Hoặc thông qua phương thức bán và tái thuê tức là khách hàng thuê mang tài sản của mình bán cho bên cho thuê, nhận tiền bán tài sản từ bên mua - bên cho thuê, sau đó ký hợp đồng thuê lại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Lê Thị Thảo
Một số vấn đề pháp lý
về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 2Bảng chữ viết tắt trong luận văn
blds : Bộ luật dân sự CTTC : Cho thuê tài chính HĐCTTC : Hợp đồng cho thuê tài chính HĐDS : Hợp đồng dân sự
HĐKT : Hợp đồng kinh tế
NĐ : Nghị định NHNN : Ngân hàng nhà nước TCTD : Tổ chức tín dụng TSCĐ : Tài sản cố định TSLĐ : Tài sản lưu động
Trang 3Mục lục
Trang
Lời nói đầu
Chương1 khái quát chung về hợp đồng cho thuê tài chính
1.1 Khái niệm chung về cho thuê tài chính và hợp đồng cho thuê tài chính 6
1.1.1 Khái niệm cho thuê tài chính 6 1.1.2 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính 10 1.1.3 Khái niệm và bản chất pháp lý của hợp đồng cho thuê tài
Chương 2 Giao kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính
2.1 Giao kết hợp đồng cho thuê tài chính 40
2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính 40 2.1.2 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng cho thuê tài chính 43 2.1.3 Hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính 49 2.1.4 Nội dung của hợp đồng cho thuê tài chính 49
Trang 42.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính 58 2.2.2 Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính 60 2.2.3 Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính 61 2.2.4 Chấm dứt và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐCTTC 65 Chương 3 định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng cho thuê tài chính ở việt nam trong giai đoạn hiện nay
3.1 Định hướng hoàn thiện 73
3.2 Các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho
thuê tài chính ở Việt nam
Trang 5Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mang lại cho nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển biến mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to lớn trong những năm qua Kinh tế tăng trưởng khá, nhịp độ tăng tổng sản phẩm bình quân hàng năm là 7% Lạm phát được đẩy lùi, đời sống kinh tế của đông đảo quần chúng nhân dân được cải thiện Tuy nhiên để duy trì được nhịp độ phát triển đó, tránh nguy cơ tụt hậu, tiếp tục sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, đòi hỏi phải có một khối lượng vốn lớn, các doanh nghiệp phải tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao, mẫu mã đủ sức cạnh tranh trên thị trường Để đạt được điều đó, vấn đề đặt ra là phải có cơ chế huy động vốn hữu hiệu nhằm khơi thông các nguồn vốn trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặt ra nhiệm vụ: “Phát triển thị trường vốn bằng nhiều hình thức thu hút tiền gửi trung và dài hạn qua ngân hàng và các công
ty tài chính để cho vay đầu tư phát triển” [19,100] và tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: “Phát triển thị trường vốn và tiền
tệ, nhất là thị trường vốn trung và dài hạn, thu hút các nguồn vốn bên ngoài, đa dạng hoá các công cụ và hình thức tổ chức tài chính, tiền tệ phi Ngân hàng và các quỹ đầu tư nhằm động viên các nguồn lực cho phát triển kinh tế, xã hội” [20,192-194]
Trong điều kiện hiện nay, khả năng tài chính của các doanh nghiệp còn hạn chế, cơ chế vay vốn thông qua Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn, Cho thuê tài chính (finance lease) - một hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn thông qua hợp đồng cho thuê tài chính đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và đáp
Trang 6Có thể nói, hoạt động CTTC ở Việt Nam là một hình thức hoạt động tín dụng tương đối mới mẻ Trong những năm gần đây, qua quá trình đa dạng hoá các loại hình tín dụng nhằm cung ứng nguồn vốn cho các doanh nghiệp, thu hút các nguồn vốn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoạt động CTTC đã được chú ý đến Cơ sở pháp lý cho hoạt động CTTC ở Việt Nam được khởi điểm từ khi có Nghị định số 64/CP ngày 09/10/1995 về quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là NĐ số 64/CP)
Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động CTTC trong thời gian qua
đã thu được nhiều kết quả, đã mang lại cơ hội kinh doanh cho nhiều doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế hoạt động CTTC cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc do chưa có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đồng bộ, chưa có một hành lang pháp lý vững chắc an toàn để tạo lập và thực hiện hoạt động CTTC Hiện nay pháp luật điều chỉnh hoạt động CTTC chỉ mới dừng lại ở các văn bản dưới luật: Nghị định 16/CP ban hành ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của Công ty CTTC (NĐ16/CP) Bên cạnh đó, cơ sở pháp lý cho việc ký kết và thực hiện HĐCTTC chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (25/09/1989) và Bộ luật Dân sự (1996), trong đó có rất nhiều quy định trong pháp lệnh HĐKT không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế hiện nay Các hoạt động của các doanh nghiệp đang được điều chỉnh bởi các luật mới: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng, Luật doanh nghiệp Như vậy, cơ sở để thiết lập và thực hiện HĐCTTC đã không còn phù hợp trong trong tình hình mới và hiệu quả pháp lý không cao do chủ yếu được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật Mặt khác, chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể về việc ký kết và thực hiện HĐCTTC Do đó, nhu cầu đòi hỏi cần phải có một hành lang pháp lý hoàn thiện, thống nhất đồng bộ và có hiệu lực pháp
lý cao để thúc đẩy hoạt động CTTC Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về HĐCTTC là một tất yếu khách quan, nhằm thúc đẩy hoạt động CTTC ngày càng phát triển
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trang 7Hoạt động CTTC đã được nhiều luật gia cũng như các nhà kinh tế quan tâm
nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau như: “Tìm hiểu và sử dụng thị trường tín dụng
thuê mua" của Trần Tô Tử, Nguyễn Hải Sản - NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1996;
“Cơ sở pháp lý cho hoạt động thuê mua ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” - luận văn Thạc sỹ của tác giả Doãn Hồng Nhung,1998; “ Hoàn thiện cơ chế CTTC
tại Việt Nam” - luận văn Thạc sỹ kinh tế của tác giả Bùi Quang Hải; “Tín dụng thuê mua-hình thức đầu tư mới”,Tạp chí Tài chính số ra tháng 12/1996; “Những vướng mắc cần tháo gỡ trong hoạt động CTTC”, Tạp chí Ngân hàng số 6/1999 Trong
các công trình trên các tác giả đã trình bày, phân tích khá chi tiết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động CTTC ở Việt Nam theo quy định NĐ 64/CP, đã khắc họa được bức tranh chung về hoạt động cho thuê tài chính, cung cấp các thông tin về kinh nghiệm thực hiện nghiệp vụ CTTC ở các nước trong khu vực và thế giới
và nghiên cứu nghiệp vụ cho thuê dưới giác độ kinh tế Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu về cơ sở pháp lý của hoạt động CTTC và HĐCTTC vẫn chưa được đề cập đến một cách toàn diện Như vậy, có thể nói từ khi hoạt động CTTC chính thức đi vào hoạt động ở Việt Nam cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về các quy định của HĐCTTC Trong luận văn này, tác giả cũng không có tham vọng đề cập tới tất cả những vấn đề của HĐCTTC, mà chỉ xem xét dưới góc độ pháp luật, những vấn đề có tính chất cơ bản nhất, góp phần xây dựng cơ chế pháp lý thúc đẩy hoạt động CTTC
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về HĐCTTC; thực tiễn hoạt động CTTC thông qua việc thực hiện HĐCTTC, chỉ ra những vấn đề bất cập cũng như những giải pháp cho việc thực thi và tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật này
- Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
Trang 8+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật hiện hành về HĐCTTC
+ Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên, tiến tới tìm hiểu, phân tích những quy định của pháp luật về HĐCTTC còn chưa thống nhất
+ Đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về HĐCTTC, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động CTTC ở Việt Nam phát triển
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả không đi sâu nghiên cứu các quy phạm pháp luật về CTTC mà chỉ đi vào nghiên cứu các quy định của pháp luật
về HĐCTTC và thực tiễn giao kết, thực hiện HĐCTTC
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra, đánh giá và các chủ trương, đường lối, quan điểm của nhà nước ta, các quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội được
sử dụng làm cơ sở pháp lý, từ đó rút ra những kết luận có tính chất tổng hợp, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về HĐCTTC trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ cấu của đề tài:
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đề ra, với những phương pháp nghiên cứu trên, đề tài được bố cục như sau :
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
- Chương I: Khái quát chung về hợp đồng cho thuê tài chính
- Chương II: Giao kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính
- Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐCTTC
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 96 Điểm mới của đề tài:
- Luận văn đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về HĐCTTC
b) Về mặt thực tiễn:
- Luận văn giúp các nhà làm luật phát hiện những mâu thuẫn, bất cập của các quy phạm pháp luật hiện hành về HĐCTTC Luận văn giúp cho các nhà kinh doanh hiểu và áp dụng một cách có hiệu quả pháp luật về HĐCTTC, đồng thời tránh những tổn thất và hạn chế tranh chấp trong hoạt động CTTC
- Đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện các quy phạm pháp luật về giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp HĐCTTC, nhằm thúc đẩy hoạt động CTTC phát triển
Trang 10Chương 1 Khái quát chung về hợp đồng cho thuê tài chính 1.1 Khái niệm chung về cho thuê tài chính và hợp đồng cho thuê tài chính:
1.1.1 Khái niệm cho thuê tài chính:
Xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển của nền kinh tế, đáp ứng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của con người, hoạt động CTTC đã xuất hiện Hình thức cho thuê đầu tiên đó là cho thuê các tài sản, chủ yếu là các công cụ sản xuất nông nghiệp, đất đai, quyền sử dụng nguồn nước, bò kéo Đây là “quan
hệ giữa một bên là chủ sở hữu tài sản nhường quyền nắm giữ và sử dụng tài sản cho một bên khác trong một thời gian nhất định với những điều kiện do hai bên thoả thuận Trong thời gian cho thuê, quyền sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc bên cho thuê Bên thuê chỉ được quyền sử dụng và phải trả cho bên cho thuê một khoản phí thuê” [40]
Các giao dịch cho thuê tài sản xuất hiện khoảng năm 2.800 TCN tại Thành phố Simerian (thuộc Irắc ngày nay) Trong quan hệ giao dịch thời bấy giờ, các bên tham gia giao dịch cho thuê tài sản là các thầy tu giữ vai trò cho thuê và nông dân
là những người đi thuê công cụ sản xuất nông nghiệp, gia súc, ruộng đất Trong nền văn minh cổ đại như Hy lạp - La mã hay Ai cập, hình thức thuê mua truyền thống này cũng đã xuất hiện
Vào khoảng năm 1.700 TCN, các quy định về hợp đồng cho thuê tài sản đã được ghi nhận trong bộ luật Hamurabi dưới triều đại Babilon Tuy nhiên, các giao dịch cho thuê tài sản thời kỳ này đều thuộc hình thức cho thuê kiểu truyền thống (Tradictional lease) Phương thức giao dịch của hình thức này tương tự như phương thức cho thuê vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của
nó, đã không có sự thay đổi lớn về tính chất giao dịch Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu không chuyển cho bên thuê nhưng bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó như chính của mình
Trang 11Vào những năm 50 của thế kỷ XIX, hình thức CTTC xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ do Công ty Tư nhân United States leasing Corporation sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp Không lâu sau, hoạt động CTTC đã thâm nhập vào Châu Âu Năm 1960, lần đầu tiên một HĐCTTC đã được
ký ở Anh với giá 18.000 bảng Anh Cũng trong năm 1960 phương thức CTTC được ghi nhận trong bộ luật Thương mại của Pháp dưới tên gọi “Credit Bail”
Hoạt động CTTC cũng có những bước phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu
á và nhiều khu vực khác trên thế giới kể từ đầu thập niên 70
Sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đã và đang được xúc tiến mạnh mẽ Song song với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; phát triển nền kinh tế Việt Nam đạt trình độ công nghệ hiện đại, nâng cao mức sống của nhân dân và tạo
đà phát triển bền vững tiếp theo Trong bối cảnh đó, hoạt động CTTC bắt đầu đi vào hoạt động ở Việt Nam Đến nay, hoạt động CTTC đã thu được kết quả, tuy chưa khả quan lắm nhưng đã phần nào tạo cơ sở cho hoạt động CTTC ở Việt Nam phát triển
Theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế hiện nay, trên thế giới đang tồn tại hai phương thức cho thuê chủ yếu đó là :
- Cho thuê vận hành (cho thuê dịch vụ - Operational lease): là hình thức cho thuê theo đó, người cho thuê phải chịu mọi chi phí bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cho thuê cùng với mọi rủi ro và sự sụt giảm giá trị của tài sản và có thể huỷ ngay hợp đồng với điều kiện phải báo trước Sau khi hợp đồng thuê hết hiệu lực, tài sản được hoàn trả lại cho người cho thuê
- Cho thuê tài chính (financial lease): là một phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn, không thể huỷ ngang Theo phương thức này, bên cho thuê không chịu bất kỳ chi phí nào về bảo quản tài sản cũng như những chi phí khác có thể xảy
ra đối với tài sản cho thuê Quyền sở hữu đối với tài sản thuê sau khi hợp đồng chấm dứt, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên trong hợp đồng, cụ thể là: người
Trang 12Việc phân biệt hai hình thức này dựa trên mức độ rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu tài sản cho thuê thuộc về người cho thuê hay người thuê Sự phân loại này giúp nhận diện một cách chính xác bản chất kinh tế, pháp lý của các giao dịch nói trên, và qua đó để xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp
Trên thế giới tồn tại thuật ngữ “Leasing” nghĩa là thuê mua, để chỉ hoạt động CTTC Đây thực chất là một giao dịch thuê tài sản có kèm theo việc mua lại tài sản khi đáo hạn hợp đồng, và phải có sự thoả thuận của bên thuê và bên cho thuê Như vậy, CTTC có thể hiểu là một loại hình giao dịch vốn, trong đó bên cho thuê tài trợ vốn bằng tài sản, hiện vật cho bên thuê; trong hợp đồng các bên có thể thoả thuận về việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản thuê khi hết thời hạn hợp
đồng Do vậy, theo chúng tôi sử dụng thuật ngữ “leasing” là chưa chính xác vì
việc chuyển giao quyền sử hữu tài sản sau khi hết thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng có thể xãy ra hoặc không tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên trong hợp
đồng Trong trường hợp này, nên dùng thuật ngữ “Financial lease” tức là “CTTC”
là hợp lý và thể hiện đầy đủ tính chất của hoạt động CTTC
Theo Hiệp định thống nhất luật dân sự về tín dụng thuê mua quốc tế tại Ottawa - Canada năm 1988 thì CTTC là giao dịch trong đó một bên (bên cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (bên thuê) trong một thời gian nhất định, mà trong thời gian đó, bên cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ và chi phí liên quan Quyền sở hữu có thể được chuyển giao hay không tùy theo thoả thuận giữa hai bên
ở một số nước thì không có định nghĩa một cách khái quát cho thuê tài chính
là gì mà chỉ nêu ra các đặc tính của hoạt động CTTC:
- Người cho thuê mua thiết bị do người thuê yêu cầu
- Các thiết bị thuộc quyền sở hữu của người cho thuê và quyền sử dụng được trao cho người thuê trong suốt thời hạn thuê thường tương đương với tuổi thọ kỹ thuật của thiết bị
Trang 13- HĐCTTC không thể bị phá bỏ trước kỳ hạn
- Số tiền thanh toán cho thuê sẽ bù đắp chi phí bao gồm: chi phí quản lý, rủi ro, cho phép khấu hao toàn bộ hoặc gần như toàn bộ giá mua thiết bị
đó
- Tại thời điểm kết thúc hợp đồng, người thuê có quyền gia hạn hợp đồng
và phí suất được ấn định vào thời điểm ký hợp đồng
- Nếu người thuê quyết định không gia hạn hợp đồng thuê thì quyền sử dụng thiết bị sẽ chấm dứt và thiết bị được bàn giao lại cho người cho thuê [33,14]
ở Việt Nam, cho đến nay chưa có sự thống nhất về khái niệm CTTC do mỗi người nhìn nhận hoạt động CTTC dưới góc độ khác nhau Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về CTTC trong Nghị định 64/CP “CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc mua máy móc thiết bị và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và không được huỷ bỏ hợp đồng trước hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu bằng cánh mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản
đó theo điều kiện đã được thoả thuận trong hợp đồng thuê Theo quy định của Nghị định 16/CP thì “CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận”
Như vậy, mặc dù không có sự thống nhất về khái niệm CTTC trong các văn bản pháp luật nhưng về bản chất của hoạt động CTTC đều được hiểu như nhau trong các khái niệm nêu trên, đó là: CTTC là một hoạt động tín dụng trung và dài
Trang 14cầu của bên thuê, bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuê cho bên thuê trong suốt thời gian thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao hay không vào cuối thời hạn thuê tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên
1.1.2 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính:
“CTTC là một hoạt động không thể thiếu đối với nền kinh tế hiện đại Doanh số của nền công nghiệp CTTC trên thế giới trong những năm gần đây đã đạt tới con số kỷ lục 450 tỷ USD trong năm 1998 và vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung bình 7% hàng năm Hoạt động thuê mua đang đạt được những bước tăng trưởng đầy ấn tượng ở các Châu Lục mới phát triển như Châu á, Châu Phi ”[46,38] Hoạt động CTTC ngày càng phát triển và khẳng định được thế đứng của mình, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như ở Việt Nam Sở dĩ như vậy là
do những tiện ích của nó mang lại đối với nền kinh tế cũng như các bên tham gia trong giao dịch CTTC
- Vai trò đối với nền kinh tế:
* CTTC góp phần mở rộng chủ thể tham gia cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế Hiện nay, việc vay vốn ở các ngân hàng đòi hỏi những điều kiện khắt khe
như doanh nghiệp phải có uy tín và kinh doanh có lãi; dự án phải có tính khả thi cao trong trường hợp Ngân hàng cho vay không có đảm bảo, hơn nữa nguồn vốn huy động ở ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, vốn dành cho đầu tư trung
và dài hạn còn hạn chế; muốn vay vốn trung và dài hạn doanh nghiệp thường phải có tài sản thế chấp hoặc phải có 50% vốn đầu tư ban đầu cho dự án vay Do vậy, tình trạng đói vốn trở thành “căn bệnh trầm kha” của các doanh nghiệp Việt Nam [45,258]
Sự xuất hiện của các định chế tài chính đã tạo ra nhiều loại hình dịch vụ phong phú, phục vụ nhiều khách hàng dưới nhiều hình thức làm cho môi trường cạnh tranh sống động và các chủ thể tham gia phải ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm,
Trang 15đồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy được năng lực của mình Công ty CTTC là một trong các chế định đó
Như vậy, sự đa dạng hóa các loại hình cho thuê đáp ứng được nhu cầu vốn riêng biệt của từng loại hình doanh nghiệp trong việc cung cấp kịp thời nguồn vốn cho mình, khắc phục những hạn chế của tín dụng trung và dài hạn thông qua hình thức vay vốn ở ngân hàng
* CTTC góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế Hoạt động CTTC có
mức độ rủi ro thấp so với các phương thức tài trợ vốn khác Vì đối với hoạt động
CTTC - mục đích sử dụng vốn thông qua việc đầu tư vào tài sản cho thuê Trong quá trình sử dụng nguồn vốn này bên cho thuê có thể nắm được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của bên thuê thông qua tài sản cho thuê, tức bên cho thuê có thể kiểm tra được chặt chẽ tài sản cho thuê và như vậy sẽ hạn chế được tình trạng mất vốn Đồng thời khoản tín dụng mà bên cho thuê cung cấp được thu hồi dần thông qua việc thanh toán tiền thuê trong thời hạn hợp đồng Mặt khác, CTTC có phạm vi tài trợ rộng hơn nên thu hút được nhiều khách hàng đầu tư vốn để kinh doanh Đặc biệt, trong xu thế hội nhập với nền kinh tế quốc tế và điều kiện giao lưu ngày nay, CTTC là kênh thu hút vốn cho nền kinh tế thông qua các máy móc thiết
bị cho thuê mà quốc gia đó nhận được Đồng thời hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài này lại không làm tăng thêm nợ nước ngoài của quốc gia nhận được thiết bị cho thuê Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, hình thức thu hút vốn đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng
*CTTC góp phần đổi mới công nghệ thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật Với
sự tồn tại của nền kinh tế thị trường và trong quan hệ với nền kinh tế quốc tế đòi hỏi các sản phẩm làm ra phải có chất lượng cao, mẫu mã kiểu dáng mới đảm bảo đủ sức cạnh tranh, thu hút được khách hàng và đứng vững trên thị trường Thông qua hoạt động CTTC, các máy móc thiết bị có trình độ tiên tiến được đưa vào các doanh nghiệp, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất trong điều kiện có
Trang 16khó khăn về nguồn vốn đầu tư Nếu có cơ chế đảm bảo an toàn và vững chắc, hoạt động CTTC có thể đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng
Ngay cả đối với các nước có nền công nghệ cao như Nhật Bản, Mỹ, Pháp CTTC vẫn phát huy tác dụng đáp ứng kịp thời công nghệ hiện đại cho nền kinh tế
- Vai trò đối với bên thuê
* CTTC giúp cho người thuê có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn trong điều kiện hạn chế về nguồn vốn đầu tư
Trong quá trình kinh doanh, nhu cầu gia tăng công suất sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp có thể tăng lên bất cứ lúc nào, đòi hỏi phải có sự tích luỹ Nhưng khả năng tài chính của doanh nghiệp không phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu đó, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn trung và dài hạn Chế độ vay ở các Ngân hàng thì rất hạn chế và thông thường lại phải có tài sản thế chấp, cầm cố Phương thức CTTC đáp ứng được nguồn vốn cho các doanh nghiệp (bên thuê) phục vụ yêu cầu sản xuất và phục vụ cho các khách hàng mà Ngân hàng sợ rủi ro không giám cho vay Thông qua phương thức cho thuê tài chính, các doanh nghiệp đi thuê mặc dù đang khó khăn về nguồn vốn hoặc không đủ tài sản, uy tín để vay vốn tại các ngân hàng mà vẫn có thể tiếp tục sử dụng các máy móc thiết bị đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình
* CTTC giúp cho người đi thuê không bị ứ đọng vốn đầu tư vào tài sản cố định Trong hoạt động kinh doanh đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và cơ
hội kinh doanh, có thể xảy ra trường hợp doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả muốn chuyển hướng hoạt động kinh doanh hiện tại của mình và khi đó sẽ kéo theo
sự thay đổi về cơ cấu tài sản cố định Trong trường hợp này thì doanh nghiệp thường thanh lý tài sản với giá trị rất thấp so với giá thực tế của tài sản hoặc không bán được do không tìm kiếm được khách hàng có nhu cầu đối với loại tài sản đó Như vậy, tài sản cố định được mua sắm thường bị ứ đọng, gây khó khăn cho doanh nghiệp Nếu trong trường hợp này, doanh nghiệp thuê các tài sản này theo phương
Trang 17thức CTTC sẽ giúp cho doanh nghiệp thay đổi các thiết bị đã lạc hậu một cách dễ dàng và nhanh chóng Hoặc thông qua phương thức bán và tái thuê (tức là khách hàng thuê mang tài sản của mình bán cho bên cho thuê, nhận tiền bán tài sản từ bên mua - bên cho thuê, sau đó ký hợp đồng thuê lại chính tài sản mà mình đã bán), doanh nghiệp có thể chuyển TSCĐ thành TSLĐ hay chuyển dịch vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh khác có hiệu quả hơn trong khi vẫn duy trì được hoạt động đầu tư hiện hành vì tài sản vẫn được tiếp tục sử dụng Mặt khác, các doanh nghiệp cần vốn tích luỹ cho kinh doanh mà có nhu cầu về tài sản thì vẫn có thể thực hiện thông qua thuê TSCĐ theo phương thức bán và tái thuê Như vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn một cách hiệu quả
* CTTC là một phương thức tài trợ thuận lợi cho những khoản đầu tư nhanh chóng, đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh của bên thuê Thông qua phương
thức CTTC, người đi thuê có thể tìm kiếm, lựa chọn trước tài sản từ nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu Công ty CTTC tài trợ, nên ưu thế cho phép người thuê rút ngắn thời gian đầu tư thiết bị, đặc biệt, thủ tục tài trợ cũng đơn giản và ít rủi ro hơn các phương thức khác
- Vai trò đối với bên cho thuê:
* CTTC cho phép doanh nghiệp cho thuê thu lợi nhuận an toàn hơn và cao hơn so với cho thuê thông thường vì lợi nhuận từ tài sản cho thuê có tính ổn định
cao, và trong suốt thời hạn thuê, bên cho thuê có quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản thuê nên người cho thuê có khả năng nhanh chóng chiếm hữu lại tài sản nếu người đi thuê không tuân thủ hợp đồng và vẫn nhận được toàn bộ số tiền thuê theo thoả thuận ban đầu
*Do tài trợ bằng hiện vật nên giá trị của vốn tài trợ luôn được giữ vững mà không bị ảnh hưởng của lạm phát Vì đối với hình thức tài trợ bằng cách xuất quỹ
cho vay có thể làm biến động đến lưu lượng của đồng tiền trong lưu thông cũng như việc thu hồi đồng vốn vào cuối kỳ cho vay có thể giảm giá trị đồng tiền, còn
Trang 18diễn ra giao dịch, vốn tài trợ được thu hồi dần cho phép người cho thuê đầu tư vào hoạt động kinh doanh khác mà vẫn giữ được nhịp độ hoạt động của công ty Mặt khác, do doanh nghiệp cho thuê tập trung vào lĩnh vực hẹp của mình nên có điều kiện để đầu tư theo chiều sâu cả về tài chính, kỹ thuật và kỹ năng nghiệp vụ tín dụng, do vậy doanh nghiệp ngày càng có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh
Như vậy, thông qua hoạt động cho thuê tài chính - một kênh tài trợ vốn
thích hợp, góp phần đa dạng hóa các loại hình tín dụng, tháo gỡ các khó khăn về vốn đối với các doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, làm tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra ngày một gay gắt như hiện nay
1.1.3 Khái niệm và bản chất pháp lý của hợp đồng cho thuê tài chính:
1.1.3.1 Khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính
Vào thời điểm khai sinh của lịch sử xã hội loài người, con người sống chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên để tồn tại Cùng với thời gian, con người dần dần nắm bắt chinh phục tự nhiên, chủ động tạo ra của cải vật chất Trải qua ba lần phân công lao động xã hội, con người đã chuyên môn hoá về lao động sản xuất, điều đó làm nảy sinh nhu cầu trao đổi sản phẩm Trên cơ chế đó, hợp đồng đã xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hoá Xuất phát điểm ban đầu của hợp đồng chỉ là sự ghi nhận việc giao kèo mua bán giữa các bên hay nói cách khác đó là
sự tự nguyện trên cơ sở có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, mang tính chất thuần tuý kinh tế Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hợp đồng ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống: dân sự, lao động, thương mại Tuỳ theo từng loại hợp đồng mà nó có những đặc điểm riêng, nhưng có một điểm chung thống nhất đối với mọi hình thức hợp đồng là sự thoả thuận của các chủ thể trên cơ sở tự do ý chí Đặc điểm này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về hợp đồng (Điều 395 - BLDS, Điều 3- Pháp lệnh HĐKT)
Trang 19Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày nay, phương thức huy động vốn thông qua HĐCTTC ngày càng phổ biến và đa dạng ở các nước trên thế giới có hoạt động CTTC phát triển, đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về HĐCTTC
Có nước sử dụng thuật ngữ “HĐCTTC” nhưng có nước dùng thuật ngữ là “hợp
đồng thuê mua”
ở Italia, hợp đồng thuê mua là hợp đồng giao kết giữa người đi thuê và bên cho thuê về việc cho thuê các thiết bị do bên cho thuê mua hoặc sản xuất, nội dung của hợp đồng phải phù hợp với yêu cầu của bên đi thuê và có hiệu lực trong một thời gian nhất định Hết thời hạn thuê theo ký kết trong hợp đồng bên thuê có quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá định trước
ở Tây Ban Nha, hợp đồng thuê mua là loại hợp đồng có mục đích nhượng lại quyền sử dụng động sản hay bất động sản của bên cho thuê theo sự xác định của người đi thuê theo hợp đồng Hợp đồng này phải cho phép bên thuê có quyền mua lại tài sản đã thuê vào cuối giai đoạn thuê [41]
ở Việt Nam, từ những năm 70 và 80 đã xuất hiện một số giao dịch mang tính chất của giao dịch CTTC Ví dụ, trong trường hợp tổng công ty Vietfrach trước đây
đã mua một số tàu biển dưới hình thức hợp đồng thuê tàu, tiền thuê và lãi được Vietfrach trả dần cho chủ tàu theo định kỳ trong thời hạn thuê Hết thời hạn thuê, sau khi đã trả hết tiền thuê và lãi, thực hiện đầy đủ các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng thì bên kia chuyển giao quyền sở hữu con tàu cho Vietfrach
Ngay từ năm 1993, nhà nước ta đã có những cải tiến đáng kể nhằm tạo ra một hành lang pháp lý độc lập cho hoạt động CTTC Chỉ thị số 84/TTg ngày 04/03/1993 về xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp áp dụng giải pháp “hợp đồng thuê toàn bộ doanh nghiệp hoặc cho thuê tài sản và phương tiện kinh doanh”, nhưng cơ sở pháp lý đầu tiên có đề cập đến khái niệm HĐCTTC là Thể lệ tín dụng thuê mua ban hành kèm
Trang 20nước Việt Nam Theo quy định của văn bản pháp luật trên thì ở Việt Nam sử dụng khái niệm hợp đồng tín dụng thuê mua, theo đó hợp đồng tín dụng thuê mua là một hợp đồng được ký kết giữa bên CTTC và bên thuê và là cơ sở pháp lý xác định quyền hạn và trách nhiệm của Tổ chức tín dụng và bên thuê trong một giao dịch tín dụng thuê mua Đến NĐ 64/CP ngày 9/10/1995 thì hợp đồng tín dụng thuê mua được thay bằng HĐCTTC và HĐCTTC được định nghĩa là một loại hợp đồng kinh
tế được ký kết giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc thiết bị, bất động sản khác trong một thời gian nhất định (thời hạn cho thuê) theo điều kiện sau: Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên
Ngoài ra trong NĐ 64/CP còn quy định: thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê, ít nhất phải tương đương với giá trị tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng Những quy định trên của NĐ 64/CP
là phù hợp với đặc điểm của một giao dịch tài chính do Uỷ ban tài chính kiểm toán Quốc tế IASC đặt ra
Nghị định số 64/CP đến nay được thay thế bởi NĐ16/CP ngày 02/05/2001 Theo Điều 17 của Nghị định 16/CP thì “HĐCTTC là thoả thuận thuê một hoặc một số máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác theo những quy định tại Điều 1 của Nghị định này, phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của các bên HĐCTTC phải được lập thành văn bản phù hợp với quy định của pháp luật Hợp đồng phải ghi rõ việc xử lý tài sản khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn Bên cho thuê và bên thuê không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng, trừ những trường hợp nêu tại điều 27 Nghị định 16/CP ”:
Bên cho thuê có quyền chấm dứt HĐCTTC trước hạn khi rơi vào một trong các trường hợp sau:
- Bên thuê không trả tiền thuê theo quy định trong HĐCTTC
- Bên thuê vi phạm các điều khoản trong hợp đồng
Trang 21- Bên thuê bị phá sản, giả thể
- Người bảo lãnh bị phá sản, giải thể và bên cho thuê không chấp nhận đề nghị chấm dứt bảo lãnh hoặc đề nghị người bảo lãnh khác thay thế của bên thuê Bên thuê có thể chấm dứt hợp đồng trước thời hạn khi bên cho thuê vi phạm một trong các trường hợp sau:
- Bên cho thuê không giao đúng hạn tài sản
- Bên cho thuê vi phạm hợp đồng
HĐCTTC chấm dứt trước thời hạn cho thuê trong trường hợp tài sản thuê bị mất mát, hư hỏng không thể phục hồi , sửa chữa
HĐCTTC được chấm dứt trước khi kết thúc thời hạn cho thuê trong trường hợp bên cho thuê chấp nhận để bên thuê thanh toán toàn bộ tiền thuê trước thời hạn ghi tại HĐCTTC
Như vậy, ở mỗi nước trong những giai đoạn thời kỳ khác nhau quan niệm về HĐCTTC cũng rất khác nhau Nhưng nói chung, HĐCTTC có những điểm đặc trưng sau đây: là sự thỏa thuận giữa bên thuê và bên cho thuê về việc thuê tài sản nhất định theo yêu cầu của bên thuê và xác định quyền sở hữu tài sản khi chấm dứt
hợp đồng thuê Theo quan điểm của chúng tôi, hợp đồng CTTC có thể hiểu đó là
sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho thuê (công ty CTTC) và bên thuê (cá nhân,tổ chức), theo đó bên cho thuê cung cấp tài sản thuê theo yêu cầu của bên thuê cho bên thuê sử dụng trong một thời hạn nhất định Bên thuê có quyền chọn mua tài sản hoặc tiếp tục thuê khi kết thúc thời hạn thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng
1.1.3.2 - Bản chất pháp lý của hợp đồng cho thuê tài chính:
Tìm hiểu bản chất pháp lý của hợp đồng nói chung, HĐCTTC nói riêng có
ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như thực tiễn Bởi vì, chỉ khi xác định được bản chất pháp lý của hợp đồng này chúng ta mới xác định được quy chế pháp
Trang 22chỉnh, từ đó lựa chọn đúng đắn văn bản pháp lý để áp dụng cũng như thẩm quyền giải quyết các tranh chấp xảy ra
Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì HĐCTTC về hình thức là văn bản thoả thuận giữa các bên, có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với các bên trong thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh (nếu có) Mặc dầu vậy, việc xác định bản chất pháp lý của HĐCTTC còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất
Quan điểm thứ nhất cho rằng HĐCTTC là hợp đồng kinh tế, quan điểm thứ hai xếp HĐCTTC tuỳ từng trường hợp mà coi đó là HĐKT hay HĐDS Việc xác định một HĐCTTC là hợp đồng kinh tế hay HĐDS sẽ làm thay đổi quy chế pháp
lý áp dụng đối với hợp đồng đó Điều đó sẽ gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lựa chọn phương án giải quyết khi có tranh chấp phát sinh từ HĐCTTC Như vậy, vấn đề ở đây đòi hỏi chúng ta phải xác định trong trường hợp nào HĐCTTC là HĐKT, trong trường hợp nào là HĐDS Theo Điều 1,
Pháp lệnh HĐKT thì “HĐKT là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch, các
bên ký kết về việc sử dụng công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”; Về hợp đồng dân sự, Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng
dân sự ngày 29/4/1991 có ghi “HĐDS là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua, bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc thoả thuận khác trong
đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng” Vậy ta thấy việc
phân biệt HĐKT và HĐDS chủ yếu dựa vào mục đích ký kết của hợp đồng: HĐKT
ký kết nhằm mục đích kinh doanh, trong khi đó HĐDS nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng Thực tế các HĐCTTC của khách hàng chủ yếu là vì mục đích kinh doanh nên quan điểm thứ nhất cho rằng HĐCTTC là hợp đồng kinh tế theo chúng tôi là hoàn toàn đúng Tuy nhiên, từ ngày 1/7/1996 Pháp lệnh hợp đồng dân
Trang 23kết HĐDS mà chỉ quy định về mục đích giao dịch nói chung: “Mục đích giao dịch
dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” (Điều 132 BLDS của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Và tại điều 394 -
BLDS có nêu: “HĐDS là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” Như vậy, trong quyết định này BLDS không xác định mục đích ký kết là tiêu chí để phân biệt HĐDS và HĐKT Trong khi đó
NĐ 64/CP trước đây, Điều 18 đã xác định rõ HĐCTTC là một loại HĐKT, NĐ 16/CP lại không đề cập đến bản chấp pháp lý của HĐCTTC là HĐKT hay HĐDS Như vậy, theo NĐ 16/CP thì HĐCTTC có thể là HĐDS và cũng có thể HĐKT Để xác định nó là một HĐKT chúng ta có thể dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau đây:
- Về hình thức của hợp đồng phải bằng văn bản Nếu căn cứ vào tiêu thức này thì HĐCTTC có thể không phải là HĐDS vì theo điều 400 - BLDS, hợp đồng dân sự được giao kết có thể bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể
- Về mục đích ký kết: HĐKT được ký kết nhằm mục đích kinh doanh Theo quy định của Luật các TCTD (12/12/1997) thì hoạt động CTTC là hoạt động kinh doanh, vì vậy đối với Công ty CTTC mục đích kinh doanh đã được thể hiện rõ trong HĐCTTC Về phía bên thuê có thể là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thuê các máy móc thiết bị thì đa phần cũng nhằm mục đích kinh doanh
- Chủ thể tham gia trong HĐKT một bên phải là doanh nghiệp hoặc cá nhân
có đăng ký kinh doanh, trong khi HĐDS thì không bó buộc điều kiện này
Như vậy, HĐCTTC mà có 3 căn cứ trên thì đó là HĐKT, ngược lại nếu không có một trong 3 căn cứ trên thì sẽ được coi là hợp đồng dân sự và tuân theo các quy định của pháp luật dân sự
1.2 Đặc điểm và phân loại hợp đồng cho thuê tài chính
1.2.1 Đặc điểm của hợp đồng cho thuê tài chính:
HĐCTTC có thể phân biệt với các loại hợp đồng khác nhờ một số đặc điểm
sau đây:
Trang 24Thứ nhất, HĐCTTC là hợp đồng thanh toán trọn vẹn và không thể huỷ
ngang Đây là điểm khác biệt với hợp đồng cho thuê tài sản thông thường, bởi lẽ
trong hợp đồng cho thuê tài sản thông thường khi không có nhu cầu thuê tiếp, bên thuê có thể trả lại tài sản thuê và kết thúc trước thời hạn Với HĐCTTC, điều này không thể xảy ra vì tài sản thuê thường có giá trị lớn và thời gian khấu hao tài sản dài Nếu như một bên đơn phương huỷ bỏ cam kết của mình sẽ gây trở ngại và khó khăn lớn cho bên kia - người cho thuê vì số tiền mua tài sản thuê được xem như là vốn đầu tư của người cho thuê Vì vậy, người cho thuê sẽ thu hồi tổng vốn đầu tư cộng với tiền lãi trong thời gian cho thuê Nếu bên thuê chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì bên thuê phải thanh toán trọn vẹn số tiền thuê đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Đặt ra vấn đề ngược lại, giả sử bên cho thuê đòi thu hồi thiết bị (chấm dứt hợp đồng trước thời hạn) trong khi bên thuê đang tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi, điều này cũng sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho bên thuê và do
đó pháp luật không cho phép
Tuy nhiên, tính chất không huỷ ngang của HĐCTTC chỉ đặt ra khi một trong các bên không vi phạm hợp đồng thuê Trong mọi trường hợp sự an toàn đối với vốn đầu tư phải được bảo đảm cho nên pháp luật luôn quy định bên cho thuê có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong trường hợp bên thuê có hành vi vi phạm các điều kiện trong hợp đồng đã ký và bên thuê phải trả toàn bộ số tiền theo hợp đồng
Thứ hai, HĐCTTC là loại hợp đồng tín dụng trung và dài hạn Theo điều
61- Luật các Tổ chức tín dụng: “ hoạt động CTTC đối với tổ chức, cá nhân được
thực hiện thông qua Công ty CTTC Công ty cho thuê tài chính (bên cho thuê) sở hữu tài sản thuê Khi kết thúc hợp đồng, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê Bên thuê và bên cho thuê không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng” Trong thời hạn thuê, bên cho
thuê chuyển giao cho bên thuê quyền sử dụng tài sản thuê, bên cho thuê nhận toàn
bộ lợi ích về tài sản Trong hợp đồng cho thuê tài sản thông thường bên cho thuê
Trang 25về bên cho thuê Bên thuê cũng có thể tu sửa và làm tăng giá trị tài sản thuê, nếu
được bên cho thuê đồng ý và có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí
(khoản 2 điều 484 BLDS) Thực chất trong HĐCTTC, quyền sở hữu vẫn thuộc bên
cho thuê, quyền sử dụng thuộc về bên thuê Mặc dù, về hình thức cho thuê thì cho
thuê tài sản nhưng thực chất thì bên cho thuê chính là người cung cấp tài chính (cho
thuê vốn) cho bên thuê, vì bên cho thuê sử dụng nguồn vốn của mình đầu tư vào
một tài sản nhất định theo yêu cầu của bên thuê và thiết lập nên hợp đồng thuê chứ
không phải cung ứng nguồn vốn trực tiếp bằng tiền
Thứ ba, bên cho thuê cam kết mua tài sản theo thoả thuận của bên thuê với
bên cung ứng Bên thuê được quyền lựa chọn, trực tiếp nhận tài sản và tự chịu trách
nhiệm về mọi mặt có liên quan đến tài sản thuê Vì vậy, người cho thuê không chịu
bất cứ một trách nhiệm nào đối với việc định giá tài sản, ngày giao hàng và việc
bảo hành của nhà cung cấp do người thuê chỉ định
Thứ tư, hết thời hạn hợp đồng, người thuê thuê tiếp tài sản hoặc mua lại tài
sản đó theo thoả thuận trong hợp đồng Đây là đặc trưng cơ bản nhất và cũng là
căn cứ để phân biệt HĐCTTC với các hình thức cho thuê khác Bởi lẽ, trong hợp
đồng cho thuê tài sản thông thường, bên cho thuê với tư cách là chủ tài sản có toàn
quyền quyết định trong việc bán lại tài sản thuê và cho thuê tiếp hay không khi hợp
đồng thuê kết thúc mà không cần có sự thoả thuận trước trong hợp đồng
1.2.2 Phân loại hợp đồng cho thuê tài chính:
Về bản chất, HĐCTTC được hiểu đơn thuần là hợp đồng cho thuê vốn, tuy
nhiên hoạt động CTTC ngày càng đa dạng và phong phú, nên cần phân loại
HĐCTTC để từ đó nhìn nhận rõ hơn bản chất kinh tế của nó, đồng thời tạo cơ sở
pháp lý để thiết lập các loại HĐCTTC nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư
Hiện nay, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có rất nhiều cách phân loại
HĐCTTC Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến cách phân loại
phổ biến và là cơ sở để áp dụng hình thức CTTC đó ở Việt Nam
Trang 26Căn cứ vào các bên tham gia HĐCTTC:
* HĐCTTC có sự tham gia của hai bên: Theo phương thức này bên cho thuê
sử dụng thiết bị họ đã có sẵn để trực tiếp tài trợ cho bên thuê Trong trường hợp này bên cho thuê đồng thời là bên cung ứng, thường là nhà sản xuất và là Công ty cho thuê tài chính sử dụng chính tài sản của mình để tài trợ cho bên thuê Trước thời điểm khởi đầu của sự thoả thuận CTTC, bên cho thuê đã nắm quyền sở hữu tài sản thuê Nhìn chung, phương thức này thường được sử dụng và thực hiện dưới dạng HĐCTTC có đối tượng là bất động sản Đối với phương thức cho thuê này có những đặc điểm đặc trưng là: HĐCTTC thường được sử dụng bởi các Công ty xây dựng bất động sản và các Công ty sản xuất máy móc thiết bị thông qua việc đầu tư xây dựng cao ốc, văn phòng sau đó ký kết hợp đồng cho thuê với khách hàng
Chủ thể tham gia trong quan hệ này chỉ có hai bên Bên cho thuê (đồng thời
là nhà cung ứng) và bên thuê Trong phương thức này cho phép bên cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng lạc hậu Về cơ bản, phương thức tài trợ này thường được các nhà sản xuất sử dụng để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra, mặt khác nhờ đó họ luôn cập nhật những công nghệ mới để chế tạo các máy móc thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mua lại những trang thiết bị đã lạc hậu
về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc thiết bị công nghệ hiện đại
do họ chế tạo ra
Với những phương thức giao dịch này, việc tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác nước ngoài sẽ giải quyết được vấn đề máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại cho đất nước và tránh cho Việt Nam không trở thành nơi phế thải của các máy móc thiết bị sau thời gian sử dụng nhất định
* HĐCTTC có sự tham gia của 3 bên: Bên cho thuê, bên thuê và nhà cung
ứng ở đây bên thuê có quyền lựa chọn tài sản với bên cung ứng phù hợp với yêu cầu của mình Đây là loại HĐCTTC được áp dụng phổ biến nhất và có các ưu điểm sau: (i) Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa nhà cung ứng và bên thuê Hai bên phải cùng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động của tài
Trang 27sản, cũng như việc bảo hành, bảo dưỡng tài sản Như vậy, bên cho thuê trút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản; (ii) Bên cho thuê không phải mua tài sản trước, do vậy vòng quay vốn sẽ nhanh hơn, vì không phải dự trữ hàng tồn kho, hơn nữa bên cho thuê cũng có thể tài trợ cho nhiều đối tượng mà không phụ thuộc vào sản phẩm bên thuê yêu cầu (iii) Bên cho thuê không phải trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho bên thuê và như vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc nhận hàng của bên thuê nếu có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật có thể xảy ra
Hiện nay, trên thế giới phương thức này được áp dụng phổ biến (chiếm 80%) Theo chúng tôi phương thức tài trợ này phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tránh được những rủi ro cho bên thuê (bởi lẽ khả năng chuyên môn của bên cho thuê không thể hoàn hảo trên mọi lĩnh vực để thẩm định tài sản thuê hoặc sản xuất, cung ứng tài sản theo yêu cầu của khách hàng)
Căn cứ vào tổng số tiền thuê trong thời hạn cơ bản
*HĐCTTC hoàn trả toàn bộ: Trong giao dịch này, tổng số tiền thuê mà bên
cho thuê nhận được trong thời hạn cơ bản của hợp đồng đủ bù đắp toàn bộ chi phí mua sắm tài sản, lãi suất vốn tài trợ, các chi phí quản lý cho bên thuê Với phương thức giao dịch này mang lại những tiện ích cho cả hai bên (cho thuê và đi thuê) nên nó được áp dụng rất phổ biến Theo thống kê của cơ quan thuế Hoa Kỳ, số lượng hợp đồng theo phương thức này chiếm 90% [45,32] Phương thức cho thuê tài chính này cũng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam
*HĐCTTC hoàn trả từng phần: Tức là sau khi kết thúc thời hạn cho thuê,
tổng số tiền thu được chưa đủ bù đắp chi phí để thu hồi đủ vốn và đem lại lợi nhuận, người cho thuê cần phải cho thuê tiếp bằng hợp đồng mới Với phương thức giao dịch này, đưa ra cho người thuê quyền lựa chọn mua tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản thêm một thời gian khi kết thúc thời hạn cơ bản của hợp đồng
Như vậy, ta có thể rút ra một số đặc trưng của HĐCTTC hoàn trả từng phần như sau:
Trang 28- Trong thời hạn cơ bản các bên không có quyền hủy ngang hợp đồng nếu không có sự nhất trí chung
- Hết thời hạn cơ bản các bên có quyền tự do lựa chọn tiếp tục thuê tài sản đó thêm một thời gian hay mua chúng theo một giá cả hợp lý Trường hợp tiếp tục thuê thì bên thuê có quyền hủy ngang hợp đồng như thuê vận hành
- Do tính chất của hình cho thuê này, bên cho thuê thường tăng tốc độ khấu hao, tức là tăng tiền thuê trong thời hạn cơ bản Đối với hợp đồng thuê loại này khi kết thúc thời hạn cơ bản thì tiền thuê cao hơn, bên thuê cũng có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc kết thúc hợp đồng
- Tiền thu hồi vốn cao trong giai đoạn đầu được đưa vào quỹ phòng ngừa rủi ro [45,34]
Căn cứ vào tính chất của giao dịch CTTC:
*Loại hợp đồng tiếp cận từ phương diện người cho thuê sử dụng sẵn máy móc thiết bị của họ để cho thuê Trên thực tế, nhiều nhà sản xuất ở các nước phát triển được thực hiện loại cho thuê này như một giải pháp mở rộng doanh số bán hàng
+HĐCTTC liên kết: Là loại hợp đồng gồm nhiều bên cùng tài trợ cho một
bên thuê Trong trường hợp này do một người cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập trung vốn quá lớn với một khách hàng, nên họ liên kết với nhau để CTTC Đối với loại hợp đồng này, tài sản cho thuê thường có giá trị lớn
Với phương thức cho thuê liên kết, pháp luật Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý
để thực hiện, đó là hình thức cho thuê hợp vốn quy định tại Thông tư số NHNN ngày 09/06/2001 về hướng dẫn thực hiện NĐ 16/CP (mục 2.2), nhưng những rủi ro đối với loại hợp đồng này là không nhỏ Để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra, pháp luật Việt Nam đã có quy định đó là giới hạn cho thuê không được vượt quá 30% vốn tự có Trong phương thức này vừa tạo được lợi nhuận cho kinh doanh đồng thời không bỏ lỡ bạn hàng
Trang 2908/TT-+ Hợp đồng cho thuê bắc cầu: Là trường hợp người cho thuê đi vay để mua
tài sản rồi cho thuê, loại cho thuê này thường áp dụng cho những dự án đầu tư lớn Đây không phải là phương thức cùng tài trợ mà người cho thuê vẫn phải là trái chủ trong quan hệ cho thuê, còn người cho vay là trái chủ của người cho thuê trong quan hệ cho vay Trong quá trình thực hiện HĐCTTC người cho vay được hoàn trả khoản tiền cho vay từ các khoản tiền thuê và thường là do bên thuê trực tiếp chuyển trả khoản tiền cho vay từ các khoản tiền thuê, sau khi thanh toán hết các món nợ vay bên cho thuê được hưởng những khoản tiền thuê còn lại Hình thức cho thuê này mở rộng khả năng tài trợ khỏi phạm vi nguồn vốn của người cho thuê
* Loại hợp đồng tiếp cận từ phương diện người thuê:
- Hợp đồng bán rồi thuê lại: Các doanh nghiệp có thể bán tài sản của họ cho
các Công ty CTTC sau đó thuê lại Đây là trường hợp mà doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản cố định hiện có trong hoạt động sản xuất kinh doanh song lại không đủ uy tín để vay vốn ngân hàng, trong trường hợp này họ buộc phải bán một phần tài sản cố định cho ngân hàng hoặc Công ty CTTC, sau đó thuê lại tài sản đó
để sử dụng, và như vậy sẽ có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động
Đặc trưng chủ yếu của loại hợp đồng này là bên thuê giữ lại quyền sử dụng tài sản và chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho bên cho thuê, đồng thời nhận tiền bán tài sản, nhưng tài sản đem bán phải còn giá trị sử dụng hữu ích và giá trị của tài sản đó tuỳ thuộc vào giá cả hợp lý của tài sản đó trên thị trường tại thời điểm diễn
ra hoạt động mua bán
Với đặc thù là các loại hình doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phương thức giao dịch này đáp ứng được nguồn vốn lưu động cho nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam khi nguồn vốn kinh doanh còn hạn chế, cơ chế vay vốn Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn
Phương thức cho thuê này được hgi nhận trong khoản 3, điều 16, NĐ 16/CP
tiếp cận dưới phương diện bên cho thuê nên sử dụng thuật ngữ “mua và cho thuê
Trang 30-Hợp đồng cho thuê giáp lưng: Với sự cho phép của người cho thuê, người
thuê có thể cho người khác thuê tiếp Loại hợp đồng cho thuê này được áp dụng trong những trường hợp bên thuê thứ hai cần tài sản muốn đi thuê nhưng không thực hiện trực tiếp từ những người cho thuê chuyên nghiệp - bên Công ty CTTC, do hoạt động yếu kém, do không đảm bảo uy tín hoặc đơn giản chỉ vì doanh nghiệp đó chưa được người cho thuê biết đến Ví dụ như Công ty CTTC nước ngoài thường chỉ chấp nhận tài trợ cho những công ty lớn của Việt Nam (bên thứ nhất) Hình thức cho thuê này cũng có thể áp dụng trong trường hợp bên thuê thứ nhất khi đã thực hiện một phần hợp đồng, không còn nhu cầu thuê, do đó họ phải tìm đến bên thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng với sự chấp thuận của người cho thuê Phương thức này giúp bên thuê thứ nhất không bỏ phí tài sản thuê, đồng thời có thể kiếm lời từ bên thuê thứ hai Bù lại bên đi thuê thứ nhất vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm đối với những rủi
ro thiệt hại liên quan đến tài sản thuê vì họ là người trực tiếp ký hợp đồng với bên cho thuê ban đầu Mặc dù, kể từ thời điểm hợp đồng thuê mới lại được ký kết, mọi quyền lợi và nghĩa vụ và tài sản được chuyển giao sang bên thứ hai
- Hợp đồng cho thuê trả góp: Đây là phương thức tài trợ khá đặc biệt của
CTTC Thực chất là hình thức mua trả góp tài sản trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm, được áp dụng đối với người mua có tài sản thế chấp và cả người không có thế chấp
Theo phương thức này, hợp đồng CTTC có hiệu lực và người mua thường phải trả ngay cho nhà tài trợ một khoản tiền chiếm từ 25% - 30% giá trị tài sản và vào thời điểm kết thúc hợp đồng chủ tài sản sẽ chuyển giao quyền sử dụng cho người thuê, hình thức tài trợ này giúp cho bên cung ứng bán được tài sản của mình
và tạo cho bên thuê có ngay tài sản để sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
mà không phải trả ngay những khoản tiền lời
Nhưng bên cạnh đó, cũng có những bất lợi trong phương thức này đó là tỷ lệ lãi suất thực tế quá cao (thường lên tới 15% /năm) và nguy cơ mất quyền sở hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng nếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán
Trang 31Như vậy, phương thức tài trợ vốn thông qua hình thức cho thuê tài chính có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Các chủ thể tham gia trong hợp đồng cho thuê tài chính có thể lựa chọn cho mình một phương thức phù hợp để đạt được mục đích hoạt động kinh doanh của mình
1.3 Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng CTTC:
Xác định chủ thể trong quan hệ hợp đồng có vai trò quan trọng góp phần vào việc xác định trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia, xác định loại hợp đồng, xác định nội dung của loại hợp đồng đó, và cũng đồng thời cũng là cơ sở để xác định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
Chủ thể tham gia trong quan hệ hợp đồng CTTC là các bên tham gia trong quan hệ HĐCTTC, xác lập những quan hệ pháp lý nhất định trên cơ sở bình đẳng,
tự do thoả thuận của các bên trong khuôn khổ pháp lý
Trong quan hệ HĐCTTC nói chung thông thường có ba bên là bên thuê, bên cho thuê và bên cung ứng Điều này được thể chế hoá trong NĐ 16/CP, điều 7, khoản 1
* Chủ thể thứ nhất: bên cho thuê
Bên cho thuê trong HĐCTTC là Công ty cho thuê tài chính được thành lập
và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, bao gồm:
- Công ty CTTC nhà nước: là Công ty CTTC do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh
- Công ty CTTC cổ phần: là Công ty CTTC được thành lập dưới hình thức Công ty cổ phần, trong đó các tổ chức và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước và các quy định khác của pháp luật
- Công ty CTTC trực thuộc TCTD: là Công ty CTTC hạch toán độc lập, có
tư cách pháp nhân do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình làm
Trang 32chủ sở hữu theo quy định của Ngân hàng nhà nước và các quy định khác của pháp luật
- Công ty CTTC liên doanh: là Công ty CTTC được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều TCTD, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều TCTD nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
- Công ty CTTC 100% vốn nước ngoài: Là Công ty cho thuê tài chính được thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Công ty CTTC chính là một loại hình TCTD phi Ngân hàng (hoạt động ngân hàng không phải là hoạt động thường xuyên và chủ yếu), là pháp nhân Việt Nam, Công ty CTTC phải chịu sự kiểm tra, thanh tra của Ngân hàng nhà nước trong hoạt động kinh doanh và hoạt động trong thời hạn tối đa không quá 50 năm theo quy định của pháp luật Trong trường hợp cần gia hạn hoạt động phải được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp nhận bằng văn bản và mỗi lần gia hạn không quá 50 năm, kèm theo đó phải có phương án kinh doanh khả thi, thành viên sáng lập phải
có uy tín và khả năng tài chính
Công ty CTTC để được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động thì phải thỏa mãn các điều kiện sau: ( điều 8 - NĐ 16/CP)
Có nhu cầu hoạt động CTTC trên địa bàn xin hoạt động
Có đủ vốn pháp định theo quy định của pháp luật
Thành viên sáng lập là các tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tài chính Người quản trị điều hành có năng lực, hành vi dân sự đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với hoạt động của Công ty CTTC
Có dự thảo điều lệ về tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật
Trang 33Ngoài những điều kiện nêu trên, đối với bên nước ngoài, trong các hình thức Công ty liên doanh hoặc Công ty 100% vốn nước ngoài phải được tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nước ngoài cho phép liên doanh, cho phép hoạt động CTTC tại Việt nam, đây là một cơ chế đảm bảo an toàn pháp lý cho hoạt động CTTC tại Việt Nam
Tính đến thời điểm 31/12/2001 Ngân hàng nhà nước đã cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho 9 Công ty CTTC, trong đó có 1 Công ty CTTC có vốn nước ngoài đã sát nhập vào Công ty CTTC NHNT (Phụ lục 1)
Để đi vào hoạt động, Công ty CTTC phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 1 Nghị định 16/CP đó là:
Điều lệ được Ngân hàng nhà nước chuẩn y
Có đủ vốn pháp định, có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động CTTC và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong toả tại NHNN ( không được hưởng lãi) trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày
Đăng báo trung ương và địa phương theo quy định của pháp luật về những nội dung quy định trong giấy phép
Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp giấy phép thành lập và hoạt động Công ty CTTC phải khai trương hoạt động
Những hoạt động của Công ty CTTC được phép đó là: (i) Huy động vốn, (ii) Cho thuê tài chính; (iii) Mua và cho thuê lại theo hình thức CTTC (gọi tắt là mua
và cho thuê lại) Theo hình thức này, Công ty CTTC mua lại máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác thuộc quyền sở hữu của bên thuê và bên cho thuê thuê lại chính tài sản đó để tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình; (iv) Tư vấn cho khách hàng về vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ CTTC; (v) Thực hiện các dịch vụ uỷ thác, quản lý tài sản, bảo lãnh trách nhiệm liên quan
Trang 34đến hoạt động CTTC; (vi) Các hoạt động khác khi được NHNN cho phép (điều 16
NĐ 16/CP)
Công ty CTTC có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động trong các trường hợp sau:
- Có chứng cứ là hồ sơ xin cấp giấy phép có thông tin cố ý làm sai sự thật
- Sau thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà Công ty không hoạt động
- Tự nguyện hoặc bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bắt buộc phải giải thể
- Chia, sáp nhập, hợp nhất, phá sản
- Hoạt động sai mục đích
- Không có đủ điều kiện theo khoản 1 và 2 điều 28 Luật các TCTD
Sau khi bị thu hồi giấy phép các CTCTTC phải chấm dứt ngay các hoạt động ngân hàng
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì bên cho thuê chỉ bao gồm Công ty CTTC được thành lập theo quy định của pháp luật mà thôi Như vậy
để phù hợp với tình hình nhu cầu thực tế và phù hợp với thông lệ quốc tế cần phải đưa thêm một số đối tác tham gia thành lập Công ty CTTC
*Chủ thể thứ hai: bên thuê
Trong hoạt động CTTC theo quy định tại điều 1 Quy chế tạm thời về tổ
chức và hoạt động của Công ty CTTC tại Việt Nam ban hành kèm theo NĐ số 64/CP thì bên thuê trực tiếp sử dụng số tài sản thuê trong thời hạn thuê theo mục đích kinh doanh hợp pháp của mình Như vậy, theo quy định này thì tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam có thể coi hoạt động CTTC là một phương thức vay vốn để mua máy móc thiết bị mở rộng sản xuất Theo quy định này thì pháp luật không cho phép các chủ
Trang 35thể là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể sản xuất kinh doanh tham gia giao kết HĐCTTC, tuy nhiên quy định này cho phép doanh nghiệp trực tiếp sử dụng tài sản thuê với mục đích kinh doanh Như vậy, chỉ thừa nhận hình thức là cho thuê trực tiếp và nhằm mục đích kinh doanh mà thôi Quy định này trái với nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, bởi vì, nội dung của nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, không phân biệt về quy mô, hình thức, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh đều
có quyền và nghĩa vụ như nhau
Mặt khác, nhu cầu và phạm vi hoạt động của các chủ thể kinh doanh ở Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc chủ thể kinh doanh là cá nhân
Đó là các chủ thể đang cần các trang thiết bị, các nguồn vốn đầu tư cho hoạt động của mình, trong khi việc vay vốn Ngân hàng là rất hạn chế và khả năng để đảm bảo cho việc đầu tư vào tài sản lưu động để phát triển sản xuất tự bản thân họ không thể đảm đương được
Để đáp ứng được nhu cầu đó, Luật các TCTD và NĐ số 16/CP đã kịp thời sửa đổi, bổ sung, mở rộng đối tượng tham gia HĐCTTC Tại khoản 1 điều 61 Luật TCTD đã quy định sự tham gia của các cá nhân trong hoạt động cho thuê tài chính:
"Hoạt động CTTC đối với tổ chức, cá nhân được thực hiện thông qua Công ty CTTC" và trong điều 17 khoản 2 NĐ16/CP đã khẳng định sự tham gia của cá nhân trong hoạt động CTTC, cụ thể là: "bên thuê là tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình" Điều này có nghĩa không phải chỉ có các doanh nghiệp mới có quyền tham gia vào quan hệ HĐCTTC với tư cách là bên thuê mà các cá nhân, các mô hình tổ chức kinh doanh khác cũng có thể tham gia vào quan hệ này nếu họ có nhu cầu thuê máy móc thiết
bị phục vụ cho hoạt động của mình Và hoạt động CTTC ở đây cũng không phải giới hạn trong phạm vi là hoạt động kinh doanh Nhưng một vấn đề đặt ra là đối với các chủ thể là cá nhân này khi thừa nhận là chủ thể của HĐCTTC thì cũng gặp không ít khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng tài sản thuê và
Trang 36biệt là trong giai đoạn đầu mới triển khai thực hiện, tạo cơ sở niềm tin cho khách hàng khi tham gia vào hoạt động này tránh những tổn thất không đáng có xảy ra và ảnh hưởng đến hoạt động CTTC nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Có thể nói, Nghị định số 16/CP đã tiến một bước khá dài đối với cơ chế kiểm tra giám sát này, đó là:
Thứ nhất, Công ty CTTC không được cho thuê đối với các đối tượng sau
đây (quy định tại điều 29- NĐ16/CP):
+ Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) + Người thẩm định xét duyệt cho thuê
+ Bố, mẹ, vợ chồng, con của thành viên HĐQT, BKS, TGĐ (GĐ) Phó TGĐ (PGĐ)
Thứ hai, điều 30 NĐ/16/CP quy định Công ty CTTC không được cho thuê
với các điều kiện ưu đãi (Tổng giá trị tài sản cho thuê không được vượt quá 5% vốn
tự có của Công ty CTTC) cho những đối tượng sau:
+ Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại Công ty CTTC, kế toán trưởng, thanh tra viên để tránh những trường hợp lạm dụng để đảm bảo an toàn cho tài sản thuê
+ Các cổ đông lớn của Công ty CTTC
+ Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại điều 29 Nghị định số 16/CP đã đề cập ở trên sở hữu trên 10% vốn điều lệ của Doanh nghiệp đó
Thứ 3: Tại điều 31 Nghị định 16/CP quy định:
+ Tổng mức CTTC đối với 1 khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự
có của Công ty CTTC trừ trường hợp khách hàng có nhu cầu thuê từ nhiều nguồn thì các Công ty CTTC được cho thuê hợp vốn theo quy định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội
mà khả năng hợp vốn của các Công ty CTTC chưa đáp ứng được yêu cầu của
Trang 37khách hàng thuê, Thủ tướng Chính Phủ có thể quyết định mức cho vay tối đa đối với từng trường hợp cụ thể
Điều kiện để bên thuê được thuê máy móc thiết bị và các loại động sản khác dùng cho sản xuất kinh doanh dưới dạng HĐCTTC, đó là:
- Đối với pháp nhân:
+ Phải được thành lập và hoạt động theo pháp luật hiện hành của Việt Nam + Có tình trạng tài chính lành mạnh
+ Có nhu cầu đổi mới trang thiết bị, máy móc nhằm hiện đại hoá và hợp lý sản xuất
+ Có những đảm bảo thích hợp cho tài sản thuê, khi tổ chức tín dụng yêu cầu, tài sản thế chấp cầm cố bảo lãnh )
- Đối với thể nhân, hộ sản xuất: ngoài một số điều kiện được quy định đối với doanh nghiệp , thể nhân, hộ sản xuất phải có hộ khẩu cùng địa bàn với TCTD Quy định này tạo điều kiện cho các TCTD có thể dễ dàng tiến hành kiểm tra việc
sử dụng tài sản thuê của bên thuê trong suốt quá trình thuê Những quy định này được thể chế hoá trong điều 9 Quy chế 149, nhưng trong Nghị định 64/CP và NĐ16/CP, cũng như Luật các TCTD lại không quy định điều này Đây là một điểm thiếu cần bổ trong các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên thuê đối với bên cho thuê trong quan hệ HĐCTTC
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, NĐ16/CP mở ra một hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho hoạt động CTTC phát triển, mở rộng mối quan hệ với khách hàng không chỉ trong nước, mà còn với khách hàng nước ngoài, không chỉ loại hình CTTC trong nước mà còn thừa nhận hình thức CTTC 100% vốn nước ngoài và liên doanh Như vậy, không những mở rộng phạm vi hoạt động mà còn tạo điều kiện để bên Việt Nam nâng cao được tay nghề, cung cấp được những trang thiết bị hiện đại đáp ứng được nhu cầu của đất nước và nhu
Trang 38tác kinh doanh đòi hỏi chúng ta phải có cơ chế kiểm tra, giám sát cũng như có những cơ chế pháp lý ràng buộc để đảm bảo hiệu quả khi thực hiện HĐCTTC
* Chủ thể thứ ba: Bên cung ứng (Nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp thiết bị)
Trong hợp đồng cho thuê tài sản thông thường hay trong hợp đồng tín dụng thường chỉ có hai bên tham gia trong hợp đồng, đó là bên thuê và bên cho thuê hoặc bên vay và bên cho vay Điểm khác biệt trong HĐCTTC đó là
số lượng các chủ thể tham gia trong quan hệ HĐCTTC Ngoài hai chủ thể cơ bản của hợp đồng cho thuê còn xuất hiện bên thứ ba trong quan hệ, đó là nhà sản xuất hay nhà cung cấp thiết bị Thực chất, chủ thể tham gia giao kết HĐCTTC chỉ gồm 2 bên: bên thuê và bên cho thuê Bên thứ 3 trong quan hệ HĐCTTC chỉ xuất hiện khi hai bên: Bên thuê và bên cho thuê thoả thuận xong về các điều khoản và khi đó bên thứ 3 xuất hiện sẽ có trách nhiệm cun g cấp đầy đủ các yêu cầu về máy móc thiết bị theo bên thuê
Như vậy, nhà cung cấp thiết bị không phải là người tham gia giao kết HĐCTTC mà chỉ có trách nhiệm cung cấp đúng các yêu cầu về máy móc thiết
bị của bên thuê Trong mối quan hệ này, bên cho thuê trong HĐCTTC sẽ ký hợp đồng mua bán với nhà sản xuất và trả tiền cho bên bán, bên bán sẽ chuyển giao quyền sở hữu cho bên cho thuê Trong trường hợp nếu có hư hỏng đối với máy móc thiết bị thì bên thuê sẽ đề nghị nhà sản xuất (nhà cung cấp thiết bị) sửa chữa, thay thế và trả tiền Như vậy, trong quan hệ này có hai hợp đồng: đó là hợp đồng mua bán tài sản giữa nhà cung cấp với bên cho thuê
và HĐCTTC giữa bên cho thuê với bên thuê, việc thực hiện hai hợp đồng này tạo nên mối quan hệ ràng buộc giữa các bên tham gia trong quan hệ
Trang 39Có thể minh hoạ mối quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng CTTC theo
sơ đồ sau:
Có thể nói rằng: HĐCTTC là một loại "Hợp đồng đặc biệt", vì khi tham gia
vào quan hệ hợp đồng thường xuất hiện 3 chủ thể Ngoài ra, trong một số trường hợp, tham gia vào các quan hệ HĐCTTC có thể chỉ gồm 2 bên theo quy định tại khoản 3 điều 16 NĐ16/CP Đây là điểm bổ sung mới trong NĐ16/CP Trong phương thức này các chủ thể tham gia bao gồm: Bên thuê và bên cho thuê, trong đó bên thuê bán tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho thuê sau đó thuê lại chính tài sản đó để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh
HĐCTTC
Bên cho thuê Quyền sử dụng tài sản Bên thuê
Trả tiền thuê tài sản
Trả tiền mua tài sản
Trả tiền bảo dưỡng thay thế phụ tùng
Bảo quản
và thay thế phụ tùng
Trang 40hiện nay, giải quyết được khâu thiếu vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoặc bên cho thuê cũng đồng thời là bên cung ứng tài sản (tức đồng thời là nhà sản xuất) Mặc dù có nhiều ưu điểm như vậy nhưng cơ chế này vẫn chưa được hoàn thiện trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
1.4 Đối tƣợng của hợp đồng cho thuê tài chính:
Hoạt động CTTC đã phát triển trong một thời gian dài, tuỳ theo từng thời kỳ nhất định và do chính sách, nhu cầu ở mỗi nước khác nhau mà đối tượng của HĐCTTC cũng khác nhau
ở Hàn Quốc đối tượng cho thuê chủ yếu là máy móc thiết bị công nghiệp (chiếm 57%); thiết bị giao thông vận tải (chiếm 20%), thiết bị văn phòng (chiếm 13%) ở Indonexia đối tượng cho thuê cũng chủ yếu tập trung trong lĩnh vực thiết
bị công nghiệp (chiếm 37%); thiết bị giao thông vận tải (chiếm 25%), thiết bị văn phòng (chiếm 15%), thiết bị thi công cơ giới (chiếm 1%), thiết bị khác (18%) ở Malayxia cơ cấu thị trường cho thuê đối với thiết bị văn phòng (13%), ô tô con (19%), thiết bị thi công cơ giới (15%), thiết bị khác 18% [33,31]
Như vậy, thị trường cho thuê trên thế giới chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp, tài sản thuê chủ yếu là máy móc thiết bị thi công cơ giới và phương tiện vận tải
ở Việt nam, hoạt động CTTC là một hoạt động khá mới mẻ đối với các nhà doanh nghiệp Trước đây chỉ có những ngành cần vốn đầu tư rất lớn và các thiết bị không thể sản xuất được như máy bay, tàu thuỷ trọng tải lớn mới áp dụng phương thức này đối với các nhà sản xuất hoặc bên cho thuê nước ngoài Từ tháng 5/1995 do nhu cầu của nền kinh tế, NHNN Việt Nam đã ban hành Thể lệ tín dụng thuê mua kèm theo Quyết định số 149/QĐ-NH5 quy định nghiệp vụ thuê mua ở Việt Nam, tiếp đó là NĐ số 64/CP ngày 9/10/1995 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty CTTC tại Việt Nam Tại điều 2, khoản 5 NĐ số 64/CP quy định: "Tài sản thuê là máy móc thiết bị và các động sản đạt tiêu chuẩn
kỹ thuật tiên tiến, có giá trị sử dụng hữu ích trên 1 năm được sản xuất trong nước