Năm 2005 có khóa luận tốt nghiệp của sinh viên hệ cử nhân trường Đại học Quốc Gia Hà Nội “Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay” của sinh viên Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN THỊ THÙY DƯƠNG
PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ M¤I TR¦êNG KH¤NG KHÝ
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN THỊ THÙY DƯƠNG
PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ M¤I TR¦êNG KH¤NG KHÝ
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
HÀ NỘI - 2017
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 5 1.1 Khái niệm về môi trường không khí, ô nhiễm môi trường
không khí và bảo vệ môi trường không khí 5
1.1.1 Khái niệm về môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí 5 1.1.2 Nguyên nhân ô nhiễm môi trường không khí 10
1.2 Quan điểm chung về vị trí và vai trò của pháp luật trong việc
bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay 12
1.2.1 Khái niệm, vị trí và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường không khí 12 1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật bảo vệ môi
trường không khí ở Việt Nam hiện nay 21
1.3 Đánh giá chung về pháp luật bảo vệ môi trường không khí 25 CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM 37 2.1 Khung pháp luật về bảo vệ môi trường không khí 37
2.1.1 Chế định pháp luật về các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi
trường không khí 44 2.1.2 Chế định pháp luật về đánh giá môi trường và đánh giá tác động
môi trường 53
Trang 42.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường không khí 60 2.1.4 Công tác thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp môi
trường không khí 69 2.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi
trường không khí 80 2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ
môi trường không khí 80 2.2.2 Trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hành
vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường không khí 86
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 91 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường
không khí 91 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không
khí ở Việt Nam hiện nay 95
3.2.1 Hoàn thiện các quy định tiêu chuẩn, kỹ thuật quốc gia về môi
trường không khí 95 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về đánh giá tác động môi trường không khí 97 3.2.3 Hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường công tác quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường không khí 98 3.2.4 Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong bảo vệ
môi trường không khí 100 3.2.5 Hoàn thiện các cơ chế thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
không khí 103
KẾT LUẬN 105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, khoa học ngày càng tiên tiến, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì việc được sống trong một môi trường không khí trong lành lại trở nên khó khăn hơn Bởi quá trình sinh sống và phát triển của con người không tránh khỏi tác động xấu gây ảnh hưởng tới môi trường, trong đó có môi trường không khí Không khí không chỉ có vai trò quan trọng đối với con người và sinh vật trên trái đất mà
nó còn là một thành phần không thể thiếu trong môi trường và hệ sinh thái Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định một trong bốn vấn đề quan trọng và cấp thiết nhất đối với thế giới là môi trường và hệ sinh thái Nhưng
có một hiện trạng hiện nay đang diễn ra đó là môi trường của chúng ta đang bị
ô nhiễm và suy thoái trầm trọng, đó không chỉ là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới trong thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, đã làm cho môi trường sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng
"nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càng mạnh,
đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng
Nước ta trong những năm gần đây mặc dù vấn đề môi trường đã được quan tâm chú trọng nhưng môi trường không khí là một vấn đề khó quản lý nhất trong lĩnh vực môi trường Việt Nam đã sử dụng nhiều công cụ, thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường
Trang 6không khí, trong đó pháp luật được đánh giá là công cụ có hiệu quả nhất Thông qua pháp luật, Nhà nước đã tác động đến các chủ thể khi họ có hành vi tác động đến môi trường không khí, qua đó định hướng cho các chủ thể thực hiện hành vi có lợi hơn cho môi trường không khí, góp phần bảo vệ môi trường không khí Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua bên cạnh một số kết quả đạt được vẫn còn đó những hạn chế chưa khắc phục
do việc am hiểu và chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân còn yếu kém Bên cạnh đó là trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong vấn đề thực thi pháp luật còn nhiều bất cập
Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật về bảo
vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay” làm công trình nghiên cứu
luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Có thể nói, gần đây chưa có một đề tài nghiên cứu toàn diện, quy mô về pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay Năm 2005 có khóa luận tốt nghiệp của sinh viên hệ cử nhân trường Đại học Quốc Gia Hà Nội “Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay” của sinh viên Nguyễn Thị Thu Huyền nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nhận định sơ bộ các quy định của pháp luật hiện hành, năm 2001 có luận văn thạc sỹ của Vũ Thị Duyên Thủy với đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và hướng hoàn thiện”, đề tài đã nghiên cứu, đánh giá toàn diện về pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam nhưng kể
từ khi Luật hiến pháp, Luật bảo vệ môi trường và các luật chuyên ngành khác
có liên quan được sửa đổi, bổ sung bằng những quy định mới cụ thể hơn thì chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về vấn đề
“Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay” Do đó việc nghiên cứu đề tài trên của tôi là không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào trước đây
Trang 73 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là: Các vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay; văn bản luật thực định của Việt Nam về bảo vệ môi trường không khí Thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường không khí Luận văn đã phân tích nội dung các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay, tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định này trên thực tiễn từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam trong thời gian tới
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn có phạm vi nghiên cứu về những chế định chủ yếu của pháp luật bảo vệ môi trường không khí, làm rõ vai trò điều chỉnh pháp luật đối với việc bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay Luận văn không đi sâu vào các vấn đề kinh tế xã hội có liên quan đến môi trường không khí mà chỉ lấy vấn
đề này làm cơ sở để xác định vị trí, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường không khí ở nước ta Phạm vi thời gian của những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn được giới hạn trong các năm 2006, năm 2014, năm 2015
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam
- Phân tích nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam, từ đó đánh giá những thành tựu, hạn chế của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí
Trang 8- Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, luận văn đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ môi trường không khí
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, bao gồm phương pháp lôgic, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp để nghiên cứu cơ sở lý luận khoa học, hoàn thiện hệ thống lý luận pháp lý Các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt để đảm bảo hiệu quả và tính thuyết phục của việc nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm có ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường không khí 1.1 Khái niệm về môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí và bảo vệ môi trường không khí
1.2 Quan điểm chung về vị trí, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Những nội dung chủ yếu của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
2.1 Khung pháp luật về bảo vệ môi trường không khí
2.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường không khí
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo
vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
Trang 9hệ xã hội
Theo nghĩa hẹp thì môi trường bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người mà không xét tới tài nguyên thiên nhiên
Nhìn chung có thể hiểu môi trường là một tập hợp các yếu tố tự nhiên
và vật chất nhân tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,
có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên
Trong lĩnh vực pháp lý môi trường được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, đó là những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người Luật bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa môi trường như sau: “Môi
trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”[17, Điều 3, Khoản 1]
Theo quy định này, môi trường được hiểu là một hệ thống các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có liên quan trực tiếp đến con người, sinh vật Do vậy, khi
Trang 10nói tới môi trường bao giờ chúng ta cũng phải xác định chủ thể của môi trường và những yếu tố bao quanh nó với ý nghĩa là những yếu tố cấu thành môi trường Xét dưới góc độ tự nhiên, con người chỉ có thể tồn tại, phát triển trong những điều kiện tự nhiên thích hợp, toàn bộ nguồn năng lượng để duy trì sự tồn tại, phát triển của con người đều được cung cấp bởi môi trường
Không khí “là hỗn hợp khí gồm có Nitơ chiếm 78.9%, oxy chiếm 20.59%, Acgong chiếm 0.93%, đioxit cacbon chiếm 0.32% và một số hiếm khí khác như Nêon, Hêli, Mêtan, Kripton Ở điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệt đối, hơi nước chiếm gần 1.3% thể tích không khí”[23, Trang 235]
Môi trường không khí là môi trường vô cùng quan trọng trong sự sinh tồn và phát triển của nhân loại Là loại môi trường rất nhạy cảm, rất dễ biến đổi và lan truyền, sự lan truyền này không ở trong phạm vi một vài quốc gia,
có thể lan rộng khắp các châu lục Do đó việc giữ gìn môi trường không khí không chỉ đem lại một môi trường trong lành và sạch đẹp cho chính quốc gia
đó mà nó còn góp phần quan trọng trong việc giữ gìn môi trường chung của thế giới
Nếu trong môi trường không khí có lẫn một số loại khí chất khác có gây ảnh hưởng đến đời sống của con người, của động vật và thực vật thì môi trường không khí đó bị coi là ô nhiễm Khi đó ô nhiễm không khí được hiểu
là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn xa (do bụi)
Theo phương diện pháp lý, căn cứ vào khái niệm về “ô nhiễm môi trường” được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì ô nhiễm môi trường được hiểu là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.[14, Điều 3, Khoản 8] Như
Trang 11vậy, có thể thấy khi trong môi trường có sự xuất hiện của một chất lạ hoặc có
sự biến đổi nhất định của các khí chất có trong môi trường không khí thì tùy theo mức độ biến đổi mà nó không còn phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường đã đề ra thì môi trường không khí lúc này đang ở mức báo động
Thực tế cho thấy khi môi trường không khí bị ô nhiễm nó không những tác động xấu tới sức khỏe của con người, thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu Nhiều chương trình nghiên cứu cũng đã cho thấy biến đổi khí hậu không chỉ thuần túy do tác động của tự nhiên mà còn do tác động của con người thông qua việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất công nghiệp, giao thông, vận tải, nông nghiệp, kéo theo lượng phát thải khí nhà kính CO2 không ngừng gia tăng nhanh, góp phần gây nên biến đổi khí hậu Bởi vậy, ô nhiễm môi trường không khí thường gây ra những hậu quả cụ thể như sau:
Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, đặc biệt đối với đường hô hấp Khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm, quá trình lão hóa trong cơ thể diễn ra nhanh; các chức năng của cơ quan hô hấp suy giảm, gây ra các bệnh hen suyễn, viêm phế quản, tim mạch…và làm giảm tuổi thọ của con người Các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với ô nhiễm không khí là người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ
em dưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người lao động thường xuyên phải làm việc ngoài trời…Mức độ ảnh hưởng của từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, nồng độ, loại chất và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm Không chỉ ở Việt Nam mà một số nước trên thế giới tình trạng ô nhiễm môi trường cũng đang diễn ra ở mức đáng báo động Ví dụ như mức độ
ô nhiễm không khí ở Trung Quốc tăng cao k lục Vào tháng 11 2015, Tổ
Trang 12chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết, mức độ khói bụi tại Trung Quốc đã cao hơn gấp 50 lần so với mức khuyến cáo an toàn của tổ chức Một con số chắc chắn s khiến nhiều người còn giật mình hơn về mức độ ô nhiễm tại Trung Quốc, đó là 4.000 người chết mỗi ngày do ô nhiễm tại Trung Quốc
Bắc Kinh cũng đã tiến hành đóng cửa nhiều nhà máy, trường học, hạn chế các công trình xây dựng và nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác từ ngày 8-10 12 2015 Mặc dù, Bắc Kinh đã phải trải qua khá nhiều các đợt ô nhiễm khủng khiếp nhưng đây là lần đầu tiên thủ đô Trung Quốc ban hành một lệnh cấm ở mức độ cao đến như vậy [31]
Mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể về tác hại do ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đến sức khỏe con người, tuy nhiên các bệnh lý liên quan đến ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng, nhất là ở trẻ em hiện nay đang là thực trạng rất đáng lo ngại
Ảnh hưởng đối với động thực vật
Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng nặng nề cho tất cả sinh vật bởi thực vật rất nhạy cảm đối với ô nhiễm không khí Các chất SO2, NO2, ozon, fluor, chì… gây hại trực tiếp cho thực vật khi đi vào khí khổng, làm hư hại hệ thống giảm thoát nước và giảm khả năng kháng bệnh Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí ngăn cản sự quang hợp và tăng trưởng của thực vật; giảm sự hấp thu thức
Trang 13Ðối với động vật, nhất là vật nuôi, thì fluor gây nhiều tai họa hơn cả Chúng bị nhiễm độc do hít trực tiếp và qua chuỗi thức ăn
Gây thiệt hại kinh tế
Thiệt hại kinh tế do ảnh hưởng đến sức khỏe, bao gồm các khoản chi phí: Khám, chữa bệnh, thiệt hại cho sản xuất và nền kinh tế Dự án “Điều tra, thống kê, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng” do Cục bảo vệ môi trường (2007) tiến hành tại hai tỉnh Phú Thọ và Nam Định cho kết quả ước tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khỏe trên đầu người mỗi năm trung bình là 295.000 đồng.[32]
Giả thiết, tổn thất về kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khỏe đối với người dân Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tương tự như người dân ở Phú Thọ và Nam Định thì Hà Nội với 6,5 triệu dân, mỗi ngày thiệt hại 5,3 t đồng và TP Hồ Chí Minh với 7 triệu dân, mỗi ngày thiệt hại 5,7 t đồng Thực tế, môi trường không khí ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm cao hơn so với các tỉnh khác nên thiệt hại về kinh tế do ô nhiễm không khí thực tế còn cao hơn con số nêu trên
Ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu
Ô nhiễm không khí cũng đang ảnh hưởng tới điều kiện sinh sống của con người, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái Ảnh hưởng tổng hợp nhất là đối với sự biến đổi khí hậu Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra và trái đất đang nóng lên là do các hoạt động của con người chứ không phải thuần túy do biến đổi khí hậu tự nhiên Do các hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, gas) trong công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp… lượng phát thải các loại khí nhà kính, đặc biệt là C02 không ngừng tăng nhanh và tích lũy trong thời gian dài, gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính, làm biến đổi khí hậu toàn cầu Kéo theo nó là ô
Trang 14nhiễm không khí ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, khiến cho số người chết tăng dần theo mỗi năm
Từ việc hiểu được tác hại do ô nhiễm môi trường gây ra, chúng ta cần phải có những biện pháp và cách thức nhất định để bảo vệ môi trường Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì hoạt động bảo
vệ môi trường được hiểu là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
Như vậy bảo vệ môi trường không khí không chỉ là vấn đề riêng của mỗi cá nhân nào đó mà nó trở thành vấn đề chung của toàn quốc gia, mỗi cá nhân cần tự ý thức được việc giữ gìn, cải thiện môi trường sống hàng ngày để
từ đó góp phần chung tay bảo vệ môi trường chung của toàn nhân loại
1.1.2 Nguyên nhân ô nhiễm môi trường không khí
Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường không khí đang được dư luận đặc biệt quan tâm, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến không khí bị ô nhiễm, nhưng các hoạt động công nghiệp và giao thông vận tải đang là nguyên nhân gây ô nhiễm hàng đầu ở nước ta, ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng theo sự phát triển công nghiệp Sự gia tăng sản xuất công nghiệp và sự lưu thông xe có động cơ đã thải vào không khí một số lượng ngày càng lớn khói, độc và các chất ô nhiễm khác Ngoài ra còn do khá nhiều yếu tố tiêu biểu khác mà chính nền văn minh hiện đại ngày nay mang lại, chẳng hạn: gia tăng sản xuất năng lượng, luyện kim, sản xuất, sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, các cơ sở hóa dầu, đốt rác Ô nhiễm môi trường do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Trước hết là do các nguồn tự nhiên:
- Ô nhiễm do hoạt động của núi lửa: hoạt động của núi lửa phun ra một lượng khổng lồ các chất ô nhiễm như tro bụi, khí, có tác hại nặng nề và lâu dài tới môi trường
Trang 15- Ô nhiễm do cháy rừng: cháy rừng do các nguyên nhân tự nhiên cũng như các hoạt động thiếu ý thức của con người, cháy rừng ảnh hưởng rất nặng nề tới môi trường không khí, sản sinh ra chất ô nhiễm, độc hại như khói, bụi, khí
- Ô nhiễm do bão cát: hiện tượng bão cát thường xảy ra ở những vùng đất trơ và khô không có lớp phủ thực vật ngoài việc gây ra ô nhiễm bụi, nó còn làm giảm tầm nhìn do bụi
- Ô nhiễm do đại dương: Do quá trình bốc hơi nước biển kéo theo một lượng muối bị gió đưa vào đất liền Không khí có nồng độ muối cao s có tác hại tới vật liệu kim loại, làm cho kim loại mất đi tính bền, nhanh bị hoen gỉ
- Ô nhiễm do phân hủy các chất hữu cơ trong tự nhiên: Do quá trình lên men các chất hữu cơ khu vực bãi rác, đầm lầy s tạo ra các khí độc hại, các hợp chất gây mùi hôi khó chịu và thậm chí có cả các vi sinh vật
Thứ hai do các nguồn nhân tạo:
- Ô nhiễm do sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: ví dụ các nhà máy sản xuất hóa chất, sản xuất giấy, luyện kim loại, nhà máy nhiệt điện (sử dụng các nhiên liệu than, dầu …)
- Hoạt động nông nghiệp: sử dụng phân bón, phun thuốc trừ sâu diệt cỏ
- Dịch vụ thương mại: chợ buôn bán
- Sinh hoạt: nấu nướng phục vụ sinh hoạt hàng ngày của con người (gia đình, công sở…)
- Vui chơi, giải trí: khu du lịch, sân bóng … Các nguồn trên có thể coi
là các nguồn cố định
Tùy vào các nguồn gây ô nhiễm mà trong quá trình hoạt động thải vào môi trường các tác nhân ô nhiễm không khí khác nhau về thành phần cũng như khối lượng
Trang 161.2 Quan điểm chung về vị trí và vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Khái niệm, vị trí và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường không khí
Luật bảo vệ môi trường là công cụ pháp lý quan trọng nhằm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của toàn thể nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 Đây là một lĩnh vực pháp luật tương đối mới không chỉ đối với hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn cả đối với hệ thống pháp luật của nhiều nước đang phát triển khác
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế,
xã hội cũng như các vấn đề môi trường nảy sinh thời gian qua như tác động của biến đổi khí hậu, an ninh môi trường, an ninh sinh thái đòi hỏi pháp luật
về bảo vệ môi trường phải được cập nhật, bổ sung với các giải pháp đồng bộ,
đủ mạnh, có tính đột phá cho nên mặc dù ra đời muộn hơn so với các ngành luật khác nhưng lại có sự phát triển rất nhanh do nhu cầu bảo vệ môi trường được đặt ra cấp bách Đến nay, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước đều
đã và đang xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường theo hướng ngày càng hoàn chỉnh và đầy đủ, trong đó có các quy định
về bảo vệ môi trường không khí
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Do đó, pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực
để hướng dẫn cách cư xử cho mọi người trong xã hội, giúp cho mọi chủ thể trong xã hội đều có thể tìm được cách cư xử phù hợp với ý chí, mong muốn của nhà nước và giúp nhà nước quản lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã
Trang 17hội Các lĩnh vực đời sống xã hội mà pháp luật điều chỉnh bao trùm rộng khắp, trong đó có môi trường
Cùng với khái niệm môi trường và không khí đã nêu ở trên ta có thể suy ra định nghĩa pháp luật về bảo vệ môi trường không khí như sau:
“Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến môi trường không khí hoặc các quan hệ giữa các chủ thể và môi trường không khí trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường không khí vì lợi ích của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau” [9, trang 15]
Pháp luật đã quy định một hệ thống các quy tắc để bảo vệ môi trường bằng việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường và quy định các biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch đó Chính vì thế, pháp luật về bảo vệ môi trường
đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường
Các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường không khí điều chỉnh, bao gồm:
- Quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động tới môi trường không khí
- Quan hệ về các hoạt động quản lý nhà nước về môi trường không khí
- Quan hệ về các biện pháp khắc phục suy thoái, ô nhiễm, phòng chống
sự cố môi trường không khí
- Quan hệ về giải quyết tranh chấp môi trường không khí
- Quan hệ về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở nước ta có một số đặc điểm sau đây:
Trang 18- Có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng, đa dạng, phức tạp bao gồm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; các quan hệ xã hội liên quan đến việc phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí, sự cố môi trường; các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không khí; quan hệ về hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường không khí
- Chứa đựng các loại quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau, như Luật hiến pháp, hành chính, hình sự, dân sự…
- Có hình thức thể hiện phong phú, gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật do nhiều loại cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người, tới môi trường và hệ sinh thái của mỗi quốc gia Do đó mục tiêu cần đặt ra đối với mỗi nước không chỉ là phát triển kinh tế hài hòa mà còn phải gìn giữ xã hội từ
sự cân bằng tốt nhất của môi trường thiên nhiên, trong đó có yêu cầu đảm bảo môi trường không khí được trong lành Vì vậy bảo vệ môi trường không khí
là thật sự cần thiết và cấp bách Một trong những hình thức bảo vệ môi trường không khí là thông qua pháp luật Đó là một hình thức có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật cũng như môi trường và hệ sinh thái
Trước hết có thể thấy do nhu cầu của cộng đồng được sống trong môi
trường trong lành: không khí là nguồn cung cấp oxi cần thiết cho hoạt động bình thường của các sinh vật trên trái đất (con người), vì vậy việc bảo vệ không khí trong lành là mối quan tâm của con người vì chất lượng cuộc sống
Do đó cần thiết phải có biện pháp, cách thức nhất định để bảo vệ môi trường, trong đó pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ môi trường
Thứ hai, do sự tác động tới môi trường không khí của các hoạt động
phát triển của con người, đặc biệt từ sau bùng nổ của cách mạng công nghệ và khoa học kỹ thuật; sự phát triển kinh tế đã kéo theo nhiều tác động to lớn đến
Trang 19môi trường không khí: khí thải công nghiệp, khí thải giao thông vận tải, khí thải từ rác thải sinh hoạt
Thứ ba, do tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình bảo vệ môi trường không khí vì hoạt động bảo vệ môi trường không khí không phải là trách nhiệm của riêng Nhà nước mà nó là trách nhiệm của cả cộng đồng nên cần phải có pháp luật để bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động đó được ổn định và phù hợp với yêu cầu của bảo vệ môi trường không khí
Thứ tư, bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí
nói riêng được thực hiện bởi sự kết hợp giữa nhiều biện pháp khác nhau như: biện pháp chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học-công nghệ, biện pháp giáo dục và biện pháp pháp lý Nhưng các biện pháp đó chỉ được thực hiện dựa trên quy định của pháp luật; nói cách khác, pháp luật là cơ sở để thực thi các biện pháp đó một cách có hiệu quả trên thực tế bởi pháp luật được sử dụng để tác động trực tiếp tới hành vi của người gây ô nhiễm môi trường nhằm hạn chế những tác động xấu mà họ có thể gây ra cho môi trường cũng như khuyến khích họ thực hiện các hành vi có lợi hơn cho môi trường không khí
Như vậy, bảo vệ môi trường không khí là tất yếu, phù hợp với các yêu cầu khách quan của đời sống xã hội Bảo vệ môi trường không khí có thể được thực hiện dựa trên sự kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau, song không thể thiếu công cụ pháp luật Đây là công cụ bảo đảm tính thống nhất, là
cơ sở, nền tảng cho mọi hoạt động khác để bảo vệ môi trường không khí
* Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
Thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo Những văn bản quy định những nguyên tắc như vậy người ta gọi là văn
Trang 20bản quy phạm pháp luật, được nhà nước đảm bảo thực hiện Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường cũng chính là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật
Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật bảo vệ Việt Nam, pháp luật bảo vệ môi trường cũng có các vai trò của pháp luật nói chung và cũng có những vai trò riêng của nó Đó là pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, là cơ sở pháp lý cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, là cơ
sở pháp lý cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lý cho công tác bảo vệ môi trường Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường không khí được thể hiện như sau:
- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự cho con người khi tác động đến môi trường không khí Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính chất
bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống các quy phạm này tạo khuôn khổ cho hoạt động xã hội, chứa đựng các quy tắc cấm đoán hoặc bắt buộc chung và tác động, điều chỉnh tới các quan hệ xã hội khi ở vào những hoàn cảnh nhất định chứ không phải chỉ áp dụng đối với một nhóm, một đối tượng nào đó
Trong bảo vệ môi trường không khí, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng, chính con người trong quá trình khai thác các yếu tố trong môi trường
đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm quy định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ môi trường không khí của các tổ chức, cá nhân Theo đó các chủ thể này bắt buộc phải thực hiện hoặc không được thực hiện những gì mà pháp luật quy định Chính tính quy tắc và bắt buộc chung này đã tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm cho các chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ
Trang 21môi trường không khí được thống nhất và đặc biệt là họ biết được mình làm
gì, cần phải làm gì và không được phép thực hiện những hành vi nào để bảo
vệ môi trường không khí một cách hiệu quả nhất
Pháp luật đã định hướng các hành vi con người theo hướng có lợi cho môi trường, đảm bảo các hành vi của con người không xâm hại tới môi trường, hạn chế những tác hại, ngăn chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường
Có thể nói, pháp luật với tư cách là công cụ điều tiết các hành vi của các thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình sử dụng hoặc tác động vào môi trường không khí Con người buộc phải sử dụng môi trường không khí tuân thủ theo đúng những tiêu chuẩn nhất định do pháp luật quy định thì s hạn chế những tác hại, ngăn chặn được suy thoái môi trường không khí
- Pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con người thực hiện những quy định của pháp luật để bảo vệ môi trường không khí
Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh tế xã hội thường chỉ chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích chung của môi trường, cộng đồng, bỏ qua nghĩa vụ phải thực hiện với môi trường và không tự giác thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường Chẳng hạn, khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường, các chủ dự án thường không thấy trước lợi ích của mình do đó luôn tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ pháp lý với môi trường Khi đó, chế tài mà pháp luật quy định đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của chính tổ chức, cá nhân và lợi ích chung lâu dài của xã hội Các chế tài
đó không chỉ là biện pháp trừng phạt vi phạm pháp luật môi trường, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, qua đó ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu do con người gây ra cho môi trường
Trang 22Như vậy trách nhiệm bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí nói riêng không phải của riêng ai mà nó là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, nhưng có một số chủ thể trong khi tiến hành hoạt động phát triển vì quyền lợi của họ không thống nhất với lợi ích chung của cả cộng đồng, họ thường chỉ hướng tới đảm bảo lợi ích của cá nhân mà bỏ qua lợi ích chung của toàn xã hội nên pháp luật đã có những quy tắc xử sự nhất định để điều chỉnh hành vi này sao cho phù hợp với lợi ích chung của cả cộng đồng Các chế tài đó chính là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể khác, bảo vệ lợi ích chung của toàn cộng đồng, bảo vệ lợi ích lâu dài của môi trường, góp phần phục hồi một môi trường không khí trong lành vốn có của nó
Thông qua việc quy định các chế tài này, pháp luật phần nào củng cố được vị thế, vai trò của mình trong trong sự nghiệp bảo vệ môi trường không khí Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí hoặc việc gây ra các tác nhân xấu làm ảnh hưởng đến môi trường không khí s phần nào được giảm thiểu Hơn nữa pháp luật quy định các chế tài không chỉ là biện pháp trừng phạt thích đáng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường không khí mà thông qua đó còn nhằm ngăn ngừa sự tiếp tục vi phạm pháp luật môi trường của họ và cải tạo giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật môi trường của chính các chủ thể đó Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa trong việc răn đe các chủ thể khác, giúp họ ý thức được sự tôn trọng các quy tắc xử sự do pháp luật môi trường quy định khi họ có hành vi tác động vào môi trường không khí, qua đó nhằm ngăn ngừa và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng Vì vậy ý thức tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường của con người s ngày càng được nâng cao
- Pháp luật là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các
cơ quan quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí
Trang 23Pháp luật đã có vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các
tổ chức, cơ quan bảo vệ môi trường Cụ thể là nhờ có pháp luật, nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để các cơ quan này thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường Pháp luật cũng phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan, tránh việc quản lý chồng chéo, đồng thời tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan, nâng cao hiệu quả của quản
lý Nhà nước về môi trường
- Vai trò pháp luật thể hiện ở việc ban hành tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất
lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường
Thông qua pháp luật mà các tiêu chuẩn môi trường s được các tổ chức,
cá nhân tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường Đồng thời các tiêu chuẩn môi trường cũng là cơ sở pháp lý cho việc xác định các hành vi vi phạm luật môi trường và truy cứu trách nhiệm với những hành vi đó
- Pháp luật quy định khen thưởng, ủng hộ những hành vi bảo vệ môi
trường
Tại khoản 2, điều 63, Hiến Pháp 2013 quy định : " Nhà nước khuyến
khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo" Qua đó, pháp luật quy định tổ chức, cá nhân có thành
tích trong hoạt động bảo vệ môi trường, phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các dấu hiệu sự cố môi trường, khắc phục sự cố môi trường, suy thoái môi trường, ngăn chặn các hành vi hu hoại môi trường thì được khen thưởng
Trang 24- Pháp luật tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường không khí
Hợp tác quốc tế về môi trường là một trong những nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được đề cập trong Luật bảo vệ môi trường, và
là giải pháp quan trọng trong các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia về môi trường Trong những năm qua, hợp tác quốc tế về môi trường đã hình thành và phát triển mạnh m , đóng góp tích cực cho thành công chung của các hoạt động bảo vệ môi trường ở nước ta do đó vấn đề bảo vệ môi trường ngày nay không còn là vấn đề của riêng mỗi quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề có tính quốc tế bởi chính tính toàn cầu của ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường ở quốc gia này s ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường của các quốc gia lân cận, đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí Khi không khí bị ô nhiễm ở một quốc gia nhất định các chất ô nhiễm s bị giữ lại, người ta không thể gom riêng vùng không khí đã bị ô nhiễm để xử lý mà
nó s có ảnh hưởng đến các quốc gia khác bởi sự vận chuyển tầm xa của các khí bị ô nhiễm Vì thế trong bảo vệ môi trường không khí sự hợp tác giữa các quốc gia càng trở nên hết sức cần thiết Hợp tác quốc tế ở đây không thể đơn thuần là sự hợp tác giữa các cá nhân hoặc giữa các tổ chức của các quốc gia khác nhau với nhau mà chính là quan hệ hợp tác giữa các quốc gia Thông qua sự hợp tác, Việt Nam có được nhiều lợi thế để bảo vệ, phát triển môi trường không khí, như; được hỗ trợ về vốn, về công nghệ, về kinh nghiệm quản lý và về thị trường Tăng cường hợp tác quốc tế sâu rộng là một trong những phương thức nâng cao vị trí và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế,
để hình ảnh Việt Nam luôn hướng đến sự phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và là thành phố sinh thái để lại dấu ấn đậm nét trong lòng bạn bè quốc
tế
Trang 25Ví dụ: Nhằm giúp Việt Nam cải thiện môi trường, hình thành công nghiệp môi trường và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản đã phối hợp với Hội môi trường đô thị Việt Nam thực hiện chương trình hợp tác, đề cử chuyên gia kỹ thuật sang hướng dẫn, đào tạo cho các công ty thành viên của hội, thu gom, quản lý và xử lý chất thải
Qua những phân tích trên ta thấy biện pháp pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động bảo vệ môi trường Nó đã tạo hành lang pháp lí
để các chủ thể trong xã hội thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật, đồng thời thể hiện được sự quan tâm của nhà nước tới vấn đề môi trường ngày càng được nâng cao
1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
1.2.2.1 Tính hệ thống và đồng bộ của pháp luật
Để đáp ứng được các đòi hỏi của xã hội, hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam phải bảo đảm tính khoa học Về mặt nội dung, trước tiên, tính hệ thống và đồng bộ của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí đòi hỏi pháp luật đó phải bảo đảm sự nhất quán Điều này thể hiện
ở chỗ các văn bản pháp luật trong cùng một lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí đều phải thống nhất trong việc xác lập hành vi nhất định, những quan hệ xã hội cơ bản phát sinh trong hoạt động bảo vệ môi trường không khí phải được quy định đầy đủ và toàn diện Tránh tình trạng tồn tại những điểm chưa thống nhất trong cùng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí Ví dụ: Điểm c khoản 7 Điều 17 mâu thuẫn với Điều 14 về đối tượng đánh giá môi trường chiến lược:
Điểm c, khoản 7, Điều 17 quy định các đánh giá môi trường chiến lược đối với dự án thuộc thẩm quyền của UBND và HĐND tỉnh có quyền tổ chức Hội đồng thẩm định
Trang 26Điều 14 chỉ đề cập tới các đối tượng đánh giá môi trường chiến lược thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan mà không đề cập đến đối tượng ở điểm c, khoản 7, Điều 17
Về phương diện hình thức, tính hệ thống và đồng bộ của hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường không khí còn được thể hiện qua cấu trúc, cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của quy phạm pháp luật Cũng là các quy phạm cùng điều chỉnh về một quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường, nhưng tính hệ thống đòi hỏi những quy phạm pháp luật về môi trường được quy định trong Hiến pháp phải có giá trị pháp lý cao nhất, sau với đến những quy phạm pháp luật được chứa đựng trong các bộ luật và luật, thứ nữa mới đến các quy phạm pháp luật chứa đựng trong các VBQPPL khác Như vậy, dưới góc độ này, tính hệ thống của pháp luật bảo vệ môi trường không khí phải bảo đảm trên hai mức độ: một là sự thống nhất trong chính luật bảo vệ môi trường không khí, hai là tính thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật
1.2.2.2 Tính minh bạch và khả thi của pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam
Ngoài tính hệ thống và đồng bộ đã nêu trên thì hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam cần phải đảm bảo tính minh bạch và khả thi Tức là nội dung của văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí phải rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu để tất cả mọi người đều nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của mình để tuân thủ nghiêm túc và thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật Do đó hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí cần phải thiết lập thêm cơ chế công khai hóa, dân chủ hóa trong hoạt động bảo vệ môi trường bởi hoạt động bảo vệ môi trường s khó đạt được hiệu quả nếu thiếu sự tham gia rộng rãi, tích cực của người dân
Bên cạnh đó cần tích cực xây dựng hệ thống pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo
Trang 27vệ môi trường không khí Để làm được điều này, pháp luật về bảo vệ môi trường không khí cần phải tuân theo những yêu cầu sau:
Thứ nhất các nội dung được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật
về bảo vệ môi trường không khí phải phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội hiện tại Nếu văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường không khí phản ánh chính xác, kịp thời những vấn đề thực tiễn của môi trường không khí đang diễn ra hàng ngày thì nó s tạo đòn bẩy thúc đẩy phát triển nền kinh tế- xã hội, đồng thời các nội dung của văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường không khí cũng mang tính khả thi cao hơn
Thứ hai, các nội dung đó phải phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, lợi ích chung của xã hội Với tư cách là phương tiện cơ bản của Nhà nước trong quản lý, các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường không khí phải có nội dung phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thể chế hóa thành pháp luật hoặc trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế các đường lối, chính sách đó, có như vậy mới bảo đảm thực hiện có hiệu quả và mới bảo vệ hữu hiệu lợi ích cơ bản của các tầng lớp xã hội Bởi vậy, khi văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường không khí đảm bảo được lợi ích chung của đa số tầng lớp trong xã hội thì hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường s được tự giác thực hiện và nhờ đó có khả năng tác động cao hơn
1.2.2.3 Tính phù hợp với Luật pháp quốc tế
Các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí không chỉ phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, với hệ thống pháp luật quốc gia mà còn phải phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường Trong xu hướng hội nhập và hợp tác hiện nay, vấn đề này luôn đòi hỏi phải được chú trọng và trong những giới hạn có thể hệ thống pháp luật quốc gia cần phải phù hợp với các công ước, điều ước và thông lệ
Trang 28quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các điều ước và thông lệ quốc tế đã tham gia, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả lý luận, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước khác trên thế giới
So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước tham gia nhiều các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Việc tham gia các công ước này mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích thiết thực không chỉ về môi trường mà còn cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa Đồng thời thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường toàn cầu Mặt khác, Việt Nam s có cơ hội nhận được sự hỗ trợ quốc tế về kỹ thuật, tài chính góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường không khí, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc
tế là cơ hội tốt để gia tăng các sức ép môi trường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ Buộc các doanh nghiệp phải cải thiện chất lượng môi trường trong sản xuất kinh doanh của mình để đáp ứng với các yêu cầu của nền kinh tế hội nhập
1.2.2.4 Tính hợp hiến
Theo Điều 63 Hiến pháp 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại” [15, Điều 63] Như vậy theo quy định của hiến pháp thì các tổ chức cá nhân có hành vi gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý nghiêm minh và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Do đó các văn bản pháp luật về lĩnh vực môi trường không khí cần có những quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể đối với từng trường hợp trong từng hoàn cảnh nhất định có hành vi gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường không khí để phù hợp với quy định của Hiến pháp Nội
Trang 29dung các quy phạm pháp luật trong bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí nói riêng không được trái hoặc mâu thuẫn với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc, hiệu lực pháp lý của văn bản, tạo thành một hệ thống thống nhất về tên gọi với thứ bậc cao thấp khác nhau theo quy định của Hiến pháp Tính hợp hiến không chỉ được xác định trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà còn trên cơ sở tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc của Hiến pháp
Nói chung việc điều chỉnh pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay cần phải đảm bảo các yêu cầu trên trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, trong các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản
áp dụng pháp luật nói riêng là một nguyên tắc, yêu cầu khách quan, tất yếu của mọi Nhà nước Không những thế, đây còn là căn cứ để đánh giá hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động của bộ máy Nhà nước, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta
1.3 Đánh giá chung về pháp luật bảo vệ môi trường không khí
Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay đang được quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội không chỉ riêng đối với Việt Nam mà đối với cả các quốc gia trên thế giới Bởi l , môi trường là một điều kiện tất yếu bảo đảm cho sự phát triển bền vững của tất cả các quốc gia Ngày nay việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng phải bảo đảm sự cân đối với việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau Trong xu thế ấy, Việt Nam cũng đang tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, cùng với việc nỗ lực tham gia các công ước quốc tế, cũng như tích cực nội luật hoá các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ môi
Trang 30trường hiệu quả hơn Cụ thể các ưu điểm của hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường như sau:
- Trước hết Luật bảo vệ môi trường năm 2014 ra đời đã kế thừa các nội dung của Luật bảo vệ môi trường năm 2005, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật bảo vệ môi trường năm 2005; hệ thống pháp luật quy định về bảo vệ môi trường không khí đã phát triển cả nội dung lẫn hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các yếu tố tạo thành môi trường không khí; luật hóa chủ trương của Đảng, bổ sung một số nội dung mới về bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới
Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối toàn diện về bảo vệ môi trường không khí Rà soát các quy định về bảo vệ môi trường không khí chúng ta có thể thấy, những quan hệ xã hội cơ bản phát sinh trong hoạt động bảo vệ môi trường không khí đã được quy định khá đầy đủ và toàn diện Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có thể kể đến đó là các quan hệ xã hội sau:
- Các quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ môi trường không khí
- Các quan hệ giữa một bên là các cá nhân, tổ chức với một bên là Nhà nước phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường không khí
- Các quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau phát sinh do ý chí của các bên bên cạnh các quy định pháp luật quy định các biện pháp về bảo vệ môi trường không khí, Việt Nam cũng xây dựng được hệ thống các văn bản tương đối toàn diện điều chỉnh việc khai thác, sử dụng các loại tài nguyên, khoáng sản quan trọng Đây cũng là một điểm thể hiện tính toàn diện của hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí
- Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường không khí cũng đã được ban hành, làm cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể trong việc bảo vệ môi trường không khí Các quy
Trang 31định pháp luật đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường; xác định rõ bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân chứ không phải chỉ trách nhiệm riêng của nhà nước
- Chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không khí đã được tập trung vào một đầu mối thống nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường Điều này dẫn đến việc giải quyết và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường không còn rườm rà
- Thành tựu tiếp theo của pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở
nước ta chính là việc bước đầu thiết lập được cơ chế công khai hóa, dân chủ hóa trong hoạt động bảo vệ môi trường không khí Hoạt động bảo vệ môi trường không khí s khó đạt được hiệu quả mong muốn nếu như thiếu cơ chế huy động sự tham gia rộng rãi của người dân vào hoạt động bảo vệ môi trường Để đáp ứng yêu cầu dân chủ hóa quá trình bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã bổ sung nhiều quy định quan trọng góp phần thể hiện tính công khai, dân chủ trong hoạt động bảo vệ môi trường
- Việt Nam đã xây dựng được hệ thống chế tài xử lý vi phạm pháp luật
môi trường không khí tương đối đầy đủ Có 3 loại biện pháp chế tài cơ bản
mà pháp luật thường sử dụng để điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội đó là chế tài dân, chế tài hành, chế tài hình sự Cho đến nay, có thể nói, pháp luật về bảo vệ môi trường không khí đã có cả 3 loại chế tài này
- Bên cạnh việc tích cực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường không khí, Việt Nam đã từng bước tham gia các điều ước quốc tế về môi trường… Việc gia nhập các công ước này là tiền đề quan trọng cho việc hội nhập của pháp luật Việt Nam với những tiêu chuẩn và quy phạm của pháp luật quốc tế
- Việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là một bước tiến lớn
trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí nước ta
Trang 32đáp ứng các yêu cầu mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Có thể nói, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống chính sách bảo vệ môi trường tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát tốt, phần lớn do việc giám sát thực thi chính sách thiếu hiệu quả và việc xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ sức răn đe Các văn bản còn yếu về khả năng thích ứng với các biến động xảy ra đã đến các tình trạng các
cơ quan quản lý thực sự lúng túng trong nhiều trường hợp vì thiếu các quy định pháp luật để xử lý Các cơ quan hoạch định chính sách bị động trong việc lập kế hoạch ban hành văn bản pháp luật để quản lý tốt môi trường không khí, có nhiều quy định mâu thuẫn giữa các văn bản Việc quy định như vậy dẫn đến tình trạng khó áp dụng và vận dụng trong thực tiễn Do đó, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, từ thực trạng tổ chức thi hành các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước và việc bảo vệ môi trường cho thấy hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định Có thể chỉ ra một số hạn chế của hệ thống pháp luật về môi trường không khí là:
Thứ nhất, các quy phạm về bảo vệ môi trường không khí trong các văn
bản
quy phạm pháp luật còn khá chung chung, đặc biệt là trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác rất mờ nhạt, khó thực hiện
Thứ hai, chưa có sự gắn kết chặt ch giữa các quy định về phát triển
kinh tế với các quy định về bảo vệ môi trường không khí Yếu tố môi trường chưa thực sự được coi trọng và tính đến nhiều trong quá trình xây dựng và ban hành luật như các vấn đề về thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế bởi những đòi hỏi bức xúc về phát triển kinh tế Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế còn chưa tính đến chi phí môi trường trong sản xuất kinh
Trang 33doanh Còn thiếu những công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường không khí như lệ phí môi trường, thuế môi trường, người gây ô nhiễm phải trả tiền… làm cho công tác bảo vệ môi trường không phát huy được sự kích thích từ góc
độ kinh tế đối với những chủ thể sử dụng các thành phần môi trường cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình, gây ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái
Thứ ba, thiếu thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường không
khí, cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật quốc gia cũng như thực hiện các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế về môi trường không khí chưa cao
Thứ ba, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không
khí liên quan đến từng thành phần môi trường hay điều chỉnh những hoạt động của con người lên môi trường không khí được ban hành chưa đồng bộ, còn chậm cả về mặt thời gian ban hành và nội dung của các quy định
Thứ tư, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí
tương đối đầy đủ cả ở luật nội dung và hình thức nhưng chưa có một cơ chế pháp lý hữu hiệu trong việc kiểm soát các hoạt động tác động vào tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái: Các chế tài chưa thích hợp và chưa đủ mạnh để trừng trị và răn đe những hành vi vi phạm Vì vậy, nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường của các chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hầu như còn hình thức Các hoạt động gây ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái vẫn tiếp tục diễn ra, không được ngăn chặn triệt để
Thứ năm, chưa có đủ các văn bản quy phạm pháp luật để huy động sự
tham gia, đóng góp của mọi tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ môi trường không khí Với các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay thì việc bảo vệ môi trường không khí dường như chỉ là việc của các cơ quan quản lý chứ chưa thực sự trở thành “sự nghiệp của toàn dân” như các văn bản của Đảng
Thực tế quá trình áp dụng Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng cho thấy, do thiếu quy phạm xử lý mối quan hệ giữa Luật Bảo vệ môi trường và
Trang 34các đạo luật có liên quan mà trong trường hợp có sự chồng lấn, mâu thuẫn giữa các quy định trong Luật Bảo vệ môi trường (hoặc các văn bản hướng dẫn luật này) với các quy định trong các đạo luật khác (hoặc các văn bản hướng dẫn các đạo luật này) thì việc chọn quy phạm nào để áp dụng cho hợp lý có khá nhiều vướng mắc
* Những tồn tại, bất cập trong một số nhóm quy phạm cụ thể
- Quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường không khí: Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí, đó
là những quy định, chuẩn mực, giới hạn mà các nhà quản lý căn cứ vào đó để quản lý môi trường không khí, nó là công cụ chủ yếu trong quản lý môi trường không khí Hiện nay, phần lớn các tiêu chuẩn môi trường không khí đã được chuyển đổi thành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường không khí Tuy nhiên, một số quy chuẩn đã tỏ ra không phù hợp với thực tế và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Mặt khác, chưa có sự phân biệt trong việc áp dụng quy chuẩn môi trường không khí giữa các dự án đầu tư với các
cơ sở đang hoạt động; mặc dù được ban hành tương đối nhiều, nhưng các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường không khí không được phổ biến, công khai rộng rãi đến người dân; một số hoạt động cần phải tuân thủ quy chuẩn môi trường nhưng lại không được quy định hoặc những hoạt động cần thiết phải căn cứ vào quy chuẩn môi trường nhưng lại cũng không có quy định như hoạt động lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường không khí
- Quy định về đánh giá tác động môi trường không khí: Mục đích cơ bản của đánh giá tác động môi trường không khí là đảm bảo gắn sự phát triển kinh tế, xã hội với việc bảo vệ môi trường không khí, hay nói cách khác là bảo đảm tính bền vững của các dự án đầu tư Đồng thời giúp các nhà quản lý xem xét nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là công nghệ xử lý chất thải và
Trang 35giám sát môi trường Có thể nói, đánh giá tác động môi trường không khí là công cụ pháp lý hữu hiệu của nhà nước nhằm phòng, chống suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường không khí Các quy định về đánh giá tác động môi trường không khí đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo
vệ môi trường nói chung Pháp luật về đánh giá tác động môi trường không khí được đặc biệt quan tâm xây dựng, phát triển và tổ chức thực hiện trong thời gian qua Tuy nhiên, về vấn đề này còn một số bất cập:
- Pháp luật về đánh giá tác động môi trường không khí vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện là nguyên nhân của việc làm hạn chế vai trò và tác dụng của đánh giá tác động môi trường không khí đối với các hoạt động bảo vệ môi trường không khí
- Còn thiếu các hướng dẫn đánh giá tác động môi trường đối với các ngành, lĩnh vực đặc thù, dẫn đến việc rất khó khăn cho chủ dự án cũng như cơ quan có thẩm quyền thẩm định trong việc lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
- Quy định về phân định thẩm quyền nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí: Luật Bảo vệ môi trường chưa có quy định rõ ràng giữa quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không khí với quản lý nhà nước về khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, nước, khoáng sản, dầu khí, thu sản… Do đó, nhiều trường hợp còn xảy ra sự chồng chéo chức năng, thẩm quyền giữa các Bộ Tài nguyên và Môi trường với các Bộ, ngành quản lý các thành phần môi trường khác có các hoạt động quản lý liên quan đến môi trường Sự “chồng chéo ngang” về chức năng, thẩm quyền có thể nhìn nhận khi các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên do các bộ, ngành quản lý khác quy định Dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã cố gắng cụ thể hóa việc phân định trách nhiệm quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường không khí giữa các Bộ, ngành nhưng ngay cả như vậy,
Trang 36thì việc xảy ra chồng lấn cũng là điều khó tránh Cụ thể Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không quy định rõ vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc giúp Chính phủ chủ trì, thống nhất các hoạt động quản lý nhà nước; không quy định trách nhiệm các bộ, ngành cần phối hợp với Bộ Tài nguyên
và Môi trường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành, lĩnh vực mình quản lý
- Quy định về xử lý vi phạm
Các chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí được quy định khá đầy đủ và đồng bộ bao gồm chế tài hành chính, chế tài dân sự, chế tài hình sự Các quy định này luôn được xem là căn cứ pháp lý quan trọng để ngăn ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường không khí
Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập trong các quy định về các chế tài
- Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ răn đe đối với các đối tượng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Cụ thể, trong các Nghị định về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường không khí, tình trạng cùng hành vi tương tự nhau nhưng mức xử phạt quy định khác nhau trong các văn bản khác nhau vẫn còn tồn tại
- Pháp luật về trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại về môi trường) trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí còn quá chung chung, thiếu cụ thể và khó áp dụng trên thực tế Tình trạng dẫn chiếu vòng vẫn chưa được giải quyết như “bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật”, trong khi môi trường không khí ngày càng bị ô nhiễm, suy thoái,
- Chưa có quy định rõ ràng để phân biệt giữa trách nhiệm khắc phục, phục hồi môi trường theo pháp luật về hành chính và trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo pháp luật về dân sự
Trang 37- Các quy định về khuyến khích, khen thưởng đối với hoạt động bảo vệ môi trường không khí còn chung chung, không thể thực hiện được trên thực
tế Bởi thiếu các cơ chế tài chính, hỗ trợ và ưu đãi cho các hoạt động này
- Các quy định cần hướng dẫn thêm: Với việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường, nhiều nội dung, tinh thần mới trong chính sách bảo vệ môi trường không khí được đưa vào trong Luật, tuy nhiên để triển khai các quy định ấy cũng cần có sự hướng dẫn, cụ thể hóa
Thực trạng ô nhiễm không khí ngày càng lớn tại các khu đô thị, khu công nghiệp, nhiều làng nghề, một số khu nông thôn hiện nay cho thấy công tác bảo vệ môi trường không khí của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu Một trong những nguyên nhân của tình trạng kể trên có thể thấy là do sự yếu kém trong ý thức của người dân, không ít doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường không khí Thêm vào đó, hệ thống cơ quan bảo vệ môi trường không khí còn quá mỏng cũng góp phần làm cho việc ngăn chặn, xử lý các hành vi gây ô nhiễm gặp nhiều khó khăn
Việc xử lý hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường còn chưa kiên quyết và triệt để Các biện pháp khắc phục môi trường không khí, trả lại tình trạng ban đầu trước khi môi trường bị ô nhiễm không được chấp hành nghiêm Như vậy, có thể thấy, tuy tốc độ xây dựng thể chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí được quan tâm, đẩy mạnh nhưng hiệu quả, hiệu lực thi hành của các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường không khí còn chưa được quan tâm, chú ý đúng mức Đây là một yếu kém, thiếu sót của
hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí, do đó cần phải đặt ra những yêu cầu nhất định đối với việc điều chỉnh pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam trong thời gian tới để mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội
có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường
Trang 38không khí nói riêng, chấp hành tốt hơn pháp luật bảo vệ môi trường và bảo đảm pháp luật bảo vệ môi trường được triệt để tôn trọng
Xây dựng và thực hiện pháp luật của công dân chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau bởi xã hội là sự vận hành của tổng thể phức hợp của các mối quan hệ đa dạng, sự tương tác lẫn nhau của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội [10, Trang 27] Do đó các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam nói riêng cũng chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức…Có thể liệt kê một vài yếu tố cụ thể sau đây:
- Yếu tố kinh tế: Đây được hiểu là tổng thể các điều kiện kinh tế, hoàn cảnh kinh tế xã hội, hệ thống các chính sách được áp dụng trong xã hội Nền kinh tế, xã hội phát triển năng động, bền vững tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí, bởi nó tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, con người có ý thức hơn trong việc bảo
vệ môi trường, từ đó hình thành thói quen tốt, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, khi kinh tế phát triển đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao, việc phổ biến và giáo dục pháp luật được tuyên truyền rộng rãi hơn, do đó việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường s mang tính tự giác cao Ngược lại khi kinh tế kém phát triển, đời sống của người dân gặp khó khăn, tiêu cực
s phát sinh thì việc vi phạm pháp luật s xảy ra nhiều hơn, điều này dẫn đến việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí s không được chấp hành nghiêm chỉnh, ý thức của mỗi người dân cũng trở nên hạn chế
- Yếu tố chính trị: Một đất nước có nền chính trị ổn định giúp cho người dân củng cố thêm niềm tin vào hệ thống pháp luật nước nhà, tin tưởng vào bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Và
Trang 39trong vấn đề thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường cũng vậy, khi người dân có sự tin tưởng vào hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí thì pháp luật s được thực hiện một cách nhất quán, nghiêm chỉnh, góp phần giữ gìn môi trường ngày càng trong lành, sạch đẹp
- Yếu tố dư luận xã hội: Sự bất bình của dư luận xã hội có ảnh hưởng đến việc điều chỉnh hành vi, ý thức của cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí Ví dụ: Khi một cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí như xả khói thải gây ô nhiễm đến những hộ dân đang sinh sống gần khu vực đó thì những cá nhân đang bị ảnh hưởng có thể kêu gọi mọi người lên án hành vi sai trái đang diễn ra, và sức mạnh của dư luận xã hội lúc này có thể làm chấm dứt việc xả khói thải một cách bừa bãi Do đó cần xây dựng và khuyến khích những hành vi đấu tranh tích cực với những biểu hiện coi thường, bất chấp pháp luật Dư luận xã hội chính là một chế tài mạnh m trong việc đảm bảo trật tự, kỉ cương phép tắc trọng hoạt động bảo vệ môi trường không khí
- Ý thức và thái độ của con người: Trong tất cả mọi lĩnh vực thực hiện pháp luật thì ý thức con người luôn là yếu tố quan trọng bởi con người có khả năng nhận thức mọi hành vi mình làm là đúng hay sai, từ đó hoàn toàn có thể nhận biết được việc nên làm và không nên làm, trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng vậy, con người có thể tự giác thực hiện pháp luật, tự tập cho mình những thói quen có lợi cho môi trường nói chung Tuy nhiên không phải
ai cũng có ý thức, trách nhiệm để bảo vệ môi trường, nếu để người dân thờ ơ, lãnh đạm trước pháp luật thì rất khó để việc xây dựng và thực hiện pháp luật nói chung và bảo vệ môi trường không khí nói riêng được diễn ra một cách chuẩn mực Do đó giáo dục pháp luật cần kết hợp với giáo dục đạo đức có mục đích và yêu cầu hình thành tính hướng thiện trong hành vi của mỗi cá nhân để từ đó hình thành ý thức tôn trọng và lối sống tuân theo pháp luật
Trang 40- Yếu tố pháp luật về bảo vệ môi trường không khí: Để việc xây dựng
và thực hiện pháp luật được thống nhất và khả thi thì bản thân hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí cần phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, không mâu thuẫn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật với nhau để người dân có thể hiểu và thực hiện đúng như những gì mà pháp luật đã quy định Tạo một niềm tin vững chắc vào sự nghiêm minh và công bằng của pháp luật