1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ Sang thu" của Hữu Thỉnh : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 10"

104 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng cho đến nay vẫn còn không ít những bức xúc cho người dạy học Ngữ văn: khi soạn bài, khi đứng lớp với tư cách là người điều khiển, người cố vấn rèn kĩ năng gì để học trò sớm chủ độn

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI VĂN KIÊN

RÈN KĨ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ VÀ LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG CHO HỌC SINH LỚP 9 TRONG DẠY HOC

BÀI THƠ "SANG THU" CỦA HỮU THỈNH

CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Viết Chữ

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy PGS TS

Nguyễn Viết Chữ- người đã định hướng nghiên cứu và tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường THCS Ngô Quyền đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng dạy tại trường THCS Ngô Quyền, Tân Trào, Hồng Quang đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song Luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các t hầy, cô, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm để Luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2014

Tác giả

Bùi Văn Kiên

Trang 5

v

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng………Vi MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Bản chất của quá trình dạy học Ngữ văn trong nhà trường 9

1.1.2 Một số khái niệm liên quan……….25

1.2 Cơ sở thực tiễn 36

1.2.1 Thực trạng hoạt động tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong quá trình tiếp nhận bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh 36

1.2.2 Thực trạng việc rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh trong quá trình tiếp nhận bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh 38

1.2.3 Nguyên nhân 40

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ VÀ LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG CHO HỌC SINH LỚP 9 TRONG DẠY HỌC BÀI THƠ “SANG THU” CỦA HỮU THỈNH 2.1 Những nguyên tắc khi tiến hành dạy học bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh 41

2.2 Một số biện pháp rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tưởng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài "Sang thu" của Hữu Thỉnh 41

2.2.1 Đọc để khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh 41

2.2.2 So sánh các tín hiệu nghệ thuật trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh với một số bài thơ của các tác giả khác để gợi liên tưởng……… ……….… 45

2.2.3 Sử dụng các câu hỏi ngắn gọn, cụ thể để tri giác ngôn ngữ, giải mã các tín hiệu nghệ thuật và phát huy trường liên tưởng, tưởng tượng của học sinh 54

2.2.4 Dùng tranh để kích thích liên tưởng 58

2.2.5 Xây dựng câu hỏi để liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo 59

Trang 6

vi

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… …….61

3.1 Mục đích thực nghiệm 61

3.2 Yêu cầu thực nghiệm 61

3.3 Địa bàn, đối tượng và bài thực nghiệm 61

3.4 Nội dung, tiến trình và thời gian thực nghiệm 62

3.4.1 Nội dung thực nghiệm 62

3.4.2 Thời gian và tiến trình thực nghiệm 62

3.5 Giáo án thực nghiệm 63

3.5.1 Yêu cầu chuẩn bị 63

3.5.2 Giáo án thực nghiệm 64

3.5.3 Giáo án dạy đối chứng 76

3.6 Kết quả thực nghiệm 80

3.6.1 Tiêu chí đánh giá 80

3.6.2 Kết quả thu được 80

3.6.3 Kết luận rút ra qua thực nghiệm 83

KẾT LUẬN ……….………… …… 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 88

PHỤ LỤC……….……….……90

Trang 7

1

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng1.1 Kết quả khảo sát 37

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát 39 Bảng 3.1 Bảng kết quả kiểm tra lớp 9B, 9C trường THCS Ngô

Quyền …… 81 Bảng 3.2 Bảng kết quả kiểm tra lớp 9C, 9B trường THCS Tân Trào 82 Bảng 3.3 Bảng kết quả kiểm tra lớp 9B, 9C trường THCS Hồng

Quang 82

Trang 8

Lý thuyết tiếp nhận, Thi pháp học, đã giúp cho ta nhìn rõ hơn bản chất sáng tạo và tiếp nhận của người nghệ sỹ, độc giả thưởng thức xung quanh việc tiếp cận với tác phẩm Từ thành tựu của ngành Tâm lý học hiện đại và thưởng thức thẩm mỹ trong Mỹ học cũng cho ta nhận rõ những năng lực tiếp nhận với các loại hình tượng nghệ thuật Với hình tượng văn chương ở các loại thể khác nhau cũng cần những “đặc chiêu” khác nhau khi giảng dạy để kích thích những năng lực tiềm ẩn ở mỗi người Vì vậy vấn đề rèn kĩ năng nào cho người giáo viên dạy Ngữ văn, cho người học văn là cả một vấn đề lớn của Ngành khoa học phương pháp

Trong vòng ba bốn thập kỉ nay, ở nhà trường Việt Nam với bộ môn Ngữ văn đã có không ít những biến động với thầy, với trò, với cách dạy cách học với từng bộ phận văn chương, với từng đặc trưng loại thể đã có không ít những cố gắng cải cách từ khâu tổ chức hoạt động đến rèn các kĩ năng dạy học và kĩ năng tiếp nhận Nhưng cho đến nay vẫn còn không ít những bức xúc cho người dạy học Ngữ văn: khi soạn bài, khi đứng lớp với tư cách là người điều khiển, người cố vấn rèn kĩ năng gì để học trò sớm chủ động tiếp nhận được cái hay cái đẹp của bộ môn nghệ thuật, nghệ thuật nhất trong những ngành nghệ thuật vì nó tác động tới tất cả mọi giác quan từ hình tượng nghệ thuật được xây dựng bởi ngôn từ (không một ngành nghệ thuật nào có được vì hình tượng nghệ thuật được xây dựng bởi ngôn từ là hình tượng là kết quả khái quát của khái quát)

Công việc dạy học tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm trữ tình nói riêng không thể xa rời kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng

Trang 9

3

tượng(trong tám kĩ năng tiếp nhận tác phẩm văn chương của học sinh thì đây

là hai kĩ năng cửa ngõ quan trọng nhất)

Văn học nói chung và tác phẩm văn chương nói riêng có nhiều chức năng nhưng chức năng thẩm mỹ là quan trọng hàng đầu Muốn văn học thực hiện được chức năng này thì người học sinh phải có năng lực tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng

Nhà tâm lý học Nga là N.D.Lêvitốp trong cuốn “Tâm lý học sư phạm ”

đã nói: “Sự tưởng tượng bao giờ cũng phong phú hơn hiện thực Sự tưởng tượng càng phong phú thì cảm xúc càng mãnh liệt” Viện sĩ Kyđriasép cũng đánh giá rất cao năng lực tưởng tượng của người đọc và ông khẳng định: nếu không có sự tưởng tượng của người đọc thì hình tượng chỉ còn là tiếng hú trên cánh đồng hoang mọc đầy cỏ dại

Từ chân lý này ta càng thấy việc rèn kĩ năng tiếp nhận tác phẩm văn chương là một khâu quan trọng trong dạy học Văn đặc biệt là hai kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng

Trong thế giới phẳng của một thời kì hội nhập khu vực và quốc tế việc

đi đúng bản chất dạy học của từng chuyên ngành trong mỗi nhà trường là điều

vô cùng quan trọng Với bộ môn Ngữ văn việc rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ

và liên tưởng, tưởng tượng là một việc làm vừa truyền thống vừa hiện đại

Xuất phát từ lý do như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài:

Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp

9 trong dạy học bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng tưởng tượng cho học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương

Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên Trung học phổ thông về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn của Bộ

Trang 10

Trong cuốn Hiểu văn, dạy văn Nxb Giáo dục 2001, nhà nghiên cứu

Nguyễn Thanh Hùng cho rằng muốn cắt nghĩa văn bản " phải nghiên cứu và xác định mối quan hệ bên trong mỗi tác phẩm trữ tình thông qua tác động và chức năng của hình tượng âm thanh, của cấu trúc thơ, của khổ thơ, của tính hình ảnh" [11, tr 98] "Phân tích tác phẩm trữ tình cần phải quan tâm đến bình diện diễn đạt ngôn ngữ nghệ thuật" [11, tr 103] Như vậy, để cắt nghĩa văn bản đòi hỏi người dạy và người học phải nhận diện được hình thức nghệ thuật, các mối quan hệ bên trong của tác phẩm trữ tình

Trong bài viết Về sự phân tích tác phẩm ngôn ngữ trong nhà trường(Tạp chí Ngôn ngữ số 2/1975), Giáo sư Đinh Trọng Lạc đã nêu khá cụ

thể quá trình phân tích tác phẩm nghệ thuật: đó là quá trình đi từ hình tượng

từ ngữ đến hình tượng nghệ thuật; từ việc làm sáng tỏ hình tượng nghệ thuật

để làm nổi bật tư tưởng chủ để Hoặc có thể nêu ngay tư tưởng chủ đề rồi dùng hình tượng nghệ thuật chứng minh; nêu ngay những hình tượng nghệ thuật rồi dùng hình tượng nghệ thuật phân tích các yếu tố ngôn ngữ Vấn đề quan trọng là biết xuất phát đúng; nghĩa là biết tìm ra đúng hình tượng từ ngữ

và biết phân tích chúng một cách chính xác và tinh tế

Trang 11

5

Suy nghĩ về một phương pháp phân tích văn bản thơ của Trần Ngọc

Thêm đăng trên Tạp chí Văn học số 5/1981 cho rằng phương pháp phân tích văn bản thơ có những nguyên tắc chính Văn bản thơ là một thể thống nhất hoàn chỉnh có chứa một hệ thống các mối liên kết bên trong và các mối liên kết bên ngoài Theo tác giả "Việc phát triển các mối liên kết bên ngoài sẽ được tiến hành theo một qui trình đi từ cái có mặt trên văn bản đến cái vắng mặt, từ hình thức đến nội dung, hình thức ngôn ngữ- thông tin sự kiện- khôi phục thông tin sự kiện- thông tin khái niệm." [ 22, tr 36]

Giáo sư Phan Trọng Luận trong cuốn sách của mình như Phương pháp giảng dạy văn( xuất bản 2001), Văn chương bạn đọc sáng tạo, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn đều đề cập đến các năng lực tiếp nhận văn học Trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục

1977 Giáo sư cho rằng: "Con đường đi vào tác phẩm văn học là con đường trải qua nhiều chặng, nhiều bước, nhiều giai đoạn để đi dần từ bề ngoài đến bên trong tác phẩm( ) Con đường đó bao giờ cũng bắt đầu từ công việc tri giác ngôn ngữ và lĩnh hội hình tượng tác phẩm từ những bình diện thấp cao khác nhau" Nói đến liên tưởng, tưởng tượng có một vai trò quan trọng trong

tiếp nhận văn học, chúng ta có thể kể đến như: Cảm thụ và giảng dạy văn học của tác giả Phan Trọng Luận, Nxb Giáo dục 1983; Dạy văn dạy cái hay cái đẹp của tác giả Nguyễn Duy Bình, Nxb Giáo dục 1983; Giảng văn, nhiều tác

giả, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, 1981

Giáo sư Phan Trọng Luận cho rằng: "Liên tưởng là đầu mối của những rung động thẩm mỹ Liên tưởng không những là cần thiết để lĩnh hội được

bề trong của hình tượng, mà còn giúp mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng trong đó", và "tưởng tượng như chiếc cầu nối người đọc với người viết Tưởng tượng nâng tâm hồn, suy nghĩ của người đọc đến gần với người viết Thiếu năng lực tưởng tượng thì làm sao hiểu được ý tình sâu kín trong giấy trắng mực đen, chữ viết Đằng sau và bên dưới từng trang giấy, từng nét chữ,

có tiếng nói, hơi thở, nhịp tim của nhà văn, có sức hoạt động của nhân vật"

Trang 12

vì, một khi các em chưa tái hiện được hình tượng trong tâm trí của mình thì tác phẩm vẫn là một hiện tượng xa lạ bên ngoài các em, các em chưa được tiếp xúc với nó, do đó khó mà hiểu được lời phân tích dẫn dắt của giáo viên." [1, tr 39-40]

Trong cuốn Rèn tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương

của Nguyễn Trọng Hoàn, Nxb Giáo dục(2001) đã tập trung nghiên cứu hoạt động liên tưởng, tưởng tưởng của học sinh trong giờ giảng văn, đặt nó trong một hệ thống lý luận bao gồm đối tượng, mục đích, cơ chế, phương thức thực hiện và biện pháp định hướng thẩm mỹ, khắc phục những hạn chế của liên tưởng, tưởng tượng Từ việc xác định liên tưởng, tưởng tượng là những yếu tố then chốt để khai thác, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học tác giả đã đi vào nghiên cứu điều kiện xuất hiện, cơ chế vận hành, mối quan

hệ giữa liên tưởng, tưởng tượng với các thao tác tư duy sáng tạo và vị trí của

nó trong từng giai đoạn nhận thức để làm nên tính đặc thù của hoạt động tiếp nhận văn học trong nhà trường

Đề cập đến ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam, các tác giả Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Mã Giang Lân, Vũ Quần Phương, đã chú ý tới sự đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại Trong cuốn Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã dành mục cuối của cuốn sách cho "Sự khai thác về mặt tổ chức ngôn ngữ của thơ hiện đại"

Bên cạnh đó còn số luận văn của một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này như: Trần Thị Hồng với đề tài: “Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện

Trang 13

7

hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông”, Đinh Thị Thanh Thủy với đề tài: “Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12”,

Trên đây là những tài liệu có ý nghĩa như những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu này đều đi sâu vào nghiên cứu lý thuyết mang tính khái quát hoặc có đề cập thì mới chỉ đề cập đến một khía cạnh, một phần của vấn đề ở những đối tượng khác Từ nhu cầu của thực tiễn, trên cơ sở tiếp cận và trân trọng kế thừa tư tưởng của những nhà nghiên cứu đi trước ở luận văn này chúng tôi đi sâu vào

một vấn đề cụ thể đó là: Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Trung học cơ sở mà cụ thể là đối với học sinh khối lớp 9 Thông qua việc Rèn

kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, giáo viên có thêm con đường để

tổ chức học sinh cảm thụ, khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm thơ trữ tình khác trong chương trình lớp 9 Đồng thời giúp học sinh hình thành kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng khi tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình nói riêng và tác phẩm văn học nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luân văn của chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:

- Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho việc rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ “Sang thu ”của Hữu Thỉnh

Trang 14

8

- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ “Sang thu ”của Hữu Thỉnh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh khối 9 của 3 trường: trường Trung học cơ sở Ngô Quyền, Trung học cơ sở Tân Trào và trường Trung học cơ sở Hồng Quang đều thuộc huyện

Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong quá trình tiếp nhận bài thơ “Sang thu ” của Hữu Thỉnh ở lớp 9 Nghiên cứu việc rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng

tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh

Thời gian nghiên cứu: học kì II năm học 2011-2012 và năm học

5.2 Nhóm phương pháp điều tra, khảo sát

Nhóm phương pháp này dùng để điều tra, khảo sát:

Trang 15

9

Thực trạng về năng lực tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình tiếp nhận bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh ở lớp 9B, 9C trường Trung học cơ sở Ngô Quyền, Tân Trào, Hồng Quang đều thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

Thực trạng việc rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên tưởng, tưởng tưởng cho học sinh trong dạy học bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh ở lớp 9B, 9C trường Trung học cơ sở Ngô Quyền, Tân Trào, Hồng Quang thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này dùng để thực nghiệm và đối chứng nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả thực tế của các biện pháp do luận văn đề xuất

5.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp

Phương pháp này được dùng để thống kê, tổng hợp đánh giá kết quả thu được, xử lý các thông tin nhằm đối chiếu, kiểm chứng

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được viết trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc rèn kĩ năng tri giác ngôn

ngữ và liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ

"Sang thu" của Hữu Thỉnh

Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ và liên

tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 9 trong dạy học bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 1.Cơ sở lý luận

1.1.1 Bản chất của quá trình dạy học Ngữ văn trong nhà trường

1.1.1.1 Quá trình dạy học Ngữ văn là quá trình bồi dưỡng kĩ năng đọc, kĩ năng nghe và biểu hiện ra ở kĩ năng nói và kĩ năng viết

Quá trình này diễn ra ở nhiều hình thức, nhiều cấp độ khác nhau trên hai kênh chủ yếu là nghe và nhìn Chỉ bằng mắt với văn tự thì ta thường gọi là đọc thầm, còn khi qua cơ quan phát âm thì tồn tại rất nhiều hình thức ở mức:

to, nhỏ, nhanh, chậm hoặc là: đọc đúng (tròn vành, rõ chữ, đúng chính âm, chính tả), đọc diễn cảm thể hiện sự cảm thụ của người đọc (sự cộng hưởng của tâm hồn người đọc với tác phẩm, có cá tính sáng tạo của người đọc chứ không phải một bản nhạc có sẵn ai cũng đọc như nhau) Viện sĩ Naiđixốp nhấn mạnh 8 yêu cầu của việc đọc:

- Giản dị và tự nhiên

- Thâm nhập vào nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm ở mức dễ hiểu với mọi lứa tuổi

- Truyền đạt rõ ràng tư tưởng tác giả

- Thể hiện trình độ của mình với tác phẩm được đọc

- Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với người nghe

- Phát âm rõ ràng, chính xác

- Truyền đạt được đặc điểm loại thể và phong cách tác phẩm

- Kĩ năng sử dụng đúng giọng của mình

Mức cao nhất của đọc là đọc nghệ thuật Đọc diễn cảm phải vươn tới tiệm cận đọc nghệ thuật Nhưng đọc nghệ thuật không bao giờ thay thế cho

Trang 17

Sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn Ngữ văn là môn học Nhất là từ khi vấn

đề tích hợp nổi lên như một nguyên tắc thì không ít những ý kiến tùy tiện thậm chí coi môn Ngữ văn là môn học công cụ, môn học phương tiện Với phần kiến thức Tiếng Việt hoặc "Ngữ" ở mức độ đơn giản thì đúng là công

cụ, thậm chí còn là công cụ tối ưu, phương tiện tối ưu suốt một cuộc đời

"Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy" Con người còn sống thì còn phải đọc, nghe, nói, viết

Văn học là "trò diễn bằng ngôn từ" Nó là môn nghệ thuật Rèn kĩ năng đọc ở đây chính là tôn trọng đặc trưng bản chất môn nghệ thuật này Giáo sư Trần Thanh Đạm thường gọi là đọc cho "vang nhạc sáng hình"

Ở góc độ văn hóa đọc thì đọc còn gần như là đọc tiếp nhận, đọc biết, đọc hiểu, đọc nhớ Đôi khi người đọc nhiều, nhớ nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều ta vẫn coi là con người đó "đọc nhiều" Khái niệm đọc ở đây còn hàm chứa cả sự uyên bác

Năng lực văn chương còn biểu hiện ra ở hoạt động nghe Nghe văn ở đây có nhiều mầu sắc cung bậc và nhiều cách hiểu khác nhau Hoạt động nghe của Tiếng nghiêng về tiếp nhận chân lý, khái niệm, mẫu mã để vận dụng Hoạt động văn chương chỉ là một mảng nhỏ trong hoạt động của Tiếng Người không dây dưa gì đến văn chương phải đọc, nghe, nói, viết với tính chất nhật dụng Nhưng giờ văn thì người dạy và người học cần có năng lực nghe văn Đây cũng là năng lực nghệ thuật thực sự Nghe văn và tưởng tượng Cũng qua tác động của kênh nghe mà người tiếp nhận được nhiều, người tiếp nhận được ít bởi sự tưởng tưởng "Sự tưởng tượng bao gời cũng phong phú

Trang 18

12

hơn hiện thực Sự tưởng tượng càng phong phú thì xúc cảm càng mãnh liệt" Điều này được nhà tâm lý học sư phạm Lêvitốp và I Kôn khẳng định Làm thế nào để kích thích được sự tưởng tượng của các em về hình tượng văn học qua kênh nghe là một vấn đề về phương pháp

Đọc hiểu và nghe hiểu thường xuyên hỗ trợ cho nhau Đây cũng là một năng lực tổng hợp trong năng lực văn chương Nó cũng thể hiện năng khiếu nghệ thuật của con người Người họa sĩ có năng khiếu nhìn và tưởng tượng,

vẽ lại một khung cảnh, chép lại một bức tranh Người nhạc sĩ có năng khiếu nghe và tưởng tượng, nhớ được hàng triệu thanh âm, có khi không cần huy động đến kênh nhìn Ở đây chúng ta bàn đến năng lực văn chương trong hoạt động dạy học chứ không bàn đến năng khiếu văn chương ở hai phương diện sáng tác và cảm thụ

Nghe hiểu trong năng lực văn chương của người dạy và người học rất cần phải được khơi gợi một cách tế nhị Đọc rồi nghe mà thú vị, nghe người khác đọc mà thú vị Hoạt động đọc hiểu và nghe hiểu trong dạy học văn thể hiện năng lực văn chương và cũng là biểu hiện sinh động của năng lực cảm thụ

Năng lực văn chương còn biểu hiện ra ở năng lực nói hình tượng và viết hình tượng Có thể nói một cách cực đoan rằng: không có hình tượng thì không có nghệ thuật văn chương Tư duy hình tượng được biểu hiện ra qua ngôn ngữ giàu hình tượng Nhờ hình tượng mà ngành nghệ thuật này đa chức năng, đa thanh điệu, đa ý nghĩa Hình tượng của văn học nghệ thuật dung nạp

sự tưởng tượng sáng tạo của bất kì một cá nhân người đọc nào "Có bao nhiêu

người đọc Tắt đèn thì có bấy nhiêu khuôn mặt chị Dậu" "Tác phẩm chỉ bắt

đầu khi nó vang lên trong tâm hồn người đọc như một sự độc thoại bên trong"

Hiện nay trong nhà trường tồn tại không ít thói quen rất đáng tiếc, những quan niệm đơn giản về tác phẩm văn chương trong một thời đại tin học

Trang 19

13

Về một tác phẩm nào đó, cái ta có thể nhìn thấy và cầm được với số lượng hàng ngàn bản chỉ là hệ thống kí hiệu của nó Qua kênh nghe, kênh nhìn tác phẩm mới được hình dung trong đầu mỗi người Tác phẩm tốt không phải là tác phẩm chỉ đem tới thông tin mà kích thích để bùng nổ thông tin Có thể cực đoan mà nói rằng: có bao nhiêu lần người đọc tiếp xúc với văn bản nghệ thuật thì có bấy nhiêu tác phẩm

Tác phẩm văn chương theo Xaparốp ít nhất có ba tầng nghĩa: tầng ngữ nghĩa, tầng hình dung tưởng tượng và tầng ý Linh hồn của tác phẩm nghệ thuật văn chương là ở tầng hình dung tưởng tượng Cội nguồn của tầng này là hình tượng văn học Các hoạt động của năng lực văn chương: đọc, nghe, nói, viết đều thể hiện ở đây

Sau việc ý thức lại vấn đề năng lực văn chương ta phải từng bước rèn năng lực đọc, nghe, nói, viết trong quá trình dạy học

1.1.1.2.Bản chất của quá trình dạy học văn còn là quá trình phát triển năng lực tiếp nhận văn học Phát triển năng lực tiếp nhận của học sinh là hạt nhận của quá trình dạy học văn hiện đại

Dạy học hiện đại trả người học sinh về vị trí chủ thể của nó Người học sinh với mọi hoạt động đều chủ động, tự giác, tích cực, tự lực Điều quan trọng ở đây là khắc phục được sự lệ thuộc trong tư duy Cá tính sáng tạo của người học sinh trong tiếp nhận văn học được tôn trọng, khác xa lối dạy áp đặt

của Giảng văn ngày trước Thầy giảng, trò nghe Giáo sư Phan Trọng Luận đã

thể hiện ra ở 8 hoạt động của năng lực tiếp nhận:

* Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học

Đây là hoạt động khai sơn phá thạch đầu tiên của quá trình tiếp nhận

văn chương Về điểm này ta cũng cần có cái nhìn chi tiết hơn một chút giữa tiếp nhận văn chương trong dạy học văn và tiếp nhận văn học trong văn hóa

đọc Dưới góc độ Lý luận văn học thì Tiếp nhận văn học đi từ bạn đọc ẩn

Trang 20

14

tàng đến bạn đọc thực tế, xác định tầm đón nhận ý nghĩa và tầm đón nhận ý tưởng, xác định động cơ tiếp nhận, tâm thế tiếp nhận, diễn biến tiếp nhận và đỉnh cao trong tiếp nhận văn học có tính chất văn hóa ấy là sự đồng cảm, sự thanh lọc có khi cả sự bừng tỉnh nữa

Còn ở đây ta bàn đến năng lực tiếp nhận văn chương trong dạy học văn, biểu hiện đầu tiên là năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật văn chương được chưng cất từ ngôn từ toàn dân với những tính chất đặc

biệt: tính hình tượng Đây là tính chất độc đáo, đặc sắc làm nên nghệ thuật

này Nhờ tính hình tượng mà ngôn ngữ nghệ thuật còn nhiều tính chất khác tạo ra phẩm chất phong phú của ngành nghệ thuật này: tính biểu cảm sinh động, hàm súc đa nghĩa, chính xác, hệ thống ( kiểu nghệ thuật)

Năng lực tri giác ngôn ngữ ở đây là cảm nhận được những thông tin nghệ thuật từ hệ thống tín hiệu ngôn từ hình tượng Sự nhạy cảm của người đọc qua hoạt động nghe, nhìn mà tưởng tượng, đọc mà tưởng tượng Phàm những người có năng lực văn chương diễn ra rất mau lẹ Ta có cảm giác như

đó là sự nhạy cảm của một thứ linh giác nghệ thuật

Với học sinh phổ thông thì công việc của ta là phải kích thích để năng lực tri giác ngôn ngữ diễn ra càng nhanh càng tốt Nhưng bằng cách nào để để người học sinh mau chóng làm chủ văn bản, làm chủ hệ thống tín hiệu nghệ thuật đặc biệt này: ''Tri giác được ngôn ngữ nghệ thuật trong văn bản văn học

và nhất là trong thơ là biểu hiện năng lực ban đầu của năng lực tiếp nhận"(Phan Trọng Luận)

Năng lực tri giác ngôn ngữ mở đầu cho cả một hệ thống các năng lực tiếp nhận văn chương khác Vì vậy mà quá trình giải mã các thông tin nghệ thuật trên văn bản ngôn từ, hình ảnh, hình tượng trước khi cho học sinh tiếp xúc với văn bản là điều cần thiết Vai trò của người thầy ở đây quan trọng hơn bao gờ hết Việc định hướng tiếp cận văn bản theo hướng nào, lịch sử phát sinh, hay hướng vào đáp ứng của học sinh?!

Trang 21

15

Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn chương tạo ra được những ấn tượng ban đầu, những cảm xúc, những rung động thẩm mỹ vô cùng quan trọng ở người đọc Việc định hướng giải mã các thông tin nghệ thuật trong văn bản ở từ khó, ở hình ảnh, ở hình tượng càng chu đáo càng tạo điều kiện giảm nhiễu để bạn đọc học sinh đến với tác phẩm nghệ thuật Lượng thông tin càng tinh khiết, cường độ càng mạnh thì hứng thú tiếp nhận văn chương càng phát triển đúng hướng

* Năng lực tái hiện hình tượng nghệ thuật

Đây là năng lực quan trọng bậc nhất trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương Điều đáng lo ngại nhất trong giảng văn truyền thống là thầy giảng, thầy phân tích, thầy nhận xét, thầy bình luận về nhân vật cho học sinh nghe nhiều hơn là thầy kích thích khơi gợi để hình thành cho người học một năng lực tái hiện hình tượng

Sức mạnh văn chương là ở hình tượng Không có hình tượng được dệt bởi ngôn ngữ nghệ thuật thì không có ngành nghề nghệ thuật này Không có năng lực tái hiện hình tượng nghệ thuật thì cũng không có được khoái cảm thẩm mĩ khi tiếp nhận tác phẩm văn chương Vấn đề hình thành năng lực này phải có một quá trình trong sự tác động qua lại giữa dạy và học, vừa kích thích, vừa khơi gợi Nhất là vấn đề biện pháp sử dụng câu hỏi

Câu hỏi như một chất kích thích thiêng liêng để năng lực tái hiện hình tượng phát triển Chẳng hạn nếu ta không hỏi: Trong suốt cuộc đời Chí Phèo, giai đoạn nào làm cho em xúc động nhất? Thì làm sao học sinh hình dung tưởng tượng về hình tượng nhân vật Chí Phèo với tất cả những biến động từ khi ra đời đến khi kết thúc Hiện nay trong việc dạy học văn, câu hỏi vẫn nặng

về tìm ý, phát hiện ý nhiều hơn là những câu hỏi kích thích năng lực tái hiện hình tượng Chẳng hạn định hướng học sinh hình dung những điểm có phẩm chất thẩm mỹ nghệ thuật cao Như yêu cầu người đọc hình dung hình ảnh nét

mặt Nhẫn trước và sau cái ngã của con Ba Bớp (trong Cỏ non ), hình dung

Trang 22

cần nêu ý, nói ý, phân tích ý, Chẳng hạn khi dạy Truyện ngắn Lão Hạc chỉ

cần xoáy vào 2 ý lớn: Tình cảnh khốn cùng, số phận bi đát của người nông dân trước Cách mạng và vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách cao cả của lão Hạc(giầu lòng thương con, giầu lòng tự trọng) Dạy cũng từ mấy ý ấy rồi tìm ra những chi tiết minh họa, học cũng cần nắm mấy ý đó để mà kiểm tra Nếu đi đúng bản chất của quá trình dạy học Ngữ văn thì sau việc hình thành năng lực tri giác ngôn ngữ là việc hình thành năng lực tái hiện hình tượng

Việc dạy học ở đây phong phú hơn nhiều Biết bao hình ảnh, hình tượng cần được tái hiện trong tâm hồn người dạy, người học Hình ảnh nào ở đây cũng sinh động dựa trên hai cốt truyện lồng xen: tác giả kể và ông giáo

kể Đó là hình tượng lão Hạc với bao bi kịch nội tâm, với bao nỗi dày vò, với bao màn đối thoại, độc thoại cả người đọc và người dạy đều cần phải hình dung tưởng tượng cho được cảnh lão Hạc ăn cơm, đối thoại với con chó, cảnh lão Hạc đối thoại với ông giáo sau khi bán chó hình ảnh lão trong những màn độc thoại

Muốn có được năng lực tái hiện hình tượng rõ ràng chúng ta phải thay đổi hướng dạy, cách dạy, cách học, cách kiểm tra đánh giá nữa Cách dạy theo

ý chẳng những làm tê liệt óc tưởng tượng sáng tạo của người dạy, người học

mà còn xa rời bản chất nghệ thuật của văn chương Đây cũng là cách dạy học thoát ly văn bản Mọi thông tin nghệ thuật đều phải qua hệ thống kí hiệu này

Trang 23

ta đã xa, đang xa và tiếp tục xa rời bản chất bộ môn văn Học sinh không thể nào hứng thú với bộ môn nghệ thuật này được Học sinh bị "tra tấn" bởi những nhận xét phiến diện, bên cạnh những công thức nhàm chán mệt mỏi như: I Chủ đề, II Bố cục, III Phân tích Năng lực văn chương ở học sinh cũng không có nơi nào mà nương tựa, mà thể hiện ra nữa Đọc lúc nào? Ai đọc cho mà nghe? Ai hỏi mà nói ra sự tưởng tượng hình dung của mình về hình tượng nhân vật Giáo viên còn đang loay hoay để khỏi cháy giáo án, để

đủ 5 bước của môn học Machiuskin có câu "Hiểu phương pháp mới một cách không đầy đủ, vận dụng nó một cách non yếu Đó là biện pháp tích cực nhất

để vô hiệu hóa những phương pháp mới" Điều này giúp chúng ta nhìn rõ hơn

và thận trọng hơn với vấn đề học đường Nhất là đối với môn văn, môn nghệ thuật lấy hình tượng phi hình thể làm trung tâm, không phải dễ dàng "khôn ngoan" "quyền uy" được với nó Như lời của viện sĩ

V.G Marantxman trong bài "Chất thơ và lôgic" là "Văn học không cần cho người thực dụng"

Năng lực tái hiện hình tượng như một năng lực cơ sở của các năng lực khác Bám sát hình tượng văn chương trong từng thể tài, tái hiện được hình tượng của nó theo đặc trưng riêng là chúng ta đang từng bước đi đúng bản chất của quá trình dạy học văn Từ năng lực này chúng ta phát triển thêm nhiều năng lực khác nữa

* Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học

Trang 24

Như vậy năng lực liên tưởng trong tiếp nhận phát triển theo nhiều chiều Liên tưởng theo chiều dọc là những liên tưởng đồng sáng tạo với nhà văn "Liên tưởng của người đọc bắt gặp liên tưởng của nhà văn càng nhanh nhạy, càng sâu sắc bao nhiêu thì hiệu quả tiếp nhận càng cao bấy nhiêu"(Pau tốp xki) Ta gọi những năng lực liên tưởng sáng tạo vì điều này phụ thuộc và quan hệ đến chủ quan của mõi người đọc Mỗi người đọc là cả một thế giới ẩn tàng, chỉ chờ có cơ hội là phát triển Năng khiếu sáng tác nghệ thuật phát triển theo một hướng, năng khiếu nghiên cứu nghệ thuật phát triển theo một hướng Người nghệ sĩ tài năng thì tính phổ quát của liên tưởng vừa quảng bá, vừa uyên bác, vừa vĩnh hằng, tính điển hình đạt đến mức độ cổ điển

Sự liên tưởng theo chiều dọc rất cần trong việc chiếm lĩnh văn bản, tái hiện hình tượng rút ngắn khoảng cách nhà văn với bạn đọc

Liên tưởng theo chiều ngang sau này là cơ sở của hoạt động so sánh Bằng năng lực liên tưởng chiều ngang kiến thức phong phú, tạo ra một sự so sánh, đối chiếu nắm bắt các thông tin nghệ thuật chuẩn xác hơn, việc dạy học văn chương có hiệu quả cao hơn

Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận không nên bó hẹp trong mối quan

hệ chiều dọc mà nên tìm đến thông tin chiều ngang Chúng ta không quên rằng so sánh là một trong những bí quyết thành công của phân tích văn học Ít kiến thức thì lấy đâu liên tưởng Năng lực liên tưởng không mạnh thì làm sao nhớ được nhiều thì lấy đâu ra kiến thức.Cái vòng tư duy tưởng như luẩn quẩn

ấy làm cho vốn liếng trong hành trang nghề nghiệp của ta ngày một phong phú hơn Có ý thức bồi dưỡng năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn chương

Trang 25

ta đi từ khái quát đến cụ thể Ở đây năng lực cảm thụ cụ thể biết kết hợp với khái quát, tức là tìm ra những mối liên hệ giữa các chi tiết, hình ảnh nhân vật

để có một cái nhìn tổng thể Không ít người đi vào tác phẩm như chim chích lạc rừng Hoặc thiếu một năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm

Tuy nhiên cái khó nhất vẫn là bằng cách nào để hình thành được năng lực kết hợp cảm thụ cụ thể với khái quát hóa các chi tiết Suy cho cùng thì vẫn

là vấn đề đặt câu hỏi Hỏi thế nào? Ở đây không phải là những câu hỏi hình dung tưởng tượng như ở tái hiện hình tượng mà là những câu hỏi phân tích lý

giải Với truyện ngắn Hai đứa trẻ, ta có thể hỏi: Tại sao tên tác phẩm là Hai đứa trẻ mà có lúc nhà văn Thạch Lam lại gọi Liên là chị? Tại sao tác phẩm có tên là Chiếc lá cuối cùng? Ximông không có bố mà nhà văn đặt tên tác phẩm

là Bố của Xi Mông?

Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm tạo cho người đọc có một cái nhìn tổng quan toàn diện khi tiếp nhận tác phẩm văn chương

* Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận

Trang 26

20

Hình thành năng lực này có vị trí đặc biệt trong nhà trường Việt Nam

Vì nhiều năm nay vế đề nhận biết loại thể không được đặt ra trong giáo trình

Phương pháp dạy học văn cũng như trong đời sống nhà trường Tình trạng

giáo viên cứ thấy thơ là dạy trữ tình và cứ thấy truyện là dạy tự sự Đây cũng

là một trong những nguyên nhân chán văn của học sinh và chán dạy văn của thầy vì đi chệch bản chất nghệ thuật của môn học đặc biệt này

Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận là một năng lực nhạy cảm phát hiện ra "chất của loại ở trong thể" Đó là những tác phẩm mà giữa hình thức và nội dung không hoàn toàn thống nhất

Ở đây ta đang bàn về một vấn đề không phải dễ dàng tí nào nếu ta không thay đổi cách nghĩ, cách nhìn vào tình trạng dạy học văn hiện nay Bài thơ nào cũng dạy từ đầu đến cuối, hết đoạn một sang đoạn hai, không cần biết

nó thuộc loại thơ gì? Tự sự hay trữ tình? Cảm hứng sáng tạo của nhà thơ là ở đâu? Giáo viên không cần biết, miễn là không bỏ sót đoạn nào để khỏi "cháy giáo án" Thật ra dạy học văn hiện đại là một công việc kích thích tưởng tượng và chúng ta không quên rằng văn học có một chức năng cực kì quan

trọng là giải trí Mọi chức năng khác đều phải qua chức năng thẩm mỹ chủ

yếu và quan trọng bậc nhất ở đấy là cảm xúc thẩm mỹ Đúng như ý kiến của

Lênin trong "Bút kí triết học": Không có cảm xúc thì không và không bao giờ con người có khát vọng đi tìm chân lý Làm thế nào để việc dạy học văn thực

sự có hứng thú của một giờ dạy nghệ thuật? Ngoài những nguyên nhân nêu trên, chúng ta không thể nào không hình thành cho người dạy và người học năng lực nhận biế loại thể để định hướng tiếp nhận

Khi có năng lực nhận biết loại thể, ta định hướng rất nhanh cách thức, con đường tiếp nhận Năng lực nhận biết loại thể giúp ta định hướng việc tiếp nhận với những phương pháp biện pháp thích hợp, khắc phục được sự áp đặt tùy tiện, đi đúng được bản chất bộ môn văn và bản chất của việc dạy học văn

* Năng lực cảm xúc thẩm mĩ

Trang 27

21

Làm thế nào để người đọc hình thành được năng lực cảm xúc thẩm mĩ một cách mau lẹ nhất Có những câu thơ, nghe một lần thấy hay và nhớ rất nhanh Nhưng lại có những câu thơ nghe mãi mà vẫn chưa cảm thụ được Cái thị hiếu chủ quan là vô cùng quan trọng trong thẩm mĩ nghệ thuật Để có được năng lực cảm xúc thẩm mĩ, điều quan trọng là làm giảm nhiễu, tạo được sự gặp gỡ mau chóng giữa tín hiệu nghệ thuật của người nghệ sĩ sáng tác với bạn đọc

Năng lực này là hệ quả tổng hợp của các năng lực đã nêu ở trên Các phản ứng trực giác thường không đòi hỏi sự chính xác mà thiên về ấn tượng ban đầu

Nhưng nếu chuyển được những ấn tượng đó thành năng lực, nó như những phản ứng chính xác với cái đẹp trong văn chương và dần tạo ra sự nhạy cảm văn hóa trong cảm thụ nghệ thuật

Năng lực cảm xúc thẩm mĩ tuy là hệ quả của nhiều năng lực nhưng nó lại diễn ra đầu tiên trong tiếp nhận nghệ thuật Năng lực này đã tạo ra động lực cho các năng lực khác và thúc đẩy quá trình nhận thức thẩm mĩ diễn ra mạnh mẽ và đúng hướng Về năng lực này Giáo sư Phan Trọng Luận khẳng định: "Đấy là một năng lực cực kì quan trọng trong sáng tác cũng như trong thường thức tiếp nhận văn học Khi bắt đầu thấy dấu hiệu cảm xúc là khi ấy

đã bắt đầu có sự hoạt động đích thực bên trong của từng cá thể bạn đọc"

Trong quá trình bồi dưỡng năng lực văn chương cho học sinh trong nhà trường, không thể không bồi dưỡng năng lực cảm xúc thẩm mĩ Sau hơn mười năm học tập trong nhà trường mà người học sinh không hề rung động trước những cái đẹp lành mạnh thì ngành nghệ thuật được dạy học trong nhà trường đều phải xem lại bản chất của việc dạy học đó

Năng lực cảm xúc thẩm mĩ trong tiếp nhận văn chương còn là tiền đề cho năng lực sáng tạo văn học sau này Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là trong quá trình dạy học văn ít quan tâm tới tình huống thẩm mĩ, để giờ dạy có

Trang 28

22

một tâm thế nghệ thuật, ít quan tâm tới hứng thú của học sinh mà chủ yếu là dạy hết bài, dạy xong bài, không bỏ sót những gì mà sách giáo viên, sách giáo khoa đã nêu Vì sợ cháy giáo án Người giáo viên dạy văn, dạy nghệ thuật mà

cứ như cái loa phát thanh của người soạn sách thì còn gì là giờ nghệ thuật Chúng ta không quên dạy học hiện đại không bao giờ có cháy giáo án mà chủ

yếu ta kích thích vào những điểm có phẩm chất nghệ thuật cao để tạo sự lây lan cảm xúc(L.X Vưgôtxki) Mỗi người thầy đều thể hiện cái mạnh của mình

trong nghệ thuật sư phạm tinh vi để kích thích và điều khiển "Có bao nhiêu người thầy dạy giỏi thì có bấy nhiêu phong cách"(A Alếchxanđrôvit) Mặt khác chúng ta ít chú ý đến khoái cảm thẩm mĩ của học sinh trong giờ nghệ

thuật văn chương còn vì ta nặng về quan niệm văn học phản ánh hiện thực, rồi thổi phồng chức năng giáo dục

Nhưng thực ra cái hiện thực của văn học để con người nhận thức là một thế giới tinh thần linh ảo( buồn, đau, sướng, khổ của số phận con người) sâu kín, vừa xa xăm, vừa gần gụi Việc dạy học văn gắn với đời sống,

là đời sống tinh thần dân tộc và nhân loại, chứ không phải cái đời sống vật chất cụ thể Vì đối tượng của văn học là con người tinh thần Con người vật chất là đối tượng của giải phẫu học

Nếu J.Dewey thường quan niệm: "Hãy trả cho người học sinh những gì

thuộc về nó" Thì chúng ta trong tình hình hiện nay cũng phải nói rằng: Hãy

để cho ngành nghệ thuật văn chương được nói tiếng nói của nó trong nhà trường

Văn chương có giáo dục cũng là thông qua hình tượng văn chương lung linh trong tâm hồn bạn đọc, quá trình thanh lọc diễn ra, và con người bị cảm hóa Quá trình cảm hóa ấy diễn ra vô vàn chức năng Nhưng tất cả đếu qua cảm xúc thẩm mĩ, rung động thẩm mĩ mà hình thành trong tâm hồn bạn đọc Tính tư tưởng trong giờ dạy học văn càng kín đáo, càng tế nhị càng tốt vì nó phải qua cái hay cái đẹp của hình tượng nghệ thuật chứ không phải qua sự

Trang 29

* Năng lực nhận thức

"Cái kì diệu nhất của văn học chính là ở chỗ với sức mạnh riêng của mình văn học thức tỉnh được lương tâm của mỗi con người người đọc hiểu rồi cảm thương đưa đến một sự thanh lọc, một sự nhận thức, một sự thức tỉnh bên trong mỗi con người Văn học lúc ấy mới thực sự đến với con người và hiệu quả đọc văn như thế mới gọi là đạt được hiệu quả cần có."

Điều quan trọng ở đây là sự nhận thức Thông qua vẻ đẹp của hình tượng văn học lung linh, hấp dẫn, ám ảnh trong tâm hồn bạn đọc; làm cho những điểm trơ, điểm ỳ, điểm chết trong tâm hồn con người phải cựa quậy sống dậy, để con người đi tới chính mình trong tâm tưởng Thực chất nhận thức ở đây chính là nhận thức cái thế giới tâm linh, thế giới tinh thần tình cảm, những qui luật sâu kín trong tâm hồn, chứ không phải nhận thức những qui luật tự nhiên xã hội như triết học, tư tưởng Nói như Chế Lan Viên, nhà văn bằng hình tượng nghệ thuật của mình, đã khẽ khàng lách ngòi bút vào chỗ

da non nhất của lòng người để từ đó bật lên tiếng tơ đàn thánh thiện của tâm linh

Năng lực nhận thức là năng lực hiệu quả của quá trình dạy học văn Để năng lực nhận thức này hình thành và phát triển, điều quan trọng là làm cho hình tượng nghệ thuật đi vào tâm hồn người đọc một cách tự nhiên, càng sinh động càng tốt Từ đó quá trình thanh lọc liên tưởng diễn ra qua đối thoại vừa

âm thầm vừa công khai với nhà văn, nhân vật, với chính mình và nhiều đối tượng khác nữa Quá trình này tạo ra sự điều chỉnh ở mỗi người đọc Đúng

Trang 30

Năng lực đánh giá không phải là năng lực đưa ra được mấy lời nhận xét bình giá về hình tượng này, câu thơ kia, tác phẩm nọ mà biết tổng hợp so sánh phân tích từ nhiều góc độ của tiếp nhận khi đến với tác phẩm văn

chương: theo đề tài, chủ đề (không một tác phẩm nào chỉ có một đề tài mà

thường nhiều đề tài), theo hình tượng nhân vật kết hợp với theo bức tác giả để

dễ nhận ra cá tính sáng tạo của nhà văn Những nhà văn lớn về tư tưởng, tài hoa về nghệ thuật thường xây dựng được nhiều tính cách Có những nhân vật chỉ thoáng qua trong trang sách mà ám ảnh người đọc đến lạ lùng Cái đó chỉ

có thể giải thích bằng tài năng nghệ sĩ

Năng lực đánh giá khắc phục tình trạng lệ thuộc tư duy, nô lệ trong tư duy Ở đỉnh cao của cảm thụ trong tiếp nhận, người đọc thể hiện rõ thái độ quan điểm của mình, hình thành được những tiêu chuẩn để đánh giá, phê phán

có lập luận riêng, bảo vệ được luận điểm của mình một cách có căn cứ

Năng lực này biểu hiện rõ nhất trong giờ học có tính đối thoại khi sử dụng phương pháp Gợi tìm, Nghiên cứu hay Tái tạo Năng lực đánh gá rất cần hình thành cho học sinh để các em quen dần với tư cách chủ thể Và sớm hình thành ở các em đầu óc hoài nghi phê phán để có một niềm tin đích thực Vì không có hoài nghi thì không có khoa học

Đây là 8 năng lực cơ bản cần hình thành trong quá trình tiếp nhận văn học Cách gọi, cách phân chia cũng chỉ là tương đối để hình thành nội hàm

Trang 31

25

của một khái niệm năng lực tiếp nhận văn chương trong nhà trường, trong quá trình dạy học một ngành nghề nghệ thuật mà bao con người tài năng lao tâm khổ tứ một đời cũng chưa dễ dàng làm chủ được nó

1.1.1.3 Quá trình dạy học văn trong nhà trường còn là quá trình hình thành năng lực sáng tạo văn học

Khi bàn về những năng lực trên, chúng ta cũng xác định một đường giáp ranh giữa hoạt động tiếp nhận và sáng tạo Những năng lực trên hai lĩnh vực hoạt động này không có gì mâu thuẫn nhau mà, đối lập nhau mà ngược lại còn hỗ trợ bổ sung cho nhau và trên một phương diện nào đó lại có thể đồng nhất

Năng lực sáng tạo trong văn học không phải là năng lực sáng tác mà là năng lực sáng tạo sau khi tiếp nhận văn học trong quá trinh dạy học tác phẩm văn chương Nó biểu hiện ở mấy dạng sau:

* Lòng say mê văn học dấu hiệu đầu tiên của năng lực sáng tạo

* Năng lực phát triển về cảm xúc nhân văn và thẩm mĩ

* Năng lực tưởng tượng sáng tạo

* Năng lực khái quát hóa bằng hình tượng là một đặc trưng của tư duy sáng tạo văn học nghệ thuật

* Năng lực sáng tạo ngôn từ

Năm biểu hiện của năng lực sáng tạo vừa là bản chất vừa là kết quả vừa

là mục đích của quá trình dạy học văn

Tóm lại, trong 8 năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học như đã trình bày

ở trên thì năng lực tri giác ngôn ngữ và năng lực liên tưởng tưởng tượng là hai năng lực quan trọng có tính tiên quyết trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học mà người học sinh cần phải có

1.1.2 Một số khái niệm liên quan

Trang 32

Hướng thứ hai: Chú ý đến mặt kĩ thuật của hành động và đề cao kết quả cuối cùng của hành động Nhóm tác giả này cho rằng: Kĩ năng là khả năng của con người tiến hành một cách có kết quả mục đích hành động đã được tự giác trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau (N.D.Levitôv, K.K.Platonôv, E.A.Milerian, G.G.Colubev…)

Có nhiều quan điểm về vấn đề này, chúng tôi chấp nhận cho rằng kĩ năng như là phương thức, cách thức hành động được con người nắm vững,

là khả năng con người thực hiện hành động một cách có kết quả

Kĩ năng là sự vận động tri thức vào hoạt động thực tiễn để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, là năng lực hành động để đạt kết quả với mục đích đã đề ra Do đó, muốn có kĩ năng trước hết ta phải có tri thức về lĩnh vực đó và trực tiếp thực hiện các thao tác, các hành động và phải luyện tập nhiều lần để đạt kết quả như mong muốn

* Kĩ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật

Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

Trong tiếp nhận văn học, đối tượng của tri giác là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ với đặc trưng nổi bật là phản ánh cuộc sống thông qua hình

Trang 33

27

tượng Vì vậy, năng lực tri giác ngôn ngữ ở đây là cảm nhận được những thông tin nghệ thuật từ hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hình tượng Hoạt động này đối với văn xuôi đã khó, với thơ trữ tình còn khó hơn nhiều Bởi thơ có

độ nén cao, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, là thứ ngôn ngữ “quái đản”, không

dễ cảm nhận Hình tượng thơ trữ tình được dệt nên từ các loại từ hình tượng;

ở việc sử dụng sáng tạo vần, luật, tiết tấu, âm điệu, vần điệu, kết cấu; ở cách phối hợp các con chữ trong một dòng thơ, đoạn thơ, bài thơ; ở việc lựa chọn tiêu đề cho bài thơ của nhà thơ…

Tác phẩm văn chương vốn là những thực thể tinh thần tồn tại qua chất liệu ngôn ngữ như là cái vỏ vật chất của nó Không tri giác được ngôn ngữ nghệ thuật, lớp vỏ vật chất của tác phẩm thì không thể đi vào thế giới sống động, phập phồng hơi thở bên dưới các con chữ, các kí hiệu câm lặng của tác phẩm Vì vậy, con đường thâm nhập, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật của tác phẩm phải bắt đầu từ bước tri giác ngôn ngữ nghệ thuật

Như vậy, kĩ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện ở khả năng học sinh nhận ra được các tín hiệu nghệ thuật Nghĩa là các em biết tri giác

từ thần, nhận ra kết cấu lạ, phát hiện ra mối liên kết bên trong và bên ngoài văn bản, nhìn ra các biện pháp nghệ thuật tu từ, phát hiện ra “khoảng trắng” của bài thơ Khả năng này diễn ra ở học sinh là không giống nhau Những người có năng lực văn chương thì quá trình tri giác ngôn ngữ diễn ra mau lẹ “như là sự nhạy cảm của một thứ linh giác nghệ thuật”

Biểu hiện tiếp theo của k ĩ n ă n g tri giác ngôn ngữ nghệ thuật là khả năng giải mã các thông tin nghệ thuật vừa tri giác được “Văn chương

là trò diễn của ngôn từ” Trong tay người nghệ sĩ có tài, sự chuyển hóa của

từ thật đa dạng, từ ý nghĩa cụ thể sang ý nghĩa khái quát, từ một ý nghĩa đơn

vị sang ý nghĩa đa trị, từ một ý nghĩa chung sang một ý nghĩa riêng Do vậy, không giải mã được các thông tin nghệ thuật sẽ không hiểu được tác phẩm

Tuy nhiên, việc tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh ở bước

Trang 34

28

này thường gặp khó khăn Các em bị trói buộc bởi kinh nghiệm sống của bản thân; ngôn ngữ tác phẩm có thể chỉ là những kí hiệu hoặc cao hơn là những từ ngữ xã hội học Cho nên quá trình khơi gợi ý trí tưởng tượng giúp cho học sinh thâm nhập vào tác phẩm là một quá trình vượt qua ý nghĩa trực tiếp của ngôn ngữ bài văn và nghĩa đen của từng từ để nắm lời ngầm, linh hồn tác phẩm Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh còn được biểu hiện ở khả năng biết tri giác “điểm sáng thẩm mĩ” có định hướng Nghĩa là các em biết chọn lọc thông tin nghệ thuật để tái hiện hình tượng một cách có chủ định theo yêu cầu của bài học Có như vậy, học sinh mới không bị rơi vào tri giác vụn lẻ, không định hướng, tản mạn, làm

vỡ tính chỉnh thể của hình tượng nghệ thuật

Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm văn chương tạo ra được những ấn tượng ban đầu, những cảm xúc, những rung động thẩm mĩ vô cùng quan trọng ở người đọc Việc định hướng giải mã các thông tin nghệ thuật càng chu đáo càng tạo điều kiện giảm nhiễu để bạn đọc học sinh đến với tác phẩm nghệ thuật Lượng thông tin càng tinh khiết, cường độ càng mạnh thì hứng thú tiếp nhận văn chương càng đúng hướng Tri giác ngôn ngữ tốt, việc cảm thụ hình tượng càng sâu sắc, ít chủ quan

Khi tri giác ngôn ngữ chúng ta cần quan tâm tới hai thao tác cơ bản của

hoạt động ngôn ngữ là thao tác lựa chon và thao kết hợp

1.1.2.2 Thơ trữ tình và đặc điểm ngôn ngữ thơ trữ tình

* Thơ trữ tình

Thơ trữ tình là thể thơ chiếm số lượng lớn nhất trong nền thơ ca nói

chung Vậy thơ trữ tình là gì? Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, PGS TS Nguyễn Viết Chữ cho rằng: “Thơ

trữ tình tiếng HY LẠP gọi là “liricos” – hát dưới đàn liare, như vậy sinh mệnh của thơ trữ tình là âm điệu Nó ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt – sự

Trang 35

29

giao cảm linh diệu đặc biệt giữa số phận con người và tự nhiên, xã hội vào phút giây có sự thăng hoa của ý thức và vô thức thích hợp với năng khiếu nghệ sĩ Sự thăng hoa ấy đến mức bản thân người nghệ sĩ đích thực cũng không làm chủ nổi Chưa có ở đâu giữa nội dung và nghệ thuật có mối quan

hệ máu thịt như ở trong thơ trữ tình”[4, tr.112] Như vậy, theo PGS TS Nguyễn Viết Chữ, thơ trữ tình xuất hiện vào lúc tâm linh cao sáng, cái chủ

quan biểu hiện thật nhất để vươn đến xung quanh

Thơ trữ tình là một thể thơ thuộc loại trữ tình, thể hiện trực tiếp những cảm xúc và suy tư với tất cả mọi cung bậc của nhà thơ trước các hiện tượng của đời sống Trong thơ trữ tình, nội dung cảm xúc và suy tư cùng cách thức thể hiện được cá thể hóa cao độ, mang đậm dấu ấn chủ quan của nhà thơ

Theo từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [7, tr 239]

* Đặc điểm ngôn ngữ thơ trữ tình

Tác phẩm trữ tình là thế giới cảm xúc chủ quan của con người Thế giới nội tâm ấy lại vô cùng tinh tế và phức tạp, có trăm nghìn mối quan

hệ đan chéo Tìm hiểu bài thơ trữ tình trong nội dung tinh vi và đa dạng của

nó, trong thái độ của nó đối với cuộc sống, trước hết phải nắm vững đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ Ngôn ngữ thơ trữ tình vừa mang đặc điểm chung của ngôn ngữ tác phẩm văn học là tính hình tượng và tính hàm súc nhưng cũng có những đặc điểm riêng

Trước hết, ngôn ngữ thơ trữ tình cô đọng, gợi cảm, bão hòa cảm xúc Ngôn ngữ thơ trữ tình không khách quan như ngôn ngữ tự sự; lời thơ trữ tình thường là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện một quan hệ của chủ thể với cuộc đời Ngay khi miêu tả, lời thơ cũng là lời đánh giá Chẳng thế mà những câu thơ: “Ông đồ vẫn ngồi đó/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay” gợi nên sự hoài niệm, khơi nỗi buồn

Trang 36

30

nhẹ mà thấm, cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên

Hơn nữa, lời thơ trữ tình phải khác thường Sự khác thường nói theo

Lý luận văn học “là tính chất “mê hoặc”, làm cho người đọc như chạm vào luồng điện, gây ám ảnh trong tâm trí Sự “mê hoặc” ấy bắt nguồn từ chân

lý của cuộc đời mới, có được “ma lực” thực sự” [19, tr.366]

Một trong những đặc điểm nổi bật nữa của ngôn ngữ thơ trữ tình là ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính “Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ

có nhịp điệu riêng của nó Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ - mà bằng cả âm thanh nhịp điệu của từ ngữ ấy

….Âm thanh nhịp điệu thêm hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không thể nói hết…”[19, tr 367]

Ngôn ngữ thơ gắn liền nhạc điệu, nhịp điệu Nhạc điệu của thơ thể hiện ở âm thanh Mỗi loại âm (nguyên âm, phụ âm), mỗi loại thanh (bằng, trắc) có một giá trị biểu hiện nhất định Sự phối hợp giữa âm thanh với cách ngắt nhịp và vần cốt để ngôn ngữ thơ có nhạc tính Nhạc tính trong thơ thể hiện ở sự trầm bổng, sự trùng lặp, sự cân đối

Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ Tính chất này được quy định chặt chẽ trong thơ cổ điển, thơ Đường Còn thơ hiện đại phóng khoáng hơn Sử dụng hiệu quả phép đối xứng sẽ tạo nên giá trị bất ngờ Huy Cận đã miêu tả không gian rộng lớn, mênh mông và nhiều chiều của trời rộng, sông dài qua hình ảnh thơ độc đáo: “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Nhạc tính còn là sự trầm bổng, sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ Sự trầm bổng là sự thay đổi âm thanh cao thấp khác nhau giữa bằng và trắc; và cũng do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tùy theo nhịp cắt để tạo nhịp Nhạc trong thơ là nhạc của cảm xúc và tâm hồn Nhiều nhà thơ đã tạo ra cách ngắt nhịp riêng phù hợp với cảm xúc, tạo ấn tượng về giọng điệu

Trong Vội vàng của Xuân Diệu, nhà thơ có cách chuyển tiếp các thể thơ và

Trang 37

31

ngắt nhịp cũng khá đa dạng và linh hoạt Bốn câu đầu là thơ năm chữ, phần còn lại là thơ tám chữ Phần cuối lại có sự phá cách bằng việc tách ra một câu riêng chỉ gồm ba chữ “Ta muốn ôm” Nhịp điệu trong toàn bài không thể không bị chi phối bởi những chuyển đổi lớn này Nó tạo ra những bước ngoặt trong mach thơ, những đột biến trong cảm xúc, tựa như việc chuyển điệu, chuyển làn, khiến hơi thơ tràn đi thành những cao trào liên tiếp Nhịp điệu trong câu thơ tám chữ cũng được ngắt theo dạng phổ biến

là: 3/3/2 (Này đây lá/ của cành tơ/ phơ phất) rồi đảo nhanh sang 3/2/3 (Của yến anh/ này đây/ khúc tình si), có lúc câu thơ ngắt nhịp 5/5 (Cho chếnh choáng mùi thơm/ cho đã dầy ánh sáng) tựa như những cú đảo phách

trong âm nhạc, vừa hòa hợp với những bước trùng điệp về cú pháp, về từ, lại vừa linh hoạt về tiết tấu Tất cả khiến cho hơi thơ dồi dào tuôn chảy, nhịp thơ sôi nổi, gấp gáp Nó đã truyền tải được một điệu tâm hồn say sưa, chếnh choáng, muốn sống vội vàng, cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình

Như vậy, âm thanh, nhịp điệu góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh tinh vi của tình cảm con người Giọng điệu, nhạc điệu tạo ra những điều diệu kì mà chữ nghĩa không thể nói hết Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và liên tưởng, tưởng tượng trong thơ trữ tình cho học sinh là rèn kĩ năng đọc cho ra chất nhạc kì diệu ấy; nhận biết những yếu tố tạo nên giọng điệu thơ; cảm nhận được thế giới nội tâm tác giả gửi gắm

1.1.2.3 Liên tưởng, tưởng tượng và năng lực liên tưởng tưởng tượng trong thi ca

* Liên tưởng, tưởng tượng

"Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lí, nhờ đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong điều kiện nhất định gây nên một yếu tố khác liên quan với nó" Như vậy liên tưởng là sự tái hiện hiện thực nhờ liên hệ giữa hiện thực đang có với hiện thực đã từng có, đã qua, có nghĩa là từ việc này, hình ảnh này đang diễn ra trong quá trình tâm lí thì nghĩ đến việc khác, hình

Trang 38

32

ảnh khác có thể cùng loại, cũng có thể khác loại, nhưng cùng nằm trong một trường liên tưởng Trong Tâm lí học người ta phân biệt ba loại liên tưởng: liên tưởng gần nhau, liên tưởng giống nhau và liên tưởng tương phản

"Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên

cơ sở những biểu tượng đã biết" Các nhà tâm lí học chia tưởng tượng làm hai loại: tưởng tượng tiêu cực và tưởng tượng tích cực (tưởng tượng tích cực được biểu hiện ở hai cấp độ là tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo)

* Liên tưởng tưởng, tượng trong sáng tạo văn học và trong tiếp nhận văn học + Liên tưởng, tưởng tượng trong sáng tạo văn học

Liên tưởng và tưởng tượng không chỉ phản ánh các quá trình tâm lý,

mà nó còn ảnh hưởng sâu rộng đến sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo văn học nói riêng Sáng tạo văn học là những phương thức phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ Để xây dựng tác phẩm của mình các tác giả thường phải trải qua quá trình cảm thụ, quan sát, ghi nhớ và thâm nhập thực tế, trau dồi vốn sống và lựa chọn dữ liệu, trong đó liên tưởng và tưởng tượng được xem như những quá trình tâm lý sáng tạo đặc thù

Trong sáng tác văn học, sự giàu có liên tưởng chứng tỏ khả năng phong phú của thế giới nội tâm của nhà văn Có thể phân loại theo các hình thức

biểu hiện:

Liên tưởng gần giống thể hiện mối quan hệ tất yếu, tiềm tàng giữa tín

hiệu vật chất hiện tại và kinh nghiệm, dựa trên những nét gần nhau về bộ phận Hình

thức liên tưởng này dẫn đến các ẩn dụ nghệ thuật và cách chuyển đổi tên gọi

Liên tưởng giống nhau thể hiện mối quan hệ bản chất, tương đồng giữa

vật liên tưởng và vật được liên tưởng

Trang 39

33

Liên tưởng đối lập thể hiện mối quan hệ giữa hiện thực và mặt khác biệt

của nó trong cùng một hệ thống tồn tại

Liên tưởng theo quan hệ thời gian gần với liên tưởng hồi ức là liên tuởng

xuất hiện do sức gợi của các yếu tố sự vật trong hiện thực về phía kỷ niệm

Liên tưởng theo quan hệ không gian là liên tưởng được mở ra đa chiều do

sức gợi của các yếu tố hiện thực có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp

Trên đây là một số loại liên tưởng thường xuất hiện với tần suất cao và

dễ nhận biết trong các sáng tác văn học Tuy nhiên, việc sử dụng mỗi loại liên tưởng, mức độ sử dụng các loại liên tưởng còn tùy thuộc ở năng lực và sở trường của từng nhà văn, thậm chí còn phải phù hợp với đặc trưng riêng của từng thể loại văn học Hơn nữa, các loại liên tưởng không phải bao giờ cũng được nhà văn sử dụng một cách biệt lập Đôi khi nó được sử dụng trong mối quan hệ đan xen, phối hợp nhằm tạo ra sức biểu hiện và hiệu quả diễn đạt cao nhất

Ngoài việc liên tưởng, nhà văn khi xây dựng tác phẩm cần có một yếu tố

quan trọng và cần thiết để xây dựng hình tượng nghệ thuật đó là việc tưởng tượng, sáng tạo những hình tượng mới Tưởng tượng ở đây được hiểu như

sức sáng tạo kỳ diệu của nhà văn, làm nên sức sống mãnh liệt của tác phẩm trong người đọc qua nhiều thời đại Nó quan trọng bởi vì nếu thiếu nó, tác phẩm khó vượt qua sự sao chép đơn thuần về các sự việc, hiện tượng đã xảy

ra trong hiện thực; đồng thời nhà văn không thể khái quát cũng như sáng tạo những hình tượng mới mẻ Khi trí tưởng tượng, nó phải dựa trên trí nhớ, tức huy động những tái hiện về kinh nghiệm theo một quy luật đặc biệt, đó là quy luật liên tưởng "Quy luật đó sắp xếp tất cả mớ hỗn độn của ký ức dựa trên sự tương đồng về hình thức hoặc theo sự gần gũi về thời gian và không gian - nói một cách khác là khái quát hóa chúng - rồi kéo chúng vào một chuỗi mắt xích liên tục Chuỗi mắt xích liên tưởng là sợi chỉ dẫn đường cho trí tưởng tượng"[24, tr 88] Nói cách khác: trong qua trình tưởng tượng sáng tạo không thể

Trang 40

34

thiếu sự tham gia của liên tưởng “Mối quan hệ giữa trí nhớ - liên tưởng và tưởng tượng trong sáng tác là mối quan hệ gắn bó hữu cơ mà tình cảm và biểu tượng là hạt nhân liên kết ” [9, tr 36] Mối quan hệ và hạt nhân liên kết

này quyết định bản chất của tưởng tượng Chính vì những biểu hiện của mối quan hệ nội tại và bản chất như vậy, tưởng tượng trong sáng tác văn học giúp nhà văn có khả năng "phát hiện", "phản ánh", "đến gần" bản chất cuộc sống, khái quát được quy luật vận động tất yếu của xu thế thời đại Có hai loại tưởng tượng trong sáng tác văn học:

- Tưởng tượng tái hiện trên cơ sở quy nạp các ấn tượng của trí nhớ

- Tưởng tượng sáng tạo trên cơ sở những vận động tự do không lệ thuộc

ấn tượng có trước

Quá trình vận hành của cả hai loại tưởng tượng trên đều dựa trên sự cung cấp dữ liệu của trí nhớ Do đó, một hình tượng sáng tạo nhất vẫn ít nhiều dựa trên các dữ liệu nào đó của quá trình nhà văn cảm thụ đời sống và dựa trên quá trình vận động của những biểu tượng nhất định Sở dĩ có các loại tưởng tượng khác nhau như vậy bởi nó phải tuân thủ quy luật và xu hướng phát triển hình tượng, nguyên tắc xây dựng điển hình hóa trong văn học trong mối tương quan với mục đích tạo ra sự thống nhất sinh động giữa chân lý nghệ thuật và chân lý đời sống; đó cũng là cơ sở và căn cứ khoa học cho việc nghiên cứu vai trò quyết định của liên tưởng và tưởng tượng trong cảm thụ và TNVH

+ Liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn học

“TNVH được xem là hoạt động chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của các tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt

động sáng tạo”[7, tr 221] TNVH để người đọc trực tiếp tham gia những tình

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w