Trên thế giới cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vận dụng những phương pháp luận chủ yếu của triết học và các khoa học đặc biệt khác vào việc xây dựng giáo trình Sinh học như: “C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG THI ̣ THU HÀ
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DA ̣Y HỌC SINH HỌC 12
(SÁCH GIÁO KHOA BAN CƠ BẢN)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bô ̣ môn Sinh ho ̣c )
Mã số : 601410
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG THI ̣ THU HÀ
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DA ̣Y HỌC SINH HỌC 12
(SÁCH GIÁO KHOA BAN CƠ BẢN)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bô ̣ môn Sinh học)
Mã số : 601410
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Lập
Trang 3Xin cảm ơn sự cộng tác của Ban Giám hiệu và các thầy cô trong tổ Hóa Sinh trường THPT Chương Mỹ A, THPT Thanh Oai B, THPT Lê Thánh Tông, THPT Đống Đa, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn này, đặc biệt trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Tác giả luận văn
Dương Thị Thu Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN
ĐHSPHN : Đại học Sƣ phạm Hà Nội ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐC : Đối chứng
ĐV : Thực nghiệm
GV : Giáo viên HTH : Hệ thống hóa HTHKT : Hệ thống hóa kiến thức
HS : Học sinh NXB : Nhà xuất bản
TN : Thực nghiệm TĐC : Trao đổi chất THPT : Trung học phổ thông
SV : Sinh vật SGK : Sách giáo khoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
1.1 Xuất phát từ tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT……… 1
1.2 Xuất phát từ hạn chế của lối ghi chép không sử dụng HTHKT…… 2
1.3 Xuất phát từ hiệu quả của việc rèn kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong dạy học……… 3
1.4 Xuất phát từ đặc điểm chương trình Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)….4 2 Lịch sử nghiên cứu 6
2.1 Tình hình nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong quá trình dạy học trên thế giới 6
2.2 Tình hình nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong quá trình dạy học ở Việt Nam 7
3 Mục tiêu nghiên cứu……… 9
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
5 Giả thuyết nghiên cứu……….10
6 Nhiệm vụ nghiên cứu ……….10
7 Phương pháp nghiên cứu……….11
8 Đóng góp mới của đề tài……….14
9 Cấu trúc của luận văn……… 14
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……….15
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài……….15
1.1.1 Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức……….15
1.1.1.1 Kĩ năng……… 15
1.1.1.2 Hệ thống hóa kiến thức……… 15
1.1.2 Phân loại một số cách hệ HTHKT trong quá trình dạy học………… 17
Trang 61.1.2.1 Phân loại theo kí hiệu sơ đồ……… 17
1.1.2.2 Phân loại theo nội dung……… 17
1.1.2.3 Phân loại theo các khâu của quá trình dạy học……… 18
1.1.2.4 Phân loại theo mục tiêu dạy học……….18
1.1.2.5 Phân loại theo mức độ hoàn thiện kiến thức……… 18
1.1.3 Xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức……….18
1.1.3.1 Quy trình chung……… 18
1.1.3.2 Giải thích các bước……….18
1.1.4 Vai trò của kĩ năng hệ thống hóa kiến thức……… 19
1.1.4.1 Đối với giáo viên………19
1.1.4.2 Đối với học sinh……….20
1.2 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng HTHKT trong dạy học Sinh học 12… 21
1.2.1 Đặc điểm chương trình Sinh học 12……… 21
1.2.1.1 Nhiệm vụ của của chương trình Sinh học 12……….21
1.2.1.2 Nội dung chương trình Sinh học lớp 12……….23
1.2.2 Thực trạng của việc rèn luyện luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy và học Sinh học 12……… 25
1.2.2.1 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng HTHKT trong quá trình dạy học Sinh học 12 của giáo viên……….25
1.2.2.2 Thực trạng của việc hệ thống hóa kiến thức trong quá trình học Sinh học 12 của học sinh……….29
1.2.3 Nguyên nhân của thực trạng rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy và học Sinh học 12……… 31
1.2.3.1 Từ phía giáo viên………31
1.2.3.2 Từ phía học sinh……….32
1.2.3.3 Từ phía chương trình môn học……… 32
Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12……….33
Trang 72.1 Hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo việc rèn luyện kĩ năng HTHKT trong
quá trình dạy học Sinh học 12 ………33
2.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học 33
2.1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận……… 33
2.1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng……….33
2.1.4 Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học………33
2.1.5 Đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, phù hợp………34
2.1.6 Đảm bảo nâng dần mức độ từ dễ đến khó 34
2.2 Biện pháp rèn luyện kĩ năng HTHKT trong dạy học Sinh học 12…… 34
2.2.1 Yêu cầu, nhiệm vụ hoạt động học tập của học sinh……… 35
2.2.2 Rèn luyện kĩ năng xác định nội dung kiến thức cần được HTHKT… 39
2.2.2.1 Rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích SGK, tài liệu tham khảo…………39
2.2.2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh) 42
2.2.2.3 Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích tranh ảnh, hỡnh vẽ, video… 46
2.2.2.4 Biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích các bảng biểu, sơ đồ logic cho sẵn 50
2.2.3 Xác định mối liên hệ giữa các nội dung kiến thức………52
2.3 Bản đồ tư duy……… 58
2.3.1 Khái niệm về bản đồ tư duy……… 58
2.3.2 Lập sơ đồ tư duy………59
2.3.3 Vai trò của BĐTD trong DH sáng tạo……… 61
2.4 Sử dụng các biện pháp HTHKT trong dạy học Sinh học 12………… 61
Trang 82.4.1 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng HTHKT để tổ chức các
tập………63
2.4.2 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng HTHKT trong nghiên cứu tài liệu mới………64
2.4.3 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng HTHKT trong khâu củng cố, hoàn thiện và nâng cao kiến thức cho HS……… 67
2.4.4 Sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng HTHKT để tổ chức hoạt động tự học ở nhà cho HS……… 69
2.6 Một số ví dụ về vận dụng quy trình HTHKT trong dạy học Sinh học 12 71
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 98
3.1 Mục đích thực nghiệm……… 98
3.2 Nội dung thực nghiệm……… 98
3.3 Phương pháp thực nghiệm………98
3.3.1 Chọn trường thực nghiệm……… 98
3.3.2 Chọn HS thực nghiệm……… 98
3.3.3 Chọn GV dạy thực nghiệm………98
3.3.4 Phương án thực nghiệm……….98
3.3.5 Bố trí thực nghiệm 99
3.3.5.1 Thực nghiệm dạy học 99
3.3.5.2 Thực nghiệm đánhh giá hiệu quả của tiết học thông qua kiểm tra đánh giá 99
3.4 Kết quả thực nghiệm……….99
3.4.1 Đánh giá định tính……….99
3.4.2 Đánh giá định lượng………100
3.4.2.1 Phân tích kết quả trong TN………101
Trang 93.4.2.2 Phân tích kết quả sau thực nghiệm……… 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….109
1 Kết luận……….109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 112
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Ngày nay, sự xuất hiện nền kinh tế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức
đã đưa xã hội loài người sang tới những kỉ nguyên mới Do đó, đặt ra yêu cầu cấp bách với hệ thống giáo dục là phải đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục sao cho đáp ứng được sự thay đổi của của xã hội và chuyển dịch mô hình theo trục đo lường là chất lượng con người với chứ không phải
là bằng cấp
Sự cần thiết phải đổi mới trong hệ thống giáo dục này được thể hiện rõ trong “chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010”, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định: “Sau 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng còn những yếu, bất cập Một trong những điểm còn kém của nền giáo dục Việt Nam đó là chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa.” [1]
Trước yêu cầu đó, một trong những giải pháp được đề xuất của chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 là “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học; tự thu nhận thông tin một cách hệ
Trang 10thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh” [1]
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định phải: “Đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học”
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cấp thiết mang tính thời sự đối với sự nghiệp giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2 Xuất phát từ hạn chế của lối ghi chép không sử dụng HTHKT
Phương pháp ghi chú chủ động hoặc thụ động không sử dụng có rất nhiều bất lợi thể hiện ở:
Lãng phí thời gian vì khi ghi chép, nó buộc người học phải dành nhiều
thời gian để ghi thông tin, trong đó có những ghi chú không cần thiết và bản thân người học khi đọc lại cũng tốn nhiều thời gian để truy tìm từ khóa
Khó nhớ nội dung vì ghi chú bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán
thị giác, khiến cho não khước từ và bỏ quên chúng đi Hơn nữa, lối ghi chú thông thường thường là hàng dãy liệt kê bất tận và không có gì khác biệt so với SGK Sự buồn tẻ đưa não vào trạng thái bị thôi miên, nửa mê nửa tỉnh chẳng nhớ nội dung gì
Các từ khóa bị chìm khuất: Từ khóa truyền tải các ý tưởng quan trọng
thường là danh từ hay động từ giúp ta hồi ức những chùm tia ý tưởng liên kết mỗi khi đọc hay nghe thấy nó Theo lối ghi chú truyền thống, những từ khóa thường trải ra trên nhiều dòng, nhiều trang giấy và bị chìm khuất trong một rừng chữ không quan trọng Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các khái niệm trọng tâm
Kích thích não không sáng tạo: Bản chất của lối trình bày tuần tự trong
ghi chú làm hạn chế khả năng tư duy của học sinh, cản trở não tìm các mối liên kết giữa các sự kiện, chống lại hoạt động sáng tạo và kí ức Nhất là khi
Trang 11đối diện với bản ghi chú theo lối liệt kê, não liên tục có cảm giác mong muốn tìm tới phần kết của thông tin
Nếu sự ghi chú thụ động diễn ra thường xuyên sẽ gây một số hậu quả đối với bộ não của học sinh:
- Mất khả năng tập trung, điều này hoàn toàn dễ hiểu vì não sẽ nổi loạn khi nó bị lạm dụng quá mức
-Tạo thành thói quen tốn thời gian vì phải ghi chú lại những cái đã có trong SGK để tìm hiểu điều cốt lõi cần học
- Mất tự tin vào trí năng và bản thân
- Đánh mất sự ham mê học hỏi và không khai thác được những tiềm năng của bản thân
Trang 12- Khi ghi chép thông tin dưới dạng HTHKT tiết kiệm được 50 - 95 % thời gian học tập
- Khi đọc thông tin và ôn bài mà bài này được lưu dưới dạng HTHKT tiết kiệm được hơn 90% thời gian học tập
- Tăng cường tập trung vào trọng tâm
- Dễ dàng nhận biết thông tin chính của bài học
- Cải thiện được sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung vào những từ khóa thiết yếu
- Tạo mối liên kết mạch lạc tối ưu giữa các vấn đề cần học
- Khi ghi chú thông tin dưới dạng HTHKT nhất là dùng sơ đồ tư duy sẽ tránh cho học sinh cảm giác đơn điệu, tẻ nhạt, thay vào đó não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ những sơ đồ, bảng biểu kích thích thị giác, đa dạng hơn
- Khi lập sơ đồ tư duy hoặc lập bảng biểu, sơ đồ cây sẽ kích thích học sinh khát khao hoàn thiện thông tin, lôi cuốn được học sinh vào bài học.[9]
Như vậy, trong dạy học, HTHKT có vai trò rất quan trọng, giúp người học hình dung tri thức trong mối quan hệ biện chứng với các tri thức khác trong cùng 1 chủ đề hoặc một nội dung nào đó Việc HTHKT đòi hỏi người học phải có kĩ năng khái quát hóa đồng thời phải có trình độ hiểu biết nhất định về kiến thức đó Như vậy, dùng HTHKT không những giúp người học
ôn tập mà còn có thể kiểm tra trình độ, thói quen tư duy của người học khi yêu cầu học tự HTHKT trong phạm vi một kiến thức nào đó
1.4 Xuất phát từ đặc điểm chương trình Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)
Khi phân tích chương trình Sinh học bậc THPT cho thấy, kiến thức sinh học trong chương trình THPT được trình bày theo các cấp tổ chức sống,
từ các hệ nhỏ đến các hệ trung lên các hệ lớn: Tế bào cơ thể quần thể quần xã hệ sinh thái Như vậy, chương trình Sinh học bậc THPT là dựa trên lí thuyết về các cấp độ tổ chức của sự sống, xem giới hữu cơ như những
hệ thống có cấu trúc, gồm những thành phần tương tác với nhau và với môi
Trang 13trường, tạo nên khả năng tự thân vận động, phát triển của hệ thống Mỗi hệ lớn gồm những hệ nhỏ, mỗi hệ nhỏ lại gồm những hệ nhỏ hơn Giữa các hệ nhỏ với nhau, giữa các hệ nhỏ với hệ lớn, cũng như giữa các hệ lớn với môi trường đều có những mối quan hệ tương tác phức tạp tạo nên những đặc trưng của mỗi cấp độ tổ chức sống
Chương trình Sinh học 12 là lớp cuối cấp, chủ yếu đề cập đến cấp độ
cơ thể trở lên SGK lại chỉ viết được thành bài, phân chia theo tiết học, không
có sự tổng kết khái quát hóa Vì vậy, để hiểu và vận dụng kiến thức giải quyết được những vấn đề cụ thể trong chương trình học cũng như trong thực tiễn thì học sinh cần phải biết ghép nối, liên hệ giữa các kiến thức, tư duy lôgic, suy luận Do vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần hình thành cho học sinh kĩ năng khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức
Xuất phát từ tầm quan trọng đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Rèn
luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong dạy học Sinh học
12 (SGK Ban Cơ bản)
Ý nghĩa lý luận của đề tài:
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong quá trình dạy học Xây dựng được quy trình, nguyên tắc và biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong dạy học Sinh học nói chung và Sinh học
12 nói riêng, đáp ứng mục tiêu đào tạo chung của giáo dục và việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên bậc THPT
Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy khối kiến thức về Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản) Những kết luận, kiến nghị có thể được tham
Trang 14khảo trong việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Sinh học nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu
Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kĩ thuật, mà đặc trưng có tính thời đại là khối lượng lớn thông tin khổng lồ ngày càng tăng, mức độ lý thuyết ngày càng cao Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển nhảy vọt ở cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI dẫn tới khoảng cách giữa phát minh khoa học và áp dụng vào thực tiễn ngày càng rút ngắn Do vậy, đòi hỏi có những con người có trình độ khoa học và công nghệ Điều này đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo cần có phương pháp đào tạo phù hợp
Vấn đề đổi mới PPDH là vấn đề bức xúc của giáo dục nước ta hiện nay Chất lượng giáo dục còn yếu do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chưa đổi mới cách dạy và cách học theo hướng rèn luyện các kĩ năng nghiên cứu lĩnh hội kiến thức cho học sinh là chủ yếu
Việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học nói chung và trong dạy học Sinh học nói riêng từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm
2.1 Tình hình nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong quá trình dạy học trên thế giới
Hệ thống hóa kiến thức có cơ sở khoa học là lý thuyết Graph Lý thuyết Graph được ra đời cách đây 200 năm trong quá trình giải các bài toán đố, cho đến những năm 30 của thế kỉ 20 lý thuyết Graph mới được xem như một ngành toán học riêng biệt và cho tới ngày nay Graph mang lại nhiều ứng dụng không riêng chỉ trong lĩnh vực toán học mà còn ứng dụng hiệu quả trong khoa học giáo dục Điều này thể hiện rõ nhất trong công trình nghiên cứu của Claude Berge (1985) đã viết cuốn “Lý thuyết Graph và những ứng dụng của nó” Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày những khái niệm và định lí toán
Trang 15học cơ bản của lý thuyết Graph, đặc biệt là những ứng dụng của lí thuyết Graph trong nhiều lĩnh vực [2]
Hệ thống hóa kiến thức còn được thể hiện bởi cấu trúc hệ thống Khái niệm hệ thống và quan điểm hệ thống đã được hình thành và nghiên cứu trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học Sự phát triển của tư tưởng hệ thống gắn liền với sự phát triển của thế giới triết học, phù hợp với sự tiến bộ của khoa học và thực tiễn xã hội
Năm 1940, L.V Bertalanffy đưa ra “lý thuyết chung của các hệ thống”,
để mô tả các hệ thống mở và các trạng thái cân bằng động Từ lĩnh vực sinh học các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển sang giải quyết những vấn
đề kĩ thuật và quản lí xã hội
Có nhiều công trình nghiên cứu về lí thuyết hệ thống như “General Systerm the Foundaitions, Development, Applications” [8] “Nguyên tắc thứ 5: tư duy hệ thống” [75] “Tư duy hệ thống trong lý luận và phương pháp luận của C.Mác” [19] “Tư duy hệ thống - quản lí hỗn độn và phức hợp” [34]
Trên thế giới cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vận dụng những phương pháp luận chủ yếu của triết học và các khoa học đặc biệt khác vào việc xây dựng giáo trình Sinh học như: “Cải cách bộ môn Sinh học trong trường sư phạm” [58], “Quan điểm hệ thống - cấu trúc vận dụng vào dạy học sinh học” [78] “Thuyết cấu trúc và vị trí của nó trong phương pháp luận hệ thống” [62]
Trong những năm gần đây, một trong những công cụ để hệ thống hóa kiến thức thường xuyên được đề cập tới đó là sử dụng bản đồ tư duy (Mind map) của tác giả Tony Buzan (1942 - London) Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường Đại học British Columbia năm 1964 Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới về não bộ Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới Tony Buzan
Trang 16được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head” Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mind Map Tony Buzan chuyển bản đồ tư duy đến Việt Nam một thông điệp: “Tôi muốn chia sẻ cùng các bạn bí quyết để tư duy nhanh chóng, linh hoạt, qua đó bạn có thể sáng tạo và đổi mới không ngừng trong công việc và cuộc sống” [62]
2.2 Tình hình nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trong quá trình dạy học ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lí thuyết và sử dụng Graph trong dạy học như: Trần Trọng Dương (1980) đã nghiên cứu đề tài “Áp dụng phương pháp Graph và algorit hóa để nghiên cứu cấu trúc và phương pháp giải, xây dựng hệ thống bài toán về lập công thức hóa học ở trường phổ thông” Tác giả đã áp dụng phương pháp Graph và algorit hóa vào việc phân loại các kiểu bài toán về lập công thức hóa học Phạm Tư (1983) nghiên cứu
đề tài “Dùng Graph nội dung của bài lên lớp để dạy và học chương Nitơ- Photpho ở lớp 11 trường phổ thông trung học”
“Dùng phương pháp Graph lập chương trình tối ưu để dạy môn Lịch sử” tác giả Nguyễnh Chính Trung (1987) đã nghiên cứu chuyển hóa Graph toán học vào lĩnh vực giảng dạy quân sự [73]
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị My (2000) “Ứng dụng lí thuyết Graph xây dựng và sử dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học sinh ở trường THPT” Tác giả đã đưa ra cách thức xây dựng và sử dụng sơ đồ trong dạy học Sinh học, đặc biệt là trong dạy học phần
Trang 17Cùng với lí thuyết Graph, lí thuyết hệ thống cũng được nhiều tác giả nghiên cứu như: “Phân tích hệ thống và ứng dụng” của tác giả Hoàng Tụy (1987) [63] Tác giả Trần Đình Long viết về “Lí thuyết hệ thống” [59] “Sự hình thành và phát triển lí thuyết hệ thống” của tác giả Nguyễn Văn Thanh (2000) [65] “Tiếp cận hệ thống trong môi trường và phát triển” tác giả Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn Hiếu (2007) [43] Lí thuyết hệ thống đã được vận dụng nhiều trong các lĩnh vực nghiên cứu Sinh học như: “Rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học chương II các quyền luật di truyền nhằm nâng cao hiệu quả dạy học sinh học 11” của tác giả Mai Liên Chi (2004)[15] “Rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh 12 THPT trong dạy học tiến hóa” của tác giả Nguyễn Xuân Hồng (2003) [44] Tác giả Dương Tiến Sỹ (2007) [72] “Quán triệt tư tưởng cấu - trúc hệ thống và tư tưởng tiến hóa trong dạy - học sinh học ở trường phổ thông” Tác giả Lê Hồng Điệp (2007), “Vận dụng quan điểm hệ thống trong thiết kế và dạy học bài ôn tập phần sinh học tế bào ở lớp 10 THPT” [18]
Sử dụng bản đồ tư duy trong rèn kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cũng được nhiều tác giả nghiên cứu và vận dụng như: Trần Đình Châu (2009), “Sử dụng bản đồ tư duy - một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn hóa”, tác giả nhận định “ bản đồ tư duy và biện pháp sử dụng bản đồ tư duy sẽ
hỗ trợ tích cực cho học sinh tự học (ghi chú, HTHKT, ghi nhớ, ôn tập…) [13] Chu Cẩm thơ (2009) đề cập vai trò của việc hệ thống hóa kiến thức
“Thước đo quan trọng về năng lực sáng tạo của mỗi con người trong nghiên cứu kiến thức, tri thức là tốc độ tư duy, khả năng chuyển hóa thông tinh thành kiến thức và tạo giá trị mới…Trong dạy học, HTHKT có vai trò rất quan trọng giúp học sinh hình dung chi thức trong mối quan hệ biện chứng” [72]
Nhìn chung, các nghiên cứu này tập trung xem xét các quy trình và biện pháp rèn kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học mà chưa đi sâu vào nghiên cứu việc rèn kĩ năng HTHKT cho học sinh trong dạy học sinh học
Trang 1812 Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa
kiến thức cho học sinh trong dạy học Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra quy trình và biện pháp rèn luyện kỹ năng HTHKT cho học sinh trong dạy học Sinh học 12 và sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Quy trình và biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)
* Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)
5 Giả thuyết nghiên cứu
Những quy trình và biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh mà đề tài đề xuất, sẽ giúp học sinh hình thành nên kỹ năng
hệ thống hóa kiến thức trong học Sinh học 12 nói riêng và trong quá trình học tập môn Sinh học nói chung
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn luyện kỹ năng HTHKT cho học sinh
- Nghiên cứu đặc điểm chương Sinh học 12; từ đó đưa ra những khó khăn trong dạy học Sinh học 12
- Điều tra thực trạng dạy và học Sinh học 12 ở một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội
- Xác định hệ thống các nguyên tắc cơ bản khi rèn kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong quá trình dạy học Sinh học 12
- Đề xuất quy trình và biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trong quá trình dạy học Sinh học 12
Trang 19- Thực nghiệm Sư phạm nhằm: Đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng quy trình và biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học Sinh học 12
7 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề “Rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa cho học sinh” để kế thừa những thành tựu mà các đồng nghiệp đã đạt được trong nghiên cứu
- Phân tích chương trình, nội dung kiến thức trong SGK Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)
* Phương pháp điều tra sư phạm
- Sử dụng phiếu điều tra giáo viên để tìm hiểu việc rèn luyện kỹ năng
hệ HTHKT cho học sinh, khả năng HTHKT của học sinh trong quá trình học môn Sinh học lớp 12 ở một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội
- Dự giờ và trao đổi trực tiếp với các giáo viên, tham khảo ý kiến của giáo viên dạy bộ môn Sinh học
* Phương pháp thực nghiệm sự phạm
Tiến hành thực nghiệm dạy học ở nhóm lớp TN và ĐC để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của các quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng HTHKT cho học sinh trong dạy học Sinh học 12
* Phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn
* Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của những chuyên gia có kinh nghiệm về phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học tiến
* Phương pháp thống kê toán học
- Về mặt định tính:
Phân tích chất lượng câu trả lời câu hỏi của HS để thấy rõ vai trò của việc sử dụng sơ đồ, bảng hệ thống hóa về mức độ hiểu bài, khả năng lập luận,
Trang 20giải thích các vấn đề cũng như khả năng tự hệ thống hóa của học sinh trong
quá trình tự học
- Về mặt định lượng:
Các số liệu thu được trong thực nghiệm sư phạm được xử lí bằng
phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần mềm Excel
Xử lí số liệu bằng các phương pháp thống kê toán học để đánh giá mặt
định lượng kết quả thu được Trình tự được tiến hành cụ thể như sau:
- Lập bảng thống kê cho cả 2 nhóm lớp TN và ĐC theo mẫu:
Lớp n Số HS (hay số bài kiểm tra) đạt điểm xi
Xi: Điểm số theo tháng điểm 10
ni: số học sinh (hay bài kiểm tra) có điểm số là xi
- Tính các tham số đặc trưng:
+ Điểm trung bình X : Lµ tham số xác định giá trị trung bình của
dãy số thống kê, được tính theo công thức:
Xi - Là các điểm trong thang điểm 10
ni - Là giá trị số HS đạt điểm tương ứng với Xi
Trang 21+ Độ lệch chuẩn (S): Khi có 2 giá trị trung bình nhƣ nhau nhƣng chƣa
đủ để kết luận 2 kết quả là giống nhau, mà còn phụ thuộc vào các giá trị của các đại lƣợng phân tán ít hay nhiều xung quanh 2 giá trị trung bình cộng, sự phân tán đó đƣợc mô tả bởi độ lệch chuẩn theo công thức:
%
X
Trong đó: V trong khoảng 0 – 10%: dao động nhỏ - độ tin cậy cao
V trong khoảng 10 – 30%: Dao động trung bình
V trong khoảng 30 – 100%: dao động lớn – độ tin cậy nhỏ
Trang 222 1
2 1
n n
X X
d td
Giá trị tới hạn của td là tra bảng phân phối Student với = 0,05, bậc tự
do f = n1 + n2 – 2 Nếu td (trị tuyệt đối) >t th× sù kh¸c nhau gi÷a 2 gi¸ trÞ trung b×nh X lµ cã ý nghÜa
Trong đó: X 1: Điểm số trung bình của lớp ĐC
X 2: Điểm số trung bình của lớp TN
S12 : Phương sai lớp ĐC
S12 : Phương sai lớp TN
8 Đóng góp mới của đề tài
Đề xuất được quy trình và các biện pháp cụ thể hình thành kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 12
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức
cho học sinh trong dạy học Sinh học 12 (SGK Ban Cơ bản)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 23Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Kỹ năng hệ thống hóa kiến thức
- Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã biết, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng
- Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, đối tượng cùng loại
- Xác lập mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng
1.1.1.2 Hệ thống hóa kiến thức
- Hệ thống: là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống, nó được
hình thành và phát triển trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hệ thống Theo L.V Bertalanffy, hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó Theo Miller, hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau Theo Hoàng Tụy, hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ
và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên hệ với nhau (hay tác động lẫn nhau) Theo Trần Đình Long,
Trang 24hệ thống là một tập hợp có tổ chức các phần tử với những mối liên hệ về cấu trúc và chức năng xác định nhằm thực hiện những mục tiêu cho trước
Tử điển tiếng Việt, hệ thống là tập hợp các yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc
cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất
Quan điểm triết học, hệ thống được hiểu là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể Trong quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở thành một chỉnh thể chọn vẹn và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, các yếu tố cấu trúc tạo nên những thuộc tính mới (các thuộc tính này không có khi các yêu tố cấu trúc đứng riêng lẻ) Tác động biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc tạo động lực cho sự vận động và phát triển của hệ thống
V.P Cuzơmin trong cuốn “Nguyên lý hệ thống trong lý luận và phương pháp luận của C.Mác”[1] đã nhận xét: dù cho khái niệm hệ thống được xác định theo nhiều cách khác nhau thì người ta vẫn thường hiểu rằng: hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể, có những thuộc tính và quy luật tích hợp
Hệ thống có thể được định nghĩa một cách khái quát như sau: Hệ thống là
tập hợp các phần tử có mối quan hệ (hoặc liên hệ) với nhau, tương tác với nhau
và với môi trường theo những quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể, làm xuất hiện những thuộc tính mới của hệ thống (những thuộc tính này không thể có
ở từng yếu tố riêng lẻ), đảm bảo thực hiện những chức năng nhất định
Trang 25Việc HTHKT phải dựa trên quan điểm tiếp cận hệ thống hay trình bày theo một logíc nhất định
Hoạt động tư duy hệ thống hóa được thực hiện trong quá trình học tập dưới hai hình thức:
+ Phân chia toàn thể các đối tượng riêng lẻ nào đó ra các nhóm hoặc các lớp nhất định
+ Xem tài liệu học tập vào các hệ thống nhất định nào đó
- Kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong học tập: Là khả năng vận dụng
thành thạo các thao tác tư duy để sắp xếp kiến thức đã học vào những trật tự
logic chặt chẽ khác nhau tùy theo mục đích cần hệ thống
1.1.2 Phân loại một số cách hệ HTHKT trong quá trình dạy học
HTHKT có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy theo tiêu chí phân loại: phân loại theo kí hiệu sơ đồ; phân loại theo nội dung; phân loại theo các khâu của quá trình dạy học; phân loại theo mục tiêu và phân loại theo mức độ hoàn thiện kiến thức
1.1.2.1 Phân loại theo kí hiệu sơ đồ
- Hình vẽ lược
- Hệ thống hóa theo nội dung
+ Mô hình hóa cấu trúc
1.1.2.2 Phân loại theo nội dung
1.1.2.3 Phân loại theo các khâu của quá trình dạy học
Trang 26- Nghiên cứu tài liệu mới
- Củng cố, khái quát kiến thức
- Kiểm tra đánh giá
1.1.2.4 Phân loại theo mục tiêu dạy học
- So sánh
- Khái quát hóa
- Hệ thống hóa
1.1.2.5 Phân loại theo mức độ hoàn thiện kiến thức
- Sơ đồ khuyết thiếu
Để HS thực hiện được những nhiệm vụ này, GV phải kết hợp các phương pháp sư phạm khác nhau tác động vào mọi giác quan của người học để tạo ra động cơ, nhu cầu học tập, nhu cầu muốn giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra thì việc rèn luyện kĩ năng HTHKT cho học sinh mới có hiệu quả
Bước 2: Phân tích, xác định nội dung kiến thức cần hệ thống hóa
Xác định
nhiệm vụ học
tập
Phân tích xác định nội dung kiến thức cần HTH
Xác định mối liên hệ giữa các kiến thức
Hoàn thiện sơ
đồ, bảng HTHKT
Trang 27Sau khi giáo viên hình thành cho HS động cơ, nhu cầu, nhiệm vụ học tập, GV tiếp tục định hướng cho HS xác định những kiến thức trọng tâm dựa trên những tiêu chí mà GV đưa ra Để thực hiện được bước này, GV cần hướng định hướng cho HS bằng các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn đọc sách giáo khoa, phân tích kiến thức SGK, tài liệu tham khảo, kênh hình hay các sơ đồ bảng biểu cho sẵn Từ những gợi ý này, HS sẽ xác định được những nội dung kiến thức trong tâm cần được hệ thống hóa
Bước 3: Xác định được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức
Xác định các cạnh, chiều của các cạnh đối với hệ thống hóa bằng sơ đồ hoặc xác định được các nhánh đối với hệ thống hóa bằng sơ đồ tư duy hay xác định cấu trúc của bảng HTHKT với các cột các hàng tên theo tiêu chí các cột các hàng Tùy theo chủ đề bảng, sơ đồ hệ thống hóa và nội dung đã xác định ở bước 2 mà xác định mối quan hệ và tính chất của mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức để bước đầu định hình sơ đồ bảng HTHKT
Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ, bảng hệ thống hóa kiến thức
Sau xác định được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức, HS phải trình bày được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức được cụ thể hóa bằng việc hoàn thiện các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh theo một trật tự logic xác định Học sinh hoàn thiện được 4 bước này theo sự hướng dẫn của GV tức là
GV đã hình thành cho học sinh năng lực HTHKT trong quá trình học tập
1.1.4 Vai trò của kĩ năng hệ thống hóa kiến thức
1.1.4.1 Đối với giáo viên
Thước đo quan trọng về năng lực sáng tạo của mỗi con người trong nền kiến thức là tốc độ tư duy là khả năng chuyển hóa thông tin thành kiến thức
và từ kiến thức tạo giá trị
Trong dạy học, HTHKT có vai trò rất quan trọng giúp người học hình dung tri thức trong mối quan hệ biện chứng và các tri thức khác trong cùng một chủ đề hoặc một nội dung nào đó Việc HTHKT đòi hỏi HS khả năng
Trang 28khái quát hóa đồng thời phải có trình độ hiểu biết nhất định về kiến thức đó Như vậy, dùng HTHKT không những giúp HS ôn tập mà còn có thể kiểm tra trình độ, thói quen tư duy của người học khi giáo viên yêu cầu họ tự HTHKT một phạm vi kiến thức nào đó
Kiến thức trong mỗi bài học có quan hệ locgic chặc chẽ với nhau Để đạt được mục tiêu kiến thức, giáo viên thường tổ chức một hay nhiều hoạt động khác nhau Điều này, có thể làm cho học sinh không thấy rõ được mối liên hệ giữa chúng Do đó, sau mỗi bài học giáo viên cần phải làm cho học sinh nhận biết rõ mối liên hệ này đó chính là sử dụng phương pháp HTHKT
Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học Hoạt động học sẽ có hiệu quả nếu người học có thể hình thành những mối liên hệ giữa các khái niệm, tư duy…Khi mối liên hệ giữa các đơn vị tri thức được hình thành thì người học càng có khả năng nhớ lâu và
dễ dàng tái hiện tri thức đó sử dụng khi cần thiết Như vậy, khi rèn luyện kỹ năng HTHKT là chỉ ra sự liên hệ giữa các nội dung kiến thức trong một bài nào đó với nhau theo một lược đồ nhất định nhằm cho học sinh ghi nhớ và tái hiện bài học tốt hơn
1.1.4.2 Đối với học sinh
Chương trình Sinh học bậc THPT được sắp xếp theo cấu trúc hệ thống
đó là các cập độ tổ chức của thế giới sống: Tế bào cơ thể quần thể quần xã hệ sinh thái Bản thân trong mỗi cấp độ, các đơn vị kiến thức lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong quá tình dạy học, việc hệ thống thóa sẽ
có tác dụng rèn luyện ở học sinh những phẩm chất trí tuệ sau đây:
- Rèn luyện kỹ năng đọc sách, tài liệu giáo khoa, phát triển năng lực nhận thức cho học sinh Muốn HTHKT được học sinh phải đọc kĩ nội dung SGK để chắt lọc, lựa chọn kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất, đồng thời phải thiết lập mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức Quá trình này đỏi hỏi học sinh phải vận dụng thành thạo các tư duy cơ bản như: So sánh, phân tích, tổng
Trang 29hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…Đây là quá trình gia công chuyển hóa tri thức sách vở thành tri thức bản thân Như vậy, HTHKT giúp học sinh sử dụng được các nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy logic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng nhằm phát triển năng lực nhận thức, hành động và sáng tạo
- Thông qua hệ thống hóa kiến thức học sinh biết cách đối chiếu so sánh
sự vật hiện tượng để tìm ra quy luật, mối liên hệ giữa các vấn đề có nghĩa là
GV đã rèn luyện cho học sinh khả năng khái quát hóa rút ra kết luận
- Sử dụng phương pháp hệ thống hóa kiến thức, tri thức mà học sinh lĩnh hội được không phải ở dạng cung cấp sẵn có mà trên cơ sở hoạt động với đối tượng vì thế tri thức phải chính xác phản ánh đúng bản chất, kĩ năng, kĩ xảo
- Hệ thống hóa kiến thức còn giúp học sinh vừa chiếm lĩnh kiến thức vừa nắm vững phương pháp tái tạo cho bản thân kiến thức đó, phát triển năng lực
tự học và thói quen tự học, sáng tạo, giúp học sinh có thể tự học suốt đời
1.2 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng hệ HTHKT trong dạy học Sinh học 12
1.2.1 Đặc điểm chương trình Sinh học 12
1.2.1.1 Nhiệm vụ của của chương trình Sinh học 12
- Về kiến thức
Tiếp nối chương trình Sinh học 10 và 11 nghiên cứu ở cấp độ: Tế bào
-cơ thể Chương trình Sinh học 12 nghiên cứu ở các các cấp độ cao hơn: Cơ thể - quần thể - quần xã - hệ sinh thái Chương trình Sinh học 12 có nhiệm vụ: + Cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, thực tiễn về di truyền, tiến hóa và sinh thái
+ Cung cấp những tri thức cơ bản về cơ sở vật chất và cơ chế di truyền của hiện tượng di truyền và biến dị, tính quy luật của hiện tượng di truyền, những ứng dụng của di truyền trong sản xuất và đời sống, về di truyền người + Nêu ra những bằng chứng, nguyên nhân và cơ chế tiến hóa về sự phát sinh, phát triển của sự sống trên Trái Đất
Trang 30+ Cung cấp và hình thành mối quan hệ giữa các cá thể và môi trường, quần thể, quần xã, hệ sinh thái – sinh quyển và sinh thái học với việc quản lí nguồn lợi tự nhiên
+ Cung cấp những biện pháp kĩ thuật ứng dụng để nâng cao năng suất vật nuôi, cây trồng và bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống
- Về kỹ năng
Chương trình Sinh học 12 giúp rèn cho học học sinh các kĩ năng:
+ Kĩ năng thực hành: Qua các bài thực hành tiếp tục phát triển cho học sinh kĩ năng quan sát, thí nghiệm Học sinh có thể làm được các tiêu bản hiển
vi, sử dụng kính lúp để quan sát, đồng thời giúp học sinh có thể tự thiết kế một số thí nghiệm đơn giản để tìm hiểu nguyên nhân của một số hiện tượng quá trình Sinh học
+ Kĩ năng tư duy: Phát triển kĩ năng tư duy thực nghiệm - quy nạp, chú trọng phát triển tư duy lí luận (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa…đặc biệt là kĩ năng nhận dạng, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và trong thực tiễn đời sống)
+ Kĩ năng học tập: Tiếp tục phát triển kỹ năng học tập, đặc biệt là tự học: thu thập, xử lí thông tin, lập bảng, biểu, sơ đồ, đồ thị, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, làm báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp
- Về thái độ
+ Củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận
thức bản chất và tính quy luật của các hiện tượng Sinh học
+ Giúp học sinh có ý thức vận dụng vào các tri thức, kĩ năng học được vào cuộc sống, lao động, học tập
- Xây dựng ý thức tự giác và thói quen bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống, có thái độ và hành vi đúng đắn với chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS bài trừ ma túy và các tệ nạn xã hội
Trang 311.2.1.2 Nội dung chương trình Sinh học lớp 12
Các kiến thức Sinh học trong chương trình THPT được trình bày theo các cấp độ tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: Tế bào cơ thể quần thể quần xã hệ sinh thái sinh quyển Chương trình sinh học 12
là lớp cuối cấp nên chủ yếu đề cấp đến cấp độ cơ thể trở lên
Sinh học 12 gồm 3 phần: Di truyền học, tiến hóa và sinh thái học Mặc
dù chia thành các phần nhưng chương trình sinh học 12 vẫn thể hiện theo cấu trúc hệ thống Mỗi bậc cấu trúc lại thể hiện đầy đủ những đặc tính của một cấp độ tổ chức sống Cụ thể:
- Phần năm: Di truyền học, gồm 3 chương:
Chương I: Cơ chế di truyền và biến dị Chương này cho ta thấy bản chất của cơ chế di truyền là cơ chế truyền đạt thông tin với các vấn đề: Gen, mã di truyền; mối quan hệ giữa 3 đại phân tử qua cơ chế tự nhân đôi, phiên mã, dịch
mã (Sinh tổng hợp prôtêin); cơ chế điều hòa hoạt động của gen và các loại đột biến: đột biến gen; hình thái, cấu trúc nhiễm sắc thể và 2 loại đột biến cấu trúc
và số lượng nhiễm sắc thể; đặc biệt ở chương này cũng đề cập đến bài tập và thực hành về cơ chế di truyền phân tử, đột biến số lượng nhiễm sắc thể
Chương II: Tính quy luật của hiện tượng di truyền Nhờ những kiến thức
ở chương I, nghiên cứu cơ sở vật chất và cơ chế di truyền và biến dị mà ở chương này, học sinh có cơ sở để hiểu cơ chế chi phối quy luật của hiện tượng di truyền và biến dị Từ sự nhân đôi ADN, dẫn tới sự nhân đôi NST, sự phân li và tổ hợp của các NST theo những cơ chế xác định mà sự di truyền diễn ra theo những quy luật có thể tiên đoán được Chương này đề cập đến tính quy luật của các hiện tượng di truyền với các vấn đề: Các quy luật di truyền Menđen; sự tác động của nhiều gen và tính đa hiệu của gen; di truyền liên kết hoàn toàn và di truyền liên kết không hoàn toàn (hoán vị gen); Di truyền liên kết với giới tính; Di truyền ngoài nhiễm sắc thể; ảnh hưởng của môi trường đến sự biểu hiện của gen; bài tập thực hành về lai giống
Trang 32Chương III: Di truyền học quần thể Các quy luật di truyền được thể hiện qua cấp độ quần thể với: cấu trúc di truyền của quần thể tự thụ phấn và quần thể giao phối gần (cận huyết); cấu trúc di truyền của quần thể ngẫu phối và trạng thái cân bằng của quần thể qua định luật Hacđi - Vanbéc
Chương IV: Ứng dụng di truyền học Nhờ những hiểu biết về quy luật di truyền trong quần thể mà ở chương này đề cập đến những phương pháp tại giống dựa trên nguồn biến dị tổ hợp, tạo nguồn đột biến nhờ công nghệ tế bào
và công nghệ gen
Chương V: Di truyền học người Khi nghiên cứu về di truyền một vấn đề không thể không nghiên cứu tới đó là di truyền y học và vấn đề bảo vệ vốn gen của loài người Chương này, không giới thiệu phương pháp nghiên cứu di truyền người đã có trong chương trình Sinh học 9 mà giới thiệu một số di truyền ở người, nguyên nhân và cơ chế gây bệnh di truyền ở người Việc giới thiệu về tư vấn di truyền và vấn đề chuẩn đoán trước sinh và những biện pháp giảm bớt gánh nặng di truyền bảo vệ vốn gen loài người
- Phần sáu: Tiến hóa, gồm 3 chương
Chương I: Bằng chứng và cơ chế tiến hóa Trong chương này, giới thiệu các bằng chứng và cơ chế tiến hóa gồm giải phẫu so sánh, phôi sinh học, địa lí sinh vật tế bào học và sinh học phân tử, các học thuyết tiến hóa của Lamác, thuyết tiến hóa của Đacuyn và học thuyết tiến hóa tổng hợp hiện đại Nội dung chính của chương trình bày chủ yếu về học thuyết tiến hóa tổng hợp với quần thể là đơn vị tiến hóa Tiến hóa được xem như một quá trình lịch sử làm thay đổi vốn gen của quần thể thay đổi tần số alen và thành phần kiểu gen Các nhân tố tiến hóa là những nhân tố làm thay đổi tần số alen và thành phần kiểu gen của quần thể
Chương II: Sự phát sinh và phát triển của sự sống trên trái đất Toàn bộ chương giới thiệu khái quát về quá trình hình thành sự sống trên Trái đất các giai đoạn tiến hóa hóa học, tiến hóa tiền sinh học và tiến hóa sinh học song
Trang 33hành cùng với sự biến đổi của Trái Đất qua các đại địa chất Ngoài ra, chương này cũng đề cập đến sự tiến hóa hình thành nên loài người hiện đại
- Phần bảy: Sinh thái học
Chương I: Cá thể và quần thể sinh vật Chương này đề cập đến các: Môi trường và các nhân tố sinh thái; giới thiệu về quần thể SV và mối quan hệ của các cá thể trong quần thể cũng như những đặc trưng của quần thể xét ở góc độ sinh thái học; giới thiệu về kích thước và sự tăng trưởng của quần thể sinh vật cùng các yếu tố gây biến động số lượng các thể của quần thể
Chương II: Quần xã sinh vật Chương này gồm 2 bài, giới thiệu khái niệm quần xã và một số đặc trưng cơ bản của quần xã; các mối quan hệ dinh dưỡng của các sinh vật trong quần xã; quá trình diễn thế sinh thái
Chương III: Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường Chương này
đề cập tới: Khái niệm về hệ sinh thái; chu trình sinh địa hóa; dòng năng lượng trong hệ sinh thái; sinh quyển; sinh thái học và việc quản lí nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, những biện pháp cụ thể, giáo dục và bảo vệ môi trường
1.2.2 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy và học Sinh học 12
Để có được cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng việc rèn luyện kĩ năng HTHKT trong dạy và học Sinh học 12 ở một số trường THPT Chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra với 40 giáo viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy ở một số trường THPT trên địa bàn TP Hà Nội, đồng thời tiến hành khảo sát và thống kê kết quả học tập của học sinh dựa trên kết quả học tập môn Sinh học của học sinh qua năm học 2009 - 2010 tại trường THPT Chương Mỹ A, THPT Thanh Oai
B, THPT Lê Thánh Tông, THPT Đống Đa, Hà Nội
1.2.2.1 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng HTHKT trong quá trình dạy học Sinh học 12 của giáo viên
Trang 34* Điều tra phương pháp giảng dạy của 40 giáo viên thuộc 4 trường
THPT kết quả thu được thể hiện ở bảng 1.1
TT
Tên phương pháp
Cách thức
Sử dụng thường xuyên Không sử dụng
Số người Tỉ lệ % Số người Tỉ lệ %
1 Thuyết trình 30 75 0 0
2 Giải thích minh họa 25 62.5 0 0
3 Hỏi đáp thống báo – tái hiện 20 50 0 0
Qua bảng 2 cho thấy:
Các phương pháp được sử dụng thường xuyên chủ yếu là: Thuyết trình, giải thích, minh họa, hỏi đáp thông báo tái hiện Các phương pháp ít được sử là: Biểu diên vật thật và vật tượng hình, dạy học nêu vấn đề Các phương pháp không được sử dụng là: Nghiên cứu tìm tòi, HTHKT, thực hành
Trang 35* Tình hình hướng dẫn sử dụng SGK của GV cho HS trong quá trình dạy học Sinh học 12
Kết quả thu được thể hiện ở bảng 1.2
Mục đích sử dụng
Cách thức
Sử dụng thường xuyên
Không sử dụng
Số người Tỉ lệ % Số người Tỉ lệ % Cho
Gia công trí tuệ
chuyển hóa nội dung
thành sơ đồ, bảng
HTHKT
Bảng 1.2: Kết quả điều tra tình hình giáo viên cho học sinh sử dụng SGK
Qua bảng 1.2 cho thấy:
- Ở trên lớp SGK chỉ được sử dụng để học sinh tự đọc những nội dung đơn giản mà không yêu cầu học sinh gia công xử lý nội dung như phân loại tài liệu, phân tích tư liệu, giải mã sơ đồ…
Trang 36- Qua dự giờ chúng tôi thấy rất nhiều học sinh không mang SGK, nhiều học sinh không tích cực, tự lực khi giáo viên yêu cầu tự đọc những kiến thức
dễ trong SGK để trả lời câu hỏi
* Sự hiểu biết về các biện pháp rèn luyện kĩ năng HTHKT và việc vận dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng HTHKT trong dạy học Sinh học
40 30 75 6 15 4 10 5 12.5 10 25 25 62.5
Bảng 1.3: Kết quả điều tra hiểu biết của GV về các biện pháp rèn luyện
kĩ năng HTHKT và sử dụng các biện pháp này trong dạy học Sinh học
Qua phân tích các phiếu điều tra cho thấy:
Phần lớn giáo viên chưa nắm rõ các biện pháp rèn luyện kĩ năng HTHKT cho học sinh trong quá trình dạy học Một số giáo viên có hiểu về biện pháp
hệ thống hóa kiến thức cho học sinh, tuy nhiên khi vận dụng vào quá trình dạy học lại chiếm tỉ lệ rất ít và chỉ được sử dụng để giải thích minh họa trong khâu nghiên cứu tài liệu mới hoặc dùng trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức Giáo viên đều cho rằng, việc sử dụng các biện pháp hệ thống hóa kiến thức trong khâu giảng bài mới là tốn rất nhiều thời gian và khó áp dụng trong một tiết lên lớp, có chăng chỉ áp dụng trong các tiết ôn tập và hướng dẫn học sinh tự làm bảng tổng kết ở nhà
Hơn nữa, khi điểm tra sự biểt về các biện pháp rèn luyện kĩ HTHKT cho học sinh thì nhận thấy: hầu hết giáo viên chỉ dừng lại việc HTHKT bằng
sơ đồ hoặc bảng biểu mà chưa biết sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng HTHKT bằng bản đồ tư duy, phối hợp các kênh hình trong HTHKT
Trang 371.2.2.2 Thực trạng của việc hệ thống hóa kiến thức trong quá trình học Sinh học 12 của học sinh
Chúng tôi tiến hành điều tra về khả năng HTHKT của học sinh trong quá trình học tập môn Sinh học 12 ở 200 học sinh trường THPT kết quả thu được như sau:
- Nghiên cứu trước bài học theo nội dung
hướng dẫn của giáo viên
- Tóm tắt nội dung kiến thức bài đã học
Trang 38- Hiểu sâu, có khả năng vận dụng sáng tạo
- Hiểu bản chất, thiết lập được mối quan hệ
giữa các kiến thức liên quan, trình bày
logic
- Tái hiện tất cả các kiến thức đã học, trình
bày không logic
- Tái hiện không đầy đủ, hiểu sai
- Thiết lập được mối quan hệ giữa các thành
phần kiến thức nhưng trình bày không logic
- Tái hiện đầy đủ các kiến thức đã học
nhưng không phân tích xác định được mối
quan hệ giữa các thành phần kiến thức
Bảng 1.4 Khả năng HTHKT của học sinh trong quá trình học tập môn Sinh học
Qua số liệu bảng 1.4 cho ta thấy:
- Phần đông HS chỉ coi bộ môn Sinh học là môn phụ, ít yêu thích môn học, còn một số ít lại không thích học môn Sinh học
- Số học sinh hiểu sâu kiến thức có phương pháp học tập chủ động sáng tạo chiếm tỉ lệ rất thấp, từ đó dẫn đến chất lượng lĩnh hội kiến thức, kết quả
bộ môn còn thấp
- Chưa thấy được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức để chắt lọc
và hệ thống hóa kiến thức
Qua dự giờ của một số giáo viên chúng tôi thấy rằng:
- Với những lớp tiết học GV tổ chức các hoạt động học tập của HS: Làm việc với SGK, quan sát tranh, thí nghiệm, bảng biểu, sơ đồ…thì HS rất hứng
Trang 39thú, tích cực sôi nổi, phát biểu ý kiến xây dựng bài Ngược lại, trong giờ học
GV sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng bài thì không khí học tập kém sôi nổi
- Ở những lớp GV sử dụng bảng biểu, sơ đồ hệ thống vào các khâu của quá trình lên lớp thì HS có khả năng vận dụng kiến thức tốt hơn học tập sôi nổi hơn
1.2.3 Nguyên nhân của thực trạng rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy và học Sinh học 12
1.2.3.1 Từ phía giáo viên
- Phương pháp giảng dạy: Do ảnh hưởng của lối dạy truyền thống nên không thể trong thời gian ngắn mà có thể thay đổi cách nghĩ, cách làm của tất
cả các GV PPDH phổ biến hiện nay vẫn là thầy đọc trò chép, thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, biểu diễn trực quan minh họa Cũng có những GV vận dụng các phương pháp tích cực nhưng chủ yếu là trong giờ thao giảng, các tiết dạy thi GV giỏi Trong mỗi tiết dạy chỉ tập trung để truyền tải hết kiến thức trong SGK mà không giúp học sinh biết cách sâu chuỗi các kiến thức để khắc sâu nội dung bài học, không khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy tính tích cực nhận thức của người học GV ít chú ý tới việc rèn luyện
kĩ năng HTHKT cho học sinh vì công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức khi phải liên hệ giữa các kiến thức trong một bài, nhiều bài hay trong cả chương trình Sinh học Số lượng GV dạy học theo phương pháp tích cực ít, mặc dù phần lớn xác định được rằng các phương pháp này thực sự lôi cuốn HS, giúp HS chủ động nắm vững kiến thức Đa số GV cho rằng năng lực nhận thức của HS còn thấp và không đồng đều nên vận dụng PPDH tích cực chỉ thích hợp với HS khá, giỏi ở các trường chuyên, các lớp chọn
Ngoài ra, do việc thi cử và kiểm tra, kể cả kỳ thi tốt nghiệm THPT và tuyển sinh vào đại học vẫn còn nặng về tái hiện kiến thức nên cách dạy phổ biến hiện nay vẫn chỉ chú ý đến việc cung cấp kiến thức cho HS Vì cách thi
Trang 40cử và kiểm tra như thế nào thì sẽ có cách dạy và học tương ứng Bên cạnh đó, còn có thể kể đến một bộ phận GV chưa tâm huyết với nghề, ý thức tích cực cải tiến PPDH còn mờ nhạt, không kích thích được tính tích cực và hứng thú của HS nên chất lượng dạy học không được cải thiện
1.2.3.2 Từ phía học sinh
Đa số HS vẫn coi môn Sinh học là môn phụ Do vậy, HS thiếu sự đầu tư thời gian và công sức vào học mà chỉ mang tính chất đối phó với các giờ kiểm tra của GV Hầu hết HS chưa đổi mới cách học, chỉ quen với cách học thuộc lòng nội dung cơ bản ghi chép được ở trên lớp và chưa chú ý đến việc phân tích, chứng minh và tìm hiểu bản chất các nội dung đó
Trong quá trình học, HS còn thụ động, chưa tích cực chủ động sáng tạo
để lĩnh hội kiến thức Học sinh chưa có thói quen tự làm việc với SGK để chủ động lĩnh hội tri thức mới, thậm chí nhiều HS không có SGK, sách tham khảo
1.2.3.3 Từ phía chương trình môn học
Chương trình Sinh học 12 mới có tính cập nhật, hiện đại, nội dung phong phú, hình ảnh sinh động nhưng có nhiều kiến thức mới và khó Trong khi vốn kiến thức sẵn có của GV chưa kịp đáp ứng với việc dạy học theo chương trình mới
Toàn bộ chương trình Sinh học bậc THPT được sắp xếp theo cấu trúc hệ thống, lớp 12 chủ yếu nghiên cứu cấp độ cơ thể và trên cơ thể Trong mỗi cấp
độ các kiến thức lại có mối liên hệ mật thiết, sâu chuỗi với nhau