1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam -những vấn đề tham chiếu. Luận văn ThS. Luật: 62.38.01.01

231 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 5,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xây dựng NNPQ XHCN với đòi hỏi phải cải cách toàn diện bộ máy nhà nước đã mở ra hướng nghiên cứu mới đối với các cơ quan nhà nước Việt Nam, trong đó, việc nghiên cứu đổi mới Quốc hộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT - *** -

NGUYỄN QUỐC VĂN

QUỐC HỘI MĨ VÀ QUỐC HỘI VIỆT NAM

NHỮNG VẤN ĐỀ THAM CHIẾU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT - *** -

NGUYỄN QUỐC VĂN

QUỐC HỘI MĨ VÀ QUỐC HỘI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Lí luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số : 62.38.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Đăng Dung

Trang 3

HÀ NỘI - 2013

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các

tư liệu, số liệu sử dụng trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Quốc Văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Các nghiên cứu chung về Quốc hội 6

1.2 Các nghiên cứu về Quốc hội Mĩ 11

1.3 Các nghiên cứu về Quốc hội Việt Nam 15

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17

Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SO SÁNH QUỐC HỘI MĨ VÀ QUỐC HỘI VIỆT NAM 19

2.1 Quốc hội là định chế tất yếu trong một nhà nước dân chủ 19

2.2 Cơ sở hình thành Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam 29

2.3 Những vấn đề lí luận về so sánh Quốc hội 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

Chương 3 VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA QUỐC HỘI 44

3.1 Vị trí của Quốc hội 44

3.2 Chức năng của Quốc hội 56

3.3 Quyền hạn và quan hệ của Quốc hội với các cơ quan nhà nước 64

3.4 Quan hệ của Quốc hội với đảng phái chính trị 73

3.5 Kiến nghị về địa vị pháp lí của Quốc hội Việt Nam 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

Chương 4 VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA QUỐC HỘI 92

4.1 Cơ cấu chung của Quốc hội 92

4.2 Cơ cấu lãnh đạo tại Quốc hội 99

4.3 Cơ cấu ủy ban của Quốc hội 105

4.4 Đại biểu Quốc hội 114

4.5 Kiến nghị về cơ cấu tổ chức của Quốc hội Việt Nam 123

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 130

Chương 5 VỀ QUI TRÌNH, THỦ TỤC HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI 132

5.1 Thủ tục kì họp của Quốc hội 132

5.2 Qui trình làm luật của Quốc hội 139

5.3 Thủ tục hoạt động giám sát của Quốc hội 148

5.4 Kiến nghị về qui trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội Việt Nam 157

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 166

KẾT LUẬN CHUNG 168

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 179

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp 1992 trong lần sửa đổi 2001 đã xác định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là Nhà nước pháp quyền (NNPQ) XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ” (Điều 2) Việc xây dựng NNPQ XHCN với đòi hỏi phải cải cách toàn diện

bộ máy nhà nước đã mở ra hướng nghiên cứu mới đối với các cơ quan nhà nước Việt Nam, trong đó, việc nghiên cứu đổi mới Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân - là quan trọng hàng đầu, vì: (i) Quốc hội là định chế có vai trò tất yếu trong việc xác lập và thực hiện các nguyên tắc của NNPQ; (ii) Quốc hội đang đứng trước yêu cầu hoàn thiện mọi mặt để xứng đáng với vị trí Hiến định đặc biệt: “Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; (iii) Quốc hội hiện còn khá “non trẻ”, chưa hoàn toàn ổn định về “chất”, đang trong bước chuyển từ Quốc hội của cơ chế tập trung, thời chiến sang Quốc hội của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN; (iv) yêu cầu đổi mới Quốc hội càng trở nên bức thiết trong bối cảnh vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đang được đặt ra trên hành trình sửa đổi Hiến pháp 1992

Hiện nay, trên các diễn đàn luật học đã có nhiều công trình nghiên cứu về Quốc hội Việt Nam và Quốc hội nước ngoài Tuy nhiên, các công trình này vẫn chưa chú trọng đúng mức đến việc nghiên cứu tham chiếu Quốc hội Việt Nam với Quốc hội các nước theo tiêu chí của NNPQ Trong bối cảnh Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm xây dựng Quốc hội theo yêu cầu của NNPQ thì việc nghiên cứu tham chiếu Quốc hội Việt Nam với Quốc hội các nước càng trở nên cấp bách, nhằm tìm ra những hạt nhân hợp lí, tiến bộ về Quốc hội của nước khác để có thể kế thừa, vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, hướng đến mục tiêu xây dựng một Quốc hội mạnh, thực quyền, chuyên nghiệp theo đúng tinh thần của Hiến pháp 1992

Việc tác giả chọn Quốc hội Mĩ là đối tượng tham chiếu với Quốc hội Việt Nam dựa trên các căn cứ sau:

(i) Quốc hội ở bất kì chính thể hay thuộc hệ thống pháp luật nào cũng có những đặc trưng chung mang tính qui luật, mặc dù tổ chức và hoạt động của chúng rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, văn hóa, truyền thống của mỗi nước và

từ chức năng, nhiệm vụ mà Quốc hội cần phải đảm nhiệm

Trang 7

(ii) Kế thừa và tiếp thu sâu sắc di sản tư tưởng đại nghị và kinh nghiệm của Anh quốc nhưng người Mĩ đã sáng tạo tổ chức và duy trì Quốc hội rất hiệu quả theo cách riêng, với những ưu điểm nổi bật so với Quốc hội Anh quốc Khi lựa chọn Quốc hội Mĩ là đối tượng tham chiếu với Quốc hội Việt Nam, chúng ta sẽ có dịp khám phá những triết lí mà Quốc hội Mĩ đã tiếp nhận từ nguyên mẫu và tham khảo

về sự vận dụng và phát triển các qui luật về Quốc hội của người Mĩ Cơ hội tìm hiểu Quốc hội Anh quốc trong quá trình nghiên cứu Quốc hội Mĩ sẽ giúp cho các đánh giá và kiến nghị về Quốc hội Việt Nam có cơ sở vững chắc hơn

(iii) Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng khuôn mẫu tổ chức và kiểm soát quyền lực của nhà nước Mĩ Chính thể cộng hòa Tổng thống lần đầu tiên trong lịch

sử thế giới được thiết lập ở Mĩ vào cuối thế kỷ 18 cũng là mô hình áp dụng điển hình nhất học thuyết phân quyền Tuy nhiên, trên thực tế, quyền lực nhà nước Mĩ luôn thống nhất, với các ngành quyền luôn kết nối, hòa quyện để thực hiện chức năng chung nhưng mỗi ngành quyền vẫn duy trì tốt nhất khả năng kiểm soát hợp Hiến đối với các ngành kia Mô hình kiểm soát quyền lực nhà nước rất hiệu quả của

Mĩ có thể là kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992

(iv) Với lịch sử tiến hóa hơn 200 năm, Quốc hội theo Hiến pháp Mĩ 1787 vẫn khẳng định sự thực quyền, hùng mạnh, ổn định về địa vị pháp lí, nguyên tắc tổ chức

và hoạt động; luôn phù hợp với thực tiễn lịch sử nước Mĩ Tính ổn định, chuyên nghiệp, hiệu quả của Quốc hội Mĩ đáng để chúng ta nghiên cứu, chiêm nghiệm trên con đường xây dựng một Quốc hội thực quyền, chuyên nghiệp ở Việt Nam

(v) NNPQ là giá trị cần hướng tới của văn minh nhân loại dù khái niệm đầy

đủ về nó hiện vẫn còn tranh luận trong giới khoa học - và trên thực tế, người Mĩ cũng rất ít đề cập đến khái niệm này Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng ở mức độ nhất định, những đặc trưng của NNPQ đã được thừa nhận rộng rãi có thể tìm thấy khá sinh động tại Mĩ, chẳng hạn: Nhà nước Mĩ là nhà nước hợp Hiến, hợp pháp, được tổ chức trên cơ sở các quyền và trên nền tảng của xã hội dân sự; nhà nước bị hạn chế, bị giám sát quyền lực và tổ chức theo nguyên tắc phân quyền; Do đó, việc nghiên cứu các biểu hiện thực tiễn về NNPQ tại Mĩ và vai trò của Quốc hội Mĩ trong xây dựng NNPQ có thể sẽ cho chúng ta những kinh nghiệm trong nghiên cứu

lí thuyết và thực tiễn xây dựng NNPQ Việt Nam XHCN

Trang 8

(vi) Nghiên cứu về sự hình thành, phát triển của Quốc hội và các thiết chế nhà nước Mĩ từ khi lập quốc, chúng ta sẽ có cơ hội tìm hiểu về kinh nghiệm xây dựng và hoàn bị Hiến pháp của người Mĩ theo các hạt nhân của Chủ nghĩa Hiến pháp (Constitutionalism) [61] như: Bảo đảm sự quyết định của nhân dân trong việc ban hành, sửa đổi Hiến pháp; Hiến pháp phải bảo đảm nhân quyền và giới hạn, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm mọi chủ thể nhà nước đều đứng dưới và bị điều chỉnh của Hiến pháp và luật; bảo đảm trách nhiệm chủ đạo của nhà nước trong việc tuân thủ Hiến pháp Đây là kinh nghiệm quốc tế có giá trị tham khảo trong quá trình hoàn thiện Hiến pháp 1992, mặc dù thuật ngữ “Chủ nghĩa Hiến pháp” chưa được xuất hiện trong các văn kiện chính thức của Đảng và nhà nước ta

(vii) Trải qua một số thời kì khó khăn, đến nay, Việt Nam và Mĩ đã có gần

20 năm bình thường hóa quan hệ, đã kí Hiệp định Thương mại và đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực hợp tác, hiện đang hướng tới quan hệ đối tác chiến lược Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước” (Hiến pháp 1992), việc tìm hiểu bộ máy nhà nước và pháp luật Mĩ là cần thiết để phát triển hợp tác và bảo vệ lợi ích quốc gia

Với những lí do trên, tác giả đã chọn “Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam -

những vấn đề tham chiếu” làm đề tài nghiên cứu

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (2011), với tư cách tổ hợp từ, “tham chiếu” là “tham khảo qua việc phân tích, đối chiếu, so sánh

các sự việc, hiện tượng liên quan” [149, tr.1459], còn “so sánh” là “xem xét cái này

với cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém nhau” [149,

tr.1380] Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex (2010), với tư cách tổ hợp từ, “tham chiếu” là “căn cứ, dựa vào để tham khảo và đối chiếu” [86, tr.1171], còn “so sánh” là “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống

nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [86, tr.1107] Qua hai cách giải thích trên,

chúng ta nhận thấy “tham chiếu” chính là “so sánh” với mục đích tham khảo “So

sánh” không nêu rõ mục đích thực tiễn của việc tìm ra sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém nhau giữa các sự vật, hiện tượng nhưng “tham chiếu” có mục đích thực tiễn rõ ràng, đó là sử dụng các kết quả của so sánh vào việc tham khảo, cân

nhắc tiếp thu khi tiến hành một công việc nhất định Theo Từ điển Oxford trực

tuyến, so sánh/comparison là: “A consideration or estimate of the similarities or

Trang 9

dissimilarities between two things or people”, tạm dịch là: “Sự xem xét hoặc ước lượng sự giống nhau hoặc khác nhau giữa hai sự vật hoặc cá thể” Tham chiếu/reference là: “The use of a source of information in order to ascertain something”, tạm dịch là: “Việc sử dụng một nguồn thông tin nhằm khẳng định một điều gì đó” [205] Căn cứ các định nghĩa trên, “tham chiếu” trong đề tài luận án

được hiểu là sự “so sánh” giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam với mục đích

tham khảo

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu so sánh Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam nhằm phát hiện sự tương đồng, khác biệt giữa hai Quốc hội và nguyên nhân của sự tương đồng, khác biệt đó Qua đó, kiến nghị hoàn thiện Quốc hội Việt Nam theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm Quốc hội Mĩ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết các vấn đề sau: (i) Tổng quan về tình hình

nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án; (ii) các vấn đề lí luận về Quốc hội và so

sánh Quốc hội; (iii) so sánh hai Quốc hội về địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức, qui trình

và thủ tục hoạt động; (iv) kiến nghị hoàn thiện Quốc hội Việt Nam theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Quốc hội Mĩ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam theo qui

định của Hiến pháp, pháp luật mỗi nước và trên cơ sở lịch sử, tư tưởng chính trị -

pháp lí của việc hình thành và phát triển của mỗi Quốc hội

- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất, phản

ánh đặc trưng tiêu biểu, ổn định của mỗi Quốc hội và có ý nghĩa ứng dụng đối với Việt Nam, gồm: Địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức, qui trình và thủ tục hoạt động của Quốc hội Trong đó, địa vị pháp lí của Quốc hội là trọng tâm nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác

- Lê Nin, các học thuyết, tư tưởng chính trị - pháp lí, lí thuyết của Luật Hiến pháp

và Luật So sánh

Trang 10

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Phương pháp so sánh: Là phương pháp chủ đạo của luận án, nhằm so sánh

hai Quốc hội và so sánh Quốc hội mỗi nước với các triết lí cơ bản về Quốc hội

Phương pháp phân tích: Dùng để phân tích địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức,

qui trình, thủ tục hoạt động, các mối quan hệ của mỗi Quốc hội và sự tương đồng,

khác biệt giữa hai Quốc hội

Phương pháp tổng hợp: Dùng để tổng hợp các đặc trưng của Quốc hội; cơ

sở hình thành, địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức, qui trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội; sự tương đồng, khác biệt giữa hai Quốc hội và qui luật vận động của chúng

Phương pháp chứng minh: Trên cơ sở các học thuyết, tư tưởng chính trị -

pháp lí, lí thuyết của Luật Hiến pháp và Luật So sánh, dữ liệu lịch sử và Hiến pháp, pháp luật mỗi nước, phương pháp chứng minh nhằm luận giải cho sự tương đồng, khác biệt giữa hai Quốc hội và kiến nghị về việc hoàn thiện Quốc hội Việt Nam

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

(i) Phát hiện và giải thích nguyên nhân của những tương đồng, khác biệt giữa

hai Quốc hội; (ii) phát hiện những hạt nhân hợp lí, hạn chế điển hình và qui luật vận động của mỗi Quốc hội; (iii) kiến nghị về việc hoàn thiện Quốc hội Việt Nam theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm Quốc hội Mĩ

7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

(i) Luận án góp phần làm phong phú cơ sở lí luận về Quốc hội và Hiến pháp; (ii) kết quả luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về Hiến pháp và

sử dụng tham khảo tại Việt Nam và nước ngoài đối với các thành viên Quốc hội, cơ quan nhà nước, đảng phái chính trị, nhóm lợi ích và cá nhân trực tiếp hay gián tiếp tham gia qui trình lập pháp và giám sát; (iii) kiến nghị của luận án sẽ góp phần vào việc hoàn thiện Quốc hội Việt Nam trong tiến trình xây dựng NNPQ XHCN

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 05 Chương

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu chung về Quốc hội

Tại Việt Nam, Quốc hội và thiết chế đại diện đã bắt đầu được nghiên cứu từ những năm đầu thế kỉ 20 gắn với nhu cầu đấu tranh giành độc lập dân tộc và hướng đến xây dựng nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên năm 1945 Tuy nhiên, trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu, thiết chế đại diện nói chung và Quốc hội nói riêng

đã được nghiên cứu từ nhiều thế kỉ, trước cả khi có sự xuất hiện của Quốc hội Anh, vào khoảng 800 năm trước [26, tr.112] Các nghiên cứu về Quốc hội và thiết chế đại diện trong lịch sử thế giới vô cùng đồ sộ, thường gắn liền với các nghiên cứu về nhà nước và NNPQ, diễn ra đặc biệt sôi động và mang tính hệ thống từ thế kỉ 17 đến thế

kỉ 20, với các nhà tư tưởng vĩ đại của cách mạng tư sản và cách mạng XHCN Với các thế giới quan triết học khác nhau, các học giả đều quan tâm lí giải nguồn gốc, bản chất và qui luật vận động của nhà nước, trong đó Quốc hội là bộ phận cấu thành

Hiện nay, khá nhiều tác phẩm của các triết gia và học giả nổi tiếng trên thế giới viết về NNPQ đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam Trong đó, tác phẩm tiêu biểu,

đề cập sâu sắc, toàn diện và trực tiếp đến Quốc hội và thiết chế đại diện phải kể đến

cuốn sách Chính thể đại diện của John Stuart Mill, được Nhà xuất bản (Nxb) Tri thức

dịch và xuất bản năm 2008 Đây là một trong các tác phẩm kinh điển của nền dân chủ phương Tây, được xem như khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị, xã hội ở Anh và Mĩ thế kỉ 19 [65, tr.8], cùng với các tác phẩm triết học khác mang

tính nền tảng về dân chủ, nhân quyền và tổ chức quyền lực nhà nước như: Bàn về tự do cũng của tác giả John Stuart Mill (2005), Nền Dân trị Mĩ của A.Tocquevill (2006),

Khảo luận thứ hai về chính quyền của John Locke (2007) đã được Nxb Tri thức xuất

bản hay tác phẩm Bàn về khế ước xã hội của Jean - Jacques Rousseau, do Nxb Lí luận

Chính trị xuất bản năm 2004 Một số tác phẩm của các học giả nổi tiếng được viết

trong thời kì hiện đại đã được giới thiệu tại Việt Nam như: NNPQ của Josef Thesing, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2002; Những đại chính thể ở châu Âu của Alex

N Dragnich, do Việt Nam Khảo dịch xã Sài gòn xuất bản năm 1964; Những vấn đề

căn bản của Chính trị học của Lippson L, do Việt Nam Khảo dịch xã Sài gòn xuất bản

Trang 12

năm 1972; Pinciples of The Rule of Law, do Bộ Ngoại giao Hoa Kì phát hành năm

2004 đã giới thiệu tư tưởng và hiện thực về NNPQ, chính thể trong NNPQ của các nước châu Âu Trong đó đề cao các nguyên tắc của NNPQ như dân chủ; tổ chức, hoạt động dựa trên cơ sở các quyền; chính phủ chịu ràng buộc và bị hạn chế bởi pháp luật; bảo đảm sự bất khả xâm phạm của cá nhân và nhóm người từ phía công quyền; đề cao tính tối cao của Hiến pháp; tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân quyền

Các học giả Liên xô (cũ) đã có nhiều công trình khoa học tiêu biểu về nhà

nước, Quốc hội nói chung và Quốc hội của một số nước như: Luật Nhà nước các

nước XHCN nước ngoài, Nxb Đại học Maxcova xuất bản năm 1976; Luật Nhà nước của các nước phát triển và đang phát triển, Nxb Pháp lí Maxcova xuất bản năm

1989; Những cơ quan của Nhà nước toàn Xô Viết, Nxb Khoa học Matxcova xuất bản năm 1979; Luật Nhà nước của các nước phát triển và các nước mới giải phóng, Nxb Quan hệ Quốc tế Maxcova xuất bản năm 1988; Nghị viện của các nước ngoài, Nxb Chính trị Maxcova xuất bản năm 1968; Nghị viện của các nước phát triển, Nxb Quan hệ Quốc tế Maxcova xuất bản năm 1990; Nghị viện Cộng hòa Áo, Nxb Maxcova xuất bản năm 1979; Các cơ quan đại diện nhân dân tối cao của các nước

XHCN, Nxb Pháp lí Maxcova xuất bản năm 1972; Các Nghị viện, Nxb Liên minh

Quốc hội và Nxb Tiến bộ Maxcova xuất bản năm 1967; Nghị viện Pháp, Nxb Khoa

học Maxcova xuất bản năm 1988 Những tác phẩm nổi tiếng nói trên đã tập trung nghiên cứu về lí thuyết nhà nước, mô hình tổ chức quyền lực của nhà nước Xô viết

và các nhà nước/Quốc hội của các nước XHCN; giới thiệu và phân tích mô hình tổ chức quyền lực một số nhà nước tư sản phát triển và các nhà nước mới giành độc lập Những tác phẩm này về cơ bản dựa trên thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy chính trị, pháp lí của các học giả và các nhà lập pháp Việt Nam, nhất là giai đoạn từ năm 1980 đến nay

Trên các diễn đàn luật học thế giới, hiện có rất nhiều công trình khoa học của các học giả tư sản nghiên cứu về Quốc hội và NNPQ, chẳng hạn (tiêu đề do tác giả

tạm dịch): Cơ quan lập pháp (Legislatures) của Norton P (chủ biên) (1992); Quốc

hội và Chính phủ ở Tây Âu (Parliaments and Governments in Western Europe) của

Norton P (chủ biên -1998); Chính phủ Anh, một tập văn tuyển về hoạch định chính

sách (British Government, a reader in policy making) của Simon James (1997);

Quá trình lập pháp - Một phương pháp tiếp cận so sánh (The Legislative Process -

Trang 13

A Comparative Approach) của David M Olson (1980); Quốc hội và làm Luật:

Nghiên cứu quá trình lập pháp (Congress and Law Making: Researching the

Legislative Process), của Goehlert Robert U Goehlert (1989); Thông tin và tổ chức lập pháp (Information and Legislative Organization) của Keith Krehbiel (1992);

Logic hành động của Quốc hội (The Logic of Congressional Action) của Micheal

Zander (2004); Thủ tục của Quốc hội và quá trình chính sách (Congressional

Procedures and the Policy Process) của Walter J Oleszek (2010)…Các công trình

nói trên đều dựa trên học thuyết về NNPQ của các học giả tư sản trong quá khứ và đặt trong bối cảnh xây dựng NNPQ hiện đại của các nhà nước Mĩ, Anh và Châu Âu Các nghiên cứu này đều đề cập đến Hiến pháp và triết lí tổ chức quyền lực nhà nước; đặt Quốc hội trong thực tiễn quan hệ với đảng phái chính trị và với các thiết chế quyền lực khác theo học thuyết phân quyền, nhiều trong số nghiên cứu này đặt nhà nước/Quốc hội trong xu thế toàn cầu hóa Bên cạnh đó, qui trình lập pháp, sự tương tác giữa các chủ thể nhà nước trong qui trình lập pháp, môi trường và các điều kiện cho hoạt động lập pháp và ban hành chính sách cũng được nhiều học giả phân tích sâu sắc, đồng thời với việc giới thiệu các mô hình, kinh nghiệm đa dạng

về tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở các nhà nước tư sản hiện đại

Trong thời kì Việt Nam Cộng hòa, các tác phẩm nổi tiếng về nhà nước phải

kể đến Luật Hiến pháp và Chính trị học của Nguyễn Văn Bông, do Nxb Sài Gòn xuất bản năm 1967; hai tác phẩm: Luật Hiến pháp và các định chế chính trị và Luật

Hiến pháp - Khuôn mẫu dân chủ của Lê Đình Chân, do Tủ sách Đại học Sài Gòn

phát hành năm 1975 Các tác phẩm này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng chính trị, pháp lí của các học giả tư sản thời kì khai sáng và các nhà lập Hiến Mĩ Trong

đó, đề cao Chủ nghĩa Hiến pháp và giá trị nhân bản của bản Hiến pháp với tư cách

là khuôn mẫu cho dân chủ, là bản văn cho sự phân chia và hạn chế quyền lực nhà nước và các nguyên tắc phổ quát về tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước

Tiếp nối các tư tưởng chính trị, pháp lí tiến bộ trong lịch sử, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu chung về NNPQ và Quốc hội trong NNPQ cũng đã được nhiều học giả công bố và được quảng bá rộng rãi nhất là từ khi có chủ trương nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1980 Nxb Chính trị Quốc gia đã xuất bản các cuốn

sách: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi của Ngân hàng thế giới, năm 1998; Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay của Hồ Văn Thông,

Trang 14

năm 1998; Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế giới của Vũ Hồng Anh, năm 2001; Thể chế chính trị thế giới đương đại do Dương Xuân Ngọc chủ biên, năm 2001; Xem xét dự án luật - Cẩm nang dành cho các nhà lập pháp, năm 2001 Năm 2000, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội đã phát hành Giáo trình Hiến

pháp các nước tư bản, của hai tác giả Nguyễn Đăng Dung và Bùi Xuân Đức; năm

2001, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành cuốn sách Luật Hiến pháp đối

chiếu của Nguyễn Đăng Dung Trong không khí đổi mới, với sự tiếp cận thông tin

đa chiều và khách quan hơn, những tác phẩm nói trên đã tiên phong giới thiệu tại Việt Nam về lịch sử tư tưởng và hiện thực của nhà nước và pháp luật tư sản, hệ thống chính trị và các mô hình chính thể trong các nhà nước tư sản hiện đại, tổ chức

và hoạt động của một số loại hình nghị viện tiêu biểu trên thế giới, so sánh các mô hình chính thể và xu hướng vận động, phát triển của chúng trong thế giới đương đại

Thiết thực phục vụ yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001, các học giả Việt Nam đã công bố khá

nhiều công trình có giá trị liên quan đến NNPQ và Quốc hội trong NNPQ như: Tổ

chức và hoạt động của Quốc hội một số nước của Nguyễn Sĩ Dũng, do Văn phòng

Quốc hội phát hành năm 2002; Tính nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các

cơ quan nhà nước, của Nguyễn Đăng Dung, Nxb Tư pháp xuất bản năm 2004; Hình thức của các nhà nước đương đại của Nguyễn Đăng Dung, Nxb Thế giới năm 2004;

Sự hạn chế quyền lực Nhà nước của Nguyễn Đăng Dung, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội năm 2005; Thiết chế Nghị viện - Những khái niệm cơ bản của Nguyễn Sĩ Dũng

và Lenni Montiel, Văn phòng Quốc hội phát hành năm 2005; Tư tưởng phân chia

quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước của Nguyễn

Thị Hồi, Nxb Tư pháp năm 2005; Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội của Nguyễn Sĩ Dũng, Nxb Tư pháp năm 2006; Quốc hội trong NNPQ, do Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007; Những góc nhìn lập

pháp của Bùi Ngọc Sơn, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2008; Nhà nước là những con

số cộng đơn giản của Nguyễn Đăng Dung, Nxb Lao động năm 2009; Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại - lí luận và thực tiễn của Thái Vĩnh Thắng, Nxb Tư

pháp năm 2010; Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước của Thái Vĩnh Thắng,

Nxb Tư pháp năm 2011; Thực hiện chủ trương nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp

1992 (2001), năm 2011, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã phát hành chuyên

Trang 15

khảo Hiến pháp: Những vấn đề lí luận và thực tiễn, do Phạm Hồng Thái, Nguyễn

Đăng Dung và Vũ Công Giao đồng chủ biên Tháng 4/2012, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành cuốn sách tập hợp các bài viết của các học giả nước

ngoài có tựa đề Về pháp quyền và Chủ nghĩa hợp Hiến, cũng do 03 học giả nói trên

pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (6/2003); Vai trò lập pháp của Chính phủ, Tạp

chí Tia Sáng (10/2007) Nguyễn Đức Lam: Phân tích chính sách trong qui trình lập

pháp ở các nước trên thế giới, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (12,13/2008) Hoàng

Thị Kim Quế: Nhận diện NNPQ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (5/2004) Lê Minh Tâm: Tư tưởng NNPQ và khái niệm NNPQ, Luật học (2/2002) Bùi Ngọc Sơn: Lập

pháp hướng tới pháp quyền, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (1/2005)

Có thể nhận định rằng khoảng thời gian hơn 10 năm qua - từ 2001 đến nay -

đã đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ, vượt bậc của các nghiên cứu về NNPQ và Quốc hội trong NNPQ của các học giả Việt Nam Các nghiên cứu, tranh luận về NNPQ xuất hiện với tần suất và mật độ ngày càng cao và khá cập nhật trên các diễn đàn luật học và chính trị học ở Việt Nam Do thông tin đầu vào đã phong phú hơn trước đó và do có nhiều cơ hội hơn để giao lưu và chia sẻ khoa học với các học giả quốc tế, với các góc độ tiếp cận khác nhau, các học giả Việt Nam đã giới thiệu và phân tích sâu sắc lí thuyết về NNPQ trong lịch sử nhân loại, các dấu hiệu khách quan của NNPQ nói chung và mô hình NNPQ một số nước tư sản đương đại, luận giải về chủ trương xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trong điều kiện một đảng cầm quyền Các tác phẩm nói trên đã mang đến cho độc giả Việt Nam cái nhìn phong phú và chân thực hơn về NNPQ và xã hội dân sự, học thuyết phân chia quyền lực và những hạt nhân hợp lí của nó, bản tính của Hiến pháp và các nguyên tắc phổ biến về

tổ chức quyền lực trong NNPQ, mối quan hệ giữa NNPQ với nền kinh tế thị trường trong tiến trình toàn cầu hóa, yêu cầu của pháp luật trong NNPQ, triết lí và qui trình lập pháp, ban hành chính sách trong NNPQ đồng thời gợi mở các giá trị tư tưởng chính trị, pháp lí của Việt Nam về NNPQ và về thiết chế đại diện

Trang 16

1.2 Các nghiên cứu về Quốc hội Mĩ

Các nghiên cứu về Quốc hội Mĩ tại Việt Nam: Do chiến tranh kéo dài hai

mươi năm và giai đoạn Mĩ thực hiện chính sách cấm vận đối với Việt Nam, việc nghiên cứu, tìm hiểu về chế độ Cộng hòa Tổng thống của Mĩ nói chung và Quốc hội

Mĩ nói riêng chưa được giới nghiên cứu luật học của Việt Nam quan tâm nhiều Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ thì việc nghiên cứu, tìm hiểu về nhà nước Mĩ trên các phương diện đã được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, việc nghiên cứu về Quốc hội Mĩ tại Việt Nam đến nay nhìn chung còn khá mới, hiện chưa có công trình khoa học nào trong nước nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện và đầy đủ về đề tài này

Từ năm 2000 đến nay, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và Văn phòng Quốc hội vẫn là những nơi nghiên cứu chính về chính thể và Quốc hội Mĩ

Thời gian qua, một số dịch giả Việt Nam đã dịch và biên tập một số cuốn sách và tài liệu của các tác giả nước ngoài viết về tư tưởng chính trị pháp lí, lịch sử, chính trị, xã hội và các thiết chế nhà nước Mĩ và đã được các Nxb phát hành, cụ

thể là: Cuộc chuẩn bị vĩ đại hay là câu chuyện soạn thảo và phê chuẩn Hiến pháp

Hợp chúng quốc Hoa Kì, của tác giả Card Van Doren do Cam Ninh dịch, Thư viện

Quốc gia (1948), ký hiệu VV265/79; Luận về Hiến pháp Hoa Kì của tác giả Ralph

H.Gabriel, do Nguyễn Hưng Vượng dịch, Nxb Như nguyện, Sài Gòn xuất bản năm

1959; Cách thức tổ chức và sự điều hành nền chính trị Hoa Kì của tác giả

Coyle.D.C do Việt Nam Khảo dịch xã, Sài Gòn xuất bản năm 1967 Nxb Chính trị

Quốc gia đã xuất bản các cuốn sách: Quốc hội và các thành viên, do Trần Xuân Danh và đồng sự dịch, năm 2002; Khái quát về chính quyền Mĩ, do Trần Thị Thái

Hà và đồng sự dịch, năm 1999; Lịch sử mới của nước Mĩ, do Diệu Hương và đồng

sự dịch, năm 2002; Lô gích chính trị Mĩ, do Nguyễn Thanh Thủy và đồng sự dịch, năm 2007; Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kì, năm 2002 Nxb Khoa học

xã hội đã xuất bản cuốn Quốc hội Mĩ hoạt động như thế nào, do Bùi Ngọc Anh và đồng sự dịch, năm 2003; Niên giám lịch sử Hoa Kì, do Lê Quang Long và đồng nghiệp dịch, năm 2004 Nxb Thế giới đã xuất bản cuốn Hiến pháp Mĩ được làm ra

như thế nào, do Nguyễn Cảnh Bình dịch, năm 2003 Nxb Văn hoá - Thông tin đã

xuất bản cuốn Lịch sử nước Mĩ, do Lê Minh Đức và đồng sự dịch, năm 1994; cuốn

Bốn hai đời Tổng thống Hoa Kì, do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam dịch, năm

1998 Nxb Công an nhân dân xuất bản cuốn Ai chỉ huy Quốc hội, do Anh Thư dịch,

Trang 17

năm 2001; Có thể nhận định rằng, tại Việt Nam, các tác phẩm nói trên là hết sức

có ý nghĩa đối với những người quan tâm nghiên cứu về thể chế chính trị Mĩ nói chung và Quốc hội Mĩ nói riêng Ngoài việc giới thiệu lịch sử và xã hội Mĩ, điều quan trọng nhất là lần đầu tiên, các tác phẩm trên đã giúp cho độc giả Việt Nam tiếp cận một cách có hệ thống và toàn diện về quá trình ra đời của Hiến pháp Mĩ 1787 với việc xác lập chính thể cộng hòa Tổng thống Mĩ Nhiều tác phẩm trong đó, chẳng

hạn như Luận về Hiến pháp Hoa Kì, Lô gic chính trị Mĩ, Hiến pháp Mĩ được làm ra

như thế nào đã phân tích và lí giải sâu sắc cơ sở lịch sử, xã hội và cơ sở tư tưởng

chính trị pháp lí của việc tổ chức quyền lực nhà nước Mĩ, nguyên tắc tổ chức quyền

lực và thực tiễn vận hành nền chính trị Mĩ trong hơn 200 năm qua Một số tác phẩm như Quốc hội Mĩ hoạt động như thế nào, Ai chỉ huy Quốc hội Mĩ đã giới thiệu bức

tranh toàn cảnh về địa vị pháp lí - chính trị, cơ cấu tổ chức, hoạt động của Quốc hội

Mĩ và mối quan hệ của thiết chế này với đảng phái chính trị và các thiết chế nhà nước khác, cung cấp thông tin mang tính gợi mở, hỗ trợ ban đầu quan trọng cho những tìm hiểu về Quốc hội Mĩ tại Việt Nam trong thời gian gần đây Ngoài ra, nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu trên diện rộng của các đối tượng độc giả Việt Nam

về nước Mĩ, thời gian qua, một số học giả và Nxb ở Việt Nam đã biên tập và giới thiệu một số cuốn sách mang tính tuyên truyền, phổ biến thường thức về chính thể, lịch sử, chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, xã hội, địa lí của Mĩ và đã được phát

hành, cụ thể là: Nxb Từ điển Bách khoa đã biên tập và xuất bản cuốn Đôi nét về

nước Mĩ - Chính quyền Mĩ hoạt động như thế nào, năm 2007; Nxb Thanh niên phối

hợp với Đại sứ quán Mĩ tại Việt Nam biên tập và xuất bản các cuốn sách: Khái quát

về lịch sử nước Mĩ, Khái quát về địa lí Mĩ, Chủ nghĩa quốc tế Mĩ, Chính phủ Hoa

Kì của chúng tôi (2007), Tóm lược lịch sử nước Mĩ, Tóm lược bầu cử ở Mĩ (2008), Khái quát về chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kì (2010) các ấn phẩm nói trên

không mang tính chất học thuật mà thuần túy giới thiệu về nhà nước Mĩ trên những nét cơ bản, khái quát nhất Việc phát hành các ấn phẩm loại này tại Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng, nằm trong chủ trương trao đổi, quảng bá về văn hóa Mĩ

do Đại sứ quán Mĩ tại Việt Nam tài trợ, hướng tới các đối tượng là học sinh, sinh viên, doanh nhân và những người mới tiếp cận tìm hiểu về nước Mĩ

Các học giả Việt Nam cũng công bố một số công trình nghiên cứu về lịch sử,

chính trị và chính quyền Mĩ như: Lịch sử nước Mĩ của Lê Minh Đức - Nguyễn

Trang 18

Nghị, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 1994; Hệ thống chính trị Mĩ do Vũ Đăng Hinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, năm 2001; Hoa Kì - Tiến trình văn hoá

chính trị, do Đỗ Lộc Diệp chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1999; Hai mươi năm tham quan nước Mĩ của tác giả Phi Bằng, Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh,

năm 2000 Năm 2011, Học viện Ngoại giao phối hợp với Nxb Giáo dục biên tập các

bài nghiên cứu của các tác giả Việt Nam về Hoa Kì và phát hành cuốn sách Các vấn

đề nghiên cứu về Hoa Kì, do Nguyễn Thái Yên Hương và Tạ Minh Tuấn đồng Chủ

biên Bên cạnh đó, còn có một số đề tài khoa học và luận văn thạc sĩ viết về chế độ

Tổng thống Hoa Kì như Hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mĩ của Nguyễn Thị Hiền, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1998; Chế độ Tổng thống Hợp

chúng quốc Hoa Kì - sự hình thành và phát triển của Nguyễn Tất Đạt, Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 2004; Quốc hội Hoa Kì của Nguyễn Quốc Văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 2005 Ngoài ra, còn có các bài viết liên quan ít nhiều đến Quốc hội Mĩ được đăng tải trên trên các tạp chí khoa học và website điện tử, tiêu

biểu là: Phạm Thị Việt Hà: Lobby trong nền chính trị Mĩ, Tạp chí Việt - Mĩ (7/2005) Nguyễn Quốc Văn: Sự hạn chế quyền lực của Quốc hội Hoa Kì, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (12/2005); Các nhóm lợi ích và vận động hành lang trong

nền chính trị Hoa Kì, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (01/2006); Chức năng đại diện của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (6/2006); Đảng phái chính trị và Quốc hội Mĩ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (12/2010); Tham chiếu một số nội dung về hoạt động giám sát của Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu

Lập pháp (8/2012) Các công trình nói trên đã thể hiện cố gắng ban đầu của giới nghiên cứu Việt Nam trong tiếp cận khám phá một đối tượng vẫn còn khá mới là chính thể cộng hòa Tổng thống Mĩ; chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, phân tích, bình luận, chuyển hóa thông tin cơ bản về chính thể cộng hòa Tổng thống Mĩ nói chung và Quốc hội Mĩ tới độc giả trong nước mà hầu như chưa đề cập đến khả năng nghiên cứu ứng dụng kinh nghiệm trong tổ chức quyền lực nhà nước Mĩ vào Việt Nam Có thể nhận định rằng các nghiên cứu của học giả Việt Nam về chính thể cộng hòa Tổng thống Mĩ nói chung và Quốc hội Mĩ nói riêng dưới giác độ khoa học pháp lí hiện chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng độc giả trong bối cảnh hai nước đã bình thường hóa quan hệ và hướng đến đối tác chiến lược

Trang 19

Các nghiên cứu về Quốc hội Mĩ ở nước ngoài: Hai tác giả nổi tiếng là Roger

H Davison và Walter J.Oleszek của cuốn sách Quốc hội và các thành viên thịnh

hành ở Mĩ từ năm 2000 đến nay và hiện khá phổ biến ở Việt Nam đã viết: “Tại Mĩ, những người viết về Quốc hội Mĩ có thể dựa vào nhiều nguồn, một sự phong phú gây bối rối Các nghiên cứu về Quốc hội tạo nên một khối lượng văn chương chính trị cực lớn…Các học giả uyên thâm và nhà văn hài hước đã phát hiện thấy rằng Quốc hội là một nguồn nguyên liệu không thể cạn kiệt” [108, tr.14] Sự phong phú,

đồ sộ và đa chiều trong các tác phẩm nghiên cứu, các sách, báo và thông tin đại chúng về Quốc hội Mĩ đã tạo nên sự hấp dẫn đối với tất cả những người quan tâm đến thiết chế này, tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với những khó khăn và nan giải khi lựa chọn thông tin và đánh giá chính xác, đầy đủ, khách quan Với quan niệm việc lựa chọn nguồn và phạm vi thông tin tư liệu cần phải theo chủ đích nghiên cứu, tác giả dành trọng tâm lựa chọn các nguồn tài liệu thống kê hoặc nghiên cứu pháp lí

có thể coi là chính thống, được thừa nhận phổ biến, ổn định, mang tính chất sách giáo khoa, chứa đựng những thông tin đặc trưng, mang tính qui luật hay triết lí sâu

xa về Quốc hội Mĩ Các tài liệu này có thể tiếp nhận từ nhiều nguồn, chẳng hạn từ các trang thông tin điện tử liên quan đến Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Tối cao và các Nxb, trường đại học, viện nghiên cứu của Mĩ

Ngoài một số tác phẩm nổi tiếng về Quốc hội Mĩ đã được dịch ra tiếng Việt

đã nêu ở phần trên mà một vài tác phẩm trong số đó được tác giả coi là tài liệu quan

trọng nhất đối với luận án này, chẳng hạn như: Logic Chính trị Mĩ, Quốc hội và các

thành viên Sau đây là một số ấn phẩm có uy tín đang được phổ biến rộng rãi trên

các diễn đàn luật học thế giới với các tiêu đề được tác giả tạm dịch như sau: Sự biến

đổi của Thượng viện Mĩ (The Transformation of the U.S Senate) của Barbara

Sinclair (1990); Lập pháp không chính thống: Qui trình lập pháp mới trong Quốc

hội Mĩ (Unorthodox Lawmaking: New Legislative Processes in the U.S Congress)

của Barbara Sinclair (2011); Thượng viện (Senate), 4 tập của Byrd, Robert C 1993); Quốc hội: Sự kết nối cử tri đoàn (Congress: The Electoral Connection) của David R Mayhew (2004); Luật Hiến pháp và chính trị: Quyền dân sự và tự do dân

(1988-sự (Constitutional Law and Politics: Civil Rights and Civil Liberties) của David M

O'Brien (2011); Tòa án tối cao (The Supreme Court) của Lawrence Baum (2009);

Tự do và tòa án: Các quyền dân sự và quyền tự do tại Mĩ (Freedom and the Court:

Trang 20

Civil Rights and Liberties in the United States) của Henry Julian Abraham, Barbara

A Perry (2003); Quốc hội bị xem xét lại (Congress Reconsidered) của Lawrence C Dodd, Bruce Oppenheimer (2008); Chính trị của nhóm lợi ích (Interest group

Politics) của A.Cigler and B.Loomis (2002); Chính phủ chia tách: Kiểm soát đảng phái, lập pháp và điều tra (Divided We Govern: Party Control, Lawmaking, and Investigations) của David R Mayhew (2005)…

Các tác phẩm nói trên đề cập đến Hiến pháp và triết lí tổ chức quyền lực nhà nước Mĩ; các đảng phái chính trị và nhóm lợi ích trong nền chính trị Mĩ; triết lí lập pháp và qui trình lập pháp của Quốc hội Mĩ; những thay đổi của Quốc hội Mĩ theo tiến trình lịch sử; quan hệ của Quốc hội với Nhà trắng và Tòa án tối cao Mĩ; nhân quyền và quyền chính trị của công dân; bầu cử Quốc hội Mĩ Trừ những số liệu thống kê trong nội bộ Quốc hội, các tác tác phẩm nói trên đều đề cập đến Quốc hội với tư cách một nhánh quyền lực luôn tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ với các nhánh quyền lực khác Một số tác phẩm viết về sự độc lập của Tòa án tối cao Mĩ trong quan hệ với các thiết chế quyền lực, hay về vai trò của hành pháp trong quan

hệ về mặt lập pháp với Quốc hội Nghiên cứu các tác phẩm nói trên trong tổng thể

lô gic, chúng ta có thể kế thừa khá toàn diện và sâu sắc các tri thức về Quốc hội Mĩ trên các phương diện chính trị pháp lí, tổ chức và thực tiễn vận hành của nó

1.3 Các nghiên cứu về Quốc hội Việt Nam

Trong những năm gần đây, trên diễn đàn luật học đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Quốc hội và tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam Những công trình đó ít nhiều đã giới thiệu và phân tích lịch sử, địa vị pháp lí, thực trạng tổ chức, hoạt động của Quốc hội và các đòi hỏi đối với Quốc hội trong NNPQ XHCN Tiêu

biểu là: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Văn phòng Quốc hội, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1994; Quốc dân Đại hội Tân Trào, Văn phòng Quốc hội phát hành năm 1995; Hồi ký đại biểu Quốc hội Khóa I, Văn phòng Quốc hội, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2000; Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1960 - 1976, Văn phòng Quốc hội, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2003; Hoàn thiện qui trình lập pháp ở Việt Nam

hiện nay, luận án tiến sĩ luật học của Hoàng Văn Tú, Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, năm 2004; tập hợp những bài viết có liên quan đến Quốc hội dưới

tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam - Những vấn đề lí luận và thực

tiễn, của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Nxb Tư pháp phát hành năm 2005, do Trần

Trang 21

Ngọc Đường chủ biên; Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, kỷ yếu hội thảo của Văn phòng Quốc hội, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006; Quốc hội

trong điều kiện của việc xây dựng NNPQ, đề tài khoa học của Đại học Quốc gia Hà

Nội, năm 2006; Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay của Bùi Xuân Đức, Nxb Tư pháp năm 2007; Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp

của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, luận án

tiến sĩ luật học của Trần Hồng Nguyên, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007; Kiểm soát quyền lực nhà nước - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn ở Việt

Nam hiện nay của Trịnh Thị Xuyến, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2008; Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong NNPQ XHCN Việt Nam của Trần Ngọc Đường và Ngô Đức Mạnh, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2008;

Cơ cấu thành phần đại biểu Quốc hội qua các thời kì, Văn phòng Quốc hội

(10/2008); Phát huy những giá trị lịch sử, chính trị, pháp lí của Hiến pháp 1946

trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Văn phòng Quốc hội, Nxb Chính trị Quốc gia Hà

Nội, năm 2009; Bộ pháp điển (thí điểm) về tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt

Nam, do Văn phòng Quốc hội phối hợp với Ủy ban châu Âu thực hiện năm 2009; NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân - lí luận và thực tiễn do Nguyễn

Duy Quý và Nguyễn Tất Viễn đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm

2010; Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay do Lê Minh Quân

chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2010; tập hợp những bài viết có liên

quan đến lập Hiến dưới tiêu đề Bàn về lập Hiến của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

và Nxb Lao động, năm 2010, do Phạm Văn Hùng chủ biên; Vai trò của Chính phủ

trong qui trình lập pháp ở Việt Nam - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, luận án

tiến sĩ luật học của Trần Quốc Bình, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011;

Ngoài các cuốn sách và tài liệu nói trên, còn có khá nhiều bài viết của các tác giả đã được đăng trên các tạp chí khoa học và các website điện tử về luật học, tiêu

biểu là: Nguyễn Đăng Dung: Sửa đổi Hiến pháp - một số nguyên tắc, Tạp chí Cộng sản (18/2001); Tăng cường tính cẩn trọng trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (3/2004) Nguyễn Sĩ Dũng: Chuyện làm luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (3/2003); Điều quan trọng là pháp quyền, không phải thần

linh, Tạp chí Tia Sáng (14/2003); Phân tích chính sách - công đoạn quan trọng của qui trình lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (4/2000) Nguyễn Đức Lam:

Trang 22

Những cái giàu của một nền lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (1/2005) Phan

Trung Lý: Năng lực lập pháp và yêu cầu khách quan của việc tăng cường năng lực

lập pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (2/2006)…

Các công trình, đề tài và bài viết khoa học nói trên đã đề cập toàn diện đến các vấn đề lớn như: Lịch sử tổ chức quyền lực Nhà nước/Quốc hội Việt Nam qua các bản Hiến pháp; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước/Quốc hội; nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam; vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị; đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam và xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam; địa vị pháp

lí, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN; vấn đề kiểm soát, hạn chế quyền lực nhà nước Việt Nam; qui trình lập pháp và vai trò của Quốc hội, Chính phủ trong qui trình lập pháp; sửa đổi Hiến pháp đáp ứng yêu cầu của xây dựng NNPQ Có thể khẳng định rằng trên các diễn đàn luật học ở Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu về tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam nói chung và Quốc hội Việt Nam nói riêng ngày càng phong phú, với mật độ khá dày và đặc biệt sôi động qua các hiến kế sửa đổi Hiến pháp

1992, góp phần cung cấp cho độc giả những thông tin đa chiều về hệ thống chính trị Việt Nam, đồng thời gợi mở các tranh luận khoa học và kiến nghị thực chất hơn Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện Quốc hội Việt Nam theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm về Quốc hội của các nước vẫn còn khá mới Nhiệm vụ quan trọng này đang đặt ra yêu cầu bức thiết đối với các nghiên cứu tiếp theo về Quốc hội và tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Một là: Tư tưởng về thiết chế đại diện được hình thành từ rất sớm, gắn liền

với tư tưởng về sự hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật trong lịch sử nhân loại Tuy nhiên, đến thời kì cách mạng tư sản, các nghiên cứu mang tính hệ thống về Quốc hội và thiết chế đại diện mới thực sự sôi động và tập trung Những qui luật về tổ chức quyền lực nhà nước và Quốc hội được phát hiện thời kì này có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp tới tiến trình lịch sử sau đó và còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay đối với những quốc gia đang hướng tới mục tiêu xây dựng NNPQ như Mĩ và Việt Nam

Trang 23

Hai là: Tại Mĩ, việc nghiên cứu về Quốc hội đã trải qua lịch sử lâu dài với

hàm lượng và giá trị khoa học vô cùng phong phú, đồ sộ, gắn liền với các tranh luận khoa học ngay từ buổi đầu lập quốc dẫn đến sự ra đời của bản Hiến pháp Mĩ 1787

và thành lập nhà nước cộng hòa Tổng thống đầu tiên trên thế giới Quá trình nghiên cứu về Quốc hội Mĩ được tiến hành liên tục và tiếp nối suốt hơn 200 qua và đến nay vẫn không ngừng phát triển, gắn với nhu cầu hoàn thiện hệ thống chính trị và nền dân chủ Mĩ Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chính thể cộng hòa Tổng thống Mĩ chỉ có điều kiện tiến hành sau chiến tranh, nhất là từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1995, tuy nhiên, đến nay, ngoài một số tác phẩm của các học giả nước ngoài viết về Quốc hội Mĩ đã được dịch ra tiếng Việt, các học giả Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung, chuyên sâu về Quốc hội Mĩ

Ba là: Tại Việt Nam, các nghiên cứu về Quốc hội thường gắn liền với các

nghiên cứu về tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam với vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam qua mỗi giai đoạn lịch sử, chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng nền kinh

tế tập trung và hoàn thiện nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân trước đây và nhà nước cộng hòa XHCN hiện nay Tuy nhiên, do điều kiện kéo dài của chiến tranh và nền kinh tế tập trung, trong nhiều thập kỉ, việc nghiên cứu về Nhà nước/Quốc hội tại Việt Nam chỉ được tiến hành theo khuôn mẫu và chưa được quan tâm đúng mức Hoạt động nghiên cứu chỉ thực sự sôi động và đổi mới mạnh mẽ trong hơn 10 năm qua, gắn với chủ trương xây dựng NNPQ XHCN và nhu cầu sửa đổi Hiến pháp 1992

Bốn là: Đến nay, các nghiên cứu của học giả Việt Nam về Quốc hội Mĩ vẫn

chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng độc giả trong bối cảnh hai nước đã bình thường hóa quan hệ và hướng tới đối tác chiến lược Tại Việt Nam và Mĩ hiện chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu so sánh toàn diện về hai Quốc hội và rút ra các vấn đề có thể tham khảo nhằm hoàn thiện Quốc hội Việt Nam Dựa trên các tư tưởng, học thuyết về thiết chế đại diện trong lịch sử nhân loại,

kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu về Quốc hội và tổ chức quyền lực của hai nhà nước Mĩ và Việt Nam, góp phần đáp ứng nhu cầu hoàn thiện Quốc hội Việt Nam theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN, tác giả luận án đã chọn “Quốc hội Mĩ

và Quốc hội Việt Nam - những vấn đề tham chiếu” làm đề tài nghiên cứu

Trang 24

Chương 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SO SÁNH

QUỐC HỘI MĨ VÀ QUỐC HỘI VIỆT NAM

2.1 Quốc hội là định chế tất yếu trong một nhà nước dân chủ

2.1.1 Những đặc trưng cơ bản của Quốc hội

Việc thành lập bộ máy nhà nước từ xa xưa thường theo nguyên tắc thế tập, khi

đó người ta cho rằng quyền lực nhà nước xuất phát từ hư vô, thiên định Đến cách mạng tư sản, vào khoảng thế kỷ 15, 16, nhằm hạn chế quyền lực vô hạn của nhà vua, việc thiết lập các cơ quan nhà nước dần bị ràng buộc bởi Hiến pháp, theo đó, nguyên tắc truyền ngôi không còn đứng vững Việc thành lập bộ máy và người đứng đầu bộ máy nhà nước phải tuân theo nguyên tắc bầu cử, từ đó sinh ra một chính thể mới dân chủ, đó là chính thể cộng hòa Trong chính thể này, nhà nước tổ chức và quản lí xã hội theo những mệnh lệnh, chỉ thị được minh định trước Những qui định này không những thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền mà còn thể hiện sự đồng thuận của nhân dân thông qua hoạt động lập pháp Nếu hoạt động lập pháp thuở ban đầu chỉ là của riêng nhà vua trong chế độ quân chủ chuyên chế, thì trong chế độ dân chủ, hoạt động này được giao hẳn cho một cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra được gọi chung là Nghị viện hoặc Quốc hội Từ nửa đầu thế kỉ 18, khi tư tưởng về chế độ đại nghị được hình thành thì Nghị viện trở thành cơ quan đại diện với chức năng lập pháp như ngày nay Những nhà tư tưởng khai sinh ra chế độ đại nghị là J.Locke, J.Rousseau, Montesquieu [1, tr.8] Theo thời gian, các chế độ xã hội có Nghị viện đã trở thành chế độ đại nghị [146, tr.57,58]

Tổ chức và hoạt động của Quốc hội của các quốc gia trên thế giới rất đa dạng tùy thuộc vào lịch sử, văn hóa, truyền thống của mỗi nước và từ chức năng, nhiệm vụ

mà Quốc hội cần phải đảm nhiệm Tuy nhiên, mọi Quốc hội dù ở bất kì chế độ đại nghị nào cũng có những đặc trưng mang tính qui luật như sau:

(i) Quốc hội có nguồn gốc từ nhân dân, được nhân dân ủy thác và có tư cách đại diện chính thức cho toàn thể nhân dân trong mỗi quốc gia Quốc hội ở bất cứ

quốc gia nào cũng đều do nhân dân bầu ra Phương thức để nhân dân ủy thác quyền lực cho người đại diện chính là việc nhân dân thông qua bầu cử để thành lập ra Quốc hội và đây là kênh quan trọng nhất để nhân dân thực hiện quyền lực của mình Do đó

Trang 25

sự hiện diện của Quốc hội nói lên nguồn gốc quyền lực nhà nước là từ nhân dân và phủ nhận các quan điểm thần quyền về nguồn gốc quyền lực nhà nước

(ii) Sự hiện diện của Quốc hội khẳng định chủ quyền thuộc về nhân dân và cơ

sở hợp pháp của chính quyền Một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của

các chính thể cộng hòa là chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân Do đó, việc tiếp nhận quyền lực từ nhân dân sẽ khẳng định tính hợp pháp của chính quyền J.Locke cho rằng: Chính quyền được tạo dựng trên cơ sở sự bằng lòng của dân chúng, do đó, nếu hành động của chính quyền không được sự đồng lòng của dân chúng là không có giá trị hay không được ủy quyền Không cơ quan nào khác hơn Quốc hội đã phúc đáp một cách đầy đủ nhất nhu cầu nói trên của NNPQ về sự bằng lòng của dân chúng đối với chính quyền và do đó tạo cơ sở cho tính hợp pháp của chính quyền [63] Nhân dân thành lập ra Quốc hội và đến lượt mình, Quốc hội có tư cách thành lập và giám sát tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, bảo đảm các cơ quan này tuân thủ ý nguyện của nhân dân Do đó, sự tồn tại của Quốc hội khẳng định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống chính quyền

(iii) Quốc hội luôn đảm nhiệm một trong ba chức năng cơ bản nhất của nhà nước là lập pháp Hoạt động lập pháp nhằm tổ chức và quản lí nhà nước và xã hội,

bảo đảm cho chính quyền được điều chỉnh, hạn chế bởi pháp luật và bảo đảm các quyền của công dân Quyền lập pháp được nhân dân ủy thác cho Quốc hội, vì trong các ngành quyền lực của một nhà nước dân chủ, Quốc hội là ngành quyền lực “gần dân” nhất, có cơ sở xã hội rộng rãi nhất, nó gắn với dân chủ nhiều hơn các quyền còn lại Quyền lập pháp thuở ban đầu được gọi là quyền làm luật, chủ yếu là quyền ban hành các qui định pháp luật, theo thời gian, tất cả những hành vi như thành lập và giám sát chính phủ - hành pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của nhà nước đều được hiểu trong phạm vi của quyền lập pháp - là quyền của cơ quan được hành động theo sự ủy thác của nhân dân

(iv) Trong các cơ quan nhà nước, Quốc hội là cơ quan dân chủ nhất và là cơ quan duy nhất luôn có thành phần không thống nhất Là thiết chế không thể thiếu

được trong bất cứ chế độ dân chủ nào, so với các cơ quan nhà nước khác, Quốc hội

có nhiều đặc thù Nó là cơ quan duy nhất đại diện cho tất cả các tầng lớp dân cư trong mỗi quốc gia được thành lập bằng phương pháp bầu cử; các đại biểu Quốc hội có tư cách và địa vị pháp lí ngang nhau và đại diện các quan điểm và lợi ích khác nhau,

Trang 26

thậm chí đối lập Do đó, tổ chức và hoạt động của Quốc hội đã trở thành tiêu chí của một nhà nước dân chủ

(v) Quốc hội là một định chế có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc xác

lập và thực hiện các nguyên tắc của NNPQ Trong lịch sử nhân loại, lí thuyết về cơ

quan đại diện cũng luôn gắn liền với lí thuyết về NNPQ Các yếu tố cấu thành NNPQ tuy được các học giả diễn đạt khác nhau nhưng những đặc điểm chung nhất được nhiều người thừa nhận, đó là một nhà nước hợp pháp, có Hiến pháp, pháp luật vì con người; việc tổ chức quyền lực nhà nước phải dựa trên cơ sở các quyền và theo nguyên tắc phân quyền…Tất cả các đặc trưng phổ biến này của NNPQ chỉ được xác lập và thực hiện khi có một cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, được nhân dân

ủy thác quyền lực, đó là Quốc hội Bởi Quốc hội sinh ra cùng với sự xuất hiện của Hiến pháp và tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân nên nó tồn tại như một định chế

tất yếu có vai trò xác lập và thực hiện các nguyên tắc của NNPQ Để thực hiện tốt sứ

mệnh này, yêu cầu khách quan đối với Quốc hội trong NNPQ là: Ban hành được một hệ thống pháp luật vì công lí, vì con người và sự thịnh vượng chung của quốc gia; bảo đảm cho chính quyền được điều chỉnh và hạn chế bởi pháp luật; bảo đảm quyền lợi của mọi công dân bằng hoạt động lập pháp; bảo đảm cơ sở cho sự thượng tôn pháp luật; bảo đảm cho các cơ quan nhà nước luôn hoạt động trong khuôn khổ pháp luật bằng hoạt động giám sát; Quốc hội phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và

bị hạn chế quyền lực bằng hoạt động xét xử của tư pháp [26]

2.1.2 Lịch sử ra đời và ý nghĩa tồn tại của Quốc hội

Những đặc thù nói trên của Quốc hội được tạo nên từ lịch sử hình thành Quốc hội Với tính cách là một thiết chế quyền lực nhà nước, Nghị viện đã xuất hiện từ lâu Mặc dù nước Anh được coi là chiếc nôi của Nghị viện nhưng một hình thức tương tự

đã xuất hiện từ hàng nghìn năm trước ở Ai Cập, Hy Lạp, La Mã cổ đại Ở những nước này, do nhu cầu tổ chức cuộc sống cộng đồng, các đại hội nhân dân được thành lập, bao gồm toàn thể nhân dân hoặc những người được bầu vào hội đồng trưởng lão, hội đồng thành phố để bàn bạc những vấn đề cấp bách của quốc gia hoặc lãnh thổ Phạm vi vấn đề thảo luận ngày càng mở rộng và các đại hội được tiến hành thường xuyên hơn, đây có thể coi là mầm mống của Nghị viện [1, tr.7,8]

Vào khoảng thế kỷ thứ 13 - 14, do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của ngân sách hoàng gia, nhà vua Anh thường triệu tập những cuộc họp bao gồm các lãnh chúa

Trang 27

đại diện các lãnh địa trực thuộc nhằm mục đích thăm dò và yêu cầu thực hiện tốt việc thu thuế tăng hơn so với trước đó Khoản chi tiêu ngày càng tăng của ngân sách hoàng gia và các cuộc họp như trên diễn ra nhiều hơn, từ bất thường thành thường kì, rồi trở thành tục lệ Bên cạnh việc đồng ý thu tăng thuế cho ngân sách hoàng gia, các chủ đất đã khôn khéo yêu cầu hoàng đế chỉ được cai trị những lãnh địa mà họ là người đại diện theo một qui định nhất định Chính những cuộc họp đại diện này đã dần hình thành Nghị viện Anh - một Nghị viện cổ điển nhất thế giới Theo đó, những yêu cầu tăng thu thuế dần trở thành chức năng tài chính của Nghị viện - ngày nay gọi

là chức năng ngân sách; và những qui định phản ánh yêu cầu của các đại diện lãnh địa dần trở thành những văn bản luật như hiện nay Như vậy, buổi ban đầu, các vị quốc vương nhóm họp các đẳng cấp của vương quốc không phải để tạo ra một chế độ đại nghị mà để bổ sung vào kho báu của hoàng gia Tuy nhiên, trải qua quá trình đấu tranh lâu dài, các nhóm đẳng cấp được nhà vua triệu tập đã phát triển mạnh mẽ và nổi lên để cạnh tranh và cuối cùng lấn át cả quyền lực của hoàng gia Các nhóm này - sau

đó được gọi là các Nghị viện - đã phát triển qua nhiều thế kỉ để trở thành các hội đồng đại nghị như ngày nay với bốn giai đoạn phát triển rõ rệt: “Mới đầu Nghị viện, đại diện cho các đẳng cấp khác nhau, đã nhóm họp để biểu quyết thuế khóa nộp cho ngân khố hoàng gia, mà hầu như không có một sự bàn luận nào cả Tiếp đó, những cơ quan biểu quyết thuế khóa biến thành các cơ quan lập pháp, trình ra nhà vua những khiếu nại về tình trạng quan liêu, cửa quyền Thứ ba, trải qua một quá trình tiến hóa đến cực điểm là cuộc cách mạng tư sản thế kỷ 17 và 18, các Nghị viện đã giành lấy quyền lập pháp và biểu quyết thuế từ tay nhà vua, biến bản thân chúng thành các cơ quan có chủ quyền thực sự Cuối cùng, vào thế kỉ thứ 19, sự đại diện trong Nghị viện

đã vượt ra ngoài phạm vi các nhóm đặc lợi lâu đời để bao gồm toàn thể quần chúng

nhân dân, hầu như tất cả mọi người nam cũng như nữ” [26, tr.105] Để Nghị viện có

vị trí như hiện nay, nhân loại phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử “Thuở mới ra đời, người ta không thể quan niệm Quốc hội có thể có biện pháp để kiểm soát sự cai trị của nhà vua Tuy nhiên, theo từng giai đoạn, sự bổ nhiệm các vị đại diện cho giai cấp phong kiến, được biến thành Quốc hội có trách nhiệm kiểm soát nhà vua, và sau đó, Quốc hội dần đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân” [2, tr.24]

Đến nay, với các tên gọi rất khác nhau, Nghị viện được tổ chức ở hầu hết các nước trên thế giới Theo thống kê, trong gần 200 nước trên thế giới thì có hơn 150

Trang 28

nước có Nghị viện với chức năng cơ bản là lập pháp tương tự với chức năng truyền thống của Nghị viện Anh khi mới ra đời [26, tr.102] Theo lịch sử, sự phát triển của Nghị viện đã trải qua 4 giai đoạn, tương ứng với các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Đó cũng là 4 mô hình tiến hóa thể hiện phần nào qui luật phát triển của Quốc hội dưới giác độ thời gian: (i) Thời kì của chế độ phong kiến, Quốc hội mới hình thành chỉ là cơ quan giúp việc cho nhà vua (ii) Thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản - tư bản tự do cạnh tranh - là thời kì hoàng kim của Nghị viện Nghị viện có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác (iii) Thời kì chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước thành chủ nghĩa đế quốc, chế độ đại nghị bị khủng hoảng do sự lấn quyền của hành pháp (iv) Hiện nay, mặc dù Nghị viện không còn vị trí tối cao như thời kì hoàng kim, nhưng nó luôn có một chỗ đứng xứng đáng không thể thiếu trong

bộ máy các nhà nước phát triển và vẫn tiếp tục sứ mệnh khách quan vốn có của nó

2.1.3 Sự biến thiên chức năng của Quốc hội trong lịch sử

Trong thời kì phong kiến: Khi Quốc hội mới hình thành, nó chỉ là cơ quan giúp

việc nhà vua mà hầu như không có sự bàn luận Sự phát triển quyền của Quốc hội có thể tính từ khi Quốc hội Anh có quyền tu thảo các dự án nhằm tăng hay giảm các khoản chi tiêu của nhà vua Hậu quả là sự ủng hộ của Quốc hội là rất cần thiết đối với nhà Vua Tiếp đó, với quyền hành thực tế đã bị giảm sút, nhà vua chỉ có thể ban hành đạo luật khi có sự chấp thuận của Quốc hội Từ đó, Quốc hội dần nắm giữ những vấn

đề quan trọng của đất nước, biểu quyết luật và kiểm soát nhà vua [2, tr.25]

Trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản - tư bản tự do cạnh tranh: Đây là thời

kì hoàng kim của Nghị viện, Nghị viện có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác Khi đó, việc tăng cường quyền hạn của Nghị viện đã trở thành đòi hỏi dân chủ của mọi người dân nước Anh, đồng thời với yêu cầu hạn chế quyền lực của nhà nước phong kiến đã hết thời Lúc này câu nói: Nghị viện có quyền được làm tất cả, trừ những việc trái với tự nhiên đã trở thành câu thành ngữ của người Anh Ngoài việc những chức vụ trong chính phủ được chọn trong đảng chiếm đa số tại Hạ viện, Hạ viện có quyền ấn định chính sách của nhà vua Đặc trưng quan trọng nhất của Nghị viện thời kì này là Nghị viện có quyền thành lập chính phủ - hành pháp và chính phủ

- hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Đây là sự phát triển mạnh mẽ quyền năng của Quốc hội trong tiến trình dân chủ nhằm hạn chế quyền lực của chính

Trang 29

phủ hành pháp Bởi trước đó, chính phủ - được hiểu bao gồm các cơ quan giúp việc

nhà vua - là hoàn toàn thuộc về nhà vua và chỉ phải chịu trách nhiệm trước nhà vua

Trong thời kì của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước thành chủ nghĩa đế quốc và hiện nay: Chế độ đại nghị bị khủng hoảng do Quốc hội bị bộ máy hành pháp

thao túng và trở nên hình thức, bỏ rơi sáng quyền lập pháp, chỉ thông qua dự luật do hành pháp chuẩn bị, giám sát hành pháp, biểu quyết luật và thuế theo chuẩn bị của

hành pháp [26, tr.45] Tuy nhiên, ở giác độ tiếp cận khác, hiện tượng suy giảm chức

năng làm luật của Quốc hội là do sự chi phối của một qui luật khách quan: Lập pháp cần phải đáp ứng nhu cầu của hành pháp nên phải xuất phát từ chính hành pháp, bản

thân Quốc hội không có nhu cầu về lập pháp Sự suy giảm chức năng làm luật của

Quốc hội có nguyên nhân từ sự hình thành của một chế định hết sức quan trọng: Chính phủ hành pháp phải chịu trách nhiệm cai trị thường xuyên đất nước mà không phải là Nghị viện Đây là vấn đề các nhà tư tưởng của học thuyết phân quyền chưa đề cập và phải đến những năm đầu thế kỷ 20 vấn đề này mới được thống nhất Theo đó, việc Nghị viện chấp nhận chính sách của chính phủ cũng đồng thời hình

thành dần trên cùng cấp độ và cùng lúc với việc thành lập ra chính phủ Năm 1946,

ông Hervert Morrison, cựu Phó Thủ tướng Anh đã tuyên bố: “Các ông (Nghị viện)

đã chấp nhận chúng tôi, thì cũng phải chấp nhận luôn cả chính sách của chúng tôi Các ông không thể chỉ chọn lựa chính sách của chúng tôi mà lại không có chúng tôi, không chỉ lấy một cái này, mà lại bỏ cả cái kia kèm theo được Một là nhận, thì

nhận cả luôn, hai là bỏ, thì bỏ cả luôn” Ông cũng khẳng định: “Ai chịu trách nhiệm

về việc cai trị thường xuyên, Chính phủ hay là Quốc hội? Tôi xin nói với các ngài rằng, Chính phủ phải chịu trách nhiệm Công việc của Quốc hội là kiểm soát Chính phủ, hất bỏ nó đi nếu muốn, cứ việc tấn công nó, phê bình nó Vì Quốc hội không phải là cơ quan được tổ chức ra để coi việc cai trị thường xuyên Nếu có, thì không

ở xứ này” [dẫn lại: 26, tr.93] Chế định quan trọng này đã được Hiến pháp nhiều

nước ghi nhận và trở thành nguyên tắc quan trọng bậc nhất của chính thể đại nghị

Không chỉ ở Anh quốc, lịch sử phát triển của các Quốc hội trên thế giới rất đa

dạng, thăng trầm, thậm chí có nhiều giai đoạn Quốc hội bị lấn át, triệt tiêu, nhưng cuối cùng, nó vẫn khẳng định chỗ đứng vững chắc trong bộ máy các nhà nước với chế độ chính trị khác nhau, đặc biệt, nó đã tìm được vị trí phù hợp với cuộc sống sôi động của thế giới tư bản Nghị viện tư sản ngày nay tuy đã qua thời kì “vàng son”

Trang 30

nhưng nó luôn nhận rõ chức năng đại diện, bảo đảm các quyền lợi khác nhau của mọi tầng lớp xã hội trong quốc gia và chức năng giám sát các cơ quan nhà nước, mà trong

bộ máy nhà nước hiện đại không một cơ quan nào có thể thực hiện được [176,

tr.156] Bên cạnh đó, Quốc hội luôn giữ vững các chức năng vốn có là lập pháp và

ngân sách mà không cơ quan nhà nước nào có thể thay thế Đánh giá sự chuyển biến chức năng của Quốc hội không chỉ dừng lại ở việc làm luật, tác giả Cristina Lestina - Bandeira và Phillip Norton viết: “Có một sự nhất trí chung là trong nhiều trường hợp, hành pháp chi phối lập pháp, vấn đề là mức độ chi phối Điều này dẫn tới sự phát triển trong thế kỉ qua một cái nhìn chi phối trong các nghiên cứu về Nghị viện, cho rằng các Nghị viện đang suy yếu Tuy nhiên, các nhận định này chủ yếu dựa vào việc đánh giá chỉ một trong những chức năng của Quốc hội: Việc thực hiện vai trò của nó trong quá trình lập pháp, trong khi bỏ qua các chức năng then chốt khác như chức năng giám sát Từ cuối thể kỷ 20, có một sự thừa nhận chung là các Nghị viện làm nhiều hơn là chỉ làm luật rất nhiều” [40, tr.12]

2.1.4 Đặc điểm và quan hệ của Quốc hội trong các chính thể

(i) Trong chính thể cộng hòa đại nghị, tiêu biểu là Anh quốc Trong chính thể

cộng hòa đại nghị, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, có thẩm quyền không hạn chế [1, tr.14], không những có quyền lập pháp, mà còn có quyền thành lập, thay đổi chính phủ Những dấu hiệu căn bản của chính thể đại nghị (gồm cộng hòa và quân chủ đại nghị) là: Chính phủ phải được thành lập dựa trên cơ sở Hạ viện

và phải chịu trách nhiệm trước Hạ viện; chính phủ chỉ được thực hiện nhiệm vụ khi vẫn còn tín nhiệm của Hạ viện, nếu không được Hạ viện tín nhiệm nữa thì bị thay đổi

và theo đó, Hạ viện có thể bị giải tán nếu không có khả năng thành lập chính phủ mới Những dấu hiệu trên được Hiến pháp nhiều nước cộng hòa đại nghị qui định

(ii) Trong chính thể cộng hòa tổng thống, tiêu biểu là Mĩ Tuy có những đặc

điểm rất khác với chính thể đại nghị nhưng chính thể cộng hòa tổng thống được nhiều học giả coi là hệ quả của mô hình chính thể đại nghị Quốc hội các nước theo chính thể này được coi là Quốc hội có thẩm quyền tương đối [1, tr.15], bởi nếu ở chính thể cộng hòa đại nghị, Quốc hội được quan niệm là tối cao, thì trong chính thể cộng hòa tổng thống, Quốc hội chỉ được quan niệm là một ngành quyền, tồn tại trong thế cân bằng, kiềm chế và đối trọng với các ngành quyền khác Trong chính thể này, về nguyên tắc, lập pháp và hành pháp có sự phân định rạch ròi không những về chức

Trang 31

năng, nhiệm vụ, mà cả về thành phần con người đảm nhiệm các chức vụ lập pháp hoặc hành pháp Nghĩa là không có sự kết hợp lẫn nhau giữa lập pháp và hành pháp như ở trong chính thể đại nghị Đặc điểm chung của chính thể cộng hòa tổng thống là: Chính phủ hành pháp không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không bị Quốc hội thay đổi và Quốc hội cũng không bị chính phủ giải tán Tuy nhiên, nếu ở chính thể đại nghị, Quốc hội được Hiến định và được nhận thức là tối cao, thì trên thực tế Quốc hội lại hoạt động hình thức hơn Quốc hội của chính thể cộng hòa tổng thống, nơi mà Quốc hội từ khi sinh ra luôn được nhận thức rằng nó có khả năng trở thành độc tài

nên cần phải hạn chế nó [26, tr.55] Thực tiễn lịch sử cho thấy Quốc hội của các nước

cộng hòa đại nghị đã trở thành bộ máy chỉnh lí, biểu quyết dự luật đã được hành pháp chuẩn bị và bị “tước” sáng quyền lập pháp Quốc hội của các nước cộng hòa tổng thống, về nguyên tắc không được can thiệp vào hành pháp, nhưng với cơ chế “kiềm chế và đối trọng”, Quốc hội có thể kiểm tra hoạt động của hành pháp, xét xử người đứng đầu nhà nước - tổng thống, buộc tổng thống phải từ chức

(iii) Trong chính thể cộng hòa XHCN, tiêu biểu là Liên Xô (cũ) và Việt Nam

Nhà nước theo chính thể cộng hòa XHCN không áp dụng học thuyết phân quyền Quốc hội được Hiến định là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, thực hiện chủ quyền duy nhất thuộc về nhân dân Quốc hội đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và được nhận định chung là nơi thể chế hóa đường lối của đảng Cơ sở lí luận cho việc xác định vị trí của Quốc hội trong nhà nước XHCN là quan điểm của C.Mác, V.I.Lê Nin về nhà nước và cách mạng Khi nghiên cứu kinh nghiệm của công xã Pari, C.Mác cho rằng, công xã không nên là một cơ quan đại nghị, mà phải là một cơ quan hành động, vừa hành chính, vừa lập pháp Phân tích quan điểm này của C.Mác, V.I.Lê Nin cho rằng công xã thay chế độ đại nghị vì các nghị sĩ phải tự mình thực hiện và kiểm tra tác dụng pháp luật của mình và tự chịu trách nhiệm trực tiếp trước

cử tri; những cơ quan đại nghị vẫn còn, nhưng chế độ đại nghị với tính cách là hệ thống đặc biệt với sự phân chia giữa lập pháp và hành pháp thì không còn nữa Tiếp thu tư tưởng của C.Mác, V.I.Lê Nin, ở Liên Xô (cũ), các nước XHCN Đông Âu trước đây, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước trong một thời gian dài đã tập trung hai chức năng lập pháp và hành pháp vào Quốc hội [1, tr.9,10]

(iv) Trong chính thể cộng hòa lưỡng tính, tiêu biểu là cộng hòa Pháp Chính

thể cộng hòa lưỡng tính xuất hiện muộn hơn các chính thể khác Nó mang cả đặc

Trang 32

điểm của cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống mà hình mẫu là nước Pháp, từ nền Cộng hòa thứ V theo Hiến pháp 1958 Nếu chế độ đại nghị Anh quốc ổn định vì chỉ có lưỡng đảng Thì ở Pháp, chế độ đa đảng luôn tạo nên một chính phủ liên hiệp với xu hướng tan rã do quyền lợi các đảng luôn mâu thuẫn Từ năm 1946 - 1958, ở Pháp đã có 26 lần thay đổi chính phủ dẫn đến sự sụp đổ tất yếu của nền Đệ tứ Cộng hòa Do đó, mục tiêu của Hiến pháp 1958 là hạn chế quyền và bãi bỏ ưu thế của Quốc hội, bởi đây là nguyên nhân dẫn đến lãnh đạo quốc gia không bền vững, đồng thời tăng quyền cho nguyên thủ quốc gia, khiến ông ta không còn là hành pháp tượng trưng nữa nhằm tạo nên sự ổn định của chế độ Theo một số nhà khoa học, trong chính thể này, Quốc hội có thẩm quyền bị hạn chế tuyệt đối [1, tr.16] Hiến pháp của Pháp 1958 vẫn giữ những đặc tính cơ bản của chế độ đại nghị truyền thống, nhưng sửa đổi nó, dành cho hành pháp bao gồm cả Tổng thống và Thủ tướng quyền ấn định chính sách và lập qui - đây là một trong những thành công lớn nhất của chính thể này trong lịch sử lập Hiến nhân loại Vì vậy, nền Đệ ngũ Cộng hòa Pháp còn được gọi là chính thể “Tổng thống được tăng cường” hay “Nghị viện được hợp lí hoá” Bên cạnh

đó, Hiến pháp còn thiết lập chế độ chính quyền cá nhân của Tổng thống Tuy là chế

độ “hành pháp lưỡng đầu” nhưng trung tâm chính quyền là Tổng thống, do nhân dân trực tiếp bầu ra, có quyền hạn rất lớn, kể cả quyền giải tán Nghị viện (của cộng hòa đại nghị), lẫn quyền tự thành lập chính phủ (của cộng hòa tổng thống) Trong chính thể này, Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu, được thành lập trên cơ sở Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, có thể bị Quốc hội thay đổi nhưng thực chất Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng thống, vì giống như chế độ đại nghị, Tổng thống được quyền bổ nhiệm Thủ tướng là thủ lĩnh của liên minh cầm quyền

2.1.5 Quốc hội trong chính thể đại nghị bị biến dạng

Theo lịch sử, chính thể đại nghị là loại hình chính thể có nhiều biến dạng nhất, nội dung biểu hiện là: Các cơ quan nhà nước không thực hiện được mục đích và không phản ánh được dấu hiệu đặc trưng của chính thể đại nghị được ghi nhận trong Hiến pháp thành văn hoặc bất thành văn Chẳng hạn, một đặc trưng của chính thể đại nghị là Quốc hội có quyền giám sát chính phủ nhằm bảo đảm cho cơ quan hành pháp

do Quốc hội thành lập thực thi đúng luật của Quốc hội Nhưng trên thực tế, đảng chiếm đa số trong Quốc hội luôn là đảng có quyền đứng ra thành lập chính phủ, và thủ tướng chính phủ chính là thủ lĩnh của đảng cầm quyền, nên dưới sự chỉ đạo chặt

Trang 33

chẽ của đảng này, mọi quyết định của Quốc hội thực chất là quyết định của chính phủ, tức là của đảng cầm quyền Điều này có nghĩa là chính phủ có quyền giám sát, chi phối, thậm chí khống chế Quốc hội chứ không phải ngược lại, thực tế này khác hẳn những qui định lí thuyết được Hiến định Vì vậy, có thể nói chính phủ và Hạ viện như hai cơ quan trực thuộc một đảng cầm quyền Sự biến dạng này cho thấy sự phân quyền giữa lập pháp và hành pháp theo Hiến pháp thực tế không còn nữa, có chăng

đó là sự phân chia giữa đảng cầm quyền và đảng đối lập có trách nhiệm [26, tr.65]

Như vậy, sự biến dạng của chính thể đại nghị là hậu quả của sự tranh giành quyền lực của các đảng phái trên chính trường Sinh hoạt chính trị ở Anh quốc cho thấy, với hai đảng có tổ chức và đủ khả năng bảo đảm hành động thống nhất của đảng trong chính phủ và Quốc hội, hệ thống lưỡng đảng này đã làm thay đổi hẳn ý nghĩa phân quyền vốn được coi là hình mẫu của chính thể đại nghị Quan hệ giữa lập pháp

và hành pháp đã biến thành quan hệ giữa hai bộ phận của một đảng cầm quyền Quan

hệ này cũng được nhiều người ví như quan hệ giữa ban chấp hành trung ương (ám chỉ nội các trong chính phủ) với các đảng viên (ám chỉ nghị sĩ trong Hạ viện) Trong chính thể đại nghị bị biến dạng, nhiệm vụ chính yếu của Quốc hội chỉ còn là thông qua các dự luật, chính sách của đảng cầm quyền Nhưng trên bản chất, Quốc hội (Hạ viện) chỉ còn nhiệm vụ do đảng đối lập thực hiện là ủng hộ hay chống đối chính phủ

Do đó, Quốc hội Anh quốc được hình dung như một hình tròn được chia làm hai phần Phần nhiều là của đảng đa số với vai trò quyết định, phần nhỏ thể hiện vai trò của đảng đối lập chỉ có thể phản biện, chỉ trích

Trong chính thể đại nghị bị biến dạng, tại các cuộc bầu cử Hạ viện, cử tri toàn quốc không những bầu ra các nghị sĩ đại diện cho mình mà còn tìm ra một đảng cầm quyền Thủ lĩnh của đảng cầm quyền nghiễm nhiên sẽ là người đứng đầu hành pháp Như vậy, việc đặt vấn đề tín nhiệm của Quốc hội đối với chính phủ chỉ còn là lí thuyết, có chăng, nó trở thành việc đặt vấn đề tín nhiệm của đảng đối lập đối với đảng cầm quyền Nhưng trên thực tế, việc này rất hiếm khi xảy ra và có kết quả như mong muốn của đảng đối lập, vì với sự chặt chẽ trong kỉ luật của đảng cầm quyền, đảng đối lập có đặt vấn đề tín nhiệm thì cũng không bao giờ thu được số phiếu ủng hộ quá bán tại Hạ viện Vấn đề giải tán Nghị viện cũng diễn ra tương tự Khi đa số Nghị viện và chính phủ thuộc một đảng thì không mấy khi có mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp, do đó, việc giải tán Quốc hội không còn nguyên nghĩa ban đầu nữa Từ thực tế

Trang 34

tổ chức và hoạt động của nhà nước mình, Roman Herzog, nguyên Tổng thống Cộng

hòa Liên bang Đức đã viết: “ Quốc hội và Chính phủ còn xa mới tuân thủ yêu cầu

của Montesqiueu, trước hết, bởi vì Chính phủ do Quốc hội bổ nhiệm và có thể bị Quốc hội miễn nhiệm bất cứ lúc nào, và thứ hai, bởi vì cả Chính phủ lẫn Quốc hội của nó đều thuộc cùng một đảng hoặc liên minh, nên thực ra hầu như không có khả

năng xảy ra rạn nứt giữa hai thiết chế này” [66, tr.40,41]

Đối với các nhà nước được tổ chức theo mô hình cộng hòa tổng thống thì ảnh hưởng của đảng phái chính trị có chiều giảm hơn nhưng vẫn rất nghiêm trọng Người

ta gọi chế độ cộng hòa tổng thống là chế độ đại nghị hành lang, vì những ảnh hưởng của đảng phái không được qui định bằng luật và Hiến pháp [26, tr.69]

2.2 Cơ sở hình thành Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam

2.2.1 Cơ sở hình thành Quốc hội Mĩ

Lục địa châu Mĩ được các nhà thám hiểm hàng hải người châu Âu, đặc biệt là

Christophe Colombus, người Ý, khám phá từ cuối thế kỷ 15 Trước đó, thổ dân của vùng đất rộng lớn và hoang dã này là người da đỏ với khoảng vài chục vạn đang trong giai đoạn bộ lạc Bắc Mĩ khi đó bị coi như vùng đất vô chủ nên các nước thực dân châu Âu như Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển tìm cách xâm chiếm Tuy vậy, công cuộc xâm thực của Anh là mạnh mẽ và hiệu quả hơn cả Nền chính trị chuyên chế ở Anh thế kỷ 17 là nguyên nhân tạo nên làn sóng di cư lớn sang Bắc Mĩ Người Anh thuộc mọi tầng lớp đến Bắc Mĩ vì mưu sinh, lánh nạn chính trị, bất đồng tôn giáo hoặc muốn tìm một cuộc sống mới Những cuộc di thực của người Anh đến Bắc Mĩ mạnh nhất vào những năm 20 của thế kỷ 18, khi chính sách tước đoạt ruộng đất ở Anh của giai cấp tư sản, quý tộc đã lên tới đỉnh điểm Những yếu tố này làm cho cơ sở của Anh ở Bắc Mĩ rộng hơn các quốc gia khác, có xu hướng phát triển thành một xã hội hoàn chỉnh Đặc điểm này giải thích vì sao các định chế pháp lí của nhà nước Mĩ sau này lại có những nét giống với Anh quốc Đến năm 1752 (khoảng

150 năm sau khi những người Anh đầu tiên di cư sang Mĩ), 13 đơn vị hành chính đã được hình thành dọc bờ biển phía đông của lục địa Bắc Mĩ, đó là các thuộc địa của Anh với đặc điểm tự quản cao, tuân theo pháp luật và sự quản lí của chính phủ Anh Mười ba bang nguyên khai này là cơ sở để hình thành quốc gia Hoa Kì sau này Cũng trong thời kì này, các thuộc địa của Anh tại Bắc Mĩ đã hình thành một nền kinh tế phát triển toàn diện với khả năng tự chủ và cạnh tranh với mẫu quốc, đây là tiền đề

Trang 35

vật chất căn bản nhất cho sự hình thành một quốc gia trong tương lai và là động lực

trực tiếp của cuộc cách mạng Mĩ Mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa thuộc địa và

mẫu quốc do những đòi hỏi, cấm đoán phi lí của mẫu quốc nhất là trong lĩnh vực thuế

và thương mại đối với thuộc địa đã dẫn tới cuộc đấu tranh quyết liệt Những phần tử

tư sản, địa chủ có nhiều quyền lợi kinh tế mâu thuẫn với chính quốc ý thức cao về sự bình đẳng và giá trị cá nhân đã hình thành tư tưởng đối lập với chính quyền Anh và tiên phong trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đại diện là Geoge Washington (1732 -

1799) và Thomas Jefferson (1743 - 1826) Đại hội về thuế Tem ngày 7/10/1765 với

đại diện 09 bang nguyên khai đã cổ vũ nhân dân thuộc địa đòi quyền tự quyết về

kinh tế và phản đối thuế Tem của mẫu quốc Đại hội lục địa lần thứ nhất từ ngày

5/9 đến 26/10/1774 là “biểu tượng độc lập và thống nhất của các thuộc địa trong cuộc đấu tranh vì mục đích chung” [101, tr.50] đã ra “Tuyên ngôn về quyền hạn và khiếu nại”, đòi quyền đánh thuế của thuộc địa, tẩy chay hàng hóa cùng các luật lệ

vô lí của Anh Đại hội lục địa lần thứ hai ngày 10/5/1775 đã xác định quyền độc lập

cho Bắc Mĩ và ngày 4/7/1776 đã long trọng tuyên bố Bản Tuyên ngôn độc lập, khẳng

định các quyền tự do dân chủ tư sản và nền độc lập của Bắc Mĩ Tiếp đó, Đại hội lục

địa đã bổ nhiệm ủy ban soạn thảo Hiến pháp cho liên minh 13 tiểu bang độc lập, văn

bản này được phê chuẩn ngày 15/11/1777 với tên gọi Các Điều khoản hợp bang

Mô hình chính quyền được tổ chức theo Các Điều khoản hợp bang là thiết chế

đại diện chính thức đầu tiên của nhân dân Bắc Mĩ, mang tính cách mạng về tổ chức quyền lực nhà nước so với các nước châu Âu, châu Á cùng thời kì và đối lập với chế

độ chuyên chế, độc tài vẫn tồn tại trong các chính thể đương thời Đây cũng là bộ phận tiên phong của cách mạng Mĩ, góp phần tập hợp lực lượng và thống nhất ý chí của nhân dân Bắc Mĩ trong cuộc đấu tranh giành độc lập Tuy nhiên, điều đặc biệt là

mô hình này chỉ thiết lập một cơ quan duy nhất điều hành mọi hoạt động của liên

minh là Quốc hội hợp bang Các Điều khoản hợp bang không qui định về cơ quan

hành pháp, tư pháp liên bang, đồng thời hạn chế quyền lực của chính quyền liên bang khiến thực chất các bang chỉ liên minh trên danh nghĩa [107, tr.16] Do đó, chế độ

hợp bang/Quốc hội hợp bang tỏ ra vô vàn yếu kém, lỏng lẻo và có nguy cơ tan rã vì

không tạo ra được một chính quyền trung ương mạnh để đảm bảo an ninh và thịnh vượng chung, cũng không tạo ra mối liên kết bền chắc giữa liên bang với các bang và các bang với nhau Theo Geoge Washington, nguyên Tổng tư lệnh quân đội lục địa:

Trang 36

“Các bang chỉ được liên kết với nhau bằng một sợi dây bằng cát” [97, tr.18] Nguyên nhân là mô hình Quốc hội hợp bang không có lí luận dẫn đường, không vận dụng các

tư tưởng chính trị - pháp lí về tổ chức nhà nước và kinh nghiệm về xây dựng chính quyền của các nước trên thế giới, không phản ánh các nguyên tắc căn bản nhất của việc hình thành chính quyền Đặc biệt, với việc trộn lẫn các cơ quan chính quyền và

trao toàn bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vào tay một nhóm người, Các

Điều khoản hợp bang đã không được các bang tôn trọng và thi hành Do đó, giai đoạn

1781 - 1789, nền kinh tế và chính trị Mĩ hầu như bị tê liệt Như Hamilton, chính trị

gia xuất sắc thuộc thế hệ thứ hai của cuộc cách mạng Mĩ đã gọi Các Điều khoản hợp

bang là “một sự khờ dại” [97, tr.16] Những trục trặc không thể sửa chữa của chính

quyền hợp bang Mĩ đã dẫn tới nhu cầu cấp thiết phải xây dựng một thể chế chính

quyền mới Vì mục tiêu lớn lao đó, ngày 25/5/1787, Quốc hội hợp bang đã tổ chức hội nghị tại Philadelphia với 55 đại biểu đến từ các bang nhằm sửa đổi Các Điều

khoản hợp bang Tuy nhiên, thay vì sửa đổi Các Điều khoản hợp bang, hội nghị đã

thảo ra một bản Hiến pháp hoàn toàn mới Trong đó, cơ cấu và quyền lực của Quốc hội là vấn đề nòng cốt trong những suy xét của hội nghị lập Hiến Điểm mới nhất của Hiến pháp 1787 là các quyền của chính phủ liên bang được chia sẻ giữa ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp

Sự hình thành chế độ Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kì chịu ảnh hưởng

sâu sắc bởi các tư tưởng chính trị - pháp lí Hi Lạp, La Mã cổ đại và các học thuyết

chính trị - pháp lí ở châu Âu trong Thế kỷ ánh sáng Tại hội nghị lập Hiến, các phương án đề xuất về mô hình chính quyền mới và các tranh luận đều viện dẫn tư

tưởng của các triết gia thời kì cổ đại về nền cộng hòa và tư tưởng phân quyền như

như Solon (khoảng 638-559 TCN), Clixten (khoảng thế kỉ VI TCN), Ephialtes (thế kỉ

V TCN), Pericles (thế kỉ V TCN), Aristote (384-322 TCN) Các nhà lập Hiến Mĩ đã tiếp thu trực tiếp và sâu sắc học thuyết phân quyền của các triết gia trong Thế kỉ Ánh sáng như Locke, Montesquieu, Rousseau và đi tiên phong trong việc hiện thức hóa nó trên vùng tân thế giới, mặc dù khi đó ở châu Âu, quê hương của học thuyết này bị cấm Lí do để các nhà lập quốc Mĩ lựa chọn tư tưởng phân quyền xuất phát từ thực tiễn Bắc Mĩ mới thoát khỏi sự cai trị độc tài của vua Anh nên không muốn có một chính quyền độc tài nào khác được dựng lên Mặt khác, học thuyết này đã giúp họ giải thích thấu đáo mục tiêu và phương pháp của cuộc cách mạng Mĩ rằng đây là cuộc

Trang 37

cách mạng do nhân dân thực hiện, khi chính quyền cũ vi phạm thô bạo quyền của dân chúng thì họ có quyền đánh đổ và thay thế một chính quyền khác Ngoài ra, sự lựa chọn này xuất phát từ hoài bão về một thể chế ổn định trong tương lai

Đến thời điểm 1787, ngành lập pháp Mĩ vẫn là một thiết chế chưa từng được

thử nghiệm trên thế giới Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh những ý tưởng mới, nhiều

ý tưởng khác về thiết chế này thực ra đã được đúc rút từ truyền thống cai trị của Anh

và từ kinh nghiệm thực tiễn tại Bắc Mĩ trong chế độ tự trị của 13 bang nguyên khai [89, tr.23] Theo Hiến pháp 1787, Mĩ là một nhà nước liên bang có chính thể cộng hòa tổng thống với sự phân quyền rõ rệt giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp Điều này khiến người Mĩ cho rằng họ đã tìm ra một cơ cấu chính trị mới lạ chưa từng có trong lịch sử Song, thực chất, chế độ này lại có nhiều nét tương tự như chế độ quân chủ nhị hợp hay nội các song đầu chế ở nước Anh đầu thế kỉ XVIII - với hai đầu là Quốc trưởng và Quốc hội Vì vậy, có người đã nhận xét “về phương diện lịch sử, chế độ tổng thống chỉ là một chế độ quân chủ hạn chế kiểu Anh hồi thế kỉ XVIII được đem lồng vào một nền cộng hòa” [10, tr.231] Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa chế độ quân chủ hạn chế ở Anh với chế độ tổng thống ở Mĩ là vua được thay bằng tổng thống Cũng như Vua Anh, Tổng thống Mĩ không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, điều này được lí giải bởi Mĩ từng là thuộc địa của Anh, và điều quan trọng nhất là người Mĩ muốn gạt bỏ sự lệ thuộc vào nước Anh chứ không phải chế độ chính trị mẫu quốc Vì thế, phân quyền là một trong những nguyên tắc chính trị - pháp lí mà người Mĩ đã học được của người Anh vào thế kỉ XVIII và sau đó được hoàn thiện bằng tư tưởng của Montesquier cũng như kinh nghiệm của chính họ Về thiết chế Nghị viện, Hiến pháp Mĩ cũng xác định sự tồn tại hai viện trong Quốc hội như Quốc hội Anh quốc Tuy nhiên, cơ sở xã hội và cách thức thành lập Thượng viện Mĩ đã được mở rộng và dân chủ khác hẳn Thượng viện Anh quốc Điều khác biệt lớn nhất khi so sánh về Quốc hội hai nước chính là triết lí về tầm quan trọng của Quốc hội Người Anh cho rằng Quốc hội là “hết ý”, là tối cao và không bị hạn chế bởi bất kì Hiến pháp thành văn nào Chủ thuyết này mâu thuẫn với tư tưởng của người Mĩ không tuyệt đối hóa vai trò Quốc hội, họ cho rằng Quốc hội phải bị hạn chế bởi Hiến pháp thành văn và thông qua các thiết chế quyền lực khác để đảm bảo cho Quốc hội luôn giữ được bản tính vốn có của nó là cơ quan đại diện nhân dân, và đây cũng là mục đích quan trọng hàng đầu của việc áp dụng tư tưởng phân quyền Vì khác biệt

Trang 38

quan trọng này, Quốc hội Mĩ tuy kế thừa di sản thiết chế đại nghị Anh quốc nhưng ở

mức độ chỉnh lí và sáng tạo Ngoài ra, trong hơn năm năm xung đột đẫm máu trước

khi các thuộc địa ở Bắc Mĩ giành được độc lập, các tiểu bang nguyên khai cũng đã chớp lấy thời cơ thành lập chính quyền tự trị và soạn thảo Hiến pháp cho riêng mình Khác với Hiến pháp Anh, các Hiến pháp này đều thành văn Về bản chất, tất cả các bản Hiến pháp đó đều là những bản tuyên ngôn nhân quyền và đều bắt nguồn từ học thuyết phân quyền Tuy nhiên, ở buổi ban đầu, các Hiến pháp các bang không tạo ra

sự bình đẳng giữa các ngành quyền mà đều trao phần lớn quyền lực cho cơ quan lập pháp do tâm lí kinh sợ quyền lực của vua Anh đã khắc sâu trong tâm trí người dân Bắc Mĩ nỗi sợ hành pháp Như vậy, có thể kết luận rằng “nguyên tắc phân quyền từ khi xuất hiện trên đất Mĩ đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và phức tạp Lúc đầu, trong thời kì thuộc địa, đó là một nguyên tắc chính trị và thực tế đã trở thành khẩu hiệu trong cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của thực dân Anh Sau ngày tuyên

bố độc lập, nguyên tắc này trở thành một nguyên tắc Hiến pháp và được thể hiện rõ trong các đạo luật cơ bản của 13 bang độc lập” [58, tr.162] Do đó, đến hội nghị lập Hiến năm 1787, người Mĩ không chỉ làm quen với các học thuyết của Locke, Montesquier mà đã thực nghiệm chúng trong thực tế [58, tr.162]

Tóm lại, Quốc hội Mĩ hình thành từ một lịch sử phát triển lâu dài và phong phú - kéo dài hơn 500 năm ở Anh, ngót một thế kỷ rưỡi ở Bắc Mĩ [108, tr 20], nó là kết quả trực tiếp của sự thỏa hiệp các xu hướng chính trị ở Bắc Mĩ, là động lực và kết quả của cuộc cách mạng Mĩ và được xây dựng trên nền tảng các tổ chức tiền thân Sự ra đời của Quốc hội dựa trên các học thuyết, tư tưởng chính trị - pháp lí từ thời kì cổ đại

và đặc biệt là trong Thế kỉ Ánh sáng ở châu Âu, đồng thời kế thừa sáng tạo các di sản thiết chế đại nghị của Anh thời trung cổ và kinh nghiệm của bản thân nước Mĩ qua thời kì thuộc địa Quốc hội Mĩ cũng là sản phẩm tinh thần của 55 nhà lập Hiến ưu tú của lịch sử nước Mĩ, mà theo nhận định của Thomas Jefferson, nguyên Tổng thống thứ 3 của Mĩ, họ là “những người con của thánh thần” [97, tr.21]

2.2.2 Cơ sở hình thành Quốc hội Việt Nam

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, không có Hiến pháp, với bộ máy thống trị trực tiếp của thực dân Pháp

và triều đình nhà Nguyễn theo chính thể quân chủ chuyên chế, nhưng thực chất là

bộ máy tay sai của thực dân Pháp Tuy nhiên, vào những năm đầu thế kỷ XX, do sự

Trang 39

thất bại của các phong trào Cần Vương và Văn Thân trên lập trường “kháng Pháp

và khôi phục ngôi vua” và ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp

1789, cách mạng Trung Hoa 1911 và chính sách duy tân mà Minh Trị Thiên Hoàng

đã áp dụng tại Nhật Bản, phong trào yêu nước Việt Nam đã chuyển biến mạnh mẽ với sự hình thành các xu hướng dân chủ tư sản và đề xướng tư tưởng Hiến chính tư sản trong giới trí thức Việt Nam, đây là những tư tưởng lập Hiến tiến bộ gần gũi với

tư tưởng NNPQ [105, tr.36,37] Trong trào lưu Hiến chính dân chủ tư sản ở Việt

Nam đầu thế kỷ XX có hai khuynh hướng chính trị chủ yếu: Một là xây dựng nhà

nước trực trị hay quân chủ lập Hiến mà tựu trung đều đặt Việt Nam dưới sự thống trị của Pháp của các trí thức như Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Văn

Vĩnh [200] Hai là giành độc lập cho dân tộc, sau đó mới xây dựng Hiến pháp của

nhà nước độc lập của các nhà cách mạng yêu nước Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu

và Huỳnh Thúc Kháng Đây là khuynh hướng đúng đắn nhất nhưng do hoàn cảnh lịch sử mà các nhà yêu nước thời kì này chưa nhận thức hết bản chất của chủ nghĩa

đế quốc Do đó, phong trào yêu nước Việt Nam đã lâm vào khủng hoảng cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đòi hỏi một con đường cứu nước mới, một lập trường Hiến chính mới Tuy vậy, những tư tưởng lớn của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành mạch nguồn quan trọng trong tư tưởng lập Hiến của Nguyễn Ái Quốc sau này

Cuộc khảo nghiệm về các kiểu nhà nước tại Pháp và các châu Âu, châu Phi, châu Mĩ từ 1911 đến 1930 đã hình thành quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về Hiến pháp và thiết chế nhà nước dân chủ Trong giai đoạn này, Người đã để tâm nghiên cứu lí luận và kinh nghiệm của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, đặc biệt chú ý xem xét những vấn đề thuộc về chính quyền nhà nước, thiết chế chính trị và thể chế dân chủ Người có những đánh giá rất sâu sắc về Cách mạng Mĩ (1776), Cách mạng Pháp (1789), Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) Đối với cách mạng

Mĩ, Nguyễn Ái Quốc cho rằng trong buổi đầu, Tuyên ngôn độc lập Mĩ và Các Điều

khoản hợp bang về quyền con người là tiến bộ Song cách mạng Mĩ là cách mạng tư

sản, không triệt để, bởi quyền lực nhà nước lại rơi vào tay số ít người Với cách mạng Pháp, Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền là thành quả của cách mạng

đã lật đổ chế độ phong kiến, xác lập quyền tự do cá nhân của công dân; khẩu hiệu bình đẳng, tự do, bác ái là những tư tưởng tiến bộ trong giai đoạn đầu, song sau đó,

Trang 40

các quyền này lại nằm trong tay giai cấp tư sản Điều mấu chốt mà Nguyễn Ái Quốc

đã rút ra qua hai cuộc cách mạng Pháp và Mĩ là tính chất nhà nước, đó là phải xác lập quyền lực của đa số nhân dân và sự cần thiết phải có Hiến pháp làm nền tảng

xây dựng nhà nước dân chủ Nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga và Hiến

pháp Xô Viết (1918) Người nói “trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công và thành công đến nơi Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của Cách mạng Nga”[79, tr.270]

Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) với Chính cương sách lược

vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo là văn kiện lịch sử xác lập đường lối và sự lãnh đạo của Đảng, đánh dấu sự hình thành tư tưởng Hiến chính dân chủ nhân dân của Người Cương lĩnh viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”; “Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”; “Dựng ra chính phủ công nông binh”[82, tr.1] Là cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Chính cương sách lược vắn thể hiện quan điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và xây dựng thiết chế dân chủ nhân dân, làm nền móng cho sự ra đời của nhà nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa và Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Ngày 2/9/1945, tại quảng

trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên

ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tuyên ngôn độc lập đã

đặt vấn đề dân quyền trên nền tảng dân tộc tự quyết và đặt nền móng cho việc xây dựng NNPQ Việt Nam Tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” [83, tr.8] Như vậy, trong tư tưởng lập Hiến của Hồ Chí Minh, dân chủ là gốc, Hiến pháp phải thể hiện sự đồng thuận

của nhân dân về các mục tiêu của một nhà nước dân chủ, là sự tôn trọng, là tiền đề

bảo đảm quyền tự do dân chủ, là nền tảng pháp lí cho quyền lực chính trị của nhân dân và bảo đảm các quyền tự do thực sự của con người, ghi nhận sự hạn chế của quyền lực nhà nước theo các chuẩn mực, đồng thời Hiến pháp cũng chính là mục tiêu của nhà nước dân chủ Đây cũng là công thức về một nhà nước dân chủ lập

Ngày đăng: 25/09/2020, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w