Và mới đây, Bộ Giáo dục và đào tạo đã công bố Dự thảo về Chương trình giáo dục phổ thông Chương trình tổng thể 24/01/2017, dự thảo đã nhấn mạnh mục tiêu cơ bản: “Giúp học sinh tiếp tục p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VÂN ANH
DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 10 TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VÂN ANH
DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 10 TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
BỘ MÔN LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Khuông
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn khóa QH2017S tại Trường Đại học Giáo dục đã giúp
đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Nguyễn Đức Khuông, người đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THCS & THPT Tạ Quang Bửu đã động viên, cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểm chứng kết quả nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nghiên cứu song sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và đồng nghiệp
Hà Nội, ngày ….tháng…năm 2020
Tác giả
Nguyễn Vân Anh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Kết quả khảo sát thực trạng học của học sinh 34
Bảng 2.1 So sánh dị bản truyện cổ tích 70
Bảng 2.2 So sánh truyện cổ tích Tấm Cám 78
Bảng 3.1 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 88
Bảng 3.2 Thang đánh giá mức độ đạt được các câu hỏi trong phiếu kiểm tra 110
Bảng 3.3 Đánh giá kết quả của các lớp tham gia 112
Biểu đồ 3.1 Kết quả thực nghiệm và đối chứng tại trường THCS và THPT Tạ Quang Bửu – Hà Nội 112
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu 9
6 Giả thuyết nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
8 Cấu trúc của đề tài luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Khái lược về văn hóa 11
1.1.1 Khái niệm văn hóa 11
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của văn hóa 13
1.2 Khái quát về truyện cổ tích 17
1.2.1 Khái niệm 17
1.2.2 Đặc trưng của truyện cổ tích 19
1.2.2.1 Đề tài 19
1.2.2.2 Cốt truyện 19
1.2.2.3 Nhân vật 20
1.2.2.4 Kết cấu 23
1.2.2.5 Xung đột 24
1.2.2.6 Không gian, thời gian 24
Trang 71.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học dân gian - truyện cổ tích 26
1.3.1 Văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa 26
1.3.2 Văn học dân gian là đỉnh cao của văn hóa, có khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa 27
1.4 Thực trạng dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 29
1.4.1 Truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 29
1.4.2 Khảo sát thực trạng dạy học truyện cổ tích 31
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 36 2.1 Nét đẹp văn hóa trong truyện cổ tích 36
2.1.1 Văn hóa ứng xử, giao tiếp trong truyện cổ tích 36
2.1.2 Phong tục, lễ giáo trong truyện cổ tích 47
2.2 Một số yêu cầu đối với việc tổ chức dạy học truyện cổ tích sách giáo khoa Ngữ văn 10 từ góc nhìn văn hóa 49
2.2.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học truyện cổ tích về kiến thức, kĩ năng, thái độ 49
2.2.2.Đảm bảo trang bị cho HS khái niệm văn hóa từ đó xác định những phương diện văn hóa 50
2.2.3 Đặt học sinh làm trung tâm, chủ thể của quá trình cảm thụ 51
2.3 Một số biện pháp dạy học học truyện cổ tích từ góc nhìn văn hóa 52
2.3.1 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu thông qua hệ thống biểu tượng văn hóa trong tác phẩm 52
2.3.2 Hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận qua tình huống truyện 63
2.3.3 Hướng dẫn học sinh so sánh dị bản truyện cổ tích 69
2.3.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu truyện cổ tích từ góc nhìn 81
văn hóa 81
Tiểu kết chương 2 86
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87
Trang 83.1 Mục đích thực nghiệm 87
3.2 Nội dung thực nghiệm 87
3.3 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 87
3.4 Cách thức tiến hành thực nghiệm 88
3.5Thiết kế bài dạy thực nghiệm 90
3.6 Kết quả thực nghiệm 111
3.6.1 Phân tích kết quả thực nghiệm 113
3.6.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 113
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi một quốc gia muốn phát triển và hội nhập, họ phải đào tạo được một lớp công dân toàn cầu không chỉ bắt kịp với những xu thế hiện đại trên thế giới, thấm nhuần và có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mà quan trọng hơn, còn làm cho văn hóa Việt Nam ngày càng lan tỏa Do đó, Đảng và nhà nước ta đã đặt trên vai ngành giáo dục nhiệm vụ đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việc đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu Và mới đây, Bộ Giáo dục và đào tạo đã công bố Dự thảo
về Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể) (24/01/2017), dự
thảo đã nhấn mạnh mục tiêu cơ bản: “Giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức về quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới”[3, tr.3] và định hướng “Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia và các hoạt động học tập, tự phát hiện bản thân và phát triển”[3, tr.5] Với sự
định hướng trên, nó không còn là sự thay đổi về tên gọi mà là sự thay đổi về bản chất của dạy học, từ trọng tâm là giáo viên truyền thụ kiến thức sang trọng tâm là trò chủ động, sáng tạo trong tiếp nhận tri thức
Để phân biệt quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác thì ngoài sự khác biệt về vị trí địa lí, màu da thì mỗi một dân tộc, một đất nước, một
Trang 10vùng đất đều có riêng cho mình những bản sắc văn hóa không thể pha lẫn Ở
đó có thể là ngôn ngữ, là những phong tục tập quán, lễ hội và văn học nằm trong văn hóa Văn học là một trong những bộ phận quan trọng của văn hóa Văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và giá trị tinh thần, từ đó làm nên diện mạo riêng của văn hóa Văn học là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc Việc nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa trong tác phẩm văn học là hết sức cần thiết Bởi vì tính văn hóa của tác phẩm văn học là một thuộc tính không thể tách rời của tác phẩm văn chương, là một yếu tố quan trọng làm
nên giá trị muôn thuở của tác phẩm “Mỗi tác phẩm văn học đều mang trong
nó tính văn hóa đặc trưng của dân tộc, của đất nước nơi tác phẩm được sinh
ra Không tác phẩm văn chương nào mà lại không mang trong nó chí ít một đặc trưng văn hóa của dân tộc mình hoặc qua cách nói, cách diễn đạt hoặc qua cách xây dựng, cách khái quát hình tượng”[5, tr.11] Từ đấy, việc giảng
dạy tác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở mức độ cảm thụ cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật mà còn phải chỉ ra sự độc đáo của vẻ đẹp văn hóa dân tộc trong đó Từ góc nhìn văn học soi chiếu vào tác phẩm văn chương đã nhìn thấy giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc
Nằm trong hệ thống thể loại của VHDG, TCT từ lâu đã không còn xa lạ với mỗi người con đất Việt TCT là một thể loại tiêu biểu và quan trọng nhất làm nên giá trị đặc sắc của kho tàng VHDG Việt Nam TCT ra đời và phát triển trên mảnh đất cằn cỗi của đời sống hiện thực và là một trong những tấm gương trung thành nhất phản ánh cuộc sống đó Thông qua TCT, nhân dân lao động thể hiện những quan niệm nhân sinh, tập quán lao động, những tín ngưỡng, phong tục hay phẩm chất đạo đức của dân tộc mình Nó chứa đựng
hệ giá trị văn hóa, nhân văn cốt lõi của dân tộc được lưu truyền từ đời này qua đời khác Và điều này đã làm cho TCT luôn luôn là một thế giới hấp dẫn, lôi
cuốn mọi thế hệ bạn đọc Đối với trẻ em thì TCT mang lại “một thế giới trong
đó trẻ em vận động chống chọi, đem cái thiện chí của mình ra đối kháng với
Trang 11cái ác”(V.Xukhomlinxky), còn đối với người lớn thì TCT mang lại “một thế giới khác hẳn với cuộc đời hàng ngày tẻ nhạt và khô cằn, đầy tiếng thở than của những kẻ tham lam khôn cùng và ghen ghét đến thành bản năng”(M.Gooki)
Không thể phủ nhận những vị trí, vai trò quan trọng của các TCT được đưa vào chương trình giảng dạy, nhưng khi được lựa chọn và đưa vào chương trình giáo dục thì đã gặp phải một số khó khăn trong quá trình giảng dạy và học tập Trong giảng dạy, giáo viên thường áp đặt suy nghĩ cá nhân lên tác phẩm, chỉ tập trung khai thác những giá trị nội dung, nghệ thuật cơ bản của tác phẩm một cách đơn thuần mà có thể chưa gắn với thực tế đời sống trong hiện tại
Thực tế hiện nay với sự phát triển của công nghệ hiện đại, HS không còn chú ý nhiều đến các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Một thái độ bàng quan trước các vấn đề của xã hội, giao tiếp thiếu văn hóa, tư duy xảy ra nhiều dẫn đến tình trạng bạo lực học đường, hành xử thiếu tôn trọng với cha
mẹ thầy cô và người lớn tuổi
Vì vậy, nghiên cứu “Dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn
10 từ góc nhìn văn hóa” là một hướng đi hứa hẹn nhiều kết quả tốt đẹp không
chỉ trên phương diện văn hóa, văn học mà còn cả trên phương diện giáo dục
Việc nghiên cứu “Dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 từ góc nhìn văn hóa”, đối với tôi không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn
mang ý nghĩa thực tiễn thiết thực
Trang 12Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Bích Hà, Giáo trình Văn học dân gian của GS.TS Vũ Anh Tuấn (chủ biên), PGS.TS Phạm Thu Yến -
TS Nguyễn Việt Hùng, TS Phạm Đặng Xuân Hương Hầu hết các giáo trình
đã chỉ ra được khái niệm, phân loại và đặc trưng của truyện cổ tích Giáo
trình Văn học dân gian do GS TS Vũ Anh Tuấn chủ biên đã trích: “Không có một truyện cổ tích thần kì nào lại có tuổi đời trẻ hơn tuổi ông bà chúng ta và cũng không có một câu truyện cổ tích nào già nua trong ngàn vạn đôi mắt trẻ thơ của biết bao thế hệ”[23, tr112] Cuốn sách Bình giảng truyện dân gian
của Hoàng Tiến Tựu đã đi cảm thụ cái hay, cái đẹp của từng thể loại VHDG,
trong đó có TCT
Bài nghiên cứu Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám của Đinh Gia Khánh, tác giả đã viết: “Chủ đề chiếc giày giao duyên là một chủ đề có tính chất quốc tế, chủ đề miếng trầu giao duyên là một chủ đề có tính chất dân tộc” [14, tr 47] Như vậy, miếng trầu trong TCT Tấm
Cám là một nét riêng chỉ có ở Việt Nam, là một phong tục của nước ta từ thời vua Hùng Miếng trầu trong TCT Tấm Cám trở thành “vật báu mang lại hạnh phúc” cho Tám và được tác giả dân gian sử dụng như một biểu tượng của tình yêu thủy chung Hay bài nghiên cứu của Chu Xuân Diên đã có những cái nhìn
mới mẻ về một tác phẩm tiêu biểu của truyện cổ tích là Tấm Cám “Về cái chết của mẹ con dì ghẻ trong truyện Tấm Cám” Nguyễn Thị Huế trong bài
viết “Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian những năm gần đây” cho rằng:
“Hướng tiếp cận các tác phẩm văn hóa dân gian theo folklore học bao gồm các phương diện như ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian , tín ngưỡng, phong tục và lễ hội Cách tiếp cận này mang tính tổng thể của văn hóa học”
Luận án tiến sĩ nghiên cứu về các vấn đề của TCT như “Chủ đề hôn nhân
và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam” của Dương Nguyệt Vân đã nghiên cứu chủ đề hôn nhân trong truyện cổ
Trang 13tích ở cả nội dung phản ánh và các phương thức nghệ thuật nhằm phát hiện những lớp văn hóa ẩn chứa trong TCT qua những đặc trưng thể loại của TCT
Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam với đề tài “Hệ thống những công trình nghiên cứu về loại hình nhân vật truyện cổ tích thần kì của người Việt” đã hệ thống được những công trình nghiên cứu về loại hình nhân vật
truyện cổ tích thần kỳ của người Việt một cách lôgic nhằm đóng góp một phần cho công việc nghiên cứu khoa học về loại hình nghệ thuật TCT thần kỳ
Tác giả Cao Thị Phương Thúy đã nghiên cứu đề tài luận văn “Dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh” đã có hướng đi mang tính đổi mới, hiện đại, phù hợp với quan
điểm của giáo dục là lấy người học làm trung tâm Tác giả đã đưa ra một số biện pháp tổ chức dạy học TCT Tấm Cám theo định hướng phát triển năng lực học sinh như: Xây dựng các tình huống học tập làm nảy sinh nhu cầu học tập TCT Tấm Cám, xây dựng và triển khai các nhiệm vụ học tập, sử dụng đa dạng các phương tiện dạy học thúc đẩy tích hợp kiến thức và kĩ năng và ngoài
ra còn là sự thay đổi trong kiểm tra đánh giá Thông qua những biện pháp tổ chức giờ dạy để thấy tác giả đã có những cái nhìn đổi mới
Thông qua các cuốn giáo trình, các bài nghiên cứu, các đề tài luận văn, luận án ta có thể thấy được TCT là thể loại được nghiên cứu rất nhiều và từ rất sớm so với các thể loại VHDG khác Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều mặt khác nhau của TCT để đưa đến cái nhìn đa chiều hơn, sâu rộng hơn Dù đưa ra những quan điểm, cách nhìn khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm TCT có những đặc trưng cơ bản
- Các công trình nghiên cứu và dạy học truyện cổ tích dưới góc nhìn văn hóa
Một số công trình nghiên cứu về văn hóa không thể không nhắc tới là cuốn
Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc, Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thùy Anh hay cuốn Xã
Trang 14hội học văn hóa của Mai Văn Hai- Mai Kiệm Các cuốn sách đã đưa ra các
khái niệm của văn hóa và đặc trưng của chúng Các nhà nghiên cứu đã có những phân tích, bình luận sâu sắc xoay quanh khái niệm “văn hóa” và những thành tố ảnh hưởng đến văn hóa
Về góc độ hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, tác giả Lê Nguyên
Cẩn trong cuốn sách Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã cho người đọc
thấy được những minh chứng cụ thể của văn học từ góc nhìn văn hóa Tác giả
đã xác định tính văn hóa, các mã văn hóa, các cách tiếp nhận phân tích tác phẩm văn học, các phương diện biểu hiện của văn hóa trong tác phẩm văn học, mã văn hóa trong các quan hệ của tác phẩm văn học, các dạng thức tồn tại của mã văn hóa, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa trong bối cảnh hiện nay cũng được đề cập trong cuốn sách
Năm 2010, trong cuốn sách Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, Lê
Nguyên Cẩn nghiên cứu một hệ thống lí luận về văn hóa và tác giả đã trình bày sự vận hành lý luận văn hóa trong kiệt tác Truyện Kiều Tác giả đã khẳng
định: “Tác phẩm văn học là một trong những kết tinh cao nhất của văn hóa một dân tộc”, “mỗi tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc trưng của dân tộc, của đất nước nơi đó tác phẩm được sinh ra” [4, tr.9] Từ
đó tác giả xác định hệ thống biểu tượng văn hóa, hành động ứng xử thẩm mĩ của nhân vật
Luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu rất sâu sắc như “Yếu tố phong tục trong TCT người Việt từ góc nhìn văn hóa” của Nguyễn Vũ Tuấn đã đi giải
thích về phong tục vòng đời, phong tục ngày lễ tết và thờ cúng tâm linh trong
TCT; đề tài “TCT sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa” của Nguyễn
Thị Hồng Ngân đã làm rõ vai trò của tín ngưỡng, phong tục và văn hóa ứng
xử trong xã hội Việt Nam cổ xưa thông qua sự phản ánh của TCT sinh hoạt
Một số bài nghiên cứu “Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học” của
PGS TS Trần Lê Bảo đã đi phân tích tâm lý văn hóa trong các tác phẩm văn
Trang 15học, tác giả đã đưa ra quan điểm của cá nhân về việc mã văn hóa là các kí
hiệu, biểu tượng trong các tác phẩm văn học Bài viết “Từ góc nhìn văn hóa xem lại một số TCT phổ biến trong nước với ý nghĩa răn dạy: Trừng trị kẻ tham lam, độc ác đưa ra những kiến giải, những bài học ý nghĩa của TCT
Tấm Cám, Thạch Sanh Bài nghiên cứu của Lê Khánh Tùng trường Đại học
Sư phạm _ Đại học Huế đã phân tích rất chi tiết về “Truyện thần thoại và cổ tích Việt Nam từ góc nhìn văn hóa”, tác giả đã tìm ra mối liên hệ giữa văn hóa
và văn học dân gian, có những ví dụ chứng minh, những bình luận sâu chiều
để giải mã văn hóa
Về dạy học tác phẩm văn chương từ góc nhìn văn hóa, tức là từ lý luận góc nhìn văn hóa trong tác phẩm văn chương đã được chuyển hóa thành những phương pháp, biện pháp dạy học cụ thể mang tính tích cực theo hướng văn hóa, người GV tổ chức các hoạt động làm cho giờ học sôi nổi, ý nghĩa; HS thông qua các truyền thống văn hóa trong tác phẩm tiếp nhận các tầng ý nghĩa của tác phẩm một cách chủ động, sáng tạo
Luận văn Thạc sĩ “Dạy học tác phẩm An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo hướng tiếp cận văn hóa” của Bùi Thế Nhung đã đưa ra
những quan điểm về phương pháp dạy học truyện truyền thuyết theo hệ thống biểu tượng văn hóa Tác giả đã đưa ra “Bản chất, nguyên lí cốt lõi của phương pháp dạy học Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo hướng tiếp cận văn hóa là sử dụng văn hóa (tín ngưỡng, phong tục – tập quán,
lễ hội nảy sinh, phát triển Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy) làm phương tiện để khám phá, lí giải hình tượng nhân vật và giá trị truyền thuyết này” [18, tr 40] Tác giả đã xác định rõ mục đích đề tài nghiên cứu của mình lí giải văn hóa để tìm hiểu rõ hơn về nhân vật Hay Luận văn
“Tiếp cận hệ thống theo hướng văn hóa trong dạy học tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu (Ngữ văn 11-Tập 1)” của tác
giả Lại Thị Thương cũng đưa ra một số phương pháp khi dạy học tác phẩm từ
Trang 16góc nhìn văn hóa như đề xuất các biện pháp đọc sáng tạo từ góc độ văn hóa,
sử dụng những câu hỏi nêu vấn đề, phân tích những nét văn hóa còn bổ sung biện pháp phối hợp với các hình thức chú giải, trao đổi, thảo luận, vấn đáp Với việc điểm qua các công trình khoa học chúng ta thấy rằng hướng nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa rất hữu hiệu Tác giả Bùi Thị Thu Hà trong bài viết Vận dụng tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương ở nhà
trường phổ thông đã khẳng định: “Bỏ qua nội dung văn học trong tiếp nhận tác phẩm văn chương là một sự tiếp nhận chưa đủ Vận dụng tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương làm bộc lộ phương diện văn hóa của tác phẩm, giúp HS hiểu được về văn hóa dân tộc và thời đại và cảm nhận sâu sắc trong tâm thức về vẻ đẹp văn hóa mà tác phẩm gợi lên”
Chúng tôi nhận thấy tất cả các công trình nghiên cứu trên đều đã đưa ra biện pháp dạy học tác phẩm văn hóa từ góc nhìn văn hóa Nhưng trên thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu để phục vụ cho việc giảng dạy và học tập tại bậc THPT với phần VHDG đặc biệt là TCT
Lý luận về dạy học tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa và phương pháp, biện pháp dạy học tác phẩm văn chương có những điểm chung, đó chính là sự giao thoa giữa lý luận và phương pháp Nhưng dấu ấn văn hóa trong mỗi tác phẩm lưu dấu qua lớp ngôn từ là khác nhau
Dựa trên những công trình nghiên cứu đã có những nhận định chính xác và
khoa học, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 từ góc nhìn văn hóa” nhằm phát hiện những đặc trưng
riêng biệt, độc đáo trong sinh hoạt văn hóa người Việt được phản ánh trong
truyện cổ tích Bởi “Dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
từ góc nhìn văn hóa” thì chưa có công trình nghiên cứu nào để cập đến nên
chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này
Trang 173 Mục đích nghiên cứu
Cung cấp kiến thức để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng Tìm ra những phương pháp hiệu quả, đem đến cho HS những nhận thức đúng đắn về truyền thống văn hóa Đồng thời cho thấy sự gắn bó mật thiết, khăng khít giữa truyện cổ tích và văn hóa của người Việt
Chỉ ra được những nét văn hóa tiêu biểu trong truyện cổ tích như văn hóa ứng xử, giao tiếp, phong tục, lễ giáo để từ đó giúp HS tiếp cận tác phẩm một cách toàn diện hơn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Đề xuất định hướng dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
từ góc nhìn văn hóa, tổ chức các hoạt động phù hợp
Thực nghiệm các đề xuất đã nêu
5 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là truyện cổ tích trong SGK Ngữ văn 10 dưới góc nhìn văn hóa
Phạm vi nghiên cứu đè tài giới hạn trong SGK Ngữ văn 10 là bài TCT Tấm Cám
6 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đưa ra một số phương pháp dạy học truyện cổ tích từ góc nhìn văn hóa thì sẽ nâng cao được chất lượng giảng dạy và học tập của đồng thời giúp
HS thấy được nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp được gửi gắm qua TCT
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Ba lĩnh vực Nghiên cứu phê bình – văn học, Lý luận dạy học – Văn hóa học được dùng để soi chiếu sự tương tác
Trang 18giữa truyền thống văn hóa Việt Nam với truyền thống văn hóa trong VHDG,
đặc biệt là thể loại TCT
Phương pháp thống kê, điều tra, phỏng vấn: Phương pháp này giúp chúng tôi có được những số liệu tin cậy trong việc đánh giá thực trạng dạy học TCT, đặc biệt là dạy TCT Tấm Cám tại trường THPT
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tính khả thi và hiệu quả của định hướng dạy học mà luận văn đề xuất sẽ được kiểm nghiệm qua phương pháp thực nghiệm sư phạm
8 Cấu trúc của đề tài luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Lời cảm ơn, Phụ lục, Luận văn bao gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Dạy học truyện cổ tích từ góc nhìn văn hóa
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái lược về văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một danh từ được sử dụng rất rộng rãi trong tất cả các cộng đồng, các nhóm xã hội khác nhau, với những cách hiểu khác nhau Vì vậy, khi
đi tìm hiểu về văn hóa với tư cách là một khái niệm khoa học, chúng ta cần phải khái quát lại những tri thức, kinh nghiệm cũng như những ý kiến xung quanh khái niệm này
Theo các nhà ngôn ngữ học, từ culture (văn hóa) - với tư cách là một danh
từ độc lập - chỉ bắt đầu được sử dụng ở châu Âu vào cuối thế kỉ XVII đầu thế
kỉ XVIII Mặc dù trước đó rất lâu, khoảng đầu thế kỉ II TCN, ở La Mã, nhà triết học Xixeron đã gắn văn hóa với hoạt động trí tuệ của con người, để sau
đó văn hóa được chuyển từ nghĩa đen “gieo trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc” Người đầu tiên có công đưa từ culture vào trong khoa học là S Pufendorf - nhà nghiên cứu pháp luật người Đức đã sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra, để nói về tính chất
khai trí, có học vấn, có giáo dục của con người: “Văn hóa là của con người,
do con người và cho con người nên văn hóa gắn với cách nghĩ, cách nói, cách làm của con người mang tính xã hội mà bản chất của con người này là con người sáng tạo, đối lập với con người tự nhiên chỉ biết thừa hưởng một cách sinh vật mọi thứ từ tự nhiên Chỉ khi con người tự nhiên chuyển sang con người xã hội thì lúc đó mới xuất hiện văn hóa”[5, tr.13]
Nhóm định nghĩa tâm lý học đã có những định nghĩa riêng của mình về văn hóa Người đại diện cho nhóm này là W.Summer đã viết: “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính
là văn hóa”[10, tr.21] Một đại diện khác là R Benedict định nghĩa “Văn hóa như hành vi ứng xử có được mà mỗi người cần phải nắm lại từ đầu”[10,
Trang 20tr.21] Tư duy đã nhấn mạnh đến các hành vi ứng xử và sự thích nghi với môi
trường mang nặng tính truyền thống của con người
Nhóm định nghĩa cấu trúc, học giả Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã đưa ra một quan niệm rõ ràng về văn hóa Ông cho rằng
“Văn hóa tức là sinh hoạt” - tức là một kiểu hình thức sinh tồn của xã hội
Ông chú trọng đến khía cạnh cấu trúc của văn hóa, bởi sinh hoạt của con người bao gồm nhiều phương diện, kể cả vật chất, cách ứng xử và đời sống tinh thần
Trong cuốn Cơ sở văn hóa của tác giá Trần Quốc Vượng đã trích dẫn quan
điểm của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[27, tr.21]
Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải tự nhiên mà liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử … cốt lõi của sự sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng
và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[27, tr.21]
Theo Unesco, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho
Trang 21con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ
và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”[27, tr.24,25]
Có thể nói, mỗi một nhóm, trường phái, một tác giả đều có những phát kiến hay nêu được cụ thể một phương diện nào đó nhưng không một định nghĩa nào có thể coi là một định nghĩa hoàn chỉnh về văn hóa Từ những định nghĩa trên ta luôn thấy được điểm chung là văn hóa luôn bao gồm những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của con người Nó gắn liền với đời sống thực tiễn xã hội Văn hóa luôn gắn với vai trò của con người trong việc sáng tạo và phát triển nó Con người thông qua các hoạt động trong đời sống xã hội vừa làm phong phú thêm các giá trị văn hóa cho dân tộc, vừa tự bồi đắp kiến thức văn hóa cho bản thân mình
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của văn hóa
Văn hóa là một chỉnh thể rộng lớn và toàn diện Trong bất kì hiện tượng nào của đời sống cũng có yếu tố văn hóa hay khía cạnh văn hóa, Vì vậy, văn hóa có một số đặc trưng sau:
1.1.2.1 Tính truyền thống của văn hóa
Văn hóa không phải là một cái gì đó cụ thể, không hình khối, không sờ mó được nhưng văn hóa lại có mặt ở mọi nơi, không một lĩnh vực, hoạt động xã hội nào lại không có mặt văn hóa Bởi vì văn hóa chính là cách lựa chọn, cách ứng xử của con người trong quá trình sống, học tập và lao động Nó được hình thành trong lịch sử, dưới tác động của môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội mà tạo thành Vì vậy, văn hóa mang tính ổn định tương đối thể hiện ở những khuôn mẫu xã hội, được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua
Trang 22không gian, thời gian, kết tinh ở phép nước lệ làng, các tín điều luân lí, các chuẩn mực giá trị, phong tục tập quán, lễ nghi luật pháp Một hiện tượng mới nảy sinh, chưa qua thử thách, chưa được thừa nhận và lựa chọn thì không thể được gọi là truyền thống văn hóa Ngược lại, những gì đã được cộng đồng thừa nhận, gìn giữ trong thời gian dài, đã trở thành thuộc tính sâu rễ bền gốc trong cộng đồng như một thành tố văn hóa, truyền thống văn hóa thì thật khó
có thể xóa bỏ hay thay đổi Các giá trị văn hóa được bảo lưu và chuyển giao qua nhiều thế hệ của đời sống xã hội làm thành truyền thống Nói đến tính truyền thống cũng có nghĩa nhấn mạnh mặt ổn định tương đối của văn hóa
Nó là hệ thống giá trị tinh thần và vật chất, nó có thể hữu hình hoặc vô hình
cụ thể là các phong tục, tập quán, thói quen, hành vi, lối sống, lối tổ chức của một dân tộc hay một xã hội đã được gia đình và xã hội tích lũy và truyền lại
Ví dụ người Việt Nam thường trọng tình cảm hơn lý trí, luôn tư duy “ăn cho mình mặc cho người” tức là nghĩ cho người khác trước khi nghĩ đến bản thân mình, tôn trọng gia đình hay những quy tắc ứng xử “kính trên nhường dưới”, “Uống nước nhớ nguồn”, những luật lệ, đạo lí về “tam tòng tứ đức” đối với người phụ nữ từ ngàn đời Đó chính là những truyền thống văn hóa của người Việt Nam
1.1.2.2 Tính nhân bản của văn hóa
Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người Văn hóa thường được coi là tiêu chuẩn để phân biệt con người với đồ vật, là cái chỉ có ở con người, là những giá trị do con người tạo ra Chỉ con người mới có văn hóa, các loài vật khác dù có cao cấp đến đâu cũng hành động theo bản năng sinh tồn Văn hóa
là hoạt động sáng tạo của con người Văn hóa không có tính di truyền, nó là
sự chuyển giao một cách tự nhiên từ thế hệ này tới thế hệ khác qua con đường giáo dục, học tập và thấm nhuần Vậy nhân bản là gì? Nhân là người, bản là gốc, có thể coi là cái gốc của con người, là cái gốc của đạo làm người Truyền thuyết “Con rồng, cháu Tiên” đồng bào bọc trăm trứng là nét văn hóa đặc thù
Trang 23của dân tộc Nó là niềm tin vào nguồn gốc siêu nhiên, cao đẹp của giống nòi
và tình cảm ruột thịt của dân bản Tính nhân bản ở đây là văn hóa cộng đồng, dân tộc mặc nhiên công nhận con người Việt Nam bẩm sinh bản chất phi thường, được chứng minh qua lịch sử qua những câu chuyện về Thánh Gióng, Thạch Sanh hay Trương Chi…
Tính nhân bản không chỉ thể hiện ở bản năng, ở cái gốc của con người mà
nó còn là sự tác động của con người đối với thế giới thế giới tự nhiên và xã hội để làm thay đổi cái gốc, thay đổi tư duy của một sự vật, hiện tượng nào
đó Bởi văn học là phương tiện phong phú để phát huy văn hóa Nhưng muốn
nó là thứ Văn hóa có thể “đưa dân tộc từ chỗ đồi trụy đến chỗ thanh cao”, phải có tính nhân bản
Khi con người sống trong xã hội, họ tác động đến hình thức xã hội, cải tạo
xã hội, làm cho nó phát triển theo mục đích tác động của mình Tuy nhiên, vai trò của cá nhân từng con người trong xã hội khác nhau, họ sẽ tác động đến xã hội ít nhiều, mạnh yếu khác nhau, đặc biệt là những người có vai trò thống trị
xã hội Chỉ có con người mới cải tạo, phát triển xã hội theo những hình thức khác nhau như vậy
1.1.2.3 Tính thẩm mỹ của văn hóa
Văn hóa là giá trị, là kết quả sáng tạo của con người, thể hiện sự biến đổi theo quy luật của cái đẹp Trong đời sống, con người luôn có nhu cầu hướng tới cái đẹp, cái hoàn mỹ Đẹp trong ăn uống, đẹp trong cách ăn mặc, đẹp trong cách ăn nói, ứng xử giao tiếp… tất cả những cái đó đã tạo nên tính thẩm mỹ của văn hóa
Giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong mọi khía cạnh, mọi bộ phận của văn hóa, cả ở văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Đẹp không chỉ thể hiện ở khuôn mặt, nụ cười, hàm răng, mái tóc, mà còn cả ở trong cách ăn mặc, trong trang phục thường ngày, và cả trong lối sống, cách ứng xử, cách giao tiếp, văn hóa Như cha ông ta ngày xưa từng khuyên dạy con cháu rằng: “Người đẹp vì
Trang 24lụa, lúa tốt vì phân”, đó chẳng phải là lời khuyên bảo, muốn con cháu chúng
ta phải biết lựa chọn cách ăn mặc, cách ứng xử cho phù hợp hay sao? Một trang phục đẹp tôn lên không chỉ tôn lên thẩm mỹ của người mặc, mà còn giúp cho người đối diện có thể đánh giá được một phần nào đó văn hóa của một con người Trang phục vốn chỉ những thứ chúng ta mặc lên người mỗi ngày Ca dao xưa có câu:
“Đàn ông đóng khố đuôi lươn Đàn bà mặc yếm hở lườn, mới xinh”
Trang phục đã có sự thay đổi rất nhiều trong văn hóa từ xưa cho đến ngày nay, hay sự khác nhau giữa các vùng miền Trước đó, đối với người miền Bắc
là quần áo của thường dân rất đa dạng như áo nâu sòng, quần lụa đen, áo tứ thân, áo yếm, áo dài, vấn khăn mỏ quạ, đội nón quai thao Còn đối với vùng Nam Bộ thì đặc trưng là áo bà ba Trang phục được sử dụng cho mục đích cao
cả nhất là giúp con người bảo vệ thân thể của mình Những trang phục phù hợp với văn hóa, với hoàn cảnh thì được gọi là những trang phục đẹp Trang phục đẹp sẽ tôn vinh lên con người cũng như tôn vinh phần nào đó lối sống, phong cách của con người đó Còn về văn hóa, ta hiểu đó là bao hàm của cách sống, bao gồm nhiều mặt trong cuộc sống của con người, trong đó có trình độ học vấn, trang phục, lối sống, văn hóa ứng xử Khi tiếp xúc với một người,
ấn tượng đầu tiên chúng ta bắt gặp, để lại sâu sắc trong lòng chúng ta nhất phải nói tới trang phục Từ đó có thể thấy rằng, trang phục cũng góp một phần không nhỏ tạo nên những dấu ấn đầu tiên đối với mỗi người Đặc điểm văn hóa đó đã hình thành và khẳng định vị trí trong đời sống người Việt Nam từ
xa xưa đến tận hôm nay và chắc chắn là mãi mãi sau này
1.2.2.4 Bản sắc văn hóa
Văn hóa là sản phẩm quá trình tích lũy được lưu truyền trong không gian tập thể Trong không gian tập thể sẽ xuất hiện những cái chung nhất của tập thể được tích lũy trong quá trình lao động và sản xuất Và người ta gọi đó là
Trang 25bản sắc văn hóa Có thể thấy, bản sắc văn hóa chính là đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc, thể hiện tập trung ở nếp sống, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của cộng đồng đó Nó là kết quả của những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch
sử xã hội đặc biệt ở mỗi cộng đồng mà hình thành bản sắc cộng đồng
Bản sắc văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của mỗi cộng đồng Nó sẽ được thể hiện rõ nét nhất khi đem nó so sánh, đặt trong mối tương quan với bản sắc văn hóa của dân tộc, vùng miền khác Và một trong những điều quan trọng là bản sắc văn hóa không phải ngưng đọng tại một thời điểm lịch sử nào đó mà có sự dịch chuyển, biến thiên theo thời gian Chúng thu nạp những điều tốt đẹp, văn minh, tiến bộ đồng thời sa thải những cái xấu, cái lạc hậu không phù hợp với thời đại, dân tộc
Biểu hiện bản sắc văn hóa của người Việt Nam ở khía cạnh giao tiếp, ứng
xử thể hiện rất rõ trong truyền thống “Thương người như thể thương thân”,
“Tương thân tương ái’, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” hay cách hành xử
văn hóa giữa những người không phải máu mủ “Bán anh em xa mua láng
giềng gần” Đó là những truyền thống tốt đẹp của cha ông ta được đúc kết
thành những câu thành ngữ, tục ngữ
Bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính truyền thống, tính nhân bản, tính thẩm mỹ và bản sắc văn hóa là những điều kiện cần thiết để phân biệt nó với những vấn đề, hiện tượng khác
1.2 Khái quát về truyện cổ tích
1.2.1 Khái niệm
“Cổ” có nghĩa là cũ, “tích” nghĩa là dấu vết còn để lại Hiểu như vậy cổ
tích có nghĩa là những truyện xưa còn truyền lại Trong Từ điển Thuật ngữ văn học TCT là “một loại truyện kể dân gian, nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chính là phản ánh, lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con
Trang 26người trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản,
có gia đình riêng, có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt”[11,
tr.452]
TCT là văn xuôi truyền miệng TCT lại là loại truyện tương đối phức tạp
và dài, tình tiết, tâm lí nhân vật thường có nhiều loại Có nhiều cách phân loại truyện cổ tích nhưng hiện nay phổ biến nhất là chia ra làm 3 tiểu loại: TCT thần kì, TCT sinh hoạt và TCT loài vật
TCT xuất hiện khi xã hội đã có những xung đột mâu thuẫnVì vậy, thông qua những nhân vật trong truyện, nhân dân lao động đều đi lí giải một số hiện tượng trong xã hội đồng thời gửi gắm mơ ước về một thế giới tốt đẹp, về sự công bằng, về sự thưởng phạt công minh Từ đó ta thấy được chức năng cơ bản của TCT thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hư cấu, kì ảo: Mỗi tình huống, mỗi cốt truyện đều không có thực, không diễn ra trên thực tế, nhưng đó là hình dung ,
là cách nhìn khái quát của nhân dân về hiện thực xã hội Quan trong nhất là mỗi câu chuyện đó gợi ra một số phận cần nâng niu, chăm sóc; đưa ra một bài học về luân lí, đạo đức; bày tỏ được khát vọng sống và tinh thần lạc quan của con người… Truyện cổ tích dạng truyện kể thể hiện cái nhìn nghệ thuật về cuộc sống của người lao động, để họ vẽ ra một thế giới lung linh, đẹp đẽ, giúp
họ vượt qua những khó khăn, đau khổ của cuộc đời thực Người ta nhìn vào một thế giới đầy màu sác, ánh sáng để mơ tưởng đến một thế giới tuyêt vời khác, để quên đi thực tại đầy khổ đau của mình
- Truyện cổ tích là câu chuyện về sự thưởng phạt công bằng theo quan điểm
của nhân dân “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” Vì vậy, mỗi truyện cổ tích đều
đã hoàn thành về cốt truyện, tức là có sự kết thúc ấn định theo quan điểm của nhân dân: kết thúc có hậu, người có công được thưởng, người có tội bị trừng phạt
Trang 27- Tính chất giáo huấn, triết lí của TCT: TCT ca ngợi và bênh vực cho đạo đức của con người thông qua nhân vật lí tưởng Nhân vật lí tưởng được giới thiệu
ở phần đầu truyện bao giờ cũng là ngươi có tài năng và nhân cách vượt trội
Họ phải mang đạo đức, tài năng của nhân dân lao động, được thử thách về lòng tốt, sự trung thành Để làm nổi bật về phẩm chất của nhân vật lí tưởng, TCT xây dựng nhân vật theo sự xung đột của hai tuyến nhân vật rõ rệt: thiện –
ác, tốt – xấu, người anh – người em…những tuyến nhân vật đối lập với nhau một cách quyết liệt Nhân vật lí tưởng sẽ được nhận phần thưởng xứng đáng
1.2.2 Đặc trưng của truyện cổ tích
1.2.2.1 Đề tài
Đề tài của TCT hầu như có tính chất hoang đường, không xảy ra trong thực tế Tuy vậy, tất cả đều đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa rất lớn về nhân sinh và xã hội Truyện cổ tích là sự tiếp nối đề tài về cuộc đấu tranh của con người nhằm tìm hiểu và chế ngự sức mạnh của thiên nhiên Đề tài đặc trưng của TCT là đề tài xã hội Cụ thể là những xung đột trong xã hội đã có
sự phân chia giai cấp TCT phản ánh những xung đột ấy chủ yếu qua số phận các loại nhân vật (nhân vật thiện - ác) Trong xung đột ấy, các thành viên trong gia đình thường phân chia thành hai phe đối lập, một bên là những người lớn tuổi và một bên là những người trẻ tuổi
và hợp lí
Theo Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Lê Đức Luận, cốt truyện
của TCT có thể chia làm 5 nhóm sau:
Trang 281 TCT kì ảo có 3 tiểu nhóm:
a Loại cốt truyện cổ tích thần kì
b Loại truyện cổ tích hóa thân hay sự tích
c Loại truyện cổ tích hoang đường
2 Loại cốt truyện sinh hoạt hay cổ tích hiện thực
3 Loại cốt truyện cổ tích động vật
4 Loại cốt truyện cổ tích lịch sử
5 Loại cốt truyện nhân vật tài năng, tráng sĩ
Cốt truyện kể về nhân vật anh hùng có những bước chính sau: Ra đời thần
kì, ăn khỏe, có sức mạnh, có tài, thử thách gian nan để trưởng thành, tập hợp lực lượng để làm việc nghĩa, chiến đấu ác liệt, dũng cảm để trừ ác thú, yêu quái, cứu được nhân dân, đồng đội, đem lại cuộc đời bình yên hạnh phúc Cốt truyện cố tích động vật là loại cốt truyện nhằm lí giải đặc điểm các con vật Cốt truyện dẫn dắt người nghe đi đến nhận thức về nguồn gốc và đặc điểm của các con vật Nhân vật là các con vật Cốt truyện loại này không bị chi phối bởi cái thần kì
Cốt truyện cổ tích hóa thân: Đây là loại truyện lí giải nguồn gốc, đặc điểm của các con vật, các hiện tượng tự nhiên và xã hội Điểm chung của loại cốt truyện này nhằm dẫn dắt người nghe nhận thức về nguồn gốc và đặc điểm của
sự vật Kết thúc loại truyện này có dạng câu kết luận: “Từ đó dân ta có tục…”, hoặc “Từ đó nhìn xuống hoặc trông lên người ta thường thấy…” 1.2.2.3 Nhân vật
Đối với truyện kể dân gian được sáng tác và lưu truyền theo phương thức truyền miệng, không có điều kiện miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật bằng lời nhiều văn như các loại truyện trong văn học viết tác giả dân gian chủ yếu hướng vào hành động, việc làm của nhân vật; qua hành động và bằng hành động mà thể hiện tính cách và nội tâm nhân vật Vì vậy mà nhân vật trong các truyện cổ tích rất ít suy nghĩ, nói năng chủ yếu là hành động (đi lại, làm việc)
Trang 29Nhân vật trong TCT đi lại khá tự do, có những nhân vật đi lại ở nhiều cõi Các nhân vật đế vương bao gồm vua, hoàng hậu, công chúa, hoàng tử ở trần gian Họ xuất hiện với vai trò, nhiệm vụ và tính cách khác nhau Phần nhiều
họ tượng trưng cho công lí, lẽ phải, làm chỗ dựa cho người lương thiện
Các nhân vật quan lại, lí hương bao gồm các chức vị như tể tướng, tuần phủ, tri huyện, đề lại, cai tổng, xã trưởng, lí trưởng, trương tuần… Loại này cũng
có những nhân vật tốt, thích làm việc nghĩa, việc thiện, hoặc không làm điều
gì ác như tể tướng cha nàng Mị Nương trong truyện Trương Chi nhưng phần
lớn họ là những nhân vật phản diện, tham lam, độc ác hoặc có những tính cách xấu xa, bỉ ổi đáng cười như nhiều nhân vật quan lại,
Các nhân vật giàu có, thường được gọi là trưởng giả, phú ông hay phú hộ, nhà giàu Loại nhân vật này xuất hiện khá thường xuyên trong truyện cổ tích, phần lớn là nhân vật phản diện, tham lam, độc ác Ví dụ là lão nhà già trong
truyện Cây tre trăm đốt, phú ông trong truyện Sọ Dừa
Những nhân vật “bề trên” (đàn chị, đàn anh) trong gia đình phụ quyền Dù xuất hiện trong gia đình giàu có hoặc nhà nghèo nhưng họ đều giống nhau ở tính cách tham lam, gian ác, coi của hơn người Ví dụ người anh trong truyện
Cây khế, hai người chị trong truyện Sọ Dừa, người anh nuôi Lí Thông trong truyện Thạch Sanh, người mẹ kế trong truyện Tấm Cám Loại nhân vật này
thường xuất hiện trong truyện cổ tích thần kì cùng với sự xuất hiện của các nhân vật bề dưới, đàn em bộc lộ xung đột trong gia đình phụ quyền, phản ánh
sự phân hóa giai cấp trong xã hội
Những người lương thiện có phẩm chất tốt đẹp thuộc mọi thành phần xã hội khác nhau mà đông nhất là những người lao động nghèo khổ (người con
ở, người con riêng, người mồ côi, người em út…) Truyện cổ tích, đặc biệt là truyện cổ tích thần kì hướng nhiều vào những nhân vật mồ côi, những người
“đàn em” chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhất trong xã hội bất công Ví dụ Chử
Trang 30Đồng Tử, Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cô Tấm, người anh em trong truyện Cây Khế, anh trai cày trong Cây tre trăm đốt, hai anh em trong truyện Tô Thị vọng phu
Trong loại nhân vật này có một phần lớn được tác giả dân gian xây dựng theo phương pháp lãng mạn, lí tưởng hóa, tạo ra sự có hậu trong cuộc đời của
họ Ví dụ Tấm được lấy vua trở thành hoàng hậu, trừng trị được mẹ con nhà Cám; Thạch Sanh lập nhiều kì tích, lấy nàng công chúa, được lên ngôi vua trị
vì thiên hạ, Sọ Dừa lấy được cô gái út của phú ông và thi đỗ trạng nguyên Tác giả dân gian đã dùng trí tưởng tượng tạo ra những yếu tố thần kì ảo tưởng
để thay đổi số phận của nhân vật Ngoài ra các nhân vật thần kì xuất hiện vào những tình huống khó khăn, nguy kịch để giúp đỡ cho người lương thiện, trong truyện cổ tích có một loại nhân vật vừa là người bình thường vùa có những yếu tố phi thường kì diệu Điển hình phải kể đến nhân vật Tấm, giai đoạn đầu (từ khi bắt tép cho đến khi lấy vua) là người bình thường được ông Bụt phù trợ, giai đoạn sau (từ khi bị mẹ con nhà Cám hãm hại đến khi trở lại làm người và gặp lại vua) bản thân Tấm trở thành một người phi thường, biến hóa nhiều lần thành “chim vàng anh”, “xoan đào”, “khung cửi”, “cây thị, quả thị” và cuối cùng trở lại làm người Sọ Dừa từ khi sinh ra cho đến khi cưới vợ
ở trong lốt sọ và tác giả dân gian coi chàng là “người trời” Vì thế không cần phải có Tiên, có Bụt giúp đỡ, chàng tự giải quyết tất cả Biến túp lều tranh thành tòa nhà tráng lệ, có đủ tiện nghi và mọi thứ lễ vật như lời thách cưới của phú ông Chàng lường trước được những khó khăn nên trước khi đi sứ đã trao
cho vợ ba báu vật để phòng thân: “Con dao, hòn đá lửa và hai quả trứng gà” Các nhân vật trong truyện Trầu Cau, truyện Táo Quân sau khi chết đều hóa
thành vật nọ như hòn đá, cây trầu đều mang tính phi thường, phi thực và phi
lí Đó là sự sáng tạo để biến cái hiện thực theo quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của tác giả dân gian
Xét về giới tính, thì tỉ lệ nhân vật nữ không đều giữa các loại truyện Trong truyện cổ tích, nhân vật nữ xuất hiện tương đối nhiều và ở nhiều truyện nhân
Trang 31vật nữ đóng vai trò quyết định quan trọng Ở truyện Thạch Sanh, công chúa
Quỳnh Nga Tuy không phải là nhân vật chính nhưng có vai trò rất quan trọng, liên quan đến nhân vật chính và nhiều nhân vật khác Thạch Sanh vừa
là ân nhân vừa là người bạn đời lí tưởng của nàng Đồng thời nàng cũng là người bạn đời và người bạn chiến đấu của Thạch Sanh trong cuộc đấu tranh
xã hội Không có nàng thì Thạch Sanh cũng không có điều kiện để vạch mặt
Lí Thông trước triều đình và công lí Ở truyện Chử Đồng Tử, vai trò của Tiên
Dung cũng hết sức quan trọng
1.2.2.4 Kết cấu
Truyện cổ tích thường được xây dựng theo một số sơ đồ chung nhất định căn cứ vào hành động của nhân vật chính Theo Giáo sư Đỗ Bình Trị trong
cuốn Văn học, tập II đã giới thiệu một trong những kiểu sơ đồ phổ biến hơn
cả của truyện cổ tích như sau:
Phần đầu: Nhân vật chính xuất hiện
Mô – típ a: Sự xuất thân thấp hèn (Loại nhân vật bất hạnh: Cây khế, Tấm Cám, Chử Đồng Tử, Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt…)
Mô – típ b: Sự ra đời thần kì (Loại nhân vật kì tài: Thạch Sanh, Anh em sinh
năm…)
Phần giữa: Cuộc phiêu lưu của nhân vật chính trong “thế giới cổ tích”
+ Ra đi:
- Mô – típ a: Rời nhà đi xa (Thạch Sanh, Cây khế )
- Mô – típ b: Bước vào tình huống, hoàn cảnh khác thường ( Tấm Cám )
Trang 32- Mô – típ b: Bằng tài trí, lòng tốt (Cây khế)
Phần kết: Đổi đời hay là sự thay đổi trong “thế giới cổ tích”
- Mô – típ a: Thưởng (cho nhân vật chính) và phạt (đối với kẻ ác, lực lượng
thù địch) (Tám Cám, Thạch Sanh, Cây khế, Sọ Dừa )
- Mô – típ b: Nhân vật chính được đền bù, được giải thoát khỏi sự bất hạnh
nhờ sự biến hóa siêu nhiên (Trương Chi, Sự tích Trầu cau)
Sơ đồ kết cấu gồm ba phần như trên chính là sự tóm tắt trọn vẹn và đầy tính ước lệ cho diễn tiến một số phận Theo sơ đồ đó, mọi số phận đều:
Thứ nhất đi từ chỗ thấp hèn, bất hạnh đến chỗ được phần thưởng cao quý Thứ hai có thể đạt một biến đổi căn bản như thế cho số phận, cho dù có trợ thủ thần kì thì sự nỗ lực phấn đấu của bản thân nhân vật vẫn là nguyên nhân quyết định
Kết thúc truyện là kiểu kết thúc có hậu Điều đó bị chi phối, quyết định bởi quan niệm của thể loại về thế giới và con người trong đó bao hàm thái độ lạc quan và tinh thần thực tiễn
1.2.2.5 Xung đột
Xung đột trong TCT thể hiệ ở xung đột giữa thiện – ác, thật thà, hiền lành – tham lam, tốt – xấu thường phải có đủ hai loại nhân vật thuộc hai tuyến đối lập nhau Xung đột giữa hai tuyến nhân vật này diễn ra hết sức quyết liệt, một mất một còn và chiến thắng cuối cùng thuộc về nhân vật bất hạnh Vì chủ đề của truyện không chỉ là những bài học răn dạy về đạo đức mà còn là để lí giải nguyên nhân của những bất công xã hội
1.2.2.6 Không gian, thời gian
Không gian của TCT mang tính chất hai mặt: vừa là không gian trần thế vừa là không gian phi trần thế Không gian hiện thực là không gian của cuộc sống trần thế, biểu hiện cụ thể trong TCT là không gian của làng quê Dấu ấn
làng quê Việt Nam in đậm trọng nhiều TCT “đem lại cho thế giới cổ tích hơi
Trang 33ấm nhân sinh, màu sắc dân tộc, dân dã” Qua đó ta thấy TCT là sản phẩm
tinh thần đích thực của nhân dân lao động, mang đậm thế giới quan, cách nhìn của nhân dân lao động Không gian quen thuộc cả truyện cổ tích Việt Nam là nông thôn là đồng bằng thanh bình, êm đềm và nhỏ bé Trong đó có những
cuộc sống lam lũ nghèo khổ như cô Tấm trong Tấm Cám bắt tép, chăn trâu; anh trai cày trong Cây tre trăm đốt không tấc đất, phải đi ở cho kẻ giàu có,
thức khuya dậy sớm, còn bị lừa nai lưng làm mà chẳng được nhận chút tiền
công nào; là người em trong Cây khế bị tước đoạt hết tài sản cha mẹ để lại ,
phải một nắng hai sương chăm sóc mảnh vườn và cây khế Không gian lao động nông nghiệp nông thôn chính là bức tranh sống động, quen thuộc trong
cổ tích Không gian nông thôn nông nghiệp cũng chính là môi trường quen thuộc phản ánh những xung đột gia đình hay xã hội trong cổ tích Họ quanh quẩn trong gia đình, trên mảnh ruộng con con, các mâu thuẫn xã hội, các mối quan hệ giữa con người với con người cũng chủ yếu nảy sinh chủ yếu trong không gian quen thuộc đó
Cùng với đó, TCT còn xuất hiện một không gian thứ hai đó là không gian phi trần thế hay còn gọi là không gian kì ảo Thông qua không gian kì ảo đó, nhân dân muốn truyền tải về những ước mơ, khát vọng của nhân dân lao động
mà ở không gian hiện thực họ không được trải qua Hiện thực quá khắc nghiệt, khổ cực khiến họ phải luôn mơ tới một thế giới tốt đẹp Ở không gian
kì ảo, chỉ có những người đã qua thử thách, bộc lộ được phẩm chất tốt đẹp, trung thực, dũng cảm thì mới đến được không gian kì ảo, được đền đáp và có kết thúc có hậu: vì cứu được thái tử con vu Thủy Tề mà Thạch Sanh đi xuống Thủy Cung nhận được phần thưởng là cây đàn thần kì Những biểu tượng không gian đó mang tính chức năng, đó là môi trường thử thách để ban thưởng hoặc trừng phạt nhân vật
Trang 34Trong TCT, hai loại không gian hiện thực và kì ảo luôn tồn tại và song hành, đan xen vào nhau, có quan hệ với nhau Sự tồn tại của mỗi loại không gian này không thể tách rời với loại không gian kia và ngược lại
Thời gian nghệ thuật của cổ tích luôn là thời gian quá khứ Truyện thường
bắt đầu bằng cụm từ “ngày xửa, ngày xưa”, “ngày xưa đã lâu lắm” Thời gian
nghệ thuật cổ tích có hai loại thời gian hiện thực và thời gian kì ảo Thời gian hiện thực quá khứ là thời gian nhân vật sống, hoạt động trong cộng đồng, mang hơi thở của cuộc sống trần thế Thời gian kì ảo biến đổi rất kì lạ , không theo nhịp thông thường Thời gian ấy có lúc trôi rất nhanh, nhân vật trong chớp mắt có thể xây xong tòa lâu đài, có thể chuyển dời cả một thành phố từ nơi này đến nơi khác có lúc lại trôi rất chậm, dường như ngưng đọng, không biến đổi, con người không có khái niệm về thời gian Con người có thể ngủ
một giấc dài một trăm năm, có thể sống mãi trẻ trung, không biết đến tuổi già
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học dân gian - truyện cổ tích
Người ta thường nói có con người là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc Văn hóa đó trước nhất là văn hóa dân gian, nó là khái niệm bao trùm hơn, bao chứa cả văn hóa dân gian Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, thì VHDG không thể nằm ngoài mối quan hệ ấy, đặc biệt là đối với TCT Bởi vì VHDG là bộ phận văn học ra đời đầu tiên, phản ánh tư duy nguyên thủy tổng hợp của con người Vì vậy VHDG là mảnh đất trù phú lưu giữ nhiều vết tích, dấu ấn của văn hóa dân tộc qua các mốc thời gian Thông qua lăng kính của văn hóa, nhân dân lao động đã thực hiện đúng chức năng của văn học là phản ánh hiện thực, có nghĩa là không được phép phản ánh hiện thực một cách trần trụi, nghiệt ngã mà phải qua chắt lọc của văn hóa Chúng ta đều có thể dễ dàng tìm thấy truyền thống yêu nước của dân tộc Việt nam qua cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Điều này thể hiện rất rõ
Trang 35trong truyền thuyết Thánh Gióng, truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Đó là những cuộc đấu tranh can trường của những người con đất
Việt được phản ánh qua văn học Cùng với tư tưởng yêu nước, VHDG cũng tìm thấy tư tưởng nhân nghĩa, yêu thương con người, đó đều là những nét đẹp trong văn hóa tinh thần của người Việt Tư tưởng này được thể hiện ngay trong gia đình từ tình cảm cha mẹ - con cái, đến tình cảm vợ chồng, an hem Đối với con cái, đó là sự biết ơn, kính trọng cha mẹ:
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Đối với vợ chồng phải biết yêu thương, hòa thuận với nhau:
“Thuận vợ, thuận chồng tát biển đông cũng cạn”
Anh em trong gia đình phải biết đoàn kết, nhường nhịn nhau:
“Anh em như thể tay chân”
“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”
Từ tình cảm giữa những người thân trong gia đình, mở rộng ra là tình cảm yêu thương, gắn bó giữa người với người trong xã hội:
“Bán anh em xa mua láng giềng gần”
Tất cả những tình cảm trên dù được thể hiện rộng trong một nước, trong một xã hội hay bó hẹp trong tình cảm một gia đình thì đều là truyển thống tốt đẹp của nhân dân ta
Có thể nói, VHDG là một bộ phận quan trọng của văn hóa, là lăng kính phản ánh đời sống xã hội, phản ánh hiện thực
1.3.2 Văn học dân gian là đỉnh cao của văn hóa, có khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa
Nếu văn hóa là cái nôi sinh ra văn học thì văn học lại là thứ trang sức quý giá mài giũa và làm đẹp văn hóa Văn học chính là phương tiện quan trọng trong việc lưu giữ và bảo lưu văn hóa thời đại cũng như truyền thống độc đáo của dân tộc Có những truyền thốn văn hóa bình dị hoặc người ta không biết
Trang 36đến, hoặc lớp bụi của thời gian làm con người quên đi; nếu không có bất kì một biện pháp nào lưu giữ sẽ rất dễ bị mai một hoặc biến mất theo thời gian
Vì vậy khi văn hóa xuất hiện trong văn học thì nó không những không bị mất
đi mà còn rất sốngđộng, in đậm trong khối óc và tư duy mỗi người
Văn học sinh ra đã gánh sứ mệnh cao cả là truyền đạt văn hóa của một đất nước, một dân tộc, toàn bộ những gì đúc kết được của cha ông từ ngàn xưa để lại mỗi người ý thức bảo vệ nó, lưu giữ và truyền lại cho đời sau Tính đến thời điểm hiện tại không có một sự truyền đạt văn hóa nào tốt hơn và bền vững bằng sự lưu truyền trên lĩnh vực VHDG Không phải ngẫu nhiên mà tìm hiểu về văn hóa Việt Nam nhiều người lại tìm về văn học Việt Nam, đặc biệt văn học dân gian Việt Nam Nói cách khác, văn học dân gian là hiện thân của văn hóa
Có thể thấy, văn hóa và văn học bao giờ cũng luôn đi cùng và hỗ trợ cho nhau, không có một tác phẩm văn học nào mà lại không có yếu tố văn hóa và cũng không có nền văn hóa nào phát triển mà xa rời văn học được Chúng luôn đồng hành cùng nhau, cùng gắn bó và cùng phát triển
Văn hóa không chỉ thể hiện trình độ phát triển về mặt nhận thức của con người qua các giai đoạn phát triển của lịch sử mà nó còn cung cấp ngữ liệu cho văn học Nếu VHDG lấy thế giới hình tượng nghệ thuật làm yếu tố trung tâm thì văn hóa lấy hệ thống các biểu tượng làm nền tảng cho sự phát triển của nó Vì vậy có thể xem hệ thống biểu tượng là sự cô đúc các giá trị văn hóa, là sự mã hóa của cộng đồng về một vấn đề đồng thời nó cũng là sản phẩm sáng tạo của con người trong những điều kiện sinh tồn nhất định Ngoài việc, phản ánh văn hóa qua những tác phẩm văn học mà thông qua đó thể hiện
sự sáng tạo của nhân dân thông qua các biểu tượng, tín ngưỡng, truyền thống văn hóa dân tộc
Như vậy, có thể nói VHDG nói riêng hay văn học nói chung vừa là một bộ phận của văn hóa, vừa là sự tự ý thức của văn hóa Văn học phản ánh, mô tả
Trang 37và đánh giá toàn bộ văn hóa con người, từ triết học, tôn giáo, đạo đức…Đồng thời văn học cũng góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa Vì vậy, tìm hiểu VHDG phải đặt trong mối quan hệ với văn hóa là một nghiên cứu đúng đắn, giúp người đọc hiểu hơn về văn hóa dân tộc khi đọc, học các tác phẩm VHDG
1.4 Thực trạng dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
1.4.1 Truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
Phần văn học Ngữ văn 10 bao gồm 2 bộ phận là VHDG và văn học trung đại Nguyên tắc khi xây dựng chương trình của Bộ Giáo dục là theo “vòng tròn đồng tâm”, có sự tiếp nối và bổ trợ cho nhau Vì vậy, với phần VHDG cũng vẫn xây dựng trên hệ thống thể loại là truyện truyền thuyết, cổ tích, ca dao, truyện cười… Tuy nhiên có sự phát triển về kiến thức hơn, vấn đề được nhìn nhận đa chiều hơn
Trong chương trình VHDG (SGK Ngữ văn 10 – cơ bản) HS được tìm hiểu khái quát về VHDG Việt Nam: những đặc trưng, hệ thống thể loại và những giá trị cơ bản của VHDG Việt Nam Tiếp đó, SGK đề xuất tìm hiểu một số văn bản tiêu biểu cho các thể loại như sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ca dao để tạo ra một cách nhìn nhận toàn diện và mang tính đối sánh Chương trình còn giới thiệu một số văn bản sử thi anh hùng Hi Lạp, Ấn
Độ Cuối cùng là bài ôn tập tổng kết lại toàn bộ học phần Nói cách khác, các bài trong học phần VHDG được sắp xếp theo logic đi từ khái quát đến cụ thể
và theo cụm thể loại
So sánh về thể loại và số lượng các văn bản đã được lựa chọn để giảng dạy
ở cả hai cấp, chúng ta thấy được rằng, TCT thần kì tiếp tục được giới thiệu với người đọc nhưng số lượng văn bản ở cấp THPT ít hơn, đặc biệt trong chương trình ban cơ bản là tác phẩm cổ tích duy nhất được lựa chọn trong khi đây là chương trình được áp dụng trong các nhà trường Lớp 10 được học
Trang 38TCT Tấm Cám (2 tiết), đọc thêm Chử Đồng Tử (1 tiết trong chương trình nâng cao)
Lựa chọn TCT Tấm Cám để đưa vào sách giáo khoa cùng phù hợp với vị trí của tác phẩm trong kho tàng văn học dân tộc, ý nghĩa giáo dục của tác phẩm đối với người học và đặc điểm tâm lí tiếp nhận của HS THPT
Thứ nhất, TCT Tấm Cám là một trong những truyện quen thuộc, một truyện xuất hiện ở nước ta từ rất lâu và lưu hành ở khắp nơi, từ nam chí bắc Truyện đó không những phổ biến ở dân tộc Kinh mà còn phổ biến ở nhiều
dân tộc thiểu số anh em trên đất nước ta Truyện kiểu Tấm Cám cũng lại là
một trong những truyện phố biến nhất trên thế giới: người ta có thể tìm thấy trên năm trăm dị bản ở các nước khác nhau
Thứ hai, TCT phản ánh mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn xã hội dưới chế độ phong kiến, phản ánh những tập tục, những tín ngưỡng, những cảnh sinh hoạt của dân tộc ta, những cuộc đấu tranh của nhân dân ta, đồng thời nói lên quan điểm của nhân dân về cái thực, cái giả, cái thiện, cái ác, cái đẹp, cái xấu Nhân
vật trong TCT Tấm Cám được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, có chiều sâu
hơn nhiều nhân vật trong truyện cổ tích khác
Thứ ba, TCT Tấm Cám là TCT tương đối dài, có nhiều tình tiết, nhiều
nhân vật, nhiều sự vật sẽ giúp GV và HS có cái nhìn nhiều chiều về các sự vật, hiện tượng, nhiều mối quan hệ trong đời sống hiện thực
Tuy nhiên, Tấm Cám lại là một tác phẩm khá phức tạp bởi có nhiều ý kiến,
nhiều quan điểm được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng như cá nhân người tiếp nhận đưa ra, tập trung chủ yếu vào kết thúc của tác phẩm Nhiều ý kiến đánh giá, cho rằng kết thúc đó có phần dã man, độc ác vì vậy không nên đưa vào giảng dạy tại nhà trường thực chất, với giá trị sâu sắc về
nội dung, giá trị đặc sắc về nghệ thuật và sức sống mãnh liệt, Tấm Cám xứng
đáng có một vị trí trong chương trình giáo dục phổ thông không cần tranh luận, bàn cãi
Trang 39Việc lựa chọn đưa vào SGK TCT Tấm Cám chính là sự tiếp nối mục đích
giới thiệu, cung cấp thêm kiến thức về TCT Việt Nam trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc mà HS đã được tiếp cận trong chương trình Ngữ văn THCS Tác phẩm được lựa chọn là tác phẩm hội tụ đầy đủ nhất những đặc trưng cơ bản của TCT thần kì Mặc dù có phần phức tạp với nhiều đánh giá trái chiều về hành động, tính cách nhân vật nhưng qua việc giảng dạy tác phẩm, học sinh sẽ có cái nhìn đầy đủ hơn về ý nghĩa, giá trị của tác phẩm
1.4.2 Khảo sát thực trạng dạy học truyện cổ tích
Để phục vụ cho việc nghiên cứu dạy học truyện cổ tích trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi đã đi tìm hiểu thực tế dạy và học tác phẩm trong nhà trường hiện nay qua việc khảo sát một số tiết dạy, hỏi
ý kiến giáo viên và học sinh Chúng tôi chỉ chọn khảo sát lớp 10D4, 10D5, 10D6 trong trường THCS và THPT Tạ Quang Bửu và tổ Ngữ Văn tại trường Thời gian khảo sát: tháng 9/2019
Số lượng: GV khảo sát 50 GV Ngữ Văn và 88 HS tại lớp chọn khảo sát Nội dung và cách thức tiến hành khảo sát: GV và HS được phát phiếu điều tra và trả lời những câu hỏi
Phiếu khảo sát giáo viện: Phụ lục 1
Phiếu khảo sát học sinh: Phục lục 2
Kết quả khảo sát:
Về ưu điểm:
Các giờ dạy tác phẩm Tấm Cám trong thời gian gần đây đã có rất nhiều đổi
mới về nội dung và phương pháp giảng dạy cũng như học tập bám sát mục tiêu cần đạt với phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ, tư tưởng GV đã có
sự đổi mới về phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm; phát triển năng lực của người học hay việc dạy học tích hợp GV đã tích cực sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại, học sinh say mê hứng thú học tập, các đề kiểm tra – đánh giá về tác phẩm có tính chất gợi mở, khai thác
Trang 40Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm chung đó, thực tế giảng dạy và học
được đưa ra đối với bài học, mặc dù văn bản Tấm Cám trong SGK Ngữ văn
10 dài gần 8 trang Mặc dù, hầu hết các giáo viên đã yêu cầu HS chuẩn bị bài
ở như đọc, tìm hiểu tác phẩm , trả lời câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài ở nhà nhưng giờ học vẫn căng thẳng GV và HS như chạy đua với thời gian để truyền tải hết tri thức về tác phẩm (Để phục vụ cho việc đánh giá thao giảng, cho kiểm tra, thi cử) Đây là một nguyên nhân không nhỏ ảnh hưởng đến phương pháp dạy học của GV Thấm nhuần được tinh thần đổi mới về phương pháp, nhiều GV trong các tiết dạy đã thực hiện các hoạt động tích cực khai thác sự chủ động khám phá văn bản của học sinh, áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực, phổ biến là thảo luận nhóm, hỏi chuyên gia hoặc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy như giáo án điện tử, cho HS xem video phim chuyển thể, sân khấu hóa Tuy nhiên, vì mục tiêu cơ bản vẫn tập trung vào truyền giảng tri thức nên nội dung bài học ôm đồm, đôi khi thầy cô chỉ tập trung hoàn thành trình chiếu dù giáo án đã chuẩn bị của mình để không rơi vào tình trạng “cháy giáo án” Trong quá trình hoạt động nhóm học sinh làm việc không đồng đều, chỉ tập trung vào một hai em có ý thức Giáo viên bị hạn chế về thời gian nên cũng không có đủ thời gian bao quát tất cả các hoạt động của học sinh
Trong khi đó, một số GV chọn phương pháp an toàn là quay trở về với phương pháp giảng dạy truyền thống, tránh những phức tạp không cần thiết như cháy giáo án, mất trật tự lớp học với hình thức này, mục tiêu để học