Như vậy, những bài nghiên cứu hoặc một số công trình sách báo đã nêu mới chỉ khái quát được một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động định tội danh và thực tiễn định tội; phân tích,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU TÙNG
ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI TộI TRộM CắP TàI SảN THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hữu Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh bục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 9
1.1.1 Khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 9
1.1.2 Phân loại các trường hợp định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 14
1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 18
1.1.4 Những điều kiện bảo đảm cho việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 19
1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 20
1.2.1 Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 20
1.2.2 Cơ sở khoa học của định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 24
1.3 CÁC GIAI ĐOẠN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 34
1.3.1 Thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án trộm cắp tài sản 35
1.3.2 So sánh, đối chiếu các tình tiết của vụ án đã làm rõ với quy định của Điều 138 Bộ luật hình sự để xác định sự tương đồng 36
Trang 51.3.3 Đưa ra kết luận về tội danh người đã thực hiện hành vi quy định
của Điều 138 Bộ luật hình sự 38
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA VƯỚNG MẮC
TRONG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 39
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 39 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Nguyên 39 2.1.2 Tình hình tổ chức, các điều kiện cụ thể của Tòa án nhân dân hai
cấp tỉnh Thái Nguyên 41 2.2 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH
TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011- 2015 42 2.2.1 Công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của Tòa án nhân dân 42 2.2.2 Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trong trường hợp tội
phạm hoàn thành 46 2.2.3 Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trong các trường hợp
đặc biệt 52 2.3 MỘT SỐ HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC TRONG HOẠT ĐỘNG
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN 57 2.3.1 Một số hạn chế, vướng mắc 57 2.3.2 Nguyên nhân 60
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT
LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 64
3.1 NHỮNG YÊU CẦU BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ
CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 64
Trang 63.1.1 Yêu cầu về chính trị - xã hội 64 3.1.2 Yêu cầu về lý luận và thực tiễn 66 3.1.3 Yêu cầu về lập pháp hình sự 67 3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ĐỊNH
TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 68 3.2.1 Hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam 69 3.2.2 Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành áp dụng thống nhất pháp luật 74 3.3 GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 78 3.3.1 Giải pháp về nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán
bộ tư pháp và làm tốt công tác tổ chức, cán bộ 78 3.3.2 Giải pháp về nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, xử lý nghiêm
minh khi xét xử và trong việc áp dụng đúng các tình tiết liên quan đến việc định tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 81 3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC 86 3.4.1 Giải pháp về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 86 3.4.2 Giải pháp tăng cường kiểm tra, tuần tra, giám sát và phát hiện, xử
lý kịp thời về trộm cắp tài sản 88 3.4.3 Giải pháp về tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trên một số
lĩnh vực về an ninh trật tự và nâng cao vai trò của nhân dân trong phòng ngừa tội trộm cắp tài sản 89 3.4.4 Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại
địa phương 91
KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NXB: Nhà xuất bản
TAND: Tòa án nhân dân
TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các đơn vị hành chính tỉnh Thái Nguyên 40
Bảng 2.2 Số liệu về công tác thụ lý, giải quyết án hình sự sơ
thẩm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong 5 năm 2011
Bảng 2.3 Phân tích kết quả giải quyết các vụ án hình sự sơ
thẩm về tội trộm cắp tài sản trong tỉnh Thái Nguyên
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ số vụ án sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản trong
tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, phán quyết của Tòa án có
ý nghĩa vô cùng quan trọng, liên quan đến những vấn đề hết sức quan trọng
là tự do, danh dự, tài sản, nhân thân, thậm chí cả tính mạng con người Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 31
đã quy định: "1 Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi
được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật " [24] Để ra một bản án công minh, có căn cứ và
đúng pháp luật thì việc định tội danh và quyết định hình phạt là các hoạt động mang tính quyết định
Định tội danh đúng sẽ là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự
và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật; hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của luật hình sự quốc tế và luật hình sự trong Nhà nước pháp quyền Định tội danh đúng còn là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình
sự, thẩm quyền điều tra, thẩm quyền xét xử Ngược lại định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không bảo đảm được tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật của hình phạt do Tòa án quyết định, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt kẻ phạm tội, thậm chí xâm phạm thô bạo danh dự và nhân phẩm, các quyền và tự do của công dân như là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung trong Nhà nước pháp quyền, cũng như xâm phạm pháp chế, đồng thời còn làm giảm uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm [9, tr.17-18]
Trang 11Thái Nguyên là một tỉnh trung du, với dân số khoảng 1,2 triệu người
Số liệu thực tiễn cho thấy trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, tại tỉnh Thái Nguyên tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm đã giải quyết là 6.604 vụ, với 11.204 bị cáo, trong đó số vụ án về tội trộm cắp tài sản (Điều 138 Bộ luật hình sự) là 1.316 vụ, với 1.924 bị cáo [30] Như vậy có thể thấy tội trộm cắp tài sản là loại tội chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ án hình sự
Trong thời gian qua, các cơ quan tiến hành tố tụng trong tỉnh Thái Nguyên đã không ngừng thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự về tội này cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải được làm rõ hơn để việc giải quyết các vụ án này được công minh, có căn cứ
và đúng pháp luật Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định cụ thể về các yếu tố cấu thành tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên đây là những vấn đề
cơ bản, trong khi trên thực tế loại tội phạm này xảy ra có nhiều yếu tố tương đối phức tạp và đa dạng Có khá nhiều trường hợp khi tập hợp các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm dễ gây lúng túng, chưa thống nhất quan điểm, dẫn đến định tội danh thiếu chính xác: Như dấu hiệu thuộc mặt chủ quan và dấu hiệu thuộc mặt khách quan trong tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Những hạn chế này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động xét xử, giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tính nghiêm minh của pháp luật
Với lý do nêu trên, để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản, học viên quyết định lựa chọn chủ
đề: “Định tội danh đối v i tội t ộ c tài sản the u t h nh s iệt
Na (T ên cơ sở th c tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)” làm đề tài Luận
văn Thạc sĩ, với mong muốn góp phần mang lại những giá trị thiết thực phục vụ trực tiếp cho công tác xử lý các vụ án hình sự, cụ thể là đối với tội trộm cắp tài sản
Trang 122 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về định tội danh và về tội trộm cắp tài sản đã được đề cập trong rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, tiêu biểu là:
Dưới góc độ giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo, có thể kể đến
các công trình sau: 1) GS.TSKH Lê Cảm, Một số vấn đề lý luận chung về định
tội danh, Chương I - Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, tái
bản 2007; 2) GS.TSKH Lê Cảm, Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh,
Phần 2, Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2000; 3) PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề lý luận về
định tội danh và hướng dẫn giải bài tập về định tội danh, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1999; 4) GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Định tội
danh (Lý luận, Lời giải mẫu và 500 bài tập thực hành), Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2011; 5) PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở
hữu, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Tập
thể tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2003; 6) GS.TS Võ Khánh Vinh, Giáo trình Lý luận chung về Định tội danh,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tái bản 2010; 7) PGS TS Lê Văn Đệ,
Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2005; v.v
Dưới góc độ luận văn, luận án luật học, có một số công trình đề cập
đến vấn đề định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu: 1) Trần Thị
Phường, Định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh
Bình Định giai đoạn 2006-2010, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2011; 2) Bùi Quốc Hà, Định tội danh đối với tội cướp
tài sản theo luâ hinh sự Viê Nam (trên cơ sở số liệu thực ti n địa bàn tỉnh
Đ k L k), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
Trang 132015; 3) Bùi Thị Nhung, "Định tội danh đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực ti n xét xử địa bàn tỉnh Nam Định)", Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2015; v.v
Dưới góc độ bài viết, đề tài khoa học, có thể kể ra: 1) GS.TSKH Lê
Cảm, “Định tội danh - Một số vấn đề lý luận và thực ti n”, Tạp chí Tòa án nhân dân các số 3, 4, 5, 8, 11/1999; 2) TS Nguyễn Ngọc Chí,"Yếu tố chức vụ,
quyền hạn trong các tội xâm phạm sở hữu"; "Một số vấn đề đồng phạm trong các tội xâm phạm sở hữu"; "Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu"; "Vấn
đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu", Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 11, 6, 2, 8 năm 1997; 3) TSKH Đào Trí Úc, "Tìm hiểu khái niệm và
những đặc trưng cơ bản của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam", Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 6, 2001; 4) Nguyễn Thị Hợp, Pháp luật về xác định
tội danh và thực ti n áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 15/2011; v.v
Như vậy, những bài nghiên cứu hoặc một số công trình sách báo đã nêu mới chỉ khái quát được một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động định tội danh và thực tiễn định tội; phân tích, đánh giá, nhận định một số nhận định liên quan đến yếu tố định tội danh, đồng thời phân biệt với một số tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999 hoặc nghiên cứu trách nhiệm hình sự đối với
các tội xâm phạm sở hữu; v.v… Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình
nào nghiên cứu về vấn đề định tội danh đối với tội trộm c p tài sản và trên một địa bàn cụ thể là địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là phân tích khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản, thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, phân tích những kết
Trang 14quả đã đạt được, những vấn đề còn hạn chế, từ đó đưa ra các kiến nghị nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc định tội danh đối với tội phạm này, qua
đó hạn chế oan, sai và vi phạm pháp luật trong thực tiễn xét xử
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn làm rõ một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa và
căn cứ của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản;
Thứ hai, phân tích làm rõ những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của
việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản được quy định tại điều 138 của
Bộ luật hình sự;
Thứ ba, đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh đối với tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản;
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc định tội danh
đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng, cả nước nói chung, cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản
3.3 Phạ vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam, đánh giá thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, trên cơ sở
đó, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản, từ đó luận chứng và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng, cả nước nói chung
Luận văn nghiên cứu về thực tiễn định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong 05 năm (2011 - 2015)
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở ý u n
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
Trang 15tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người nói chung, tội trộm cắp tài sản nói riêng; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo
và các bài viết trên các tạp chí trong nước
4.2 Cơ sở th c tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án về tội trộm cắp tài sản, các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về công tác xét xử nói chung và xét xử tội trộm cắp tài sản nói riêng
4.3 Phương há nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng pháp luật, về cải cách tư pháp Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn
đã sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Tòa án để phân tích các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa kh a học
Trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân hiện nay, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên góp phần
bổ sung vào kho tàng lý luận về định tội danh trong pháp luật hình sự Việt Nam nói chung, lý luận về định tội danh đối với một tội phạm cụ thể - tội
Trang 16trộm cắp tài sản nói riêng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người
5.2 Ý nghĩa th c tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ pháp luật Ngoài ra, luận văn còn cơ sở để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến định tội danh nói chung và định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản nói riêng, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và tự do của con người nói riêng, phòng, chống oan, sai và vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án hình
sự Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự tại các cơ sở đào tạo
6 Những đóng góp mới về khoa học
Học viên mong muốn nghiên cứu của mình sẽ có những đóng góp mới
về khoa học, đó là:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa và
căn cứ của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản; phân tích làm rõ những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản;
Thứ hai, đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh đối với tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản;
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc định
tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng, cả nước nói chung, cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản
Trang 177 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội trộm cắp
tài sản trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân của vướng mắc trong định tội
danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả
của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Trang 18Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1.1 Khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Để nghiên cứu và làm rõ khái niệm này, nhiều nhà khoa học luật hình
sự đã đưa ra những quan điểm khác nhau về định tội danh:
GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng:
Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình
sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [45, tr.20]
Còn theo quan điểm của TS Dương Tuyết Miên:
Định tội danh được hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [20, tr.9]
GS TSKH Lê Cảm nhận định:
Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính
Trang 19logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định [5, tr.11]
TS Trịnh Quốc Toản cho rằng:
Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp đồng nhất giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự Nói cách khác định tội là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy
đủ các dấu hiệu của tội nào trong số các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự" "Định tội danh là một quá trình logic nhất định, là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thực hiện Nó đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, thể hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được kiểm tra, xác định trong mối tương quan với các quy phạm pháp luật hình sự [36, tr.7-8]
Còn TS Lê Văn Đệ đưa ra khái niệm: “Định tội danh là việc xác định
và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành
vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dâu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định" [37, tr.108]
Có thể nhận thấy, về cơ bản các nhà khoa học đều thống nhất ở một số khía cạnh dưới đây:
Một là, định tội danh là hoạt động nhận thức có tính logic của con
Trang 20người về việc có sự phù hợp hay không phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho
xã hội, có lỗi, xảy ra trong thực tiễn với quy định của pháp luật hình sự về một tội phạm cụ thể;
Hai là, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nếu được
thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật Cũng có quan điểm cho rằng bao gồm cả hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định tội danh theo nghĩa rộng;
Ba là, định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết
các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong trường hợp định tội danh chính thức)
Từ cơ sở lý luận cùng với các quy định của Bộ luật hình sự có thể đưa
ra khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản như sau:
Định tội danh đối với tội trộm c p tài sản là hoạt động thực ti n áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan có thẩm quyền và người có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định, so sánh
và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành
vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Điều 138 Bộ luật hình sự năm
1999 (khi áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 thì được quy định trong Điều
173), từ đó xác định một người có phạm tội trộm c p tài sản hay không, và
phạm tội theo khoản nào của điều luật này, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt đối với người phạm tội
Từ khái niệm định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản phản ánh các đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 21* Một là, định tội danh đối với tội trộm c p tài sản là định tội danh đối với một loại tội phạm cụ thể: trộm c p tài sản
Điều 138 Bộ luật hình sự quy định: "Người nào trộm c p tài sản của
người khác có giá trị từ thì " Như vậy, hành vi khách quan của tội trộm
cắp tài sản là hành vi trộm cắp, là biểu hiện cơ bản của tội phạm Hành vi khách quan đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy đi tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản đó Lén lút có nghĩa là người phạm tội có ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình đối với người chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản khi phạm tội Trường hợp người lấy tài sản chỉ che giấu hành vi phạm tội của mình đối với người chủ sở hữu hoặc người quản lý, bảo vệ tài sản nhưng lại để người khác thấy được hành vi phạm tội của mình thì vẫn phạm tội trộm cắp tài sản [43, tr.176]
Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 qui định: "Tài sản bao gồm vật,
tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" Còn Bộ luật dân sự năm 2015, có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, tại Khoản 1 Điều 105 quy định: "Tài
sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản"
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng một nhu cầu
nhất định của con người, tồn tại dưới một dạng nhất định, nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao dịch dân sự Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Khi là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con người
Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản còn có thể là tiền,
giấy tờ trị giá được bằng tiền Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài Những loại tiền cũ có giá trị văn hóa lịch sử khi bị trộm cắp không được coi là tiền theo nghĩa này mà phải coi là vật như đã phân tích [16, tr.37]
Những giấy tờ có giá rất đa dạng Tuy nhiên, phân tích Quy chế phát
Trang 22hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/QĐ- NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 04 tháng 01 năm 2005, thì chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản
Có thể nhận thấy, không phải bất cứ tài sản nào cũng là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Có những tài sản mà tội phạm không thể lấy trộm được, và có những tài sản không được coi là đối tượng tác động của tội phạm Cụ thể như sau:
Thứ nhất, đó là "Quyền tài sản" "Quyền tài sản" là một dạng tài sản vô
hình, không nhìn thấy được, nó gắn liền với quyền nhân thân và cố định với một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận "Quyền tài sản" phải được pháp luật thừa nhận thì mới có giá trị Do đó, nó không thể bị dịch chuyển trái phép, bị chiếm đoạt bởi người khác;
Thứ hai, tài sản là bất động sản có tính chất vật lý cố định, ví dụ như:
đất đai, nhà cửa, ao hồ Những loại tài sản này là không dịch chuyển được bởi người thực hiện hành vi trộm cắp, nên không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản;
Thứ ba, một số loại tài sản như: tài sản vô chủ; tài sản bị rơi, bị bỏ
quên, thất lạc; tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó; những giấy tờ có giá trị, nhưng không trực tiếp chuyển thành tiền được; tài sản thuộc các loại có tính chất và công dụng đặc biệt
Thứ tư, tài sản là tài nguyên, thiên nhiên như không khí, gió biển, tài
nguyên trong lòng đất
* Hai là, định tội danh đối với tội trộm c p tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật, nếu chủ thể định tội danh là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền
Hoạt động định tội danh do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
Trang 23người có thẩm quyền tiến hành phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Mọi sự vi phạm pháp luật tố tụng đều có nguy cơ dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt người phạm tội, hạn chế hiệu quả của cuộc đấu tranh Để xác định tội danh chính xác và phù hợp với các tình tiết thực tế khách quan của vụ án, phải căn cứ vào các quy định của
Đối với hình thức định tội danh không chính thức, các tình tiết của vụ
án đã được mặc nhiên coi là đúng và đã được chứng minh bằng các chứng cứ
mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được
1.1.2 Phân loại các trường hợp định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Căn cứ vào chủ thể thực hiện việc định tội danh, GS.TSKH Lê Cảm cho rằng, có hai hình thức định tội danh: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức Trong đó, định tội danh chính thức "là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện" Còn định tội danh không
chính thức "là sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước tính chất pháp lý
hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể" [9, tr.24] Nhiều nhà khoa học cũng
Trang 24đồng tình với quan điểm này, thừa nhận có hai hình thức định tội danh với những đặc điểm về chủ thể và hậu quả pháp lý khác nhau
Cũng như việc định tội danh nói chung, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản có thể phân chia thành hai dạng định tội danh tương ứng là định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức
1.1.2.1 Định tội danh chính thức đối v i tội t ộ c tài sản
Như đã trích dẫn ở trên, định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự về một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện
Định tội danh chính thức đối với tội trộm cắp tài sản có các đặc điểm
cơ bản như sau:
Về chủ thể của định tội danh chính thức: Định tội danh chính thức đối
với tội trộm cắp tài sản do các chủ thể được nhà nước ủy quyền thực hiện Việc ủy quyền này được quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
do nhà nước ban hành, do đó chủ thể của dạng định tội danh này phải là người
có thẩm quyền trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự Chủ thể của dạng định tội danh này nhất thiết phải là những người có thẩm quyền trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự cụ thể- Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm [9, tr.23]
Định tội danh chính thức đối với tội trộm cắp tài sản được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng, từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Định tội danh chính thức đối với tội trộm cắp tài sản do nhiều chủ thể tiến hành và trong rất nhiều các giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng không có nghĩa là đối tượng phải gánh chịu hậu quả của hoạt động định tội danh đó là người phạm
tội trộm cắp tài sản Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định "không ai bị
coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật" [22, Điều 9]
Trang 25Hiến pháp năm 2013 quy định "Người bị buộc tội được coi là không có
tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [24, Điều 31, Khoản 1] Hiến pháp 2013
cũng khẳng định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [24, Điều 102]
Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định chức năng xét xử chỉ thuộc về Tòa
án chứ không thuộc bất kỳ cơ quan nhà nước nào khác
Về hậu quả pháp lý của định tội danh chính thức: Các hậu quả của việc
định tội danh do các chủ thể đã nêu trên đây tiến hành là không chỉ các hậu quả pháp lý trách nhiệm hình sự như khởi tố vụ án hình sự, bắt đầu quá trình điều tra, khởi tố bị can, truy tố hoặc (và) xét xử, v.v… mà còn là các hậu quả pháp lý hình sự [9, tr.23-24]
Những đánh giá, những kết luận của chủ thể của định tội danh chính thức là cơ sở pháp lý để khởi tố vụ án, để áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Là cơ sở để ra bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và ra bản án Hậu quả của việc định tội danh chính thức đối với tội trộm cắp tài sản do những người có thẩm quyền thực hiện là các hậu quả pháp lý trách nhiệm hình sự như: khởi tố
vụ án hình sự, bắt đầu quá trình điều tra, khởi tố bị can, truy tố hoặc xét xử Sau khi xác định có hành vi phạm tội cơ quan điều tra trong phạm vi quyền hạn của mình phải thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để kiểm tra, xác minh thông tin và quyết định việc khởi tố vụ án trộm cắp tài sản nếu xác định chính xác những dấu hiệu của tội phạm này hoặc không khởi tố vụ án hình sự nếu
có những căn cứ được quy định tại điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, đó là: Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ
án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội
Trang 26phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác [22]
1.1.2.2 Định tội danh không chính thức đối v i tội t ộ c tài sản
Theo phân tích đã dẫn trên, định tội danh không chính thức là sự đánh giá không phải về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể
GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Định tội danh không chính thức là
sự đánh giá pháp lý về hành vi phạm tội do các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, tác giả bài báo, tạp chí, công trình khoa học, sinh viên, học viên hoặc bất kỳ một người nào đó quan tâm nghiên cứu cụ thể vụ án này hay vụ
án khác đưa ra” [46, tr.28]
Định tội danh không chính thức đối với tội trộm cắp tài sản có các đặc điểm sau đây:
Về chủ thể của định tội danh không chính thức: Là ngoài nhóm chủ thể
của định tội danh chính thức đã nói ở trên Thông thường chủ thể của định tội danh không chính thức là những người làm công tác nghiên cứu hay bất kỳ người nào quan tâm đến việc nghiên cứu một vụ án hình sự cụ thể đưa ra những bình luận về vụ án đó về phương diện định tội danh Chủ thể tiến hành định tội danh không chính thức đối với tội trộm cắp tài sản không nhất thiết là những người nhất định nào [9, tr.24], họ không phải là những chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật mà có thể là bất cứ ai quan tâm đến vụ án hình sự và biết được các tình tiết của vụ án mà đưa ra tội danh Những người này có thể liên quan đến hoạt động tố tụng hoặc không liên quan đến hoạt động tố tụng
Về hậu quả pháp lý của định tội danh không chính thức: Định tội danh
không chính thức đối với tội trộm cắp tài sản không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan trong vụ án hay bất kỳ một ai Đây
Trang 27chỉ là sự thể hiện ý kiến, quan điểm riêng, thể hiện phương pháp nhận thức pháp luật hình sự
Về hình thức thể hiện của định tội danh không chính thức đối với tội trộm cắp tài sản là các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách giáo khoa, bài báo, bài phát biểu Hình thức thể hiện được viết theo ý chí chủ quan của tác giả, mà không có những quy định cụ thể buộc chủ thể phải tuân theo
1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Việc định tội danh nói chung và định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản nói riêng rõ ràng có ý nghĩa hết sức quan trọng Định tội danh có hai xu hướng là định tội danh đúng hoặc định tội danh sai
Việc định tội danh đúng đối với tội trộm c p tài sản có những ý nghĩa như sau:
Một là, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản đúng là tiền đề cho
việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời để áp dụng chính xác các quy định khác trong Bộ luật hình sự như: các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình
sự, khung (khoản) với mức và loại hình phạt tương xứng với tính chất và mức
độ của hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, xác định chính xác tái phạm, tái phạm nguy hiểm, quyết định hình phạt trong những trường hợp khác nhau;
Hai là, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản đúng sẽ hỗ trợ cho
việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, dân chủ, bình đẳng, công minh…; góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ và các chức năng của Bộ luật hình
sự - bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội
Trang 28chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ theo pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm;
Ba là, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản đúng sẽ là một cơ sở để
áp dụng chính xác và đúng đắn các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự, thẩm quyền điều tra, truy
tố và xét xử; qua đó, góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân nói chung với một bên là quyền và tự do của người phạm tội trộm cắp tài sản;
Bốn là, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản đúng sẽ góp phần đảm
bảo công lý và công bằng trong xã hội, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt trước pháp luật và quyền lợi của người bị hại được đền bù; làm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh
Và bên cạnh đó, nếu định tội danh sai đối với tội trộm c p tài sản sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực như:
Một là, không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật,
truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
Hai là, làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế xã hội
chủ nghĩa, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm
1.1.4 Những điều kiện bảo đảm cho việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Trên cơ sở những điều kiện bảo đảm chung cho việc định tội danh đối với các tội phạm, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản cũng phải bảo đảm các điều kiện sau:
Một là: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự gồm có Bộ luật
hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cần phải thực sự đầy đủ, chặt chẽ,
Trang 29thống nhất Điều này có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo định tội danh đúng Thực tiễn cho thấy đối với những điểm còn chưa chặt chẽ, thống nhất trong hệ thống pháp luật hình sự dễ dẫn đến những cách hiểu và áp dụng thiếu thống nhất của những chủ thể định tội danh
Hai là: Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người định tội
danh Đây cũng là điều kiện rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc định tội danh đúng hoặc sai
Ba là: Đạo đức, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp của người định tội
danh Thực tiễn cho thấy, định tội danh sai không chỉ có nguyên nhân từ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không đảm bảo của người định tội danh, mà trong một số trường hợp nhất định còn liên quan đến đạo đức, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp của người định tội danh
1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.2.1 Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Nghiên cứu về vấn đề này, GS TSKH Lê Cảm cho rằng:
Về cơ bản, những căn cứ pháp lý của việc định tội danh có thể được hiểu trên hai bình diện (hoặc theo hai nghĩa) rộng và hẹp dưới đây:
Trên bình diện rộng (hay hiểu theo nghĩa cả về nội dung và hình thức) thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cũng như
hệ thống các quy phạm luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm
Trên bình diện hẹp (chỉ hiểu theo nghĩa về nội dung) thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là chỉ có hệ thống các quy phạm luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác
Trang 30định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm [8, tr.26-27]
Bộ luật hình sự là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh nói
chung và Điều 138 là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản nói riêng Trong quá trình định tội danh nếu hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ hiểu theo nghĩa về nội dung) thì Bộ luật hình sự có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, vì Bộ luật hình sự đóng vai trò là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội danh
Hiện nay theo pháp luật nước ta, Bộ luật hình sự năm 1999 và các Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự là nguồn trực tiếp và duy nhất ghi nhận toàn
bộ hệ thống quy phạm pháp luật hình sự trong đấu tranh phòng chống tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt Điều 2 Bộ luật hình sự khi quy
định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự" Không một văn bản nào khác ngoài Bộ luật
hình sự được phép quy định hành vi nào là phạm tội, hoặc mở rộng hay thu hẹp hành vi phạm tội là tội phạm trong Bộ luật hình sự
Bản chất của việc định tội danh tội trộm cắp tài sản là so sánh, đối chiếu và kiểm tra để xác định xem các dấu hiệu của hành vi trộm cắp tài sản
đã được thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của Điều 138 Bộ luật hình sự hay không
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại điều 138 của Bộ luật hình sự Điều luật quy định tội trộm cắp tài sản gồm hai phần, đó là phần quy định và phần chế
tài Phần quy định là phần nêu ra và mô tả một tội trộm cắp tài sản: “Người
nào mà còn vi phạm ” Luật hình sự Việt Nam có các loại quy định như quy
định giản đơn, quy định mô tả, quy định viện dẫn Phần chế tài là phần xác định loại và mức độ hình phạt đối với người thực hiện tội phạm đã nêu trong phần quy định Có thể nói chế tài phản ánh sự đánh giá của nhà làm luật về tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm cụ thể [40, tr.31] Phần chế
Trang 31tài được quy định trong khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự " thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”
Khi định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản, người có thẩm quyền định tội danh căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự Điều 138 Bộ luật hình
sự năm 1999 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định cụ thể tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 Điều luật này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể do điều luật quy định tương ứng hay không; nếu phạm tội trộm cắp tài sản thì thuộc vào khoản 1 hay khoản cụ thể nào của điều luật
đó Điều quan trọng trong quá trình định tội danh là phải tìm được những dấu hiệu cơ bản, điển hình và quan trọng nhất là phải có những dấu hiệu cần và đủ
để xác định thực chất của hành vi xảy ra trên thực tế
Ngoài điều luật quy định về tội trộm cắp tài sản, các chủ thể định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản còn phải căn cứ vào các quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự, nhất là các quy định liên quan đến việc xác định tội phạm như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; v.v
Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự là
cơ sở pháp lý gián tiếp của việc định tội danh Trong quá trình định tội danh
khi hiểu theo nghĩa rộng, Bộ luật hình sự đóng vai trò là cơ sở pháp lý duy nhất trực tiếp (về nội dung), thì một số quy phạm pháp luật tố tụng hình sự là
cơ sở pháp lý gián tiếp (về hình thức) không kém phần quan trọng [9, tr.30] Các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, tuy có ý nghĩa gián tiếp trong việc định tội danh, nhưng là cần thiết và hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay
Trang 32Với tính cách là cơ sở pháp lý gián tiếp của việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự quy định những vấn đề sau đây:
Một là, quy định thẩm quyền định tội danh chính thức về mặt nhà nước
đối với tội trộm cắp tài sản Việc định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ giai đoạn khởi tố
vụ án hình sự đến giai đoạn xét xử Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, thẩm quyền định tội danh được quy định cho Cơ quan điều tra Trong giai đoạn truy tố, thẩm quyền định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản thuộc
về Viện kiểm sát Trong giai đoạn xét xử, Tòa án (trực tiếp là Hội đồng xét xử) là chủ thể có thẩm quyền định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Hai là, quy định hình thức pháp lý của định tội danh đối với tội trộm
cắp tài sản Hình thức pháp lý được quy định trong Bộ luật hình sự mà các chủ thể định tội danh phải tuân theo là ban hành các quyết định hoặc văn bản
tố tụng như: quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án; hoặc quyết định về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng như quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam
Ba là, quy định về chứng cứ, về trình tự, thủ tục thu thập, kiểm tra,
đánh giá, sử dụng chứng cứ chứng minh tội trộm cắp tài sản
Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định các vấn đề khác liên quan đến việc thay đổi tội danh, việc tách hoặc nhập vụ án hình sự và các vấn
đề khác phục vụ cho định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Một số văn bản quy phạm pháp luật khác có ý nghĩa bổ trợ cho việc định tội danh Khi định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản, để biết một
trường hợp có dấu hiệu của tội phạm này hay không hoặc để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trộm cắp tài sản, căn cứ trực tiếp và chủ yếu là Bộ luật hình sự Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Trang 33cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý vụ án hình sự, như: Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật hình sự; Thông tư liên tịch giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau hoặc với các cơ quan khác Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên hướng dẫn chi tiết việc áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự
Trong định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản ngoài việc áp dụng Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, việc định tội danh còn căn cứ vào các văn bản pháp luật khác nhau như Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao,
Bộ Tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV
"Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999"
1.2.2 Cơ sở khoa học của định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Cơ sở khoa học của định tội danh chính là cấu thành tội phạm của tội danh đó Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề về cấu thành tội phạm có ý
nghĩa rất quan trọng đối với quá trình định tội danh Định tội danh đúng là xác
định đúng sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng, quy định tại một quy phạm cụ thể của Bộ luật hình sự
Theo quan điểm của GS-TSKH Lê Cảm thì cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Nói cách khác, một cấu thành tội phạm cụ thể là tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan bắt buộc, mà bằng các dấu hiệu đó, nhà làm luật quy định tại quy phạm của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự tính chất tội phạm và tính chất bị xử phạt (hay còn gọi là tính chất bị xử lý về hình sự) của hành vi nguy
Trang 34hiểm cho xã hội tương ứng bị luật hình sự cấm, đồng thời chỉ ra loại hình phạt nào và trong giới hạn nào nó có thể được Toà án áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm ấy [8, tr.35]
Cấu thành tội phạm nói chung có các đặc điểm cần và đủ là: 1) Trước hết, cấu thành tội phạm là một hệ thống các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc; 2) Các dấu hiệu pháp lý này phải được quy định trong pháp luật hình sự thực định; 3) Chỉ có trên cơ sở tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý này của cấu thành tội phạm thì mới có căn cứ để khẳng định một hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó bị luật hình sự cấm và đã được thực hiện trong thực tế chính là một tội phạm; 4) cấu thành tội phạm chính là
mô hình pháp lý của tội phạm [9, tr.36]
Ở tội trộm cắp tài sản có thể thấy 4 yếu tố cấu thành tội phạm gồm:
Khách thể của tội hạ - là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại
Quan hệ sở hữu về tài sản chính là khách thể của tội trộm cắp tài sản
Đó là quan hệ xã hội mà trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu được tôn trọng và bảo vệ Bộ luật dân sự qui định rõ, trong nội dung quyền sở hữu gồm ba quyền là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Quyền sở hữu về tài sản được nhà nước bảo vệ thông qua các qui định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt tài sản
Bảo vệ quyền sở hữu về tài sản của cơ quan, tổ chức và công dân trong
xã hội không phải là mục đích duy nhất của việc quy định về tội trộm cắp tài sản theo Bộ luật hình sự, nó còn có tác dụng lớn hơn là bảo vệ trật tự an toàn
xã hội Trong trường hợp hành vi lén lút lấy đi tài sản của người khác với mục
Trang 35đích chiếm đoạt dù tài sản này là sở hữu hợp pháp hay bất hợp pháp thì về tính chất pháp lý hành vi trên vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội hạ - là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy
hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan
Đối với tội trộm cắp tài sản, mặt khách quan của tội phạm bao gồm: dấu hiệu về hành vi, dấu hiệu về hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
và hậu quả và các dấu hiệu khách quan như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội
Điều luật về tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự quy định: "Người
nào trộm c p tài sản của người khác có giá trị từ thì ” Do đó, hành vi
khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi trộm cắp, là biểu hiện cơ bản nhất trong mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy đi tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản của người đó Đặc trưng lén lút trong hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản cũng chỉ đòi hỏi phải có ý thức của người phạm tội Có nghĩa nếu người phạm tội mong muốn che giấu hành vi của mình nhưng trong thực tế lại không che giấu được thì vẫn bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản Một số trường hợp, người phạm tội có ý định trộm cắp tài sản và khi đang thực hiện tội phạm đó thì bị phát hiện thì không lén lút nữa mà thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn khác thì hành vi phạm tội có thể cấu thành tội phạm khác- ví dụ tội cướp tài sản Có trường hợp giả làm người quen để vào nhà (công khai, không lén lút), nhưng khi vào được nhà thì thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, thì vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản là những thiệt hại do người phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra Hậu quả nguy hiểm cho xã
Trang 36hội là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Hậu quả nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trong thực tiễn, được khẳng định và chứng minh bằng những chứng cứ được kiểm tra, đánh giá cụ thể Dưới góc
độ các giai đoạn thực hiện tội phạm thì khi có hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra thì tội trộm cắp tài sản mới được coi là hoàn thành
Các trường hợp định lượng tài sản ở tội trộm cắp tài sản thể hiện:
Trường hợp thứ nhất, tài sản trộm cắp có giá trị từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng, và không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản khác của Điều luật, thì được điều chỉnh theo chế tài tại Khoản 1 của Điều luật
Khi thông qua Bộ luật hình sự năm 1999, giá trị tài sản là 500.000 đồng làm căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, sau thời gian thực tiễn 10 năm triển khai Bộ luật hình sự, do sự phát triển kinh tế, thu nhập bình quân cũng như sự trượt giá chung trong xã hội, mức quy định này không còn phù hợp Năm 2009, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 Theo đó, định lượng tối thiểu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội quy định trong Bộ luật hình sự năm
1999, trong đó có tội trộm cắp tài sản (Điều 138) là 500.000 đồng được điều chỉnh thành 2.000.000 đồng Tại Bộ luật hình sự năm 2015, mức định lượng tài sản này vẫn được giữ nguyên
Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, ở một khía cạnh khác- khía cạnh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, việc định lượng (2.000.000 đồng) cũng còn là một vấn đề cần phải xem xét Nếu ở đô thị, nơi có thu nhập bình quân đầu người cao, mức sống cao, thì việc bị trộm cắp tài sản trị giá 2.000.000 đồng có mức độ ảnh hưởng đến người bị xâm hại thấp hơn nhiều so với cùng vụ việc, nếu diễn ra ở nông thôn, nơi thu nhập bình quân thấp, tức là mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, nhưng chế tài áp dụng lại giống nhau Đây cũng là một vấn đề cần được xem xét để có giải pháp cụ thể
Trang 37Trường hợp thứ hai: tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng
nhưng gây hậu quả nghiệm trọng Thông tư liên tịch số BCA-BQP-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" qui định: Khi áp dụng các tình tiết
02/VKSTC-TATC-"gây hậu quả nghiêm trọng" từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143
Bộ luật hình sự năm 1999 cần chú ý:
Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả) Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội) Đối với tội trộm cắp tài sản có quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt thì việc xác định hậu quả thiệt hại về tài sản không phải căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt vì giá trị tài sản này đã được quy định thành tình tiết định khung riêng biệt Hậu quả phải là thiệt hại
về tài sản xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt
Thông thường người phạm tội trộm cắp tài sản thực hiện hành vi phạm tội của mình một cách lén lút với chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác Tuy nhiên thiệt hại cho sức khỏe của người khác cũng có thể xảy
ra đối với loại tội phạm này ví dụ như một người đang thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp giá trị dưới 2 triệu đồng thì bị phát hiện, người phạm tội có thể có hành vi hành hung để tẩu thoát nên gây ra thương tích hoặc những tổn hại về sức khỏe nhất định cho người phát hiện Trong một số trường hợp nhất định người phạm tội còn phá hủy hoặc gây thiệt hại đến những tài sản khác
Để xem xét trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nguyên tắc chung phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các hậu quả (thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và các thiệt hại phi vật chất)
Trang 38Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội Trong các trường hợp này phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng hay không
Tại Bộ luật hình sự năm 2015, tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” không còn được quy định như Bộ luật hình sự năm 1999, mà quy định cụ thể, trực tiếp hơn, đó là:
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại (Điểm c, d, Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015)
Trường hợp thứ ba: Tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng
nhưng người phạm tội trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính được quy định
cụ thể tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Tại Bộ luật hình sự năm 2015, nội dung quy định này vẫn được giữ tương tự Bộ luật hình sự năm 1999
Trường hợp thứ tư: Tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng
nhưng người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì hành vi này vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản Tính chất nguy hiểm cho xã hội của trường hợp chiếm đoạt này không chỉ dựa vào giá trị tài sản chiếm đoạt mà còn dựa vào nhân thân người phạm tội
Tại Bộ luật hình sự năm 2015, nội dung này được quy định cụ thể, rõ
ràng hơn, đó là: “Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định
tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” [27, Điều 173, Khoản 1]
Trang 39Trường hợp thứ năm: Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số
02/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BTP người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần, bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản tương ứng theo tổng giá trị tài sản các lần bị xâm phạm nếu: Các hành vi tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian; Việc thực hiện các hành vi tội trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản trộm cắp là nguồn sống chính; Mục đích tội trộm cắp tài sản nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan nên việc tội trộm cắp tài sản được thực hiện nhiều lần nên giá trị tài sản mỗi lần lấy được dưới 2.000.000đ
Một dấu hiệu nữa trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản, đó là thời điểm xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã chiếm được tài sản hay chưa Trong tội trộm cắp tài sản, hậu quả của tội phạm này xảy ra khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản Để xác định được việc người phạm tội
đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa phải xem xét đến vị trí, địa điểm cất giữ, bảo quản tài sản Đối với tài sản không có nơi bảo quản riêng biệt thì thời điểm được coi là chiếm đoạt được tài sản là người phạm tội đưa được tài sản ra khỏi
vị trí cất giữ ban đầu Đối với tài sản có nơi cất giữ riêng biệt thì cần xác định
đó là loại tài sản nhỏ gọn hay to, cồng kềnh Đối với tài sản nhỏ, gọn thì thời điểm được coi là chiếm đoạt được tài sản khi người phạm tội lấy tài sản và giấu chúng vào người hoặc đồ vật mang theo người Đối với tài sản to lớn, cồng kềnh thì thời điểm được coi là chiếm đoạt được tài sản khi người phạm tội lấy tài sản và dịch chuyển chúng ra khỏi khu vực cất giữ hoặc bảo quản
Chủ sở hữu tài sản có thể bị mất tài sản do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chỉ khi hiện tượng mất tài sản xuất phát từ hành vi trộm cắp tài sản thì mới có cơ sở khẳng định về sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu Trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản cần phải chứng minh hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là kết quả của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản
Trang 40Ngoài dấu hiệu hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản còn dấu hiệu thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm [6, tr.11] Mối quan hệ nhân quả trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội được coi là nguyên nhân và thiệt hại gây nên cho người sở hữu được coi là hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội trộm cắp tài sản là thiệt hại về tài sản do người phạm tội gây ra cho chủ sở hữu thông qua hành vi lấy đi tài sản Khi người phạm tội trộm cắp tài sản lấy được tài sản thì hậu quả của tội trộm cắp tài sản xảy ra Trong một số trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản người phạm tội có thể gây thiệt hại đến sức khỏe hoặc thiệt hại khác nhưng chúng không là dấu hiệu pháp lý bắt buộc về mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản trong trường hợp thông thường
Những dấu hiệu về công cụ, phương tiện thủ đoạn, thời gian, địa điểm hoàn cảnh phạm tội, tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, nhưng việc xác định dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng góp phần xác định tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cũng thông qua đó giúp chúng ta xác định được những nguyên nhân và điều kiện phạm tội để từ đó tìm ra giải pháp hiệu quả cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Chủ thể của tội hạ - là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi luật định khi thực hiện hành vi phạm tội Năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định là hai dấu hiệu của chủ thể của tội phạm nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng