viêm gan hoặc chữa lao phổi… Cách tiếp cận mới này có thể cho những người có nguy cơ cao hiểu được

sự buông thả của mình không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mình, đến con cái của mình mà còn ảnh hưởng đến rất nhiều người khác trong cộng đồng

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin được thống nhất cách hiểu trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS là trẻ bị ảnh hưởng gián tiếp bởi HIV/AIDS, nghĩa là trẻ có cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân các em không nhiễm HIV

1.2.4 Khái niệm về HIV/AIDS

1.2.4.1 Khái niệm HIV

HIV là cụm từ viết tắt từ các chữ cái đầu từ của cụm từ tiếng Anh: Human Immuno Deficience Virut, dịch ra tiếng Việt là virut gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Đó là loại virut khi xâm nhập vào cơ thể người

Trang 29

sẽ tấn công trực tiếp hệ thống miễn dịch, làm cơ thể giảm sức đề kháng và dễ

mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội [2]

1.2.4.2 Khái niệm AIDS

AIDS viết tắt của cụm từ tiếng Anh : Acquired Immuno Defsciency Syndrone [2]

- Acquire: nghĩa là mắc phải, kết quả của sự tiếp xúc với một người bệnh bên ngoài cơ thể

- Immuno: nghĩa là miễn dịch

- Defscieney: nghĩa là tình trạng suy giảm khả năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại bệnh tật

- Syndrone: hội chứng, là một nhóm dấu hiệu và triệu chứng do kết quả của một nguyên nhân chung hoặc do sự kết hợp hình ảnh lâm sàng của một bệnh Như vậy AIDS có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người AIDS là khi cơ thể ở tình trạng suy giảm khả năng đề kháng đến mức không chống được các mầm bệnh thông thường, nên mắc nhiều thứ bệnh AIDS dẫn đến chết người vì người bệnh không có khả năng hồi phục AIDS

là một nhóm nhiều chứng bệnh xuất hiện khi hệ thống miễn dịch của người bệnh bị HIV phá hủy Trong những năm đầu nhiễm HIV, đa số người nhiễm vẫn thấy khỏe mạnh, nhưng sau đó họ trở nên ốm yếu do mắc AIDS

1.3 Ảnh hưởng của HIV/AIDS lên trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS

Phần lớn người nhiễm HIV là người lớn trong độ tuổi từ 20 đến 40 Điều này có nghĩa là những người này đang chết dần ở độ tuổi khi họ đang là những thành viên rất quan trọng trong cộng đồng Bệnh tật và cái chết ở độ tuổi này làm ảnh hưởng đến sức mạnh và khả năng lao động của cộng đồng Gần như ở mọi nơi, phụ nữ và nam giới ở độ tuổi 20 đến 40 là người gánh trách nhiệm chăm sóc con cái và đôi khi cả bố mẹ, ông bà, hoặc cháu chắt của

họ Khi những người nam giới và phụ nữ này chết đi, con cái và người già trong gia đình họ thường không còn nơi nương tựa Theo thống kê, vào năm

2010, trên thế giới đã có khoảng 6 triệu trẻ mồ côi do AIDS [2] Phần lớn các nước thường không có đủ các trại mồ côi để hỗ trợ cho mọi trẻ em có cha mẹ

Trang 30

chết vì HIV/AIDS Đây mới chỉ là một trong rất nhiều những xáo trộn về gia đình và cộng đồng mà HIV/AIDS gây ra

Sự lây lan của HIV cũng ảnh hưởng đến công tác chăm sóc y tế Nhiều bệnh viện cần thêm giường bệnh để điều trị cho bệnh nhân AIDS Do các bệnh viện và các phòng khám đều rất đông bệnh nhân, sự quan tâm đến bệnh nhân sẽ ít đi Tại một khu vực châu Phi, ba nhà lãnh đạo cao cấp của Bộ Y tế

đã chết vì AIDS trong vòng một năm Điều này ảnh hưởng đến công tác y tế của cả một cộng đồng

Trong đại dịch HIV, cha mẹ có thể chết vì AIDS và làm các gia đình bị tan vỡ Điều này dẫn đến việc giá trị của các phong tục xã hội như hôn nhân

và tình dục cũng thay đổi Trong thời gian này, người chồng hoặc người vợ có thể có nhiều bạn tình hơn

HIV làm những người lao động chính trong gia đình chết đi Sự nghèo đói

có thể buộc những người còn sống dời bỏ quê nhà để tránh những kỳ thị và tìm

sự an toàn trong những thành phố lớn[2] Sự kỳ thị, nghèo đói cũng làm con người tuyệt vọng, đẩy con người vào con đường ma túy hoặc mại dâm Những thay đổi này làm cho HIV dễ dàng lây truyền sang những người khác

Kỳ thị và nghèo đói cũng làm con người thay đổi suy nghĩ về cuộc sống Khi bị vây quanh bởi kỳ thị, bởi sự đói nghèo, người ta sẽ không còn bận tâm

về sự lây nhiễm HIV Người ta sẵn sàng cố tình làm lây nhiễm HIV cho những người khác bởi một ý nghĩ “hận thù” là cần phải được “trả thù” [2] Nói tóm lại, HIV gây ra những ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với gia đình người nhiễm nói riêng và với cộng đồng nói chung Và trẻ em trong những gia đình đó, thường có cuộc sống ít ổn định với nhiều những lo âu và hoài nghi cuộc sống hơn các bạn cùng trang lứa

1.3.1 Định kiến và phân biệt đối xử

Những sức ép xã hội như phân biệt đối xử và đói nghèo ảnh hưởng đến việc xác định ai là người nhiễm HIV và hình thức điều trị cho họ khi họ đau

Trang 31

bản thân họ là người “tốt” nên họ sẽ không bị nhiễm Tất nhiên điều này là không đúng và phải chấp nhận thực tế rằng HIV có thể là vấn đề của bất cứ ai trong cộng đồng

Trên thế giới và ở Việt Nam, người nhiễm HIV phải đối mặt với sự phân biệt đối xử rất nặng nề Ví dụ như ở Kampala, Uganda, một chủ doanh nghiệp yêu cầu những người xin việc phải làm xét nghiệp HIV Họ thường thuê những công nhân lớn tuổi, những người ít có khả năng mắc HIV Cụm từ HIV làm người ta hoảng sợ và người ta thường có những quyết định dựa trên sự lo

sợ hơn là vào thực tế Điều này có thể thấy trong nhiều lĩnh vực của xã hội

Có những nước đã ra quyết định yêu cầu tất cả sinh viên đến từ một số quốc gia nhất định phải làm xét nghiệm HIV, trẻ em không được đến trường nếu chúng bị nhiễm HIV, nhân viên y tế từ chối không chăm sóc người nhiễm HIV, người ta từ chối mua nhà của người nhiễm HIV, và nhiều người nhiễm HIV đã bị mất việc làm do lãnh đạo và đồng nghiệp cùng cơ quan lo sợ họ sẽ

bị lây nhiễm Những hành động như vậy rõ ràng xuất phát từ cảm xúc hơn là

từ những hiểu biết đúng đắn và những hành động này hoàn toàn không ngăn chặn được sự lây lan của HIV

Con người chúng ta, ai cũng ít nhiều đều có những định kiến, có nghĩa là coi thường một số nhóm người nào đó Định kiến thường dựa trên cảm nhận của chúng ta về sự giàu có, đói nghèo, giới tính, sắc tộc, niềm tin chính trị, hay thực hành tình dục của những người khác Một số người có phản ứng tiêu cực đối với những người không thuộc xã hội, sắc tộc hoặc tín ngưỡng của họ

Họ tin vào những điều không đúng về một nhóm người – chẳng hạn như những người gầy gò thường là kẻ trộm cắp, nghiện hút

Mặc dù định kiến không phải là thứ bẩm sinh, không có ai sinh ra cũng sẵn có những suy nghĩ nhằm phán xét những người mà họ không biết, đó chẳng qua là họ lĩnh hội những định kiến từ những người khác Tuy nhiên, để

Trang 32

thoát khỏi định kiến lại là việc làm không phải một sớm một chiều và cần sự vào cuộc đồng bộ của nhiều ban ngành, đoàn thể

Những người có HIV thường mất cơ hội làm việc, thu nhập giảm sút, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng kinh tế trong gia đình và trẻ

em sẽ là nạn nhân gián tiếp của tình trạng này Các em mất cơ hội đến trường

do kỳ thị và phân biệt đối xử Các em không được vui chơi như những bạn cùng trang lứa do có cha mẹ là người nhiễm HIV Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần của các em

1.3.2 Địa vị kinh tế và xã hội

Địa vị kinh tế và xã hội của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của con người về HIV Nó cũng làm thay đổi nguy cơ nhiễm HIV của người đó và quyết định loại hình chăm sóc y tế nào anh ta tham gia Rõ ràng

là một người có học vấn có thể hiểu biết hơn về cách phòng ngừa HIV.Ở hầu hết các quốc gia, người ít tiền gặp khó khăn hơn trong việc tiếp nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thông tin về HIV và bao cao su Người nghèo thường phải

đi xa để kiếm việc làm Họ có thể sống tại các thành phố lớn, thiếu sự chăm sóc và hỗ trợ của gia đình và cộng đồng Đôi khi họ còn phải trao đổi tình dục

để có cái ăn, có nơi ở, tiền bạc và ma túy Trong những điều kiện như vậy việc phòng tránh HIV trở nên rất khó khăn

Khi đề cập đến địa vị kinh tế và HIV, không thể không nói đến vấn đề giới Phụ nữ dường như khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV Có nhiều yếu tố làm cho cuộc sống trở nên đặc biệt khó khăn đối với phụ nữ Có con cái có thể buộc người phụ nữ phải dành nhiều thời gian cho việc nuôi dạy và chăm sóc chúng Ở nhiều nơi, phụ

nữ phải làm tất cả việc nhà và việc đồng áng, chăm sóc người thân, người già trong gia đình Điều này làm cho họ không còn thời gian dành cho việc học hành hoặc làm việc bên ngoài, và càng ngày càng phải phụ thuộc vào chồng

Trang 33

nghĩa là họ có ít quyền lực hơn trong mối quan hệ - ít có quyền đề nghị quan

hệ tình dục an toàn hay quyết định về kế hoạch hóa gia đình Những quan niệm truyền thống về vai trò của phụ nữ trong xã hội cũng làm cho việc nói chuyện về tình dục trở nên khó khăn hơn đối với họ Xã hội cũng dễ dàng chấp nhận việc nam giới có nhiều hơn một người bạn tình, trong khi lại không chấp nhận nữ giới có nhiều bạn tình Một người đàn ông có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hoặc ngoài mối quan hệ chính thức có thể cảm thấy ái ngại và không muốn nói với vợ hoặc bạn gái Điều này đặt người phụ nữ vào tình trạng nguy cơ lây nhiễm HIV cao

Trẻ em sống trong gia đình có cha mẹ nhiễm HIV thường là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế Trước khi có HIV, cha mẹ các em đã

là những người có khó khăn về kinh tế HIV gây ra thất nghiệp, thiếu việc làm, thiếu tiền bạc để tiếp cận với các dịch vụ y tế Điều này càng đẩy gia đình các em đến bờ vực của sự nghèo đói, thiếu thốn và bệnh tật

1.3.3 Trình độ học vấn, giáo dục

Trình độ học vấn làm thay đổi cách nhìn nhận bản thân của mọi người

Nó cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân Thông thường một người

có trình độ học vấn cao thì sẽ biết cách chăm sóc sức khỏe bản thân và những người thân trong gia đình Ví dụ như một người biết đọc có thể đọc báo, tạp chí về AIDS Họ cũng có thể biết một vài điều về HIV hoặc tự tìm các nguồn thông tin về HIV/AIDS Nhưng một người không biết đọc, biết viết thì phải dựa vào những nguồn thông tin khác, như đài, vô tuyến và bạn bè Cô ta thường nghĩ nhiều đến những tình huống trong đời thực hơn Người không biết đọc thường học được nhiều qua kinh nghiệm bản thân họ hơn là qua những thông tin trong một lớp học Hiểu biết về HIV của mỗi người càng lớn thì càng có khả năng phòng ngừa lây truyền HIV

Trẻ em sống trong các gia đình có cha mẹ nhiễm HIV thường là những người có trình độ học vấn không cao Họ ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ

Trang 34

y tế tốt và thậm chí không biết cách chăm sóc sức khỏe bản thân và con cái

Họ đôi khi cũng tự thu mình, tự kỳ thị chính bản thân mình và điều đó làm giảm cơ hội tiếp xúc với bên ngoài của chính họ và con cái họ

1.3.4 HIV và sự mồ côi cha mẹ

Trong đại dịch HIV, nhiều thanh niên đã qua đời để lại cho gia đình và

xã hội là những em bé mồ côi cha hoặc mẹ hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ Nhiều

em từ nhỏ đã không được sống trong vòng tay thương yêu của cha mẹ Một số

ít em được họ hàng như ông bà, cô dì chú bác cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ Những em này với mặc cảm mồ côi cha mẹ đã phải sống một cuộc sống thui thủi, thu mình và ít giao tiếp với thế giới bên ngoài Một số khác được ông bà nuôi nấng Tuy nhiên ông bà của các em thường đã già và khả năng dạy dỗ cũng như chăm sóc các em cũng có nhiều phần hạn chế Hơn nữa, nỗi lo canh cánh về việc ông bà rồi một ngày gần nhất cũng “về với tiên tổ” để lại cho em nỗi lo lớn về sự “mồ côi lần thứ 2 trong cuộc đời” Cũng có em được đưa vào các trại trẻ mồ côi, hoặc một số được cho đi làm con nuôi trong các gia đình khác Như vậy HIV đã làm tan vỡ bao gia đình và làm ly tán nhiều em nhỏ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần của các em

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi (lứa tuổi nhi đồng)

Sự phát triển tâm lý của trẻ em là sự lĩnh hội những tinh hoa văn hóa xã hội của loài người dưới sự hướng dẫn của người lớn thông qua hoạt động của bản thân, làm cho tâm lý của trẻ được hình thành và phát triển Người lớn đóng vai trò trung gian cho sự phát triển của trẻ và sự phát triển đó thể hiện qua 2 hình thái: phát triển sinh lý và phát triển tâm lý xã hội [38, Trg.10] Sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ diễn ra đầy biến động, cực kỳ nhanh chóng và

là một quá trình liên tục ngay từ khi mới sinh ra, nó phát triển cùng với sự phát triển sinh lý Chính hoạt động của trẻ dưới sự tác động và hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lý của trẻ hình thành và phát triển

Trang 35

Ở lứa tuổi nhi đồng, tốc độ phát triển thể chất diễn ra chậm hơn so với lứa tuổi trước Quá trình phát triển êm ả, đồng đều, theo xu hướng hoàn thiện

về giải phẫu và chức năng cơ thể, để chuẩn bị bước sang giai đoạn thứ hai với

sự nhảy vọt, là tuổi dậy thì Sự cải tổ lại hoạt động và tương tác xã hội là đặc trưng nổi bật trong quá trình phát triển tâm lý lứa tuổi nhi đồng Ở lứa tuổi này, hoạt động chủ đạo chuyển từ trò chơi sang học tập; từ sự tương tác với cha mẹ là chủ yếu sang tương tác xã hội (với thầy cô giáo và bạn bè) Học tập

và tương tác xã hội là tác nhân quan trọng nhất chi phối sự phát triển tâm lý lứa tuổi nhi đồng Ở lứa tuổi này, sự phát triển lòng vị tha và hung tính là hai mặt trong sự hình thành và phát triển xúc cảm – tình cảm của học sinh tiểu học

Sự phát triển các đặc trưng tâm lý này gắn liền với nhận thức các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó hình thành các hành vi đạo đức đúng đắn của trẻ em

1.4.1 Sự phát triển về thể chất

Tuổi nhi đồng được xác định từ 6 đến 11 tuổi, tương ứng với thời kỳ học tiểu học ở nước ta Trong thời kỳ này, não bộ của trẻ tăng không đáng kể Về cấu tạo, tới 8 tuổi, các tế bào thần kinh ở vỏ bán cầu đại não không khác với

tế bào thần kinh của người lớn

Về phát triển cơ thể, hệ xương tiếp tục phát triển và chưa cốt hóa hoàn toàn, còn nhiều mô sụn Vì vậy, xương của trẻ nhi đồng rất dẻo, tạo ra nhiều khả năng cho trẻ trong các lĩnh vực thể thao Đồng thời cũng dễ dẫn đến các hậu quả tiêu cực về sức khỏe học đường: cong vẹo cột sống, cận thị….Cơ bắp

và dây chằng cơ bắp được tăng cường Các cơ lớn phát triển hơn cơ nhỏ, nên trẻ có nhiều khả năng thực hiện các vận động tương đối mạnh Các cơ tim phát triển mạnh và được cung cấp máu đầy đủ, giúp trẻ có thể chịu được các hoạt động với cường độ tương đối lớn và thời gian tương đối dài

1.4.2 Đặc điểm hoạt động và giao tiếp của tuổi nhi đồng

Trang 36

Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với 100% trẻ em trong độ tuổi này nên bước ngoặt lớn nhất của trẻ em giai đoạn này là thay đổi hoạt động chủ đạo, từ vui chơi sang hoạt động học tập [7]

Sự khác nhau giữa hoạt động vui chơi và hoạt động học tập đã tạo ra khoảng cách khá lớn giữa cấu trúc tâm lý hiện có của trẻ mẫu giáo với yêu cầu khách quan của môi trường hoạt động khi các em vào lớp 1 Điều này đặt

ra cho trẻ em đầu tuổi tiểu học phải từng bước cải tổ lại các cấu trúc tâm lý đã

có để thích ứng với hoạt động và quan hệ mới

Bên cạnh hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo thì hoạt động vui chơi vẫn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của trẻ em Các hoạt động xã hội và hoạt động tập thể cũng góp phần thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sáng tạo của trẻ em Đồng thời chúng cũng là phương tiện hữu ích để hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lý xã hội của trẻ như ý thức trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, lòng vị tha…

Giao tiếp cũng đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lý của trẻ em Giao tiếp ở lứa tuổi nhi đồng không chỉ được mở rộng hơn

về trường giao tiếp (như phạm vi không gian, thời gian, đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp) mà còn khác về chất so với giao tiếp của tuổi mẫu giáo

1.4.3 Sự phát triển nhận thức và trí tuệ

Bước sang tuổi đầu tiểu học, trẻ đã nhận ra người khác có thể có suy nghĩ, thái độ và hành động khác với mình, do nhận được các thông tin khác nhau Khi lên 8 – 10 tuổi, trẻ nhận ra rằng người khác có thể có nhận thức, thái độ và ứng xử khác với mình, mặc dù cùng từ một thông tin Do đó đã có thể dự đoán được hành vi ứng xử của người khác trong hoàn cảnh cụ thể Trẻ

10 – 12 tuổi có thể đồng thời nhận biết suy nghĩ và ứng xử của mình và người khác [7]

Tác nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển nhận thức người khác của lứa

Trang 37

thông qua tương tác với người khác Sở dĩ trẻ có thể dựa vào cấu trúc tâm lý tương đối ổn định để đánh giá người khác là nhờ đã phát triển các thao tác trí tuệ cụ thể, đặc biệt là do trẻ đã có khả năng bảo toàn (phát hiện ra cái tương đối ổn định, ít biến đổi qua cái dễ biến đổi) Mặt khác, thông qua tương tác xã hội, như qua các trò chơi, các hoạt động cùng nhau trong học tập và sinh hoạt cộng đồng giữa các bạn cùng lứa, trẻ dần dần tăng hiểu biết của mình về sự khác biệt quan điểm, tính cách giữa bản thân và người khác

1.4.4 Sự phát triển của xúc cảm - ý chí

Ở học sinh nhỏ tính tự kiềm chế và tính tự giác được tăng cường bộc lộ ở

sự ổn định của những trạng thái xúc cảm Các em biết điều khiển tâm trạng của mình, thậm chí còn biết che dấu tâm trạng khi cần thiết Nhìn chung học sinh nhỏ cân bằng hơn tuổi mẫu giáo và thiếu niên Tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài là biểu hiện vốn có ở học sinh nhỏ Đó là những điều kiện thuận lợi để giáo dục những chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết

1.4.5 Sự phát triển nhân cách

Sự phát triển nhân cách của học sinh nhỏ chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập Việc tổ chức những giờ học chính khóa theo hệ thống nhất định, theo một yêu cầu đòi hỏi nghiêm túc buộc trẻ phải tập dần với việc tự điều khiển mình tuân theo những điều "cần phải" chứ không phải theo ý muốn chủ quan Quan hệ giữa giáo viên - học sinh là nét đặc thù trong nhân cách của học sinh nhỏ Sau vài ba tuần lễ đi học, hầu hết học sinh nhỏ đã xác lập được mối quan hệ với giáo viên và các bạn cùng tuổi Chúng đã bắt đầu xem xét hành vi của các bạn ngồi cùng một bàn, tiếp xúc với các bạn khác trong lớp mà nó có thiện cảm hoặc có sự giống nhau về hứng thú Nét đặc trưng của những mối quan hệ qua lại giữa các học sinh nhỏ

là chúng thường dựa vào sự giống nhau về hoàn cảnh sống bên ngoài hay những hứng thú ngẫu nhiên Chẳng hạn, do chúng ngồi cùng bàn, cùng thích

Trang 38

một kiểu váy, do cùng sống trong một khu tập thể Lúc đầu sự đánh giá của bạn bè đối với trẻ chưa thật có ý nghĩa, nhưng vào cuối tuổi học sinh nhỏ (10

- 11 tuổi) những tấm gương, những lời đánh giá của bạn bè bắt đầu có ý nghĩa lớn trong việc nhìn nhận, đánh giá bản thân [7] Đó là cơ sở quan trọng của tính tự đánh giá, nó cho phép phân tích một cách hợp lý khách quan những phán đoán và hành vi của trẻ - một phẩm chất nhân cách quan trọng

Tóm lại: Hoạt động, giao tiếp thông qua học tập và vui chơi là cơ sở giúp hình thành và phát triển nhân cách, nhận thức, trí tuệ cũng như cảm xúc và ý trí Thông qua hoạt động học tập và vui chơi, giao tiếp một cách lành mạnh, tràn đầy tình yêu thương của cha mẹ, nhà trường, cộng đồng sẽ giúp các em hình thành nhân cách, nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, ý chí lành mạnh Điều này

là cơ sở để các em có được sức khỏe tinh thần khỏe mạnh

Trang 39

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu

2.1.1 Kế hoạch nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ thực hiện độc lập tại 1 quận và 1 huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội Thiết kế nghiên cứu ở mỗi địa phương (quận/huyện) gồm 2 cấu phần nhằm thu thập thông tin về những vấn đề về sức khỏe tinh thần của trẻ

em có cha mẹ nhiễm HIV và những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của trẻ em Kế hoạch nghiên cứu được đề xuất theo các bước như sau :

Kế hoạch triển khai chi tiết như sau :

- Nghiên cứu lý luận(từ tháng 5/2012đến12/2012):Hệ thống hóa cơ sở lý

luận cho đề tài, bao gồm các khái niệm về sức khỏe tinh thần, tổng quan các vấn đề nghiên cứu về sức dịch tễ học sức khỏe tinh thần, yếu tố nguy cơ từ HIV/AIDS ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của trẻ em

- Thiết kế công cụ và lập kế hoạch chi tiết nghiên cứu: (từ tháng 1/2013 đến tháng 3/2013): Lựa chọn và thiết kế công cụ nghiên cứu Các công cụ

nghiên cứu được lựa chọn dựa trên độ tin cậy của từng công cụ và tính đơn

Trang 40

giản khi sử dụng tại cộng đồng, đặc biệt là với cộng đồng có trình độ dân trí không cao Bên cạnh đó một công cụ điều tra hộ gia đình cũng được thiết kế dựa trên những yếu tố nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của trẻ

em có cha mẹ có HIV/AIDS cũng được thiết kế nhằm thu thập thông tin và tìm hiểu về ảnh hưởng của HIV/AIDS đến sức khỏe tinh thần của trẻ em có cha mẹ nhiễm HIV/AIDS

- Điều tra thử và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: (tháng 4/2013): Bộ công

cụ được đưa đi điều tra thử nhằm xác định độ đơn giản, dễ hiểu của ngôn từ được sử dụng trong bảng hỏi Sau khi tiến hành điều tra thử, bảng hỏi được điều chỉnh lại sao cho dễ hiểu, ngôn từ gần gũi với người dân trong cộng đồng

- Lựa chọn khách thể nghiên cứu (tháng 5/2013): Lựa chọn địa bàn

nghiên cứu trong thành phố Hà Nội Liên lạc với các địa phương để xây dựng mạng lưới nghiên cứu, lựa chọn mẫu, chuẩn bị các giấy tờ hành chính cần thiết, liên lạc với từng khách thể nghiên cứu để xin sự chấp thuận trảlời phỏng vấn của họ.v.v

- Thu thập dữ liệu (tháng 6/2013- 7/2013): Trong giai đoạn này, dữ liệu

sẽ được thu thập từ các khách thể nghiên cứu Số liệu được thu thập sẽ được làm sạnh bước đầu ngay trong ngày thu thập số liệu

- Nhập dữ liệu và làm sạch dữ liệu (tháng 7/2013): các số liệu thu về

được làm sạch, 06 phiếu bị thiếu thông tin được gọi điện lại để bổ xung thông tin cho đầy đủ trước khi được nhập vào phần mềm Epi data phiên bản 3.02 Tại phần mềm Epi data, chúng tôi rà soát số liệu một lần nữa trước khi đi vào

xử lý, phân tích số liệu trên phần mềm STATA

- Viết báo cáo luận văn (8/2013 – 11/2013): Viết và hoàn thiện luận văn

Tiểu kết:

Nghiên cứu đã được thực hiện theo một quy trình có tổ chức chặt chẽ, từ khâu nghiên cứu lý luận để xác lập cơ sở lý thuyết xây dựng giả thuyết nghiên

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w