Trong các sản phẩm CNTT, sách điện tử là một phương tiện có nhiều ưu điểm như gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về kích cỡ, màu sắc và các thao tác cá nhân tùy theo sở thích của người học; khả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NGỌC ANH
BIÊN SOẠN SÁCH ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN,
NGỮ VĂN LỚP 10 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2NGUYỄN NGỌC ANH
BIÊN SOẠN SÁCH ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN,
NGỮ VĂN 10 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỜI TÂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS Lê Thời Tân, người đã tận tính hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ThS Tăng Bá Hoàng – Phó Giám đốc trung tâm Công nghệ thông tin trường Đại học Hà Nội; Kĩ sư tin học Nguyễn Hồng Quang đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mặt kĩ thuật công nghệ
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên phòng Đào tạo - trường Đại học Hà Nội, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã nỗ lực nhưng luận văn của tôi không tránh khỏi khiếm khuyết Tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, đóng góp của các thầy cô và các bạn để hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Anh
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4CNTT Công nghệ thông tin
Trang 54 Bảng 2.3: Các nhiệm vụ học tập trong Ebook VHDG 46
5 Bảng 2.4: Hệ thống công cụ sử dụng trong Ebook VHDG 49
Bảng 3.3: So sánh xếp loại năng lực lớp TN & ĐC 67
9 Bảng 3.4: So sánh điểm trung bình cộng nhóm TN & ĐC 68
10 Bảng 3.5: So sánh độ lệch chuẩn nhóm TN & ĐC 69
11 Bảng 3.6: So sánh sai số tiêu chuẩn nhóm TN & ĐC 69
12 Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả điểm số của quá trình thực nghiệm 69
13 Bảng 3.8: Các hoạt động dạy học trong giờ TN 71
14 Bảng 3.9: Mức độ tích cực của HS trong giờ TN 72
15 Bảng 3.10: Mức độ hợp tác trong làm việc nhóm của HS lớp TN 73
16 Bảng 3.11: Tổng hợp ý kiến đánh giá của GV 74
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1: Các hình thức DH có hỗ trợ của CNTT 18
2 Sơ đồ 1.2: Các thuộc tính của hoạt động học 19
3 Sơ đồ 2.1: Cấu trúc bài học SGK ngữ văn 10 39
4 Sơ đồ 2.2: Tính liên kết nội dung giữa các bài học phần VHDG 42
Trang 65 Sơ đồ 2.3: Quy trình biên soạn sách điện tử hỗ trợ dạy học 43
7 Hình: 2.1 Giao diện trang chủ E-book VHDG 50
12 Hình: 2.6 Ví dụ về bảng thống kê trong Mô đun Khám phá bài học 55
13 Hình: 2.7 Bài tập tự luận trong Mô đun Luyện tập 55
14 Hình: 2.8 Bài tập trắc nghiệm trong Mô đun Luyện tập 56
17 Hình: 2.11 Mô đun Học mà chơi, chơi mà học 58
19 Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả kiểm tra 15 phút 67
20 Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả kiềm tra 45 phút 68
Trang 7MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các sơ đồ, hình, biểu đồ iv
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chương trình đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã thực sự được chuẩn bị từ những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau khi ban hành Nghị quyết số 49/2000/QH10, ngày 19/12/2000 của Quốc hội khóa
X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông với chủ trương “xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”
Xuất phát từ mục tiêu đổi mới này, các nhà giáo dục cũng xác định rõ: một trong những trọng tâm của việc đổi mới đó chính là đổi mới phương pháp dạy học Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng trí tuệ, đáp ứng xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay Luật Giáo dục (2005) điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Có thể nói, mục đích cốt lõi của đổi mới phương pháp là nhằm tăng cường tính tích cực, chủ động của
HS, “hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động”
Để nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, cần phải chú ý cải tiến đồng bộ các thành tố khác có liên quan, trong đó phương tiện dạy học là một thành tố quan trọng Ngày nay, với sự phát triển có tính chất bùng nổ của CNTT, máy tính đã và đang được sử dụng rộng rãi và phát huy
Trang 9công cụ góp phần vào việc nâng cao tính tích cực trong dạy học, tăng các cơ hội tự học, cung cấp các nguồn học liệu bổ sung, mở rộng cho HS
Trong các sản phẩm CNTT, sách điện tử là một phương tiện có nhiều ưu điểm như gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về kích cỡ, màu sắc và các thao tác cá nhân tùy theo sở thích của người học; khả năng lưu trữ thông tin đa dạng; dễ thiết kế và dễ sử dụng…Sách điện tử là công cụ có ưu thế vượt trội trong việc
hỗ trợ quá trình tự học, tự nghiên cứu của người học – một trong những biểu hiện quan trọng của tính tích cực trong học tập
Trên thực tế, so với các môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như Toán, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn là bộ môn mà việc sử dụng CNTT nói chung và sách điện tử nói riêng còn hạn chế, bới tính chất đặc thù của bộ môn Hơn nữa, các sản phẩm sách điện tử đã có về môn Ngữ văn mới chỉ đáp ứng được một số mục tiêu hay một số khâu trong quá trình dạy học bộ môn như: kiểm tra đánh giá, giới thiệu lý thuyết, cung cấp tư liệu tham khảo…, chưa có một
bộ sản phẩm hoàn chỉnh có thể sử dụng như một cuốn cẩm nang hỗ trợ việc dạy và học môn Ngữ văn Việc chọn lựa nội dung phù hợp để ứng dụng một cách hiệu quả CNTT trong dạy học Ngữ văn đang là vấn đề rất được quan tâm Thực tiễn giảng dạy cho thấy phần VHDG chương trình ngữ văn 10 có nội dung phong phú, số lượng bài học phù hợp, nhiều cơ hội khai thác mở rộng các học liệu (multimedia) để tập hợp thành một cuốn sách điện tử hỗ trợ quá trình dạy học bộ môn
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu :
Biên soạn sách điện tử hỗ trợ dạy học phần VHDG, Ngữ văn lớp 10 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích: nghiên cứu khả năng ứng dụng sách điện tử trong dạy học phần VHDG, chương trình Ngữ văn 10 nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 104 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần VHDG, chương trình Ngữ văn 10 của GV và HS
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thiết kế và sử dụng sách điện tử dạy học phần VHDG, chương trình Ngữ văn 10 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại 5.2 Nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp thực nghiệm (quan sát, điều tra, phỏng
vấn, thống kê )
6 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng một cách hợp lý sản phẩm sách điện tử hỗ trợ dạy học phần VHDG, chương trình ngữ văn 10 sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Khả năng biên soạn sách điện tử hỗ trợ dạy học phần VHDG, ngữ văn 10
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học
Trên thế giới, cuối thế kỉ XX, việc tìm hiểu về vai trò, ý nghĩa cũng như
đề xuất các biện pháp ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đã được nhiều nước quan tâm như Mĩ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Về những tài liệu nghiên cứu tương đối toàn diện về việc ứng dụng CNTT vào dạy học phải kể đến các công trình sau:
- Cuốn “Intructional Technology for Teaching and Learning” (1996) gồm 11
chương của Timothy J Newby và các tác giả cộng sự Cuốn sách đã đề cập đến ý nghĩa của việc sử dụng các loại thiết bị, phương tiện kĩ thuật trong dạy học theo hướng phát huy vai trò tích cực của người học
- Cuốn “Learning with Technology: A Contrustivis Perspective” (1999) của
David H Jonassen và các cộng sự trình bày trong 8 chương Cuốn sách đã nhấn mạnh vai trò của việc sử dụng CNTT và các phương tiện truyền thông
đa phương tiện, những ảnh hưởng của nó đối với phương pháp dạy học của
GV và phong cách học tập của HS
Ở trong nước, từ những năm 90 của thế kỉ XX, một số nhà giáo dục đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về việc sử dụng các loại thiết bị, phương tiện
kĩ thuật hiện đại vào đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học các
bộ môn Trong số đó có thể kể đến: “Mấy quan điểm sử dụng máy tính điện
tử như là công cụ dạy học” của Nguyễn Bá Kim và Đỗ Thị Hồng Ánh (1998); “Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng CNTT – xu thế của thời đại” của Quách Tuấn Ngọc (1999); “Dùng CNTT để cải tiến việc dạy và học” của chương trình Microsoft Partners in Learning (2006); “Vai trò của môi trường CNTT và truyền thông trong việc nâng cao chất lượng dạy học” của Trịnh Ngọc Dũng (2007), “CNTT với công tác thiết bị dạy học ở
Trang 12trường trung học” của Nguyễn Sĩ Đức và Đặng Thành Hưng (2007);“Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH” của Nguyễn Thu Tuấn (2009),…
Đối với bộ môn ngữ văn cũng xuất hiện một số nghiên cứu về khả năng
ứng dụng CNTT của bộ môn như: bài viết “CNTT đối với việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường” của Phan Trọng Luận;
“Ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn” của TS Đỗ Ngọc Thống; Phong
Lê với “Văn học và công cuộc đổi mới”…
Những nghiên cứu này đã tiếp cận và góp phần định hướng rõ hơn cho việc ứng dụng CNTT vào từng môn học cụ thể Đặc biệt với môn Ngữ văn, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tác động tích cực của CNTT đối với quá
trình dạy học bộ môn này
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về sách điện tử hỗ trợ dạy học
Đối với công cụ sách điện tử (Ebook) – một sản phẩm CNTT hỗ trợ quá trình dạy học nói chung và ngữ văn nói riêng, cũng có một số tác giả tham gia nghiên cứu Cụ thể một số cuốn sách sau tập trung giới thiệu khá chi tiết về sách điện tử:
+“Sách điện tử và một số công nghệ tạo sách điện tử” (Nguyễn Văn Tuấn,
2008);
+“Dạy học trực tuyến và soạn sách điện tử với Toolbook Assistant & Instruction”; “Dạy học trực tuyến và soạn sách điện tử với Macromedia Captivate” (TS Phan Long - KS Phùng Thị Nguyệt - KS Phạm Quang Huy , 2009)
Những cuốn sách trên đã cung cấp một số lý thuyết cơ bản về sách điện
tử và đặc biệt là giới thiệu, hướng dẫn sử dụng những công cụ trực tiếp để tạo sách điện tử Tuy nhiên các cuốn sách đều chưa khai thác một cách sâu sắc về việc ứng dụng sách điện tử vào dạy học như thế nào, hiệu quả của nó và những nguyên tắc cần lưu ý khi sử dụng sách điện tử hỗ trợ dạy học
Tóm lại, những nghiên cứu trên đây đã cung cấp những khía cạnh khác nhau về việc ứng dụng CNTT (sách điện tử) vào quá trình dạy học Đó là
Trang 13cái nhìn tổng quan, toàn diện và chi tiết hơn về sách điện tử và việc sử dụng
nó trong dạy học bộ môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông
1.2 Lý luận về dạy học tích cực
1.2.1 Khái niệm dạy học tích cực
Đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả dạy học là vừa là mục đích, vừa
là yêu cầu đặt ra với tất cả các môn học trong nhà trường nói chung và với môn Ngữ văn nói riêng Quan điểm dạy học mới khẳng định việc dạy học chỉ
thực sự có hiệu quả khi phát huy được vai trò chủ thể của HS Luật Giáo dục,
điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS"
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã
hội Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể Hình thành và phát triển tính tích cực
xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục Tính tích cực gắn liền với sự chủ động, với hứng thú và phương thức tự phát triển để làm biến đổi nhận thức Tính tích cực trong học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết, sáng tạo vận dụng kiến thức
đã học vào thực tế cuộc sống
Tính tích cực được biểu hiện qua các cấp độ:
- Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề …
Trang 14- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hữu hiệu
Trên cơ sở về tính tích cực, khái niệm dạy học tích cực được hình thành
DHTC (Active Teaching and Learning) là một thuật ngữ rút gọn được dùng để
chỉ những phương pháp giáo dục/dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học với sự định hướng, tổ chức của GV “Tích cực”
trong trường hợp này được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa
với không hoạt động, thụ động Tích cực hay thụ động là nói về thái độ học tập của HS Dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động truyền thống
Bản chất của DHTC là khai thác động lực học tập ở người học để phát triển họ; coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội (http://atl.edu.net.vn) DHTC là điều kiện tốt
khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của HS vào quá trình học tập
Như vậy DHTC là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học
1.2.2 Quan điểm về dạy học tích cực
DHTC tạo ra những khác biệt căn bản với dạy học truyền thống, thể hiện qua: quan niệm, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, được tổng kết qua bảng so sánh sau:
Trang 15Bảng: 1.1 So sánh dạy học truyền thống và DHTC
Dạy học truyền thống Dạy học tích cực
Quan niệm
Dạy là quá trình truyền thụ; học
là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm
Dạy là sự định hướng, hỗ trợ, Học là qúa trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Nội dung Chủ yếu từ sách giáo khoa +
GV
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế…: gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác
Hình thức tổ
chức
Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, GV đối diện với cả lớp
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo
cả nhóm, cả lớp đối diện với GV
Như vậy, xét một cách bản chất, DHTC là sự thay đổi căn bản vị thế và vai trò của GV và HS, kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác trong quá trình dạy học, tạo nên một “bức tranh động” về bối cảnh dạy học, trong đó luôn thấy được vai trò chủ động, sáng tạo của người học
Trang 16Hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống là GV là trung tâm của quá trình dạy học, GV dạy, HS ghi chép, về nhà HS học thuộc bài và khi thi thì ghi lại những gì đã học Trong quá trình dạy học này, HS luôn thụ động trong giờ học do đó không kích thích được quá trình tư duy sáng tạo ở HS Quá trình học tập là quá trình truyền thụ một chiều từ GV cho HS
Khắc phục những hạn chế của quan niệm dạy học truyền thống, quan điểm dạy học mới đặt HS vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, HS là chủ thể của nhận thức HS là thực thể trực tiếp ảnh hưởng đến nhiệm vụ, phương pháp lên lớp của GV Theo quan điểm dạy học này, HS đóng vai trò chủ động trong học tập, GV đóng vai trò chỉ đạo và tổ chức, hướng dẫn HS tìm đến với tri thức GV không làm thay HS mà chỉ hướng dẫn sao cho HS nghiên cứu đúng hướng, làm sao đảm bảo những tri thức mà HS tiếp thu là đúng đắn Người dạy học cần khơi gợi được hoạt động tâm lý của HS nhất là tâm lý cảm thụ, khả năng tự nắm kiến thức để HS từng bước tiến lên về mọi mặt: hiểu biết, tâm hồn, khả năng và nhân cách Yêu cầu phát huy chủ thể HS, lấy HS làm trung tâm của quá trình dạy học gắn liền với tài năng sáng tạo của
GV Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm nhằm phát huy chủ thể HS là một nguyên tắc cơ bản, chủ yếu quyết định hiệu quả dạy và học Bởi vì không
có sự vận động của bản thân chủ thể thì mọi hoạt động từ phía GV đều trở thành áp đặt Những năng lực chủ quan của HS có được phát huy thực sự thì việc chiếm lĩnh tri thức, hứng thú học tập mới thực sự có được và hiệu quả
dạy học mới bền vững
Nguyên tắc phát huy vai trò chủ thể HS, quan điểm lấy HS làm trung tâm
là đầu mối quyết định phương pháp giảng dạy của GV và là con đường có triển vọng để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy
1.2.3 Dấu hiệu đặc trƣng của dạy học tích cực
1.2.3.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
Trong DHTC, người học – đối tượng của hoạt động dạy, là chủ thể của
Trang 17đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, không thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt
Trên thực tế, có rất nhiều cách thức thiết kế hoạt động học tập cho HS
Có thể phân loại các dạng hoạt động học tập của HS như sau:
- Xét về số lượng HS tham gia: hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân, hoạt động tập thể…
- Xét về mục tiêu rèn luyện của hoạt động: hoạt động nhận thức, hoạt động kĩ năng…
- Xét về thời gian thực hiện hoạt động: hoạt động cuối giờ, hoạt động giữa giờ, hoạt động cuối giờ, hoạt động ngoài giờ
- Xét về bối cảnh (phạm vi) thực hiện hoạt động: hoạt động trên lớp, hoạt động ngoài trời, hoạt động trong môi trường chức năng (thư viện, phòng thí nghiệm, bảo tàng…)
Tóm lại, dạy học thông qua hoạt động nghĩa là tạo cho HS những tình huống gắn liền hoặc có mối liên hệ chặt chẽ với đời sống thực tế, để HS trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình,
từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp tìm
ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, bộc
lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy học theo cách này, người GV không chỉ truyền đạt tri thức một cách giản đơn mà còn hướng dẫn HS phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó
1.2.3.2 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
DHTC chú trọng vai trò chủ động của cá nhân HS trong việc học Tuy nhiên trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh
Trang 18nghiệm của mỗi HS và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết
và kinh nghiệm của người thầy
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở hình thức nhóm, tổ, lớp và phổ biến nhất là hình thức hợp tác nhóm 4-5 HS Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, đặc biệt phát huy khi thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động nhóm, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ Qua đó, GV có thể uốn nắn, phát triển tình bạn, giáo dục ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Tuy nhiên, trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng DHTC buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn
1.2.3.3 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
DHTC xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong các phương pháp học thì cốt yếu vẫn là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người DHTC là phải
nỗ lực tạo ra biến chuyển từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn
đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
Trong các hình thức tự học, phổ biến nhất là tự học qua mạng Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu với nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nối mạng Internet Người học chủ động tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút
Trang 191.2.3.4 Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV Trước đây, trong dạy học truyền thống, GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong DHTC, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học GV cũng cần tạo điều kiện để HS tham gia đánh giá lẫn nhau Đánh giá, tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
- Người học:
Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phải hình thành cho mình phẩm chất và
năng lực thích ứng với phương pháp DHTC như: xác định đúng đắn mục tiêu học tập (trước đây HS thường rất mơ hồ về điểm này), tự giác trong học tập,
có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp,
Trang 20biết cách tự học và tăng cường tự học với mọi hình thức, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…
- Chương trình và sách giáo khoa:
Chương trình phải giảm bớt khối lượng kiến thức nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những thông tin buộc HS phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường nội dung
có tính vấn đề tạo cơ hội phát triển tư duy; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để HS tự nghiên cứu phát triển bài học
- Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, thâm nhập thực tế trong qúa trình học tập
- Chú trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành thí nghiệm
- Tăng cường đưa các sản phẩm công nghệ vào dạy học Cần trang bị cho nhà trường hệ thống máy chiếu, máy tính, các thiết bị nghe nhìn phổ biến, để HS được tiếp cận với các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại
- Cần tính tới việc thiết kế đối với trường mới và bổ sung đối với trường cũ phòng học bộ môn, phòng học đa năng và kho chứa thiết bị bên cạnh các phòng học bộ môn
Trang 211.3 Vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị, BCH
TW Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet với tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”
1.3.1 Quan điểm tiếp cận CNTT
Trong một thời gian dài, CNTT trong dạy học được hiểu là công cụ chuyển tải thông tin đến người học như in bài, sao chụp, xem video dạy học… Thực chất, CNTT là tập hợp các công cụ, phương tiện và phương pháp
kỹ thuật, trong đó đặc biệt là công cụ, phương tiện điện tử và tin học có thể ứng dụng trong việc thu thập, lưu trữ, xử lý, sử dụng và truyền đạt thông tin CNTT không đơn thuần là phương tiện mà còn là phương pháp sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ nhất định
CNTT trong dạy học có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Là công cụ bằng công nghệ sử dụng trong môn học cụ thể (để tính toán, thống kê, vẽ bản đồ…);
- Là phương tiện dạy học (hình vẽ, phim tư liệu, văn bản trình chiếu…)
- Là sản phẩm trọn vẹn (đã được đóng gói) hỗ trợ toàn bộ quá trình dạy học (Ví dụ: các phần mềm dạy học, các trang web dạy học trực tuyến…)
- Là việc sử dụng, tích hợp các phương tiện, sản phẩm công nghệ vào trong các quá trình dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, trong và ngoài lớp học Như vậy, tuy khác nhau nhưng xét ở góc độ nào thì CNTT cũng có được hiểu là công cụ hỗ trợ quá trình dạy học nhằm phát huy hiệu quả dạy học
1.3.2 Ứng dụng CNTT – xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại
Dạy học, xét về hình thức tiến hành là một quá trình truyền thông hai chiều Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và nâng cao tính tích cực trong dạy học nói riêng là xu hướng tất yếu của thời đại Sở
Trang 22dĩ như vậy là vì CNTT có những ưu thế, thế mạnh riêng Bốn thế mạnh mà CNTT mang lại cho con người sử dụng nó là: tốc độ cao, nhất quán, chính xác và ổn định Đó cũng chính là những đòi hỏi của công nghệ đào tạo hiện đại Thêm vào đó, tính tất yếu của việc ứng dụng, tích hợp CNTT trong dạy học còn được lý giải ở chỗ các chức năng của CNTT mang lại: thu thập, xử
lý, lưu giữ và truyền dữ liệu Trong dạy học hiện đại, người thầy dạy những tri thức mà người học cần và xã hội đang đòi hỏi; người dạy quản lý,
tổ chức quá trình nhận thức, dẫn dắt người học tiếp cận khai thác kho tài nguyên tri thức của nhân loại, để người học tự tìm kiếm tri thức, tự sáng tạo CNTT là phương tiện hữu hiệu giúp người thầy thực hiện được mục tiêu trên Đồng thời CNTT đòi hỏi người dạy phải sử dụng tổ hợp các phương pháp dạy học hiện đại, phải thay đổi cách viết giáo trình, bài giảng, tổ chức lại nội dung dạy học, thay đổi các hình thức dạy học (như giảng lý thuyết, thực hành, thí nghiệm…), chú trọng tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người học CNTT là cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi cho người GV thực hiện phương pháp DHTC – phương pháp dạy học đang được hướng tới hiện nay
Ứng dụng CNTT giúp chúng ta mới đảm bảo được việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của thời đại mới - thời đại thông tin, thời đại của nền kinh tế tri thức
1.3.3 Tác động của CNTT đối với quá trình dạy học
CNTT không chỉ đơn thuần là các công cụ, phương tiện mà còn là phương pháp sử dụng, ứng dụng, phát triển nó để thực hiện những nhiệm vụ nhất định Nói cách khác, CNTT tác động đến hầu hết các thành tố của quá trình dạy học bao gồm: Nội dung dạy học; Phương pháp dạy học; Hình thức
tổ chức dạy học; Người dạy - Người học; Kiểm tra đánh giá
1.3.3.1 CNTT đối với nội dung dạy học
Nếu xét CNTT như một công cụ hỗ trợ dạy học thì nó chịu tác động của
Trang 23đến HS dựa trên kịch bản sư phạm đã được xây dựng Với sự trợ giúp của CNTT, nội dung dạy học sẽ được trình diễn một cách khoa học hơn, chất lượng hơn, sinh động hơn, người tiếp nhận dễ tiếp thu hơn Bởi lẽ lợi thế của CNTT là ở tính đa phương tiện, nó cho phép thể hiện nội dung dạy học dưới nhiều dạng thức: văn bản, hình ảnh, âm thanh, các thí nghiệm mô phỏng, các phim tư liệu…
Ngược lại, CNTT cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung dạy học Khả năng liên hệ thực tế, tính thời sự, tính thời đại có trong nội dung dạy học sẽ được gia tăng do thành quả của CNTT mang lại Những thước phim tư liệu, những đoạn video phỏng vấn thực tế, những hình ảnh gắn kết nội dung bài học với thời đại….tạo nên một nội dung phong phú, nơi mà người học có thể tự khám phá, chắt lọc và rút ra những kinh nghiệm, bài học cho riêng cá nhân mình
Có thể nói, nhờ có CNTT, nội dung dạy học không còn là những dòng chữ khô cứng, giáo điều, khuôn sáo được lưu lại bằng phương thức “thầy đọc, trò chép” như phương pháp dạy học truyền thống trước đây
1.3.3.2 CNTT đối với phương pháp dạy học
Nếu như phương pháp dạy học được coi là cách chiếm lĩnh mục tiêu dạy
học thì CNTT chính là yếu tố đảm bảo cho cách đó được thực hiện hiệu quả, đạt được những kết quả tương tự trong những hoàn cảnh dạy học thay đổi Sự
ra đời của CNTT đã làm thay đổi hay chính xác hơn là cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống, tạo cơ hội áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại Nhờ các công cụ đa phương tiện của máy tính như văn bản, đồ họa, hình ảnh, âm thanh, GV sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung của người học, dễ dàng thể hiện được các phương pháp sư phạm như: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề, thực hiện đánh giá và lượng giá học tập toàn diện, khách quan ngay trong quá trình học…tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học
1.3.3.3 CNTT đối với hình thức tổ chức dạy học
Trang 24Việc ứng dụng các công nghệ dạy học mới đã cho phép quá trình dạy học thực hiện theo nguyên tắc không cùng lúc, không cùng địa điểm và điều quan trọng hơn là khả năng tương tác đa chiều giữa người học - người dạy - người học được tăng cuờng mạnh mẽ Chính vì vậy, dạy học với sự hỗ trợ của CNTT sẽ được đa dạng hoá về mặt hình thức tổ chức, tạo cơ hội phát triển những hình thức dạy học vượt ra khỏi phạm vi không gian lớp học, thời gian
tiết học Nếu như trước đây hình thức dạy học chủ yếu là giáp mặt
(Face-to-Face) thì hiện nay, CNTT đã cho phép mở ra hình thức dạy học kết nối
(Connective learning) - người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, học bất kỳ cái
gì, học với bất kỳ ai và tương tác trực tiếp với nội dung dạy học, thông tin tri thức môn học Các lớp học ảo cũng chính là kết quả của việc ứng dụng CNTT vào dạy học
Trên thế giới hiện nay có hai hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học nổi bật, đó là: Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa vào máy tính), và E-learning (học dựa vào máy tính)
- CBT là hình thức GV sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang thiết
bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến HS, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh,
sự tương tác người và máy
- E-learning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà GV
đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của GV, hoặc có thể trao đổi trực tuyến với GV thông mạng Internet Điểm khác cơ bản của hình thức E-learning là lấy người học làm trung tâm, học viên sẽ tự làm chủ quá trình học tập của mình, GV chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho HS
Dựa trên hai hình thức ứng dụng trên, có một số hình thức dạy học với sự
hỗ trợ của CNTT như sau:
Trang 25(a) (b) (c)
Sơ đồ 1.1: Các hình thức dạy học có hỗ trợ của CNTT
- Sơ đồ a: GV trình diễn bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT HS là người tiếp nhận bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT thông qua GV
- Sơ đồ b: HS thực hiện các nhiệm vụ học tập, các hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của CNTT, dưới sự kiểm soát, điều khiển, định hướng của GV (thông qua CNTT)
- Sơ đồ c: HS học tập độc lập, chủ động nhờ CNTT
Như vậy ứng dụng CNTT đã đem đến cho hình thức tổ chức dạy học sự khác biệt căn bản về chất so với dạy học truyền thống
1.3.3.4 CNTT đối với người dạy, người học
CNTT đã mang lại những chuyển biến tích cực về vai trò của người dạy
và người học trong quá trình dạy học
Với người dạy, vị thế người “truyền giáo tri thức”, “độc tôn, quyền uy về tri thức” của người dạy không còn nữa Thay vào đó, CNTT sẽ hỗ trợ cho người dạy tối ưu hoá việc dạy học bằng việc thúc đẩy tính chủ động, tích cực,
sáng tạo của người học Quá trình trợ giúp người học của GV chính là quá
trình tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức và khơi dậy động cơ nhận thức để người học tự kiến tạo tri thức cho chính bản thân
Quá trình dạy học bao gồm rất nhiều khâu như: giới thiệu kiến thức; hướng dẫn chiếm lĩnh nội dung kiến thức; củng cố; kiểm tra đánh giá CNTT hoàn toàn có khả năng thay thế hoặc hỗ trợ GV thực hiện các khâu trên Không những vậy, có những khâu với sự hỗ trợ của CNTT, hiệu quả còn nâng
Trang 26cao rõ rệt (Ví dụ: hình ảnh đồ hoạ mà CNTT cung cấp chính xác hơn, đẹp hơn
so với các bản vẽ thủ công của GV; máy chấm bài nhanh hơn, khách quan, chính xác hơn so với GV…) Tuy nhiên, ứng dụng CNTT không đồng nghĩa với việc thủ tiêu hoàn toàn vị trí và vai trò của người dạy trong quá trình dạy học Đối với người học, trong quá trình dạy học có sự hỗ trợ của CNTT, vị thế
và vai trò của họ cũng có những thay đổi đáng kể Trước hết là sự thay đổi về chiến lược dạy học: lấy người học làm trung tâm, dạy học theo hướng hoạt động hoá người học Mục tiêu của hoạt động dạy học là giúp người học chủ động chiếm lĩnh tri thức, biết cách phát hiện, nắm bắt và giải quyết được các tình huống, các vấn đề xoay quanh nội dung dạy học và từ đó ứng dụng để giải quyết các vấn đề thực tế CNTT chính là một công cụ hỗ trợ đắc lực giúp
họ làm việc đó Với sự hỗ trợ của công nghệ, người học hay nói chính xác
hơn là hoạt động học đã bộc lộ 5 thuộc tính cơ bản như sau: Chủ động, chủ định, xây dựng, cộng tác, xác thực Mối quan hệ tương tác giữa 5 thuộc tính
được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ: 1.2 Thuộc tính của hoạt động học
Quan sát sơ đồ, có thể thấy những biểu hiện tích cực của người học trong
Chủ động (thao tác, quan sát)
Xây dựng (trình bày phản ánh)
Cộng tác (nhóm, trao đổi)
Xác thực (phức hợp theo hoàn cảnh) Chủ định
(Phản ánh, điều hoà)
Trang 27kiến thức, đến chỗ phát huy tính cá thể trong quá trình học tập (xây dựng), đồng thời biết cách điều tiết để hài hoà với cộng đồng, tập thể (chủ định), nâng cao hiệu quả của làm việc nhóm (cộng tác), và cuối cùng là vận dụng kiến thức vào thực tế (xác thực)
Có thể khẳng định, CNTT đã mở ra nhiều cơ hội để người học phát huy vai trò là trung tâm của hoạt động dạy học:
- Tăng cường tính phân hoá, cá thể hoá (dạy học cá thể hoá thông qua hoạt động học tập tương tác, cộng tác, chú ý đến những yêu cầu, nguyện vọng, năng lực, tốc độ học của cá nhân );
- Tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu cho người học (khám phá, tìm tòi, xây dựng kiến thức mới, đặt ra các vấn đề, tình huống và cách giải quyết các vấn đề đặt ra );
- Tăng cường cơ hội đánh giá và tự đánh giá cho người học (phản hồi thường xuyên);
- Tăng cường khả năng điều hành quản lí các hoạt động học tập của người học
Tóm lại, người dạy trong bối cảnh CNTT phát triển như vũ bão hiện nay
sẽ trở thành người “thầy của việc học”, còn người học sẽ thực sự trở thành
“trung tâm của việc học của chính họ”, là động lực, tác nhân thúc đẩy và phát triển quá trình dạy học
1.3.3.5 CNTT đối với kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá là một trong những khâu tối quan trọng trong quá trình dạy học Nó chính là thước đo tính hiệu quả của việc đổi mới dạy học Ứng dụng CNTT là một trong những công cụ nhằm đổi mới quá trình dạy học và quả thực nó đã tạo ra những biến đổi căn bản về việc đánh giá chất lượng dạy học
Thứ nhất, CNTT tạo nên sự chuyển hướng trong kiểm tra đánh giá:
chuyển hướng từ tập trung đánh giá kết quả sang tập trung đánh giá quá trình Điều đó có nghĩa là đánh giá việc học ngay cả trong quá trình học tập chứ không tách ra như một công đoạn độc lập sau khi kết thúc việc học
Trang 28Thứ hai, xuất phát từ chính sự chuyển hướng này, phạm vi đánh giá
trong dạy học cũng trở nên toàn diện hơn: cho phép các nhà giáo dục không chỉ đánh giá người học ở mặt kiến thức mà còn đánh giá được kỹ năng học tập Thông qua cách học của từng cá nhân (hay tập thể) dưới sự định hướng của GV và sự hỗ trợ của CNTT, có thể đánh giá được năng lực học tập của
HS, thể hiện trong suốt quá trình dạy học Chẳng hạn, trong một khoá học trực tuyến, HS hoàn toàn tự chủ trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Khoá học được tạo ra với nhiều mục, phần, để HS có thể thực hành các hoạt động dạy học với thiết kế linh hoạt, cho phép người học tiếp cận tự do với nội dung dạy học Thông qua cách thức thực hiện các hoạt động học tập của từng HS trên đó, GV hoàn toàn có thể đánh giá được kĩ năng học tập của các em Để làm được điều này, bản thân GV cũng phải căn cứ vào những tiêu chuẩn, tiêu chí nhất định, phù hợp để đánh giá HS (Xem thêm phụ lục 3)
Ưu điểm thứ ba mà dạy học có sự hỗ trợ của CNTT mang lại, đó là tính khách quan trong kiểm tra đánh giá Chấm điểm bằng máy đảm bảo độ tin
cậy, chính xác, khách quan, công bằng đồng thời rút ngắn thời gian, công sức của người dạy
Như vậy có thể khẳng định rằng dạy học với sự hỗ trợ của CNTT đã đem đến sự thay đổi gần như toàn bộ các nhân tố của quá trình dạy học, mở ra những xu hướng học tập mới, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS
1.3.4 CNTT đối với dạy học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
Từ trước đến nay, môn Ngữ văn vẫn là một trong những môn rất ít sử dụng phương tiện dạy học do chịu sự chi phối của đặc thù môn học: môn học
về ngôn từ, sử dụng ngôn từ để hiểu, cảm nhận và tư duy hình tượng Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không thể ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn Cũng như đối với các môn học khác, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn góp phần mang lại những hiệu quả nhất
Trang 29kế hoạch dạy học, giảng bài, kiểm tra đánh giá; giảm bớt cường độ làm việc, góp phần bảo vệ và ổn định sức khoẻ
- Tăng điều kiện trực quan cho HS do HS được tiếp cận với các công cụ trình diễn thông tin đa phương tiện (Multimedia) do đó kiến thức mà HS chiếm lĩnh được trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn, thực tế hơn
- Góp phần hệ thống hoá kiến thức ngữ văn vốn rất trừu tượng, có phần khó nắm bắt, rèn luyện khả năng tư duy, khái quát hoá, mô hình hoá cho HS
1.3.4.2 Mặt hạn chế
Dạy học ngữ văn khác với dạy học các môn học khác ở chỗ nó không đơn thuần chỉ là dạy về kiến thức, kĩ năng cần thiết mà còn dạy cách tiếp nhận thẩm mĩ, năng lực cảm thụ và năng lực ngôn ngữ Do đó hoạt động dạy học ngữ văn phải được tiền hành bằng cách phối hợp rất linh hoạt và phù hợp các phương pháp và phương tiện dạy học khác nhau Có những hoạt động mà máy móc, phương tiện kĩ thuật hiện đại không thể thay thế được con người (người thầy) Nếu ứng dụng CNTT không có sự chọn lọc cho đúng tính chất, nội dung, cách thức thì sẽ trở nên “phản tác dụng”, gây phản cảm, không đem lại hiệu quả như mong muốn
1.4 Giới thiệu về công cụ sách điện tử
1.4.1 Khái niệm sách điện tử
Một trong những minh chứng về ảnh hưởng của CNTT vào quá trình dạy học đó chính là sách điện tử (E-book) Sách điện tử là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức
Trang 30E-book là từ viết tắt của “Electronic book” Sách điện tử được hiểu từ một số cách tiếp cận và ở các mức độ khác nhau
- Hiểu theo cách đơn giản nhất, sách điện tử là “một cuốn sách truyền thống nhưng nó được tạo ra và sử dụng thông qua thiết bị CNTT” [37, tr.11] Nói cách khác, E-book là phiên bản dạng số (hay điện tử) của sách
- Hiểu rộng hơn, sách điện tử là việc “phân phối các hoạt động, quá trình và
sự kiện làm việc và học tập thông qua các phương tiện điện tử như internet, intranet, tivi, CD-ROM, DVD và các thiết bị cá nhân khác… dựa trên CNTT
và truyền thông với các kỹ thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán… [30, tr 5]
Như vậy, về bản chất, sách điện tử (E-book) chính là các dữ liệu đã được
số hóa, định dạng chuẩn nhất định, có kèm các công cụ Multimedia làm tăng khả năng đa giác quan hóa và thao tác hóa của người đọc
E-book có thể được lưu trữ dưới nhiều định dạng khác nhau như: như PDF, PRC, CHM v.v… Những tập tin này sở dĩ khác nhau là vì chúng được làm từ những chương trình khác nhau và vì thế, muốn đọc được chúng cần phải có những chương trình tương ứng Ngoài ra, E-book còn bao gồm cả
những video hướng dẫn ( training video) hoặc những file âm thanh ( audio book hay còn gọi là “sách nghe”)
1.4.2 Phân loại sách điện tử
- Xét trên góc độ công nghệ từ phía người sử dụng sách điện tử, người ta phân
Trang 31+ Loại sách in theo yêu cầu: là sách được tạo ra, lưu trữ và phân phối dưới dạng điện tử Người ta sẽ phân phối sách trước, sau đó mới in ra theo yêu cầu
- Xét trên góc độ công nghệ trong thể hiện nội dung thông tin, có hai loại sách điện tử chủ yếu:
+ Sách chỉ có văn bản, sơ đồ, hình ảnh và âm thanh Loại này chủ yếu phục
vụ mục đích thưởng thức văn học Ngoài văn bản, sách cho phép kết hợp ảnh, giọng nói
+ Sách có thông tin đa phương tiện (Multimedia)
- Theo trên góc độ mục đích sử dụng, có 2 loại sách:
1.4.3 Các chức năng cơ bản của sách điện tử đối với quá trình dạy học
Sách điện tử được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực thể hiện một tính năng riêng, tuỳ theo nhu cầu sử dụng Khi đề cập đến với tư cách là một công cụ hỗ trợ quá trình dạy học, sách điện tử lại mang những chức năng chuyên biệt Cụ thể như sau:
- Chức năng cung cấp thông tin
Tiếp cận với sách điện tử trước hết là tiếp cận với một công cụ cung cấp thông tin, giống như sách / giáo trình truyền thống Tuy nhiên do có khả năng
sử dụng đa dạng các hiệu ứng trình diễn, tích hợp được các công cụ Multimedia, siêu liên kết, sách điện tử có thể cung cấp một khối lượng thông tin lớn, sinh động, đa dạng, đa hình thức Người sử dụng (người dạy và người học) tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác quan, thay vì chỉ có thể đọc văn bản như các sách tham khảo truyền thống Ví dụ: cùng là thông tin về tác phẩm dân gian “Tấm Cám”, sách điện tử có thể đồng thời cung cấp cho người học:
Trang 32văn bản truyện cổ tích “Tấm Cám”, phim cổ tích “Tấm Cám”, tranh ảnh minh hoạ truyện…
- Chức năng tạo tương tác giữa người dạy, người học với nội dung dạy học Đây là chức năng “động” của sách điện tử đối với quá trình dạy học, phân biệt sách điện tử với sách truyền thống Các văn bản được số hóa, hình ảnh, âm thanh, biểu đồ, ký hiệu, phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo chứa đựng nội dung dạy học được tích hợp theo ý đồ sư phạm trong sách điện tử sẽ
tạo ra cơ hội giúp người học trở thành chủ thể tích cực trong chính quá trình
dạy học Các sách điện tử có tích hợp các công cụ Multimedia ngoài việc cung cấp thông tin (nội dung dạy học) còn có thể giúp người học tương tác với nội dung dạy học, từ đó thực hiện các hoạt động dạy học theo hướng dẫn: quan sát, trả lời câu hỏi, thảo luận, làm bài tập, thực hành, kiểm tra đánh giá…Chẳng hạn, nếu áp dụng mô hình dạy học truyền thống, muốn tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi dưới dạng thức trắc nghiệm, GV phải chuẩn bị bảng biểu liệt kê nội dung câu hỏi, sau đó HS đưa ra đáp án và GV giải đáp Nhưng nếu sử dụng E-book, HS chỉ việc “click” vào lựa chọn của mình, E-book được lập trình để đưa ra đáp án đúng và đánh giá câu trả lời của HS Bên cạnh đó, trong môi trường dạy học trực tuyến, thông qua mạng internet, người học còn tương tác được với người dạy, tương tác giữa người học với nhau thông qua các diễn đàn trao đổi hoặc phản hồi học tập (feetback) Việc thao tác được trên E-book đã tạo ra quy trình dạy học “mở”,
phát huy tối đa tính chủ động, tích cực của HS
1.4.4 Ý nghĩa của việc sử dụng sách điện tử trong dạy học hiện nay
Với các tính năng ưu việt kể trên, sách điện tử có những tác động tích cực đến quá trình dạy học theo xu hướng đổi mới hiện nay
- Tạo cơ hội triển khai những chiến lược dạy học mới
Việc sử dụng sách điện tử cho phép người học tìm tới sự cân bằng giữa việc tích luỹ nội dung tri thức môn học và các chiến lược học tập thông qua việc tự
Trang 33định hướng, tự điều khiển, tổ chức, quản lý, tự đánh giá chính việc học của mình Do đó các chiến lược dạy học mới được mở ra :
+ Dạy học bằng bằng chính hoạt động học tập của người học
+ Dạy học cá thể hoá trong hoạt động tương tác, hợp tác
+ Dạy học hướng vào dạy cách tự học, tự nghiên cứu
+ Dạy học dựa trên sự đánh giá và tự đánh giá
- Tạo ra những biến đổi căn bản trong hoạt động dạy học
Việc tích hợp sách điện tử vào quá trình dạy học truyền thống sẽ kéo theo những biến đổi căn bản trong hoạt động của người dạy và người học như sau: + Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác;
+ Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu sang làm việc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trong sách điện tử );
+ Hoạt động đánh giá dựa trên mục tiêu cụ thể (có thể sử dụng bất cứ hình thức nào để giải quyết nhiệm vụ, miễn là đạt mục tiêu);
+ Chuyển từ tư duy « cào bằng » về mặt chất lượng sang nâng cao tính cạnh tranh lành mạnh trong mọi hoạt động dạy học (cạnh trạnh ngay giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm, giữa các hình thức nhằm giải quyết nhiệm
- Tạo ra môi trường học tập mới
Môi trường học tập có tích hợp sách điện tử sẽ mang một cấu trúc mới đầy triển vọng với:
Trang 34+ Hệ thống học tập tự tổ chức (có định hướng của người dạy)
+ Cấu trúc ngang trong dạy học, không quan tâm tới thứ bậc, mức độ quan trọng của một trong ba đỉnh của tam giác sư phạm : Người dạy - Người học - Nội dung dạy học Đây là điểm khác biệt rõ nét so với cách dạy học truyền thống
+ Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện giúp nâng cao hiệu quả chất
lượng quá trình dạy học nhờ việc cải tiến hoạt động nhận thức tích cực mang định hướng cá nhân của người học, dạy học dựa trên năng lực và đánh giá
thực
+ Môi trường học tập không có sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với
quá trình dạy học Người học có thể nghe, nhìn, học qua E-book đã được
đóng gói, vào đĩa CD-Rom chẳng hạn, với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi, với cấp độ và tốc độ tuỳ chọn
- Tạo cơ hội đổi mới phương pháp và hình thức dạy học
Đổi mới phương pháp dạy và học vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của việc tích hợp sách điện tử vào dạy học truyền thống hiện nay Dạy học theo nhóm nhỏ, tranh luận và trình bày, nêu vấn đề và giải quyết, dạy học theo kiểu “dự án” càng ngày sẽ càng chiếm ưu thế trước hình thức thuyết giảng, độc thoại một chiều Do giải quyết được vấn đề hạn chế không gian, thời gian học tập, nên người học và người dạy có thể không cần giáp mặt thường xuyên trong quá trình tổ chức một nội dung dạy học cụ thể Chẳng hạn, chuẩn bị cho một giờ học sắp tới, người học có thể đến thư viện, lên mạng để xem, phân
tích, đánh giá bài giảng từ trước với số lần không hạn chế
1.4.5 Một số định dạng của sách điện tử
1.4.5.1 Định dạng Adobe
E-book với định dạng này có thể đọc trên máy tính cá nhân cài đặt, điều hành Windows và đọc trên các thiết bị số E-book này có chức năng đánh dấu, tìm kiếm Tệp PDF có thể xem, chuyển trang đọc, in ra giấy nếu được phép
Trang 351.4.5.2 Định dạng MicrosoftReader
E-book với định dạng này có thể tương thích, đọc với máy tính có cài đặt Windows 95/98/2000 Sách có kích thước gần với sách in khổ 13x19cm Định dạng cho phép người đọc bình luận, chú giải, đánh dấu văn bản, cho phép vẽ, thiết đặt font chữ, cho phép nghe giọng đọc văn bản
1.4.5.3 Định dạng Palm Reader
Định dạng này đọc được trên thiết bị cầm tay Palm Nó cho phép lựa chọn loại và cỡ font chữ, điều khiển một số nội dung văn bản trên màn hình đọc cùng một thời điểm Ngoài ra, định dạng cho phép tạo các trang đánh dấu khi sử dụng, tạo bảng mục lục nội dung khi đọc
1.4.5.4 Định dạng HiE-book
Là định dạng có chức năng sử dụng đầy đủ các định dạng MP3 Ví dụ : khi sử dụng Headphone ta có thể kết nối để nghe nhạc khi đọc tiểu thuyết ; khi đọc sách ta có thể vẽ tranh Có thể chèn văn bản khi đọc bằng bàn phím thả xuống, có thể gửi và nhận file nội dung
1.4.5.5 Định dạng HTML
Đây là định dạng thuận lợi nhất khi sử dụng hiện nay Sách ở định dạng này sẽ không cần phần mềm hỗ trợ đọc sách hoặc thiết bị đọc đặc thù nào, chỉ cần máy tính có (hoặc không) kết nối mạng internet Kích cỡ file sách nhỏ nên dễ sử dụng khi đọc sách Nhờ tính năng điều hướng siêu văn bản giống như xem một trang web nên việc làm quen và sử dụng sách loại này rất dễ dàng Định dạng này cho phép tìm kiếm, tra cứu và copy nội dung trong cuốn sách
1.4.6 Một số lưu ý khi thiết kế E-book dưới dạng web html
Khi thiết kế E-book dưới dạng web html, cần lưu ý một số phương diện sau:
- Phải căn cứ vào tiêu chí đánh giá website (phụ lục 4)
- Phải đảm bảo những lợi ích cho người học / người sử dụng:
+ Khả năng học được (Learnability): Web phải đảm bảo để người học có thể làm chủ việc học trên web ngay trong thời gian ngắn mà không cần đến khoá học hay tài liệu hướng dẫn
Trang 36+ Tính hiệu quả (Effciency): Web phải đảm bảo tính hiệu quả khi sử dụng,
HS dễ dàng thích ứng với cách trình diễn thông tin, tiếp cận thông tin và những thay đổi về trang web sau đó
+ Sự thoả mãn (Satisfaction): Web phải đảm bảo sự hứng thú cho người học khi học tập, đây là một trong những yếu tố giúp HS có động lực học tập, góp phần nâng cao tính tích cực học tập của HS
- Phải xác định rõ được một số điểm khác biệt khi tiếp cận sách điện tử với sách truyền thống, nhằm phát huy những lợi thế và hạn chế những nhược điểm của sách điện tử:
+ Đọc trên màn hình chậm hơn 25% so với đọc trên giấy
+ Đọc trên màn hình nhanh mệt hơn so với đọc trên giấy
+ Đọc trên web là lấy ý chính, đọc từ chỉ chiếm 20%
+ Người học thường tập trung vào hình ảnh trước khi tập trung đến text
Trên đây là một số lưu ý cơ bản, cần cân nhắc trước khi tiến hành thiết
kế và sử dụng có mục đích nhất định công cụ sách điện tử dưới dạng web
1.4.7 Nguyên tắc biên soạn sách điện tử dạng web hỗ trợ dạy học
1.4.7.1 Môđun hóa, liên kết hóa nội dung
Nội dung của E-book dùng để hỗ trợ dạy học phải là nội dung được thiết
kế theo ý tưởng sư phạm rõ ràng, có cấu trúc khoa học, hợp lý, phù hợp với các hoạt động của quá trình dạy học Để đạt hiệu quả trong trình bày, quản lý,
xử lý thông tin, nội dung E-book nói chung và E-book dưới dạng web – html nói riêng thường được phân thành nhiều mô đun (Module) khác nhau, mỗi mô đun lại có thể tách thành các tiểu mô đun, tùy theo cấu trúc của nội dung dạy học theo kịch bản mà có nhiều cấp độ mô đun khác nhau đối với những nội dung dạy học khác nhau Việc phân chia thành các mô đun này có tác dụng giúp người biên soạn tạo ra một cấu trúc bài học có hệ thống, dễ quản lý thông tin, đồng thời người sử dụng cũng dễ nắm bắt thông tin và tiếp cận được ý tưởng sắp xếp nội dung của người biên soạn Về mặt kĩ thuật, việc
Trang 37chia nhỏ nội dung còn nhằm mục đích tạo thuận lợi cho việc đăng tải thông tin trong môi trường online, tránh việc bị lỗi đường truyền do dung lượng quá lớn Cùng với yêu cầu mô đun hóa, nội dung E-book còn phải có tính liên kết nội bộ chặt chẽ Các mô đun và tiểu mô đun không chỉ cần có mối liên hệ trục dọc là mạch cấu trúc chính mà còn có thể có mối liên hệ hàng ngang giữa chúng với nhau, thêm nữa là mối liên hệ cục bộ bên trong mỗi mô đun đó (siêu liên kết) Có thể hình dung nội dung web-Ebook giống như một mạng lưới trong đó tồn tại các liên kết chéo, đảm bảo cho người sử dụng có thể tiếp cận và nắm bắt nội dung theo nhu cầu và năng lực cá nhân, không nhất thiết phải tuân thủ theo một trật tự tuyến tính cố định
1.4.7.2 Đa phương tiện hóa (Multimedia) trong trình bày nội dung
Một trong những lợi thế của E-book là khả năng trình diễn nội dung thông tin đa phương tiện (multimedia): một nội dung dạy học có thể được truyền tải đến người học bằng nhiều hình thức (văn bản, hình ảnh, biểu đồ, video clip, hoạt hình ) tác động vào nhiều kênh giác quan khác nhau, tăng cơ hội tiếp cận và tiếp nhận thông tin một cách đa dạng cho người học Trình diễn đa phương tiện là yêu cầu nhằm khu biệt và nêu bật tính năng, lợi thế của sách điện tử so với các công cụ dạy học truyền thống Sử dụng Multimedia trong xây dựng E-book sẽ giúp kích thích đa giác quan trong quá trình tiếp nhận, lưu giữ và xử lý thông tin, tăng sự chú ý, hứng thú và quan tâm ở người học
1.4.7.3 Tăng cường tính tương tác với nội dung dạy học
Các văn bản được số hóa, hình ảnh, âm thanh, biểu đồ, ký hiệu, phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo chứa đựng nội dung dạy học được tích hợp theo ý đồ sư phạm trong bài giảng điện tử sẽ tạo ra cơ hội giúp người học trở
thành chủ thể tích cực trong chính quá trình dạy học Khối lượng kiến thức và
kỹ năng thu được ở người học sẽ tương ứng với mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo của chính chủ thể hành động
Trang 38Mặt khác, mỗi người học sẽ có cơ hội lựa chọn cho mình khối lượng nội
dung, tốc độ học tập phù hợp (ví dụ, với một bài giảng, người học có thể tham gia hay thao tác với số lần không hạn chế, việc chọn lựa nội dung không nhất
thiết phải theo trình tự bắt buộc )
Như vậy, chương 1 đã tập trung làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, DHTC là một quan điểm dạy học hiện đại, đáp ứng nhu cầu
đổi mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học nói chung và dạy học môn ngữ văn nói riêng Bản chất của DHTC đó chính là dạy học hướng vào hoạt động của người học, tạo điều kiện để họ phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo trong học tập
Thứ hai, một trong những điều kiện để có thể triển khai DHTC đó là
ứng dụng thiết bị dạy học hiện đại, trong đó nổi bật là CNTT Tích hợp CNTT vào quá trình dạy học là xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại Nó tạo ra những tác động tích cực lên hầu hết các thành tố của quá trình dạy học: phương pháp dạy học, nội dung dạy học, hình thức tổ chức dạy học, người dạy, người học, kiểm tra đánh giá
Thứ ba, luận văn tập trung giới thiệu khái lược một trong những công
cụ CNTT có thể áp dụng trong dạy học môn ngữ văn: sách điện tử (E-book) Quy trình nghiên cứu, biên soạn, ứng dụng sách điện tử hỗ trợ dạy học phần VHDG (ngữ văn 10) sẽ được làm rõ ở các chương sau
Trang 39CHƯƠNG 2 KHẢ NĂNG BIÊN SOẠN SÁCH ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC
PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN, NGỮ VĂN LỚP 10 2.1 Quan điểm xây dựng chương trình ngữ văn 10
Chương trình Ngữ văn phổ thông hiện hành được xây dựng dựa trên hệ thống quan điểm khoa học, quan điểm sư phạm và quan điểm thực tiễn Ngoài việc xác lập hệ thống căn cứ, các nhà giáo dục còn chỉ ra một cách khái quát cách thức, biện pháp để thực hiện mục tiêu giáo dục dựa trên căn cứ đó
Hệ thống quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữ văn hiện hành đã bộc lộ nhiều điểm mới
Về quan điểm khoa học, ngoài việc thừa nhận chương trình Ngữ văn là sản phẩm xuất phát từ “những thành tựu ổn định của các ngành khoa học tiếng Việt, Văn học và Làm văn”, các nhà giáo dục còn khẳng định thành tựu của các ngành Tâm lí học và Lý luận dạy học hiện đại cũng tác động đến chương trình môn Ngữ văn Chính kết quả nghiên cứu của hai ngành khoa học này đã dẫn đến sự thay đổi trong phương pháp dạy học văn: “dạy học hướng vào HS” hay “lấy người học làm trung tâm”
Về quan điểm sư phạm, một điểm mới rất rõ nét đó chính là quan điểm
tích cực hóa hoạt động học tập của người học Xã hội đòi hỏi người có học
vấn hiện đại không chỉ là người có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức, sử dụng các tri thức một cách độc lập Như vậy với quan điểm “tích cực hóa hoạt động học tập của người học”, việc dạy học môn Ngữ văn không còn là một chiều: truyền đạt – lĩnh hội mà là quá trình tự chiếm lĩnh của HS dựa trên định hướng của GV Chẳng hạn, “học phần Tiếng Việt và Làm văn, HS được hướng dẫn để tự phát hiện kiến thức,
tự rèn luyện kĩ năng giao tiếp phù hợp với các tình huống thường gặp trong học tập và trong cuộc sống”
Trang 40Bên cạnh đó, quan điểm tích hợp đã đem lại một cái nhìn hoàn toàn mới
mẻ để từ đó xây dựng nên một chương trình Ngữ văn phổ thông với diện mạo mới Tích hợp trong môn Ngữ văn thể hiện ở hai chiều: chiều dọc và chiều ngang Nguyên tắc tích hợp này không chỉ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa
3 phân môn (Văn học, Tiếng Việt và Làm văn) mà còn độ mở rộng kiến thức theo từng cấp theo nguyên tắc “đồng tâm và phát triển”
Như vậy, quan điểm xây dựng chương trình ngữ văn phổ thông đã có những định hướng đúng đắn, tạo tiền đề để bộ môn này tiếp cận với xu hướng đổi mới một cách đồng bộ và toàn diện, tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực của thời đại công nghệ
2.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn
Hiện nay vấn đề dạy và học môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông luôn là vấn đề nổi cộm, được toàn xã hội quan tâm Đây là bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội – lĩnh vực không hề dễ dàng trong việc truyền tải kiến thức cũng như tạo sự hứng thú cho HS Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với
nỗ lực của các nhà chức trách, đội ngũ GV trong việc quán triệt tinh thần đổi mới giáo dục những năm gần đây, việc dạy và học Ngữ văn ở bậc THPT cũng bước đầu có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn
Về số lượng, hầu hết các trường phổ thông đã bắt đầu tiếp cận với các phương tiện, thiết bị CNTT và sử dụng nó hỗ trợ quá trình dạy học Máy chiếu, máy tính, băng đĩa, phim tư liệu, phòng tin học kết nối internet… được trang bị cho các trường học tương đối đầy đủ GV dễ dàng ứng dụng CNTT
để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo Nắm bắt được tinh thần đổi mới theo hướng tích hợp công nghệ vào dạy học, một số trường phổ thông đã tích cực đẩy mạnh phong trào thiết kế bài giảng điện tử Ví dụ, trường THPT Chuyên Ngoại ngữ (Hà Nội), trường THPT Bình Sơn (Vĩnh Phúc), mỗi GV mỗi tuần đều có một tiết soạn giảng