1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận dụng tiếp cận hệ thống để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh thái học cấp độ trên cơ thể, Sinh học 12 trung học phổ thông : Luận văn ThS. Quản lý giáo dục: 60 14 10

121 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRƯƠNG VŨ THU HẰNG VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC CẤP ĐỘ TRÊN CƠ THỂ, SI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRƯƠNG VŨ THU HẰNG

VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC CẤP ĐỘ TRÊN CƠ THỂ, SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRƯƠNG VŨ THU HẰNG

VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC CẤP ĐỘ TRÊN CƠ THỂ, SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN SINH HỌC)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Quang Báo

Hà Nội - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô trong phòng đào tạo và các thầy cô giáo bộ môn, trường đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện, giảng dạy và đóng góp nhiều ý kiến, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Xin cảm ơn Cục Quản lý Khoa học công nghệ và môi trường – Bộ Công an đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Đinh Quang Báo đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng môn đã có những ý kiến góp ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn, ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Học viên

Trương Vũ Thu Hằng

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 5

1.1.1 Khái niệm về hệ thống 5

1.1.2 Tiếp cận hệ thống 8

1.1.3 Tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học 11

1.1.4 Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường 16

1.1.5 Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Sinh học 18

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19

1.2.1 Thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường ở trường THPT hiện nay 19

1.2.2 Thực trạng dạy học tiếp cận hệ thống ở trường THPT hiện nay 25

1.2.3 Thực trạng vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh thái học 26

1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng 28

Chương 2: VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC CẤP ĐỘ TRÊN CƠ THỂ, SINH HỌC 12 THPT 30

2.1 Chương trình Sinh học trung học phổ thông 30

2.1.1 Đặc điểm chương trình Sinh học trung học phổ thông 30

2.1.2 Phân tích nội dung Sinh thái học cấp độ trên cơ thể trong chương trình và sách giáo khoa Sinh học 12 trung học phổ thông 32

2.2 Quy trình thiết kế và tổ chức bài học Sinh thái học tích hợp giáo dục môi trường 41

2.2.1 Xác định mục tiêu 41

2.2.2 Xác định nội dung và mức độ tích hợp giáo dục môi trường 45

Trang 6

2.2.3 Xác định phương pháp dạy học để tổ chức hoạt động học tập 49

2.2.4 Xác định hình thức dạy học khi tích hợp giáodục môi trường 53

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55

3.1 Mục đích thực nghiệm 55

3.2 Nội dung thực nghiệm 55

3.3 Phương pháp thực nghiệm 55

3.3.1 Chọn trường thực nghiệm 55

3.3.2 Chọn học sinh thực nghiệm 56

3.3.3 Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 56

3.3.4 Phương án thực nghiệm 56

3.4 Kết quả thực nghiệm 56

3.4.1 Phân tích định lượng 56

3.4.2 Phân tích định tính 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 77

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh các điểm đặc trưng của hai cách tiếp cận phân

tích và tổng hợp

11

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát dành cho giáo viên về thực trạng giáo

dục môi trường ở trường THPT

20

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát dành cho học sinh về thực trạng giáo

dục môi trường ở trường THPT

23

Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng dạy học tiếp cận hệ thống ở

trường THPT

25

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát dành cho giáo viên về thực trạng vận

dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh thái học

26

Bảng 2.1 Mức độ tích hợp giáo dục môi trường trong chương trình

Sinh thái học cấp độ trên cơ thể, Sinh học 12 THPT

46

Bảng 2.3 Các khuynh hướng trong sự phát triển của quần xã 51 Bảng 2.4 So sánh các loại diễn thế sinh thái 52 Bảng 3.1 Thống kê điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 58 Bảng 3.2 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong thực nghiệm 59 Bảng 3.3 Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 2 trong thực nghiệm 60 Bảng 3.4 Kiểm định X điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm lần 1 62 Bảng 3.5 Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong thực

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển, kinh tế ngày càng đi lên thì môi trường càng ngày càng bị ảnh hưởng nặng nề Chỉ trong thời gian vài thập kỉ, nhân loại đã phá hủy môi trường sống của các loài SV và của chính con người một cách mạnh mẽ Những khu rừng rậm rạp ngày càng thu hẹp thay vào đó là đất trống đồi trọc Những nhà máy với những ống khói đen ngòm chiếm dần chỗ của những cánh đồng xanh mướt Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người: hạn hán, lũ lụt, sóng thần, động đất diễn ra ngày càng phức tạp Mực nước biển dâng cao, tầng ozon bị thủng đe dọa đời sống của con người trên khắp hành tinh Trước khi quá muộn, chúng ta phải có những biện pháp BVMT Một trong những biện pháp đó là giáo dục ý thức BVMT cho thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước Giáo dục BVMT cho

HS là việc làm có tác dụng rộng lớn, sâu sắc và bền vững Nó cung cấp cho

HS những kiến thức cơ bản về môi trường, tăng cường sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở HS ý thức thái độ và hành động đúng đắn để BVMT

Từ những năm cuối của thế kỉ 20, Sinh học phát triển ngày càng mạnh

mẽ, người ta nói thế kỉ 21 được xem là thế kỉ của công nghệ sinh học Khối lượng kiến thức sinh học ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng Để HS có thể tiếp thu được kiến thức ngày càng nhiều, đòi hỏi GV và HS phải có những cách tiếp cận kiến thức hiệu quả Một trong những cách tiếp cận đó là quan điểm cấu trúc hệ thống Tuy nhiên, việc giảng dạy và học tập môn Sinh học hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được năng lực tư duy hệ thống, chưa phát huy được khả năng sáng tạo của HS để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Quan điểm hệ thống đã được đưa vào trong giáo dục từ lâu, đặc biệt đã được quán triệt trong xây dựng chương trình và SGK THPT Tuy nhiên, nhiều

Trang 10

GV còn lúng túng trong vấn đề nhận thức logic của các hệ thống sống từ cấp

độ tế bào → cơ thể → QT → QX → HST Đặc biệt, phần STH lớp 12 theo chương trình mới có nhiều đổi mới cả về cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức, vì vậy, nhiều GV còn lúng túng trong cách soạn giáo án và dạy học Việc thiết kế và dạy học theo cách TCHT sẽ giúp GV khắc phục được các nhược điểm nêu trên, giúp HS rèn luyện và phát triển tư duy hệ thống

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài :Vận dụng tiếp cận

hệ thống để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong quá trình dạy học phần Sinh thái học cấp độ trên cơ thể chương trình Sinh học lớp 12 Trung học phổ thông

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng TCHT trong dạy học STH cấp độ trên cơ thể, Sinh học 12 THPT nhằm tích hợp giáo dục BVMT, phát triển năng lực nhận thức cho HS

và năng lực giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

3 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phần STH cấp độ trên cơ thể, Sinh học 12 THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng TCHT để tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học STH cấp độ trên cơ thể, Sinh học 12 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Bằng việc vận dụng TCHT có thể tích hợp giáo dục BVMT và góp phần nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong thực tiễn cho HS trong quá trình dạy học STH cấp độ trên cơ thể,

Sinh học 12 THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài: Nghiên cứu bản chất TCHT cấp độ

tổ chức sống, giáo dục BVMT, dạy học tích hợp, phương pháp, biện pháp dạy học phần STH cấp độ trên cơ thể - Sinh học 12 THPT

- Điều tra thực trạng dạy - học theo TCHT, giáo dục BVMT, việc tích

Trang 11

hợp giáo dục BVMT trong dạy học Sinh học và việc vận dụng TCHT để tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học STH – Sinh học 12 THPT

- Nghiên cứu nội dung chương trình STH – Sinh học 12 THPT từ đó đề xuất nội dung và các hướng tích hợp GDMT

- Vận dụng TCHT để tích hợp GDMT trong dạy học phần STH cấp độ trên cơ thể - Sinh học 12 THPT

- Tổ chức TN sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu và những biện pháp thu thập thông tin

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu tổng quan lý thuyết về hệ thống, TCHT hệ thống sống, giáo dục BVMT, dạy học tích hợp làm cơ sở để vận dụng TCHT tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học phần STH cấp độ trên cơ thể - Sinh học 12 THPT

Nghiên cứu, phân tích nội dung, chương trình SGK phần STH - Sinh học

12 THPT để xác định được những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà HS cần đạt được, khả năng tích hợp giáo dục BVMT

6.2 Phương pháp điều tra

- Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn GV, HS nhằm tìm hiểu nhận thức của GV về TCHT, giáo dục BVMT, tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học Sinh học và vận dụng TCHT để tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học Sinh học

6.3 Phương pháp TN sư phạm

- TN có ĐC

6.4 Phương pháp thống kê toán học

- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học để đánh giá các kết quả thu được với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Trang 12

Chương 2: Vận dụng tiếp cận hệ thống để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh thái học cấp độ trên cơ thể, Sinh học 12 trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

von Bertalanffy, nhà sinh vật học người Áo Theo ông “Hệ thống là một tổng

thể duy trì sự sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó” [33]

Còn theo Miler thì “hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối

quan hệ tương tác giữa chúng với nhau” [32] Như vậy Miler đã coi mối quan

hệ giữa các thành tố cấu tạo là một trong những thành phần của hệ thống

Trong cuốn “Phân tích hệ thống và ứng dụng”, Hoàng Tụy cho rằng

“Hệ thống là một tổng thể gồm nhiều yếu tố, bộ phận quan hệ và tương tác

với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp” [38 ] Định nghĩa

này đề cập đến cả mối quan hệ giữa các yếu tố với môi trường

Theo từ điển tiếng Việt thì “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị

cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất”.[31]

Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa về hệ thống nhưng chung quy

lại có thể hiểu: hệ thống là tập hợp các yếu tố có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn

nhau và với môi trường bên ngoài theo những quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể thống nhất với những đặc tính nổi trội, đặc trưng cho hệ thống

1.1.1.2 Chức năng của hệ thống

Một hệ thống là một tập hợp các thành tố tương tác với nhau Sự thay đổi một thành tố sẽ dẫn đến sự thay đổi một thành tố khác, từ đó dẫn đến thay đổi thành tố thứ ba Bất cứ một tương tác nào trong hệ thống cũng vừa có

Trang 14

tính nguyên nhân, vừa có tính điều khiển Rất nhiều tương tác có thể liên kết

với nhau thành chuỗi tương tác nguyên nhân - kết quả[22]

Một hệ thống thường có nhiều chức năng, trong đó có ít nhất một chức năng chính và nhiều chức năng phụ Các thành tố tạo nên hệ thống cũng có những chức năng riêng thuộc hai nhóm cơ bản:

- Chức năng kiểm soát (gây biến đổi thành tố khác)

- Chức năng bị kiểm soát (bị các thành tố khác gây biến đổi)

1.1.1.3 Tính chất của hệ thống

Hệ thống rất đa dạng về hình thức cấu trúc, qui mô và chức năng, song, chúng có những tính chất cơ bản sau:

- Tính tương tác: Những bộ phận - phân hệ hay phần tử của hệ thống

có tác động tương hỗ với nhau Nếu tác động vào một phân hệ, một phần tử làm cho nó biến động, thay đổi sẽ gây ra những biến đổi của những phần tử khác, phân hệ khác Những tác động đó là trực tiếp hay gián tiếp, lớn hay nhỏ phụ thuộc vào vai trò và chức năng của các phần tử và phân hệ

Do tính chất cơ bản của hệ thống các phần tử có quan hệ và có tác động qua lại lên bất kỳ một thay đổi nào về chất hay về lượng của một phần tử hoặc một phân hệ khác và toàn hệ thống Ngược lại, mọi sự thay đổi về lượng cũng như về chất của hệ thống cũng tác động đến các phân

hệ và các phần tử của hệ thống thông qua những mối quan hệ tương tác này mà hệ thống luôn có tính thống nhất, hoàn chỉnh Điều này có nghĩa

là phải coi hệ thống là một thực thể vận động Thay đổi trong những thành phần của hệ thống và những hoạt động của các phần tử trong hệ thống sẽ được xem xét từ quan điểm hoạt động bao quát của hệ thống

- Tính thống nhất của hệ thống với môi trường bên ngoài: Môi

trường ngoài là tất cả những gì bên ngoài hệ thống có tác động đến hệ thống

và cũng chịu những tác động ngược lại từ hệ thống Khi nghiên cứu phân tích một hệ thống không những phải chú ý đến tính chất thống nhất bên trong của

Trang 15

chúng, mà còn phải quan tâm thích đáng đến tính thống nhất và tác động qua lại của hệ thống với môi trường bên ngoài

- Tính ổn định: Hệ thống có tính ổn định tương đối Nói chung, các hệ

thống càng phức tạp, các hệ phản hồi càng đan xen thì các hệ thống càng bền vững và có khả năng chống lại sự biến đổi tốt hơn Theo đó, các hệ thống phức tạp thường có tính ổn định cao hơn

1.1.1.4 Phân loại hệ thống

Khi nghiên cứu hệ thống cần nghiên cứu toàn diện các phần tử của hệ thống trong mối quan hệ tương tác với nhau, nghiên cứu phân tích vị trí của mỗi phần tử trong hệ thống Do đó cần nghiên cứu về phân loại các kiểu cấu trúc, các kiểu hệ thống nhằm sử dụng một cách hiệu quả nhất Trên cơ sở phân tích nhiều thể loại tổng thể, phân tích các hình thức sắp xếp của các phần tử tạo thành tổng thể, phân tích các dạng tương tác của các phần tử có thể phân loại chúng thành nhiều dạng cơ bản như sau:

- Dạng cấu trúc phân loại: Đây là dạng cấu trúc gồm nhiều thành phần, trong đó thành phần nào bao gồm trong mình các thành phần khác thì nó chiếm vị trí cao hơn, thang bậc cao hơn trong hệ thống Cấu trúc này có hai hình thức sắp xếp: Sắp xếp dạng không gian (hình 1.1) và sắp xếp dạng cành cây (hình 1.2)

Trang 16

- Dạng cấu trúc quan hệ: Mỗi cấu trúc đều có các phần tử và các mối quan hệ giữa chúng Do đó khi nghiên cứu cần phải nghiên cứu đầy đủ các phần tử và các mối quan hệ giữa chúng, phải kết hợp phương pháp quy nạp, trừu tượng hoá, khái quát hoá nội dung nhằm tìm ra cấu trúc, các phần tử và các mối quan hệ qua lại giữa chúng, đủ làm cơ sở khái quát hệ thống

- Hệ thống kín và hệ thống mở: Theo L Bertalanffy: Hệ thống kín là hệ thống chỉ có quan hệ năng lượng với môi trường Đó là trạng thái cân bằng động hoặc cân bằng liên tục

Hệ thống mở là hệ thống có tiếp nhận các dòng vật chất, năng lượng và dòng thông tin từ môi trường, tự mình xử lí các dòng đó rồi lại chuyển tiếp trở lại môi trường Như thế, ở hệ thống mở luôn có quá trình chuyển hoá và đổi tiếp

1.1.2 Tiếp cận hệ thống

1.1.2.1 Khái niệm tiếp cận hệ thống

Tiếp cận được hiểu là cách tiến đến đối tượng, nghiên cứu đối tượng theo cách như thế nào

TCHT là xem xét một đối tượng nghiên cứu như là một hệ thống lớn bao gồm những hệ con Hệ con gồm những hệ nhỏ hơn, giữa các bộ phận trong một hệ con và giữa các hệ con với nhau cũng như giữa hệ lớn với môi trường cũng có mối tương tác xác định Nhờ mối tương tác này mà hệ thống

có những thuộc tính mới, những chất lượng mới vốn không có ở các bộ phận riêng lẻ, chưa từng có trước đó và không phải là số cộng các tính chất của các

bộ phận (nguyên lý tính trồi - Emergence) Đó là những chất lượng mới mang tính toàn vẹn hay tính tích hợp của hệ thống Toàn hệ thống là một chỉnh thể

có khả năng tự điều chỉnh tự thân vận động và phát triển không ngừng

TCHT trong học thuyết của Benalanffy là sự kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp Bertalanffy cho rằng tất cả các hệ thống được các nhà

vật lý nghiên cứu là hệ thống cô lập - hệ thống không có tương tác gì (trao đổi

VC&NL) với môi trường bên ngoài.[42]

Trang 17

Tuy nhiên, là một nhà sinh học, Bertalanffy biết rằng những giả thuyết như vậy là không thể áp dụng cho hầu hết các hiện tượng tự nhiên Tách rời khỏi môi trường xung quanh, SV sống sẽ nhanh chóng đi đến cái chết vì thiếu ôxy, nước và thức ăn Các cấp TCS là những hệ thống mở: chúng không thể tồn tại nếu thiếu sự trao đổi liên tục VC&NL với môi trường Điểm đặc trưng của hệ thống mở là sự tương tác với các hệ thống bên ngoài khác Sự tương tác này có hai thành phần: đầu vào - những gì từ bên ngoài đi vào hệ thống -

và đầu ra - những gì từ bên trong rời khỏi hệ thống ra môi trường Khi nói đến bên trong và bên ngoài của một hệ thống, chúng ta cần phân biệt được hệ thống và môi trường của nó Hệ thống và môi trường được phân biệt bởi một ranh giới được gọi là ranh giới của hệ thống

TCHT là phương pháp luận để nghiên cứu hệ sống trên cơ sở phân tích những dấu hiệu bản chất của hệ sống: hệ có tổ chức trong mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc – cấu trúc và cấu trúc - chức năng Hệ mở có khả năng tự điều chỉnh duy trì những hằng số sinh học ổn định tương đối, mang các đặc trưng cơ bản của sự sống và hệ luôn vận động để phát triển, được thể hiện trong mỗi cấp độ TCS

Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu đã phát biểu khái niệm TCHT một

cách ngắn gọn như sau: TCHT là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống,

thứ bậc và động lực của chúng, đó là một cách tiếp cận toàn diện và động.[22] 1.1.2.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Có hai hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu trong thực tế: tiếp cận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể, thực chất đây

là phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Sự thống nhất giữa hai phương pháp phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống đã sản sinh ra phương pháp TCHT

Tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp không những không đối lập nhau, hay loại trừ nhau mà còn bổ sung cho nhau Tiếp cận phân tích phân

Trang 18

chia hệ thống thành các thành tố cơ bản nhằm nghiên cứu các chi tiết và tìm hiểu các loại quan hệ tồn tại giữa chúng Thông qua việc biến đổi từng yếu tố, tiếp cận phân tích tìm ra các quy luật chung cho phép người phân tích dự đoán các tính chất của hệ thống trong các điều kiện khác nhau Để có thể dự đoán thì cần phải tìm ra được các quy luật về sự tổ hợp của các thuộc tính cơ bản Khi đó các quy luật thống kê có thể được áp dụng, cho phép nhà phân tích hiểu được hành vi của một tập hợp đơn giản [22]

Quy luật về sự tổ hợp các thuộc tính cơ bản không áp dụng được với các hệ thống có tính phức tạp cao, cấu thành bởi các thành tố đa dạng liên kết với nhau thông qua các tương tác mạnh mẽ Các hệ thống đó phải được tiếp cận bằng các phương pháp mới trong TCHT Mục đích của các phương

pháp mới nhằm nghiên cứu hệ thống dựa trên tính tổng thể, phức tạp và luôn

vận động của hệ thống Thông qua mô phỏng hệ thống, nhà nghiên cứu có

thể quan sát các tác động của các loại hình tương tác khác nhau giữa các thành tố của hệ thống trong một khoảng thời gian Nghiên cứu về hành vi theo thời gian giúp xác định các quy luật để thay đổi hệ thống hoặc thiết kế các hệ thống

Cách tiếp cận tổng hợp về cơ bản khác với cách tiếp cận phân tích bộ phận Phân tích đối tượng tập trung vào việc tách bạch từng phần của đối tượng được nghiên cứu Ngược lại tiếp cận tổng hợp tập trung vào cách đối tượng được nghiên cứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống chứa

nó Điều này có nghĩa là thay vì cô lập những phần ngày càng nhỏ hơn của hệ thống được nghiên cứu thì tiếp cận tổng hợp làm việc bằng cách mở rộng góc nhìn, tính tới sự tương tác giữa các thành phần và môi trường Chính sự tương tác này làm nảy sinh những kết luận đáng chú ý so với những kết luận do phân tích thành phần mang lại

Trang 19

Bảng 1.1 So sánh các điểm đặc trưng của hai cách tiếp cận phân tích

và tổng hợp [22]

Tiếp cận phân tích Tiếp cận hệ thống

Cô lập, tập trung vào từng thành tố Hợp nhất và tập trung vào tương tác

giữa các thành tố Nghiên cứu bản chất của tương tác Nghiên cứu các tác động của tương tác Nhấn mạnh vào tính chính xác của

chi tiết

Nhấn mạnh vào nhận thức chung

Thay đổi từng yếu tố Thay đổi đồng thời một nhóm các yếu

tố Không phụ thuộc vào thời gian; các

hiện tượng được xem như có thể đảo

ngược

Hợp nhất với thời gian và không thể đảo ngược

Xác nhận sự kiện thông qua các thí

nghiệm kiểm chứng trong phạm vi

một học thuyết

Xác nhận sự kiện thông qua so sánh hành vi của mô hình vẫn thực tế khách quan

Là cách tiếp cận hiệu quả nếu các

tương tác tuyến tính và yếu Là cách tiếp cận hiệu quả nếu các tương tác không tuyến tính và mạnh Dẫn tới giáo dục chuyên ngành hẹp

(đơn ngành)

Dẫn tới giáo dục đa ngành

Dẫn tới hành động được lập trình chi

tiết

Dẫn tới hành động được xác định thông qua các mục tiêu

Sở hữu các chi tiết ít xác định mục

tiêu

Sở hữu các kiến thức về mục tiêu, các chi tiết không thể hiện rõ ràng

1.1.3 Tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học

1.1.3.1 Tính hệ thống của sinh giới

Tính hệ thống của sinh giới được trình bày lần đầu tiên trong tác phẩm “Lí thuyết hệ thống sống của James Grier Miler Theo Miler, một “hệ thống sống” phải chứa 20 hệ thống con quan trọng, từ các tế bào đơn giản đến các SV, các quốc gia và xã hội Ông đã xây dựng một lí thuyết chung của hệ thống sống bằng cách tạp trung cụ thể vào các hệ thống không ngẫu nhiên tích lũy năng lượng vật chất trong không gian – thời gian, tổ chức thành các tương tác, hệ thống con hoặc các thành phần liên quan đến nhau Hơn 10 năm sau, ông lại bổ sung cho

Trang 20

quan niệm ban đầu về sinh giới Ông cho rằng: Hệ thống sống được cấu tạo theo các cấp độ nhỏ đến lớn theo phương thức lồng nhau, tức là mỗi cấp độ cao hơn

có các cấp độ thấp hơn Tám cấp độ lồng nhau bao gồm: tế bào, cơ quan, SV, nhóm, tổ chức, cộng đồng, xã hội và hệ thống siêu quốc gia.[44]

Về sau, những nghiên cứu về tính hệ thống của sinh giới càng được phát triển và hoàn thiện

Hiện nay, có nhiều quan điểm phân chia hệ thống sinh giới nhưng đều tuân theo những nguyên tắc nhất định

Hệ thống sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc gồm nhiều cấp TCS từ nhỏ đến lớn TCS cấp dưới làm nền tảng để xây dựng nên TCS cấp trên Người ta chia hệ thống sống thành những cấp độ cơ bản bao gồm: phân tử-tế bào -> Cơ thể -> QT - loài -> QX -> HST – SQ Đan xen giữa các cấp tổ chức cơ bản là những cấp tổ chức trung gian Các cấp tổ chức cơ bản tồn tại như một đơn vị sống, biểu hiện các đặc tính sống Các cấp tổ chức trung gian không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cấp tổ chức chính, các đặc trưng sống chỉ biểu hiện khi tồn tại trong tế bào

Một cấp tổ chức vừa được cấu thành từ cấp tổ chức thấp hơn vừa là thành phần cấu tạo nên tổ chức cấp cao hơn Ví dụ, cơ thể được cấu thành từ các tế bào nhưng đồng thời cũng là đơn vị cấu thành nên QT Cấp tổ chức cao hơn không những có các đặc điểm của các cấp tổ chức thấp hơn cấu thành mà còn có những đặc tính nổi trội mà cấp tổ chức thấp hơn không có Đặc tính này được hình thành do sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành nên cấp tổ chức đó

Mỗi cấp TCS từ tế bào, cơ thể, QT, QX đến hệ SQ đều là các hệ thống

mở và tự điều chỉnh Hệ thống mở có nghĩa là chúng luôn luôn có sự tương tác với môi trường, cụ thể là luôn trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với môi trường Các hệ thống sống chỉ có thể tồn tại khi có sự liên hệ thường xuyên với các hệ vô cơ và hữu cơ bao quanh nó Khả năng tự điều chỉnh của các cấp TCS là khả năng phản ứng lại các tác nhân bất lợi làm cho tổ chức đó

Trang 21

trở lại trạng thái cân bằng Bất kì hệ thống sống nào cũng có khả năng tự điều chỉnh để tạo ra trạng thái cân bằng tương đối trong môi trường xác định vào những thời điểm nhất định gọi là sự cân bằng động Các đặc trưng của một hệ thống sống được duy trì nhờ quá trình tự điều chỉnh về thành phần cấu trúc,

về tốc độ trao đổi chất và năng lượng với môi trường trong quá trình phát triển và tiến hoá Ví dụ: Ở cơ thể động vật, cơ chế duy trì cân bằng nội môi có

sự tham gia phối hợp của thể dịch và hệ thần kinh, hệ tuần hoàn; các cơ quan: gan, thận Nhờ đó, áp suất thẩm thấu, độ pH trong cơ thể luôn ổn định đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động chức năng của cơ thể

Trong mỗi cấp TCS đều thể hiện mối liên quan mật thiết giữa cấu trúc

và chức năng, giữa TCS với môi trường Thông qua mối quan hệ tương hỗ với môi trường phức tạp, đa dạng mà các hệ thống khác nhau biểu hiện những đặc điểm riêng biệt về cấu trúc, phương thức trao đổi chất và năng lượng, trao đổi thông tin trong quá trình phát triển và tiến hoá Các đặc trưng của hệ thống sống được chương trình hoá trong vật chất di truyền Nhờ đó nó được duy trì qua các thế hệ nhờ đặc tính sinh sản

1.1.3.2 Vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học

Quán triệt quan điểm hệ thống trong nghiên cứu và dạy học Sinh học chính là sử dụng phương pháp tiếp cận cấu trúc - hệ thống

Tiếp cận (approach) là cách đến gần một đối tượng để nghiên cứu đối tượng theo cách như thế nào, là hệ phương pháp để nghiên cứu một đối tượng

Cấu trúc là những mối liên hệ bền vững bên trong của một sự vật, quy định đặc tính của sự vật đó Trong khái niệm cấu trúc cái toàn thể nổi lên so với bộ phận

Tiếp cận cấu trúc - hệ thống là việc nghiên cứu khách thể với tư cách là một hệ thống bằng một hệ thống phương pháp Hệ thống phương pháp này có bản chất là sự thống nhất giữa hai phương pháp phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống một cách khoa học, phù hợp với quy luật tự nhiên

Trang 22

Phương pháp phân tích cấu trúc là thao tác tư duy đi từ cái toàn thể đến cái bộ phận thông qua xác định thành phần và cấu tạo của hệ thống Cách tiếp cận này giúp ta nghiên cứu sâu hơn, chi tiết hơn các thông số và đặc tính của

hệ thống

Phương pháp tổng hợp hệ thống là thao tác tư duy đi từ cái bộ phận đến cái toàn thể thông qua việc xác định cấu trúc và hệ thống Phương pháp này xem xét đối tượng trong hệ thống như một hệ toàn vẹn, thông qua giải quyết những mâu thuẫn bên trong, do sự tương tác hợp quy luật giữa các thành phần trong hệ thống từ đó tìm ra bản chất toàn vẹn của hệ thống

Phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống luôn gắn liền với nhau đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Điều này

có nghĩa là trong một hệ thống các yếu tố luôn được xem xét trong một chỉnh thể thống nhất, thống nhất giữa các yếu tố trong hệ thống, thống nhất giữa các yếu tố của hệ thống với môi trường (hình 1.3)

Phân tích cấu trúc giúp ta đi sâu vào nghiên cứu các bộ phận của chỉnh thể còn tổng hợp hệ thống lại chỉ ra phương hướng cho sự phân tích tiếp theo, giống như người đi rừng nếu chỉ mải mê với từng cây trong rừng mà không chú ý tới việc xác định lại phương hướng thì bị lạc lối hoặc dù không lạc lối cũng sẽ khó bao quát hết được cả khu rừng

Cách TCHT không chỉ là tổng hợp và phân tích thuần tuý mà còn là phân tích sâu Nếu như phân tích thuần tuý (phân tích bộ phận) chỉ tập trung

Môi trường

Hình 1.3 Mối quan hệ giữa hệ thống và môi trường

Trang 23

vào việc tách bạch từng phần của đối tượng được nghiên cứu thì TCHT tập trung vào cách đối tượng được nghiên cứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống có chứa nó Phân tích thuần tuý bị hạn chế là thấy cây mà không thấy rừng, tổng hợp thuần tuý thì bị hạn chế là thấy rừng mà quên cây Chỉ có tiếp cận cấu trúc - hệ thống mới khắc phục được những hạn chế của hai phương pháp trên đồng thời còn khắc phục được sự tương tác giữa cấu trúc và chức năng của hệ thống Vì muốn hiểu được chức năng phải hiểu được sự tương tác giữa các bộ phận cấu trúc, mặt khác qua sự tương tác bộ phận đó mỗi bộ phận cấu trúc sẽ bộc lộ chức năng của nó Sự tương tác giữa các bộ phận trong hệ thống sẽ tạo cho hệ thống những thuộc tính nổi trội vốn không

- Cấu trúc: Cấu trúc của hệ chính là tổ chức bên trong bao gồm các bộ phận và cách thức tương tác giữa chúng Sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã sinh ra động lực tự thân vận động, phát triển của hệ thống Khi nói đến cấu trúc là nói đến các bộ phận có quan hệ với nhau tạo nên một hệ thống

Trang 24

- Cấu tạo: Là nói tới những bộ phận có quan hệ với nhau tạo nên một toàn thể về mặt không gian

- Toàn thể: Các bộ phận của hệ kết hợp và tương tác với nhau làm phát sinh những thuộc tính mới không có ở bộ phận thành phần của hệ Mức độ toàn vẹn của một cấp độ TCS cao bao giờ cũng cao hơn so với mức toàn vẹn của một cấp độ TCS thấp hơn Sự tồn tại, phát triển của mỗi hệ thống được vận động điều hoà bởi sự phân huỷ và kiến tạo của các hệ cấu thành của cấp

độ thấp hơn

1.1.4 Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường

Thuật ngữ “môi trường” (environment) đã có từ lâu và khái niệm môi trường được hình thành, phát triển theo sự phát triển của nền kinh tế, văn hoá,

xã hội của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau Có rất nhiều định nghĩa về môi trường nhưng ta có thể hiểu một cách khái quát:

Môi trường là một hệ thống bao gồm tất cả các nhân tố vô sinh (nhiệt độ, đất, nước, ánh sáng, không khí ); và các nhân tố hữu sinh (thực vật, động vật, vi sinh vật) có tác động tương hỗ với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người Mặt khác môi trường là nơi sinh sống và chịu tác động các hoạt động của con người

Môi trường có tác động rất lớn tới sự tồn tại, phát triển của các SV nói chung và của con người nói riêng Tuy nhiên, môi trường đang ngày càng biến đổi theo hướng suy thoái do sự thiếu ý thức của con người Những biến đổi của môi trường quay trở lại tác động tới con người và các loài SV Vì vậy, việc cần thiết hiện nay là giáo dục ý thức BVMT cho mọi người

BVMT, theo GS.Đinh Quang Báo thực chất là việc duy trì sự phát triển

tự nhiên những QX, HST, SQ Khái niệm BVMT được hiểu là một hệ thống tri thức khoa học và những biện pháp thực tiễn nhằm sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, là việc BVMT tự nhiên khỏi bị ô nhiễm và bảo vệ các đối tượng quý hiếm đặc hữu của thiên nhiên BVMT là việc làm giàu thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và việc cải tạo môi trường hiện nay.[6]

Trang 25

BVMT thực chất là hoạt động của con người được biểu hiện ở hai mặt: con người vừa khai thác, sử dụng HST, vừa duy trì tính ổn định bền vững của chúng Như vậy, tri thức BVMT phải được xây dựng trên cơ sở sự hiểu biết các quy luật tự nhiên để thực hiện đồng thời hai dạng hoạt động trên, sao cho những tác động của con người phải phù hợp với các quy luật tồn tại và phát triển của HST tự nhiên

Một số định nghĩa về GDMT:

Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá thế giới (UNESCO) (Belgrade, Nam tư, 1975): “Mục tiêu của GDMT là phát triển một thế giới mà mọi người nhận thức và quan tâm về môi trường cũng như các vấn đề liên quan và có kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm và cam kết hành động cá nhân hay tập thể hướng đến các giải pháp cho các vấn đề hiện tại và ngăn chặn các vấn đề mới phát sinh”.[41]

Báo cáo kết luận, hội nghị liên Chính phủ về GDMT (Tbilisi, USSR, 1977): “GDMT nhằm tiếp tục làm cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng hiểu tính phức tạp của môi trường tự nhiên và xã hội trong sự tác động lẫn nhau giữa các phương diện vật lý, sinh học, xã hội, kinh tế và văn hoá; thu được kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thực hành để tham gia với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả, nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường trong việc quản

lý nâng cao chất lượng môi trường”.[41]

Theo IUCN (International Union for Conservation of Nature – Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên): “GDMT là quá trình nhận biết và làm sáng

tỏ các giá trị, các khái niệm nhằm làm hình thành và phát triển kĩ năng và thái

độ cần thiết để thấu hiểu và trân trọng mối quan hệ hữu cơ giữa con người, văn hóa loài người và môi trường xung quanh GDMT bao gồm cả việc thực hành ra quyết định và tự hình thành hành vi ứng xử đối với các vấn đề môi trường”.[41]

Tất cả các quan niệm thông thường về khái niệm GDMT có thể tóm tắt trên một số điểm sau đây:

Trang 26

* GDMT nhằm hiểu biết mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và vai trò của con người trong đó

* GDMT là quá trình học hỏi liên tục phát triển theo kinh nghiệm của chúng ta trong quá trình trải nghiệm cuộc sống

* Mục tiêu cuối cùng đạt được qua học hỏi, trải nghiệm là thay đổi hành vi của nhân loại

* Nỗ lực giáo dục của chúng ta cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống bền vững và thân thiện với môi trường

1.1.5 Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Sinh học

Tích hợp được hiểu là sự hợp nhất hay sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất giữa các thành phần của đối tượng, nó không phải là một phép cộng mang tính cơ học những thuộc tính của các thành phần ấy Như vậy, tích hợp có hai thuộc tính cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Tính liên kết tạo nên một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần Tính toàn vẹn thể hiện ở mối quan hệ hữu cơ dựa trên sự thống nhất nội tại của các thành phần liên kết ấy Sẽ không thể gọi là tích hợp nếu các thành phần đó chỉ là sự sắp đặt bên cạnh nhau mà không có mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần đó

Tích hợp (Integration): Là mối quan hệ hữu cơ, có hệ thống giữa kiến thức môn học này với kiến thức môn học khác thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ giữa lí thuyết

và thực tiễn được đề cập trong nội dung các môn học đó

Từ khái niệm trên, ta có thể nhận thấy đặc trưng của dạy - học tích hợp các môn học, đó là:

- Một cách tiếp cận tổ chức HS sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp và ngôn ngữ từ nhiều môn khác nhau để nghiên cứu một chủ đề, giải quyết vấn đề nhận thức trong thực tiễn, qua đó chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành năng lực tư duy, năng lực vận dụng tri thức

Trang 27

- Nhận ra đặc trưng của mỗi môn học cũng như mối quan hệ giữa các môn học với nhau

- Hướng tới:

 Cung cấp nhiều hơn cách dạy tích cực và kinh nghiệm học tập

 Cung cấp nhiều hơn kinh nghiệm của cuộc sống thực và luôn mở

 Cung cấp nhiều cơ hội chia sẻ trong sự tương tác, hợp tác giữa những

HS có vốn sống và kinh nghiệm khác nhau

 Làm cho kiến thức trở nên có ý nghĩa

Sinh học là một môn học giúp HS có những hiểu biết khoa học về thế giới sống, kể cả con người trong mối quan hệ với môi trường, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, vì vậy môn sinh học trong trường phổ thông có khả năng tích hợp rất nhiều nội dung trong dạy học, trong đó việc tích hợp giáo dục BVMT là một vấn đề quan trọng trong hoạt động dạy học

Tích hợp GDMT trong dạy, học Sinh học đang là một xu hướng GDMT mang lại hiệu quả tốt vì Sinh học cung cấp những kiến thức cơ bản và tương đối đầy đủ về môi trường Từ đó dễ dàng cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản cũng như hình thành được ý thức BVMT cho HS

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường ở trường THPT hiện nay

Để tìm hiểu thực trạng GDMT ở trường THPT hiện nay chúng tôi tiến hành khảo sát GV và HS tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và

- Phương pháp: phỏng vấn, điều tra trực tiếp, trao đổi và khảo sát giáo

án, bài soạn của GV

Trang 28

- Nội dung khảo sát:

B Gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng tới

đời sống của SV và con người

C Bao gồm tất cả các nhân tố xung quanh SV có tác

động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự tồn tại, sinh trưởng,

2 Phải bảo vệ môi trường sống vì:

A Môi trường sống tác động tới sự tồn tại và phát triển

của SV, con người

B Môi trường càng ngày càng suy thoái

C Môi trường biến đổi gây ảnh hưởng xấu tới con người

A Giáo dục cho con người ý thức bảo vệ môi trường

B Giáo dục cho con người có những kiến thức về môi

Trang 29

6 Môn Sinh học có nhiều lợi thế để tích hợp giáo dục

C Dễ liên hệ để giáo dục thái độ ứng xử của HS với môi

trường xung quanh

Trang 30

- Hầu hết các thầy cô đều hiểu khái niệm môi trường (73 %), nhưng chỉ một phần nhỏ các thầy cô hiểu đúng và đủ (27 %) Đa số các thầy cô hiểu đúng là những thầy cô giảng dạy bộ môn Sinh học Các thầy cô cũng nắm được tầm quan trọng của việc GDMT trong trường phổ thông hiện nay nhưng không phải thầy cô nào cũng đưa được nội dung GDMT vào trong tiết dạy của mình Có 32% các thầy cô thường xuyên, 59 % có đưa vào nhưng không thường xuyên và có 9 % thầy cô không đưa GDMT vào nội dung bài dạy

- Công tác GDMT chủ yếu được một số thầy cô tích hợp trong bài học

có kiến thức liên quan, một số trường tổ chức hoạt động ngoại khóa nhưng không thường xuyên

- Với các thầy cô tích hợp nội dung GDMT trong bài dạy của mình thì hầu hết những nội dung đó được lấy từ SGK, sách GV (65 %), rất ít thầy cô

bỏ thời gian tìm hiểu thêm thông tin trên các phương tiện thông tin và internet Những thầy cô đầu tư thời gian, công sức tìm kiếm các nội dung trên nhiều kênh thông tin chủ yếu phục vụ cho công việc GDMT như một hoạt động ngoại khóa, mà hoạt động này diễn ra với tần suất rất thấp thường 1 năm/ lần hoặc 1 kì/lần Do đó, nhiều thông tin đã lỗi thời và không phù hợp với thực tế

- Phần lớn các thầy cô cho rằng việc tích hợp GDMT phù hợp những môn học liên quan nhiều đến vấn đề môi trường như: sinh học, địa lí, hóa học

và liên quan đến vấn đề giáo dục ý thức như giáo dục công dân, còn lại các môn học như toán, lịch sử, văn, ngoại ngữ thì rất khó và không phù hợp Đặc biệt hầu hết các thầy cô giảng dạy môn toán chưa bao giờ GDMT trong giờ học của mình

- Các thầy cô tích hợp GDMT vào bài dạy của mình cũng chưa nắm rõ

có những hình thức tích hợp nào (chiếm 82 %), các thầy cô sử dụng hình thức liên hệ là chủ yếu và cho rằng việc tích hợp GDMT không làm quá tải nội dung bài học

 Dành cho HS

Trang 31

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát dành cho HS về thực trạng GDMT ở trường THPT

1 Môi trường sống:

A Là tất cả những gì bao quanh và có tác động tới SV, con

người

B Gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng tới đời

sống của SV và con người

C Bao gồm tất cả các nhân tố xung quanh SV có tác động

trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển

84.92

2 Phải BVMT sống vì:

A Môi trường sống tác động tới sự tồn tại và phát triển của

SV, con người

B Môi trường càng ngày càng suy thoái

C Môi trường biến đổi gây ảnh hưởng xấu tới con người

A Tổ chức các hoạt động ngoại khóa

B Dạy lồng ghép trong các môn học

5 Việc lồng ghép GDMT thường được thực hiện ở những

7 Việc lồng ghép GDMT trong các môn học có làm quá tải

nội dung bài học không?

8 Em có thích các nội dung liên quan đến GDMT không?

Trang 32

9 Nhà trường có thường xuyên tổ chức các hoạt động GDMT

10 Ngoài các hoạt động GDMT được thực hiện trên lớp em có

tìm hiểu về môi trường và GDMT ở các nguồn khác

- Phần lớn HS hiểu được môi trường sống là gì, vai trò của môi trường sống đối với con người và tầm quan trọng của việc BVMT Tuy nhiên cách hiểu của các em chưa thật đầy đủ và chính xác Một phần còn lại chưa thấy được tầm quan trọng của môi trường và vấn đề BVMT

- Hầu hết các em đã tham gia vào các hoạt động BVMT nhưng lại không ý thức được công việc đó góp phần BVMT mà chỉ coi đó như công việc, nhiệm vụ phải làm ví dụ như tham gia lao động theo sự phân công của nhà trường, lớp học Một bộ phận nhỏ HS thường xuyên tham gia các hoạt động BVMT và có ý thức BVMT rất tốt: không vứt rác bừa bãi, giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, tham gia trồng cây xanh, tham gia các hoạt động ngoại khóa, thường xuyên tìm hiểu các thông tin trên mạng internet

- Hầu hết các em đều hứng thú với các kiến thức về môi trường, đời sống được đề cập đến trong các bài học có kiến thức liên quan Vì vậy, tích hợp GDMT trong các môn học là một xu hướng GDMT rất tốt và có khả năng mang lại hiệu quả cao

- Các em cũng cho rằng việc tích hợp GDMT trong các bài học không làm quá tải chương trình học của bài đó Tuy nhiên việc lồng ghép kiến thức môi trường trong các môn học lại chưa được tiến hành thường xuyên và phổ biến

Trang 33

1.2.2 Thực trạng dạy học tiếp cận hệ thống ở trường THPT hiện nay

Để đánh giá thực trạng nhận thức và vận dụng TCHT trong dạy học Sinh học nói chung và dạy học STH nói riêng, chúng tôi tiến hành điều tra với

GV bằng hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi mở

Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng dạy học TCHT ở trường THPT

(%)

1 Theo thầy (cô) việc quán triệt TCHT trong dạy học STH cấp trên

cơ thể trong chương trình sinh học THPT:

2 Theo thầy (cô) hiểu, TCHT là:

A Đặt mọi sự vật, hiện tượng trong hệ thống ở trạng thái không

ngừng vận động nhưng theo quy luật vốn có của nó

B Đưa sự vật, hiện tượng vào hệ thống để nghiên cứu

C Xem xét các sự vật, hiện tượng trong một hệ thống không đổi

D Mọi sự vật, hiện tượng đều có tính toàn vẹn và thống nhất

Trang 34

trong sách GV, các tài liệu tham khảo, các buổi tập huấn thay sách nên phần lớn GV đều nắm được quan điểm đó Tuy nhiên, nội dung cụ thể về TCHT

và logic vận dụng TCHT trong nghiên cứu các cấp TCS trong những tài liệu trên còn rất sơ sài cho nên phần lớn GV chưa hiểu được bản chất hoặc hiểu nhưng chưa chính xác

Mặc dù đa số GV đều nhận thức đúng vai trò của TCHT trong dạy học Sinh học nhưng hầu hết lại không nắm vững được bản chất của nó, 86% GV

có sử dụng dụng TCHT vào thiết kế bài soạn nhưng mức độ lại không thường xuyên, chỉ chiếm có 22%

1.2.3 Thực trạng vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh thái học

Để đánh giá tình hình vận dụng TCHT trong dạy học STH chúng tôi tiến hành điều tra GV, kết quả như sau:

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát dành cho GV về thực trạng vận dụng TCHT trong

A Chia theo các phân môn trong sinh học bao gồm: tế

bào học, vi sinh vật học, sinh lý thực vật, sinh lý động

vật, di truyền học, tiến hóa và STH

B Nghiên cứu thế giới sống từ cấp độ nhỏ đến cấp độ

lớn: cấp phân tử, cấp tế bào, cấp cơ thể, cấp trên cơ thể

C Xem xét hệ thống sống như một hệ thống toàn vẹn,

được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc gồm các TCS từ

2 Theo thầy cô việc vận dụng TCHT trong dạy học Sinh

học nói chung và STH nói riêng có thuận lợi không?

A Có

B Không

Theo thầy cô những thuận lợi đó là:

A Hiểu được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng

B Xâu chuỗi được các sự vật, hiện tượng với nhau

C HS dễ dàng hiểu bài và thuộc bài hơn

Trang 35

3 Thầy cô có vận dụng TCHT vào giảng dạy các khái niệm

về các hệ thống sống trên cơ thể: QT, QX, HST không?

4 Theo thầy cô việc phân tích các dấu hiệu đặc trưng, bản

chất của hệ thống sống để hình thành các khái niệm QT,

5 Khi phân tích các đặc trưng sống để hình thành khái niệm

QT, QX, HST, thầy cô có gặp khó khăn không?

6 Thầy cô có phân tích quá trình vận động, phát triển và

suy vong của các hệ thống sống khi dạy học không?

7 Khi dạy các hệ thống sống trên cơ thể thầy cô có phân

tích tính ổn định tương đối của các đặc trưng không?

8 Thầy cô có hay tích hợp kiến thức GDMT khi dạy học về

các hệ thống sống trên cơ thể không?

- Đa số GV nhận thức được vai trò quan trọng của TCHT trong dạy học các cấp TCS trên cơ thể nhưng sự hiểu biết lại rất sơ sài Phần lớn GV TCHT trong sinh học là sự tổ chức các cấp TCS theo nguyên tắc thứ bậc, TCS cấp dưới làm nền tảng để xây dựng nên TCS cấp trên Nhưng các dấu hiệu đặc trưng của một cấp TCS được thể hiện như thế nào thì chỉ một phần nhỏ GV nắm được

- Đa số GV nhận thức được những thuận lợi khi sử dụng TCHT trong dạy học STH tuy nhiên tỉ lệ GV áp dụng TCHT vào bài soạn, bài dạy của

Trang 36

mình lại chưa thật sự cao: chỉ có 36% GV thường xuyên vận dụng, 46% có sử dụng nhưng không thường xuyên, còn lại 18% chưa bao giờ vận dụng phương pháp này Cũng chính vì vậy mặc dù đa số GV hiểu được việc phân tích các đặc trưng sống là cần thiết khi giảng dạy về các hệ thống sống trên cơ thể (90%) nhưng vẫn có khá nhiều GV gặp khó khăn khi làm việc này (32%)

- Vẫn có một tỉ lệ khá lớn GV không thường xuyên phân tích tính ổn định tương đối của các đặc trưng sống cũng như quá trình vận động, phát triển, suy vong của các hệ thống sống trong bài dạy phần STH Nhưng cũng

có mặt đáng mừng là 100% GV có tích hợp nội dung GDMT trong bài dạy của mình tùy mức độ phụ thuộc nội dung bài dạy, nhận thức của HS các lớp

1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng

1.2.4.1 Về giáo viên

TCHT là một PPDH mang lại hiệu quả cao trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng Một trong những quan điểm chỉ đạo xây dựng nội dung chương trình Sinh học ở trường THPT là quan điểm hệ thống Vì vậy, TCHT là phương pháp luận để nghiên cứu các hệ thống sống Tuy nhiên, trong SGK cũng như sách GV các dấu hiệu bản chất của hệ thống sống được

đề cập rõ nét ở cấp độ cơ thể Đối với các hệ thống sống trên cơ thể, các dấu hiệu bản chất của hệ thống sống còn được ẩn dấu, chưa thể hiện thật tường minh ở SGK Chính vì GV chưa hiểu rõ logic vận dụng TCHT trong nghiên cứu các hệ thống sống nên rất khó khăn trong việc phát hiện ra những dấu hiệu bản chất của các hệ thống sống được thể hiện tiềm ẩn trong nội dung SGK Từ đó làm hạn chế cách dạy cũng như hướng dẫn cho HS cách học Trong SGK, hệ thống các câu hỏi, bài tập để tổ chức các hoạt động học tập của HS về các hệ thống trên cơ thể còn rất ít Các câu hỏi chưa thật sự định hướng đầy đủ cho việc giải quyết trọng tâm của bài Bên cạnh đó, phần

ôn tập, củng cố câu hỏi, bài tập chỉ yêu cầu HS hệ thống hóa lại kiến thức đã trình bày ở SGK, chưa khái quát được các dấu hiệu bản chất của các hệ thống sống trên cơ thể

Trang 37

Đa phần GV chưa nắm vững bản chất của TCHT trong nghiên cứu các

hệ thống sống nên chưa thực sự định hướng HS phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các dấu hiệu bản chất của các hệ thống sống trên cơ thể

GDMT đã được ngành giáo dục Việt Nam chú ý nhiều trong những năm gần đây Công tác GDMT đã thu được kết quả bước đầu, nhưng vẫn còn bộc

lộ những lúng túng và bất cập, hiệu quả còn thấp do nội dung và phương pháp GDMT chưa phù hợp với các đối tượng, chưa gắn với thực tiễn môi trường từng địa phương, chưa tiến hành thường xuyên, chưa phát huy tốt vai trò của các tổ chức xã hội và các cơ quan truyền thông

Hiện nay, thông qua việc thay SGK từ lớp 1 - 12, các tác giả viết sách

đã quan tâm đưa nội dung GDMT vào nội dung các môn học ở mọi cấp học, nghĩa là chúng ta không có một giáo trình riêng về GDMT, phần lớn các kiến thức GDMT được lồng ghép khi dạy một số môn học có phần kiến thức liên quan như địa lí, sinh học, hóa học

Bên cạnh đó, các GV phần lớn chưa được đào tạo một cách bài bản các kiến thức cũng như phương pháp GDMT cho nên hiệu quả của việc GDMT vẫn còn hạn chế

Trang 38

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC SINH THÁI HỌC

CẤP ĐỘ TRÊN CƠ THỂ, SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Chương trình Sinh học trung học phổ thông

2.1.1 Đặc điểm chương trình Sinh học trung học phổ thông

Chương trình sinh học cấp THPT hiện hành được xây dựng trên quan điểm hệ thống Các kiến thức Sinh học được phát triển đồng tâm với sinh học THCS Theo đó, nội dung được hoàn thiện, nâng cao và khái quát thành các kiến thức đại cương (hệ thống bổ dọc) Sinh giới được chia thành 5 cấp độ tổ chức từ hệ nhỏ (phân tử, tế bào) đến hệ trung (mô, cơ quan, hệ cơ quan, cơ thể) lên các hệ lớn (QT, QX, SQ): Tế bào Cơ thể  QT - loài  QX  HST – SQ được thể hiện qua 7 phần cơ bản trong chương trình được minh hoạ ở hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc chương trình Sinh học ở trường THPT

Phần 1: Giới thiệu chung về thế giới sống

Giới thiệu các cấp độ tổ chức của sự sống và những đặc điểm, bản chất chung của các hệ thống sống Với logic đi từ tổng hợp đến phân tích và cuối cùng tổng hợp lại ở mức cao hơn, từ đó giúp người học nhìn nhận thế giới SV

ở góc độ biện chứng ở hai khía cạnh:

Cấp độ

tế bào

Phần 3 Sinh học vi

SV

Phần 4 Sinh học cơ thể

Phần 6 Tiến hoá

Phần 7 STH

Trang 39

- Thế giới sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc, là những hệ thống cấu trúc chức năng, luôn trao đổi chất, năng lượng và thông tin với môi trường, có khả năng tự điều chỉnh, sinh trưởng và phát triển ổn định theo thời gian và không gian

- Tính đa dạng nhưng thống nhất của toàn bộ sinh giới

Phần 2: Sinh học tế bào

Phần này đề cập tế bào như một hệ cấu trúc - chức năng thông qua phân tích cấu trúc và chức năng của từng bộ phận cấu trúc nên tế bào nhân sơ và nhân chuẩn Đồng thời, nghiên cứu các chức năng sống của cấp tổ chức tế bào, đó là chuyển hóa VC&NL, sinh trưởng và phát triển, cảm ứng, sinh sản

Phần 3: Sinh học vi sinh vật

Bao gồm nội dung kiến thức về chuyển hóa VC & NL, sinh trưởng, sinh sản, cảm ứng ở vi sinh vật Các đặc tính đó được trình bày ở phần này nhằm giới thiệu cho người học thấy vi sinh vật có cấu tạo đơn giản nhưng hoạt động sống của nó có dấu hiệu của một TCS cấp độ cơ thể Vi sinh vật như là một mốc tổ chức chuyển tiếp từ cấp độ tế bào lên cấp độ cơ thể của sự sống

Ba phần này thuộc chương trình Sinh học 10

Trang 40

thống ở phần này đã cho thấy hệ có tổ chức cao theo cấp bậc lệ thuộc từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao như một thể thống nhất biện chứng trong nội bộ của hệ cũng như của hệ với môi trường

Phần 6: Tiến hoá

Đề cập đến các học thuyết tiến hoá, nguyên nhân, cơ chế, kết quả của

sự tiến hoá giới hữu cơ

Phần 7: Sinh thái học

Ở phần này, nhiệm vụ là hệ thống hoá và khái quát hoá những dấu hiệu bản chất của TCS cấp độ trên cơ thể: QT, QX, HST – SQ thông qua nghiên cứu mối tương tác giữa các nhân tố sinh thái trong một môi trường với các cấp độ TCS đó

Như vậy, khái quát nội dung chương trình sinh học THPT hiện hành cho thấy quan điểm hệ thống được quán triệt để thiết kế chương trình và biên soạn nội dung SGK Định hướng quá trình nhận thức của HS theo con đường diễn dịch và quy nạp với logic: Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp Ngay phần

mở đầu: “Giới thiệu chung về thế giới sống” như một trục toạ độ định hướng cho việc nghiên cứu các cấp độ TCS từ tế bào đến SQ sao cho luôn nhất quán trong việc làm sáng tỏ các dấu hiệu bản chất của hệ thống sống được thể hiện đặc trưng trong từng cấp độ TCS, đồng thời thấy rõ tính đa dạng được thể hiện đặc trưng trong từng cấp độ TCS Sau đó, ở mỗi cấp độ TCS lại được nghiên cứu theo logic: Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp Từ đó, người học có được kiến thức cơ bản về bản chất của các cấp độ TCS từ tế bào đến cơ thể và trên cơ thể

2.1.2 Phân tích nội dung Sinh thái học cấp độ trên cơ thể trong chương trình và sách giáo khoa Sinh học 12 trung học phổ thông

2.1.2.1 Đặc điểm

STH nghiên cứu các mối quan hệ giữa SV với SV và giữa SV với môi trường ở các cấp độ TCS từ cơ thể tới QT, loài, QX, HST và SQ Đặc điểm nội dung kiến thức đã trình bày ở phần sau có quan hệ chặt chẽ với

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w