1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.

109 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN ĐIỀN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN ĐIỀN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S NGUYỄN VĂN TUÂN

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Điền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và qua công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luật văn thạc sỹ Luật học Qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm cảm ơn đến:

Ban chủ nhiệm Khoa Luật, Tổ bộ môn Tư pháp hình sự, các giảng viên

đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những tri thức kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Đại học Luật Hà Nội và Thư viện Học viện Tư pháp đã cho phép tra cứu và sử dụng các tài liệu nghiên cứu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi số liệu thực tiễn trong giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất

nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Tuân, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện

và hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Điền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 6

1.1 Các khái niệm cơ bản 6

1.1.1 Quyền công tố 6

1.1.2 Thực hành quyền công tố 13

1.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu 18

1.2.1 Các tội xâm phạm sở hữu 18

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu 21

Kết luận chương 1 30

Chương 2: NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 31

2.1 Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu 31

2.1.1 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu 31

2.1.2 Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu 37

2.2 Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố các vụ án xâm phạm sở hữu 43

2.2.1 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố các vụ án xâm phạm sở hữu 43

2.2.2 Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố các vụ án xâm phạm sở hữu 48

2.3 Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu 55

2.3.1 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu 55

Trang 6

2.3.2 Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn

xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu 60

2.4 Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu 63

2.4.1 Nguyên nhân khách quan 63

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 68

Kết luận chương 2 69

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 70 3.1 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu 70

3.2 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố 75

3.3 Tăng cường trách nhiệm thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra 83

3.4 Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa 84

3.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm sát viên, kiểm tra viên 86

3.6 Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành, phân định trách nhiệm trong hoạt động thực hành quyền công tố 87

3.7 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân với cơ quan điều tra và Tòa án và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu 88

3.8 Nâng cao chất lượng về cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ trong ngành kiểm sát nhân dân 90

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN CHUNG 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 7

Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTC

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đã có những bước phát triển lớn, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Số lượng tội phạm nói chung

và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng luôn có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô và tính chất Việc gia tăng về số vụ và số đối tượng phạm tội loại này không chỉ ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, mà còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân, đe dọa đến hoạt động bình thường của đời sống xã hội

Do vậy, chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật phải được nâng cao Trong đó, việc tăng cường chất lượng THQCT của VKSND nhằm: chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo vệ pháp chế

xã hội chủ nghĩa là vô cùng cần thiết Đây là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 08/NQ/2002 ngày 02 /01/ 2002 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp; Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014

về việc thực hiện nghị quyết số 49/NQ/TW nhấn mạnh: “Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không

bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…”.[6]

Trang 9

Trước sự gia tăng đến mức lo ngại của tội phạm xâm hại sở hữu, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi, loại tội phạm nguy hiểm này Tuy nhiên, việc giải quyết các

vụ án xâm phạm sở hữu còn gặp nhiều khó khăn cả về lý luận và thực tiễn bởi tội phạm xâm hại về sở hữu diễn biến khá phức tạp, quá trình giải quyết vụ án chia thành nhiều giai đoạn khác nhau do vậy việc điều tra, truy tố, xét xử gặp nhiều khó khăn

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Thực hành quyền công tố đối với

các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn

thạc sỹ của mình Qua đó làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề ra những giải pháp cơ bản giúp cho hoạt động THQCT trong việc giải quyết các

vụ án hình sự về xâm phạm sở hữu có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

THQCT là một đề tài đã được nghiên cứu khá nhiều vì người THQCT

là một trong những chủ thể của TTHS, có vai trò quan trọng đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự Vấn đề này được nghiên cứu khá phong phú dưới nhiều góc độ khác nhau

và được thể hiện qua các đề tài, các sách, các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành Đề cập đến quá trình phát triển của lý luận về quyền công tố có những công trình là đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, luận

văn thạc sĩ, sách chuyên khảo, các bài viết: Lê Hữu Thể (Chủ biên): Thực

hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; Bàn về khái niệm quyền công tố, (Tạp chí

chuyên ngành), Hà Nội, 2000; Lê Thị Tuyết Hoa: Quyền công tố ở Việt Nam, (Luận án tiến sỹ luật học), Hà Nội, 2002; Lê Cảm: Một số vấn đề lý luận cơ

bản về quyền công tố (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2000

Trang 10

Đề cập tới hoạt động THQCT có bài: Một số kỹ năng THQCT và kiểm

sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Ths.Lê Đức Xuân - Viện trưởng VKSND tỉnh Bình Phước; THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên của Phạm Thị Thúy; THQCT và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sức khỏe trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và một số kiến nghị của Lê Thanh Hùng …

Tuy nhiên, những nghiên cứu này thường thiên về lý thuyết hoặc thực tiễn, hay chỉ trong giới hạn một tội nhất định; những công trình nghiên cứu tổng thể cả lý luận và thực tiễn THQCT đối với nhóm tội thì chưa được đề cập nhiều Vì vậy, luận văn này tôi tập trung vào nghiên cứu một số hoạt động

THQCT đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu (có tính chất chiếm đoạt) Từ đó

đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THQCT nói chung và THQCT đối với tội xâm phạm sở hữu nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ cơ sở lý luận về THQCT của VKSND trong Nhà nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trên cơ sở lý luận về THQCT liên hệ với hoạt động THQCT trong việc giải quyết các vụ án hình sự về xâm phạm sở hữu Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng THQCT dưới góc độ

hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố và thực hành quyền công

tố của Viện kiểm sát nhân dân

Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố đối với các vụ

án hình sự ở Việt Nam Khảo sát thực tiễn THQCT đối với tội xâm phạm sở hữu trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 11

Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật để qua

đó nâng cao chất lượng THQCT trong việc giải quyết các vụ án hình sự nói chung và án xâm phạm sở hữu nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài “Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu theo

luật tố tụng hình sự Việt Nam” là một đề tài tương đối rộng; do vậy trong

khuôn khổ luận văn này đối tượng và phạm vi nghiên chủ yếu là quyền công

tố và một số hoạt động THQCT trong TTHS đối với các tội xâm phạm sở hữu (có tính chất chiếm đoạt) trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội (từ năm 2011– 2015)

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Nhà nước pháp luật của Hồ Chí Minh là nền tảng cho quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn luật học này Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: thu thập số liệu, thông tin; thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh các thông tin, số liệu đã thu thập được

6 Điểm mới khoa học của luận văn

Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu về thực hành quyền công

tố đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu Vì vậy có một số điểm mới sau:

Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền công tố; thực hành quyền công tố; những điểm nổi bật của nhóm tội xâm phạm sở hữu

Chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm và những hạn chế, tồn tại khi áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố

Trang 12

7 Ý nghĩ của luận văn

Luận văn này góp làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về quyền công tố và THQCT trong TTHS Những nội dung nghiên cứu của luận văn đóng góp một phần nhỏ trong việc nhìn nhận và đánh giá hoạt động của VKS trong hoạt động THQCT

Ngoài ra luận văn còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng THQCT trong việc giải quyết các vụ án hình sự về nhóm tội xâm phạm sở hữu Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương chính:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố đối với

các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự việt Nam

Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu

Trang 13

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Quyền công tố

Lịch sử tư pháp hình sự trên thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền công tố - hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà nước hay của xã hội) đối với người phạm tội đã được biết đến từ thời đại xa xưa của

xã hội loài người Quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện chế định quyền công tố gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật Tùy từng kiểu Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội, con người, yếu tố văn hóa, truyền thống chính trị của mỗi quốc gia mà bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau Do vậy, quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, đi đôi với việc hoàn thiện thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố cũng ngày càng thể hiện rõ nét

Ở nước ta Hiến pháp năm 1980 đề cập đến quyền công tố, THQCT khi quy định chức năng của VKS tại Điều 138 Hiến pháp 1992; Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và điều 107 Hiến pháp 2013 đã khẳng định lại sự tồn tại của thuật ngữ quyền công tố, THQCT trong chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

Vậy, quyền công tố là gì? Mặc dù các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật đã tập trung nghiên cứu, tuy nhiên vẫn chưa

có cách hiểu thống nhất về khái niệm trên Tại Việt Nam, khoa học luật TTHS nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế định “quyền công tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính thống về quyền công tố Ở nước ta trước Hiến Pháp năm 1959 cũng đã

Trang 14

tồn tại quyền công tố; từ 1960 đến nay do VKSND thực hiện quyền này

Tuy nhiên, hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan điểm thống nhất chung Có quan điểm cho rằng, công tố là “hoạt động tố tụng đối với các vụ án

mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do GS Hoàng Phê chủ biên thì: công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” (50, tr.204) Từ điển Luật học lại ghi công tố “là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [51, tr.188] Thuật ngữ

“quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật TTHS năm 1999, Bộ luật TTHS năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm 1981, năm 1992, năm 2002, năm 2014; Pháp lệnh KSV năm 2002, năm 2014

Từ điển luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: “Quyền công tố

là quyền buộc tội nhân danh Nhà nuớc đối với người phạm tội” [51, tr.188]

Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính thức nội dung quyền công tố Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia THQCT Nhưng về nội dung và phạm

vi THQCT (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy một số quan điểm về quyền công tố như sau:

Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động

kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND Quan điểm này cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT và đưa ra khái niệm về quyền công tố như sau: “Quyền nhân danh nhà nước thực hiện các chức năng do luật TTHS quy định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra

Trang 15

tội phạm, để truy tố và để buộc tội người phạm tội tước tòa án nhằm đạt được mục đích xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, góp phần đảm bảo các quyền tự do của con người, cũng như các lợi ích của xã hội và của nhà nước” [1, tr.1-12] Những người theo quan điểm này đã coi quyền công tố chỉ

là một quyền năng, một hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tuy nhiên, chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải là một mà chúng hoàn toàn độc lập và có mối quan

hệ tác động qua lại với nhau Không phải trong mọi hoạt động của kiểm sát viên đều bao hàm hai chức nằng này; có hoạt động chỉ là thực hiện chức năng công tố và ngược lại có hoạt động chỉ thực hiện chức năng kiểm sát mặc dù chúng đề do một kiểm sát viên thực hiện trong cùng một thời gian

Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao

cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa Nội dung của quyền công tố là đưa ra những lời buộc tội những cá nhân cụ thể về những tội danh cụ thể trong bản cáo trạng và hoạt động chứng minh tính có căn cứ và tính hợp pháp của cáo trạng đó tại phiên tòa sơ thẩm Những người theo quan điểm này cho rằng việc thực hiện quyền công tố như vậy mới

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân [16, tr.86-88] Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của quyền công tố Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Tòa án chỉ là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của Viện kiểm sát

Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà

nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [46; tr.85-86] Quan điểm này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật; cùng với

sự phát triển của xã hội và của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng

Trang 16

sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố

là một nội dung của hoạt động chức năng của VKSND trong lĩnh vực TTHS,

tố tụng dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới

và tính đặc thù giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền công tố với các quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ

án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động

Các quan điểm trên đều có hạn chế là không phân định rõ ràng khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố:

Hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, hành chính, kinh tế, lao động

Hoặc là coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công

Hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm

Quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật TTHS; không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) “chống lại” hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm)

Trang 17

Bởi tội phạm là vi phạm pháp luật nguy hiểm nhất; kẻ phạm tội xâm phạm trước hết đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội (an ninh, trật tự xã hội), sau

đó mới đến lợi ích của người bị hại Nhà nước nhân danh xã hội dành cho mình quyền trừng trị kẻ phạm tội Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể “Quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực tư pháp hình sự, không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [38, tr.37]

Trong hoạt động tố tụng hình sự luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản, đó là chức năng buộc tội (kết quả điều tra xác minh hành vi phạm tội), chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử Với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chức năng buộc tội thực chất chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội Trong chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực công) giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng; nó thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự

Như vậy, có thể hiểu: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên

cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [38]

Trang 18

Quan niệm này đã lột tả được bản chất của quyền công tố, đó là quyền năng đặc biệt của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Từ những nội dung trình bày trên, có thể rút ra định nghĩa: Quyền công

tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội

Với những phân tích và định nghĩa nêu trên, có thể xác định đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố như sau:

Phạm vi quyền công tố: Cho đến nay khi đề cập đến phạm vi quyền

công tố trong TTHS các luật gia vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau tuy nhiên

có thể hiểu phạm vi quyền công tố dưới những khía cạnh sau

Thứ nhất, quyền công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm

hình sự đối với người phạm tội Quyền này phát sinh ngay từ khi có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án tuyên phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị

Thứ hai, không được đồng nhất quyền công tố với thực hành quyền

công tố Bởi THQCT là thực hiện các biện pháp do pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện sự buộc tội đối với người đó trước Tòa án

Thứ ba, quyền công tố trong TTHS là quyền yêu cầu trừng phạt người

phạm tội một cách công khai bằng con đường Tòa án, do đó khi bản án kết tội

có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị thì quyền tài phán chấm dứt, quyền công tố cũng mất đi hiệu lực

Như vậy có thể hiểu phạm vi quyền công tố trong tố trong TTHS bắt

đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật không

bị kháng nghị [12, tr.32]

Trang 19

Đối tượng và nội dung của quyền công tố: Hiện nay vẫn còn nhiều quan

điểm khác nhau về quyền công tố do đó cũng có những quan niệm khác nhau

về đối tượng và nội dung của quyền công tố Tuy nhiên, đối tượng của quyền công tố trong các lĩnh vực tố tụng là không giống nhau

Trong tố tụng hình sự, quyền công tố không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó là tội phạm Bởi tội phạm là vi phạm pháp luật nguy hiểm nhất; kẻ phạm tội xâm phạm trước hết đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích

xã hội, sau đó mới đến lợi ích của người bị hại Do vậy, Nhà nước nhân danh

xã hội dành cho mình quyền trừng trị kẻ phạm tội Cơ quan được giao thực hiện chức năng THQCT trong TTHS có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập chứng cứ để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa

Còn tố tụng dân sự thì đối tượng của nó là các tranh chấp dân sự liên quan đến lợi ích của từng cá nhân Một trong những nguyên tắc đặc thù của tố tụng dân sự là nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự Ý chí, lợi ích, sự tự thoả thuận của các đương sự sẽ quyết định sự xuất hiện, vận động và chấm dứt hoạt động tố tụng Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về các đương sự; trong khi cốt lõi của tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định

và xử lý kẻ phạm tội Qua đó có thể xác định được đối tượng, nội dung của quyền công tố như sau:

Đối tượng công tố là yếu tố mà quyền lực công tố tác động vào nhằm

đạt mục đích cụ thể của quyền công tố, đó có thể là mục đích buộc tội người phạm tội để trừng phạt, khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị…Do vậy quyền công tố là quyền lực nhà nước, do Nhà nước đứng ra thay mặt xã hội thực hiện việc buộc tội nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã

Trang 20

thực hiện hành vi phạm tội và đối tượng mà quyền công tố hướng tới chính là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội

Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với bất kỳ người nào đã

thực hiện hành vi bị coi là tội phạm (kể cả tội phạm ẩn nếu còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) Do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng các quyền năng pháp lý khác nhau để phát hiện tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, tìm ra các chứng cứ buộc tội để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự

1.1.2 Thực hành quyền công tố

Khi cơ quan tiến hành tố tụng dùng các quyền năng pháp lý của mình được Bộ luật TTHS giao cho để thực hiện quyền công tố thì cũng xuất hiện khái niệm THQCT Đây là khái niệm có liên hệ mật thiết với khái niệm quyền công tố bởi lẽ khi có hành vi phạm tội xảy ra, mối quan hệ giữa Nhà nước với người thực hiện hành vi phạm tội phát sinh Trách nhiệm của Nhà nước là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Điều

đó có nghĩa là phát sinh quyền công tố và cơ quan dùng các quyết định cụ thể được pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội chính là cơ quan thực hiện quyền công tố Về khái niệm THQCT hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau tuy nhiên, theo từ điển Luật học giải thích: “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [51, tr.188]

Để hiểu một cách đầy đủ về THQCT cần phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, nội dung của THQCT Theo khoản 1 điều 3 Luật tổ chức VKSND năm

2014 thì “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,

Trang 21

kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” Tuy nhiên thực tế thì không phải bất kỳ vụ án nào xảy ra các cơ

quan bảo vệ pháp luật cũng có thể phát hiện ra để xử lý một cách kịp thời Đây là mối quan hệ giữa khả năng và việc thực hiện hóa khả năng, giữa Nhà nước trao quyền và việc thực hiện quyền lực đó trên thực tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Điều kiện chấm dứt THQCT trong TTHS (khi có một trong những căn

cứ quy định tại điều 107 của BLTTHS):

Thứ nhất: không có sự việc phạm tội (khoản 1) thì không được khởi tố

vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự vì không có đối tượng tác động của quyền công tố;

Thứ hai: hành vi không cấu thành tội phạm (khoản 2) là hành vi tuy có

dấu hiệu tội phạm nhưng quy mô hành vi hoặc quy mô hậu quả của hành vi không lớn, chưa đủ cấu thành tội phamjtheo quy định của BLHS (như trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng mà không có các yếu tố khác cấu thành);

Thứ ba: người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi

chịu trách nhiệm hình sự (khoản 3) Trong trường hợp này, nếu đã khởi tố bị can thì phải hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc ra đình chỉ điều tra bị can;

Thứ tư: người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định

đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật (khoản 4) Vì sự việc đã quyết tụng, do

đó luật định đối với những người này không được điều tra, truy tố, xét xử lần

2 cũng về tội đó hoặc dưới một tội danh khác;

Thứ năm: khi đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy

định của pháp luật hình sự (khoản 5) Hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình

sự thì dù có phát hiện người phạm tội cũng không được khởi tố, điều tra, truy

tố đối với họ, trừ trường hợp họ cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã;

Trang 22

Thứ sáu, khi tội phạm được đặc xá thì chấm dứt thực hành quyền công

tố đối với những người thực hiện tội phạm đã được đặc xá (khoản 6);

Thứ bảy: khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ

trường hợp tái thẩm đối với người khác (khoản 7) Trong trường hợp này, không được khởi tố vụ án và ra quyết định không khởi tố vụ án với lý do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, nếu đã khởi tố, điều tra thì phải đình chỉ vụ án do bị can đã chết

Ngoài ra, theo quy định tại điều 7 của BLHS, THQCT trong tố tụng hình sự chấm dứt khi có những căn cứ sau:

Một là: khi có hiệu lực của BLHS về thời gian, có “ điều luật quy định

một tội phạm mới không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành, trừ trường hợp có quy định khác” (điểm

2 điều 7 BLHS);

Hai là: khi BLHS có “điều luật xóa bỏ một tội phạm” (điểm 3 điều 7

BLHS) Tức là hành vi đó không bị coi là tội phạm trong BLHS

Đối tượng THQCT chính là tội phạm và người phạm tội

Nội dung thực hành quyền công tố đó là:

Thứ nhất, hoạt động của VKS trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những biện pháp phát động quyền công tố, mở đầu cho các hoạt động tố tụng khác để làm rõ tội phạm xảy ra, vạch trần người có lỗi trong thực hiện hành vi phạm tội Những quyền năng pháp lý trên chỉ duy nhất có VKS được thực hiện một cách độc lập, không chịu sự can thiệp, chi phối của bất kì cơ quan Nhà nước nào

Thứ hai, Các biện pháp áp dụng TNHS đối với người phạm tội: phê

chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn như bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam của cơ quan điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn

Trang 23

như ra lệnh bắt, ra lệnh tạm giam bị can; phê chuẩn lệnh khám xét của cơ quan điều tra

Thứ ba, Những biện pháp xử lý vụ án: Quyết định việc truy tố bị can ra

Tòa; duy trì quyền công tố tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyết định truy tố của mình Đồng thời kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm khi thấy có sự vi phạm về nội dung Quyết định chấm dứt việc THQCT bằng việc ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án

Vậy có thể kết luận THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử

Qua sự phân tích trên ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa quyền công

tố và THQCT thể hiện ở những đặc điểm sau:

Thứ nhất, các căn cứ làm phát sinh quyền công tố cũng là những căn cứ

để THQCT, đó là một tội phạm đã xảy ra và con người cụ thể đã thực hiện tội

phạm đó Thứ hai, các căn cứ triệt tiêu quyền công tố thì đồng thời cũng làm

chấm dứt việc THQCT Mối quan hệ giữa quyền công tố và THQCT trong TTHS gắn bó mật thiết với chính sách hình sự và đường lối tội phạm của Nhà

nước Thứ ba, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội đối với người thực

hiện hành vi phạm tội, còn THQCT là việc sử dụng các biện pháp được luật định để thực hiện quyền buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội

Thứ tư, khi tội phạm xảy ra tức là phát sinh quyền công tố trước một tội phạm

cụ thể Tuy nhiên thực tế thì không phải bất kỳ vụ án nào xảy ra các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng có thể phát hiện ra để xử lý một cách kịp thời do đó khả năng THQCT phụ thuộc rất lớn vào việc phát hiện tội phạm của CQĐT Nói cách khác phạm vi tác động của quyền công tố thường lớn hơn phạm vi tác động của THQCT

Trang 24

Trong TTHS khi giải quyết vụ án hình sự Viện kiểm sát luôn luôn thực hiện song hành hai chức năng là THQCT và KSHĐTP Điều này được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố; kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán bộ tư pháp nào Ở nước ta, hoạt động KSHĐTP hình sự chỉ do duy nhất một chủ thể tiến hành, đó là cơ quan VKS Hoạt động này được thực hiện bởi các KSV là người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự, trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKS được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND và BLTTHS KSHĐTP hình

sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, do Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhằm bảo đảm pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự

Tóm lại ở bất kì giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự, THQCT là những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định như: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; quyết định việc truy tố bị can ra Tòa án; còn KSHĐTP là những biện pháp VKS không trực tiếp ra quyết định, mà qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT thì yêu cầu, kiến nghị CQĐT, các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra khắc phục

Giữa hoạt động KSHĐTP và THQCT trong giải quyết vụ án hình sự có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, hỗ trợ cho nhau Mối quan hệ này song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi

Trang 25

tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến khi bản án định tội của Tòa án có hiệu lực không bị kháng cáo, kháng nghị

Trong mối quan hệ giữa hoạt động THQCT và KSHĐTP, cần phải lưu

ý mục đích của hoạt động THQCT và mục đích của hoạt động kiểm sát tư pháp trong các giai đoạn Mục đích của hoạt động THQCT là nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như các hành vi thực hiện tội phạm của họ Hoạt động này phải đầy đủ, chính xác, khách quan, theo đúng các trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định KSHĐTP có mục đích là bảo đảm các hoạt động điều tra (hoạt động chứng minh tội phạm trong giai đoạn điều tra), truy tố, xét xử được đúng đắn, đầy đủ, khách quan, tức là được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định Như vậy, cả hoạt động THQCT và KSHĐTP trong qua trình giải quyết vụ án hình

sự có chung mục đích bao quát là nhằm bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Hoạt động THQCT và KSHĐTP trong quá trình giải quyết

án hình sự có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, tác động, ảnh hưởng đến nhau Kiểm sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả là điều kiện bảo đảm THQCT đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại [23]

1.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu

1.2.1 Các tội xâm phạm sở hữu

Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ xã hội giữa người và người trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội Nó ra đời cùng với các hoạt động kinh tế và được luật hóa thành “quyền sở hữu” khi xuất hiện nhà nước và pháp luật Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu là quyền

Trang 26

cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Các quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Các tội xâm phạm sở hữu

là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi [48, tr.5]

Các tội xâm phạm sở hữu được xếp thành hai loại: các tội xâm phạm sở hữu thực hiện bằng hành vi có tính chất chiếm đoạt; các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt

Các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt gồm 8 tội sau đây: Tội cướp tài

sản (điều 133); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134); Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135); Tội cướp giật tài sản (điều 136); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 137); Tội trộm cắp tài sản (điều 138); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140);

Các tội XPSH không có tính chất chiếm đoạt gồm 5 tội: Tội chiếm giữ

trái phép tài sản (điều 141); tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142); tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (điều 144); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (điều 145)

Để nâng cao chất lượng THQCT đối với các tội XPSH, trước hết phải nắm vững các đặc điểm pháp lý (cấu thành tội phạm) của các tội này (trong luận văn chủ yếu đề cập đến các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt)

Khách thể của tội phạm: Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [48, tr.78] Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm, các tội XPSH có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác (không phải là của người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Về nguyên tắc tài sản này là hợp pháp và bao

Trang 27

gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự)

Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bởi ý thức, ý chí của người phạm tội [48, tr.93-97] Hành vi phạm tội có hai hình thức thể hiện là hành động và không hành động

Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng, các tội XPSH có thể

là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực như tội Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản (nhóm 1); hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản (nhóm 2); hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (nhóm 3) hay hành

vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai như tội Cướp giật tài sản Tuy nhiên, thủ đoạn, cách thức, đối tượng thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau và chúng là dấu hiệu phân biệt các tội phạm có cùng hành vi chiếm đoạt với nhau

Cụ thể, trong nhóm 1, đối với tội Cướp tài sản, người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực “ngay tức khắc” đối với chủ tài sản; đối với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi đe dọa dùng vũ lực lại nhằm vào con tin từ đó khiến người thân của con tin (người có tài sản) phải lo sợ, giao nộp tài sản; hoặc cùng là đe dọa dùng vũ lực đối với chủ tài sản nhưng ở tội Cưỡng đoạt tài sản không có đặc điểm “ngay tức khắc” như tội Cướp tài sản Đối với nhóm 2, người phạm tội Trộm cắp tài sản có thủ đoạn lén lút khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; còn ở tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội lại có hành vi công khai Ở nhóm 3, tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân biệt với nhau bởi thủ đoạn gian dối được thực hiện trước hay sau khi hành vi chiếm đoạt được thực hiện [13, tr.10]

Trang 28

Về hậu quả mà những hành vi nói trên gây ra trước hết là những thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu, thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất cụ thể là tài sản bị mất Đối với những tội như Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại còn bao gồm cả thiệt hại về thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần)

Mặt chủ quan của tội phạm: Các tội XPSH chủ yếu được thực hiện với lỗi cố ý Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lí nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình

Về động cơ và mục đích phạm tội: người phạm tội mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác Tùy thuộc vào đặc trưng của từng tội do BLHS quy định mà dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội XPSH là khác nhau Chúng có thể là hành vi chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt hoặc chiếm đoạt được

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của nhóm tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định: từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc những tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 133; khoản 2,3, và 4 của các Điều 134, 135, 136; khoản 3 và 4 các Điều 137, 138,

139, 140 Ngoài ra tại các Điều 139, 140 Bộ luật hình sự, dấu hiệu chủ thể đặc biệt được phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự, cụ thể ở điểm d khoản 2 Điều 139: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản; điểm b khoản 2 Điều 140: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu

Mục đích của tố tụng hình sự đòi hỏi mọi tội phạm đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật Về lý luận, cứ có tội phạm xảy ra là phải có sự phát động của quyền công tố Tuy nhiên trong thực tế, không phải tất cả tội phạm đều được phát hiện, xử lý triệt để; tức là việc khởi tố vụ án

Trang 29

hình sự của các cơ quan chức năng không thể bao trùm hết được số vụ án hình sự đã xảy ra trên thực tế Quyền công tố xuất hiện đồng thời với việc xuất hiện tội phạm và kết thúc khi tội phạm ấy đã bị xử lý bởi Tòa án; trong khi đó, hoạt động THQCT được thực từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử vụ án hình sự và kết thúc khi có quyết định đình chỉ; bản án của Tòa án

có hiệu lực pháp luật

Thực hành quyền công tố đối với một vụ án hình sự nói chung bao gồm những đặc điểm như sau:

Một là, hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ sự việc

phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định việc hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định việc truy tố; đình chỉ hoặc duy trì quyền công tố tại Tòa án để bảo vệ quyết định truy tố của mình theo đúng các quy định của pháp luật

Hai là, THQCT bao gồm hành vi và các quyết định tố tụng mang

tính công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do luật định Các quyết định công tố thể hiện dưới dạng văn bản của người có thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố (bản cáo trạng); quyết định đình chỉ…Tất cả các quyết định tố tụng của Viện kiểm sát đều phải được gửi cho những người liên quan theo quy định của pháp luật

Ba là, các hoạt động công tố là hoạt động nhân danh quyền buộc tội

nhà nước, chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng VKS mỗi cấp và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC Viện kiểm sát

Trang 30

cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra của CQĐT; CQĐT cấp trên không có quyền rút, hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới

Bốn là, THQCT có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát tư pháp ở

chỗ tuy cùng một chủ thể tiến hành là VKS nhưng THQCT nhằm vào việc buộc tội, gỡ tội; yêu cầu bắt, giam giữ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội Còn hoạt động kiểm sát tư pháp hướng tới việc tuân thủ pháp luật trong các giai đoạn của quá trình tố tụng; nếu phát hiên có hành vi vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu các chủ thể chấp dút vi phạm; khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm

Năm là, mục đích của hoạt động THQCT tuy vẫn phải thực hiện

việc xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội đối với người có hành vi phạm tội nhưng thực hiện quyền buộc tội vẫn là chủ yếu Trong khi đó bào chữa là hoạt động xã hội để thực hiện quyền bào chữa của công dân theo quy định của pháp luật.[58]

Để thực hiện tốt hoạt động THQCT đối với các vụ án xâm phạm sở cần phải xem xét các đặc điểm đặc trưng của nhóm tội này như:

Về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội: Phần lớn các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu có trình độ văn hóa rất thấp, trình độ nhận thức xã hội

và ý thức pháp luật hạn chế, có lối sống ích kỷ, coi thường chuẩn mực đạo đức xã hội chỉ cần đạt được mục đích Các đối tượng thực hiện hành vi tội phạm xâm phạm sở hữu có độ tuổi rất đa dạng, bất kể lứa tuổi nào khi có động cơ, mục đích và điều kiện thuận lợi là có thể gây án

Về khách thể: Đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 135 BLHS, khách thể được bảo vệ bao gồm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Để xâm phạm

Trang 31

quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành Có thể nói, người thực hiện hành

vi vi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều có ý thức chiếm đoạt Xuất phát từ khách thể được bảo vệ mà hành vi khách quan của các tội này không có dấu hiệu chiếm đoạt cho nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy, dấu hiệu mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ sở phân biệt các tội này với các tội khác do BLHS quy định có hành vi khách quan tương

tự như hành vi phạm tội của các tội này

Đối với tội cướp giật tài sản, mặc dù khách thể mà tội này xâm phạm cũng là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng khác với các tội tại các Điều 133, 134, 135 BLHS Hành vi khách quan do BLHS quy định đối với tội cướp giật tài sản xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và qua việc xâm phạm quan hệ sở hữu mới xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hành vi chiếm đoạt được mô tả trong điều luật

Đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc người phạm tội

có được tài sản thông qua giao dịch dân sự (hoặc kinh doanh thương mại, lao động) hợp pháp cho nên dấu hiệu hành vi được thể hiện qua việc không trả lại tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối (như giả tạo bị mất; đánh tráo tài sản; rút bớt tài sản …) hoặc không trả lại được tài sản do không

có khả năng vì đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (như dùng vào việc buôn lậu, buôn bán hàng cấm hay đánh bạc…) Có thể thấy, tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là sự chuyển hóa từ giao dịch dân sự (theo nghĩa rộng) hợp pháp sang hành vi phạm tội khi có sự vi phạm giao dịch dân

sự hoặc có hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không

có khả năng trả lại tài sản kèm theo mục đích chiếm đoạt

Trang 32

Về thời gian, địa điểm, công cụ phương tiện để gây án của các đối tượng trong các vụ án xâm phạm sở hữu: tội XPSH xảy ra quanh năm và ở bất

kỳ thời điểm nào trong ngày (cả ngày lẫn đêm), các vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra nhiều nhất vào khoảng thời gian từ 16 giờ đến 24 giờ, đây là thời gian nghỉ ngơi sau ngày làm việc, thường có các hoạt động đi lại giao lưu, ăn uống, nên thường thiếu cảnh giác trong việc bảo quản tài sản Các đối tượng phạm tội sử dụng các công cụ, phương tiện gây án rất đa dạng tùy thuộc vào từng đối tượng, từng nhóm đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu Việc sử dụng các loại vũ khí “nóng” (súng, dao, kiếm, mã tấu…) để phạm tội ngày càng phổ biến Điều này phần nào phản ánh tính chất manh động, liều lĩnh, táo bạo và tính tổ chức cao trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của các đối tượng phạm tội

Về động cơ phạm tội: Một là, Các đối tượng thực hiện hành vi bột phát

bất ngờ, dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thường

sử dụng những công cụ sẵn có ở hiện trường để gây án, không có thời gian lựa chọn phương pháp, thủ đoạn gây án, lợi dụng những sơ hở của nạn nhân,

điều kiện tự nhiên sẵn có tại hiện trường để gây án Hai là, Các đối tượng

thường lợi dụng vào điều kiện, hoàn cảnh khách quan, lựa chọn thời điểm thuận lợi như khi nạn nhân sơ hở, mất cảnh giác, vắng người để nhanh chóng tiếp cận chiếm đoạt tài sản, hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi nơi gây án mà không bị phát hiện, truy đuổi Tuy nhiên, có nhiều vụ dù không có sự chuẩn bị từ trước, nhưng thủ phạm luôn có sẵn công cụ, phương tiện gây án trong người để có thể thực hiện hành vi phạm tội ngay lập tức

Thông qua việc xem xét các đặc điểm đặc trưng của nhóm tội XPSH có thể thấy hoạt động THQCT đối với các tội XPSH có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, các vụ án xâm phạm sở hữu bị phát hiện chậm nên gây nhiều

khó khăn cho việc xác định chính xác thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm

Trang 33

Trên thực tế, phần lớn các vụ án hình sự thuộc nhóm tội này đều do người bị hại đến cơ quan Công an trình báo khiến công tác bảo vệ hiện trường có thể triển khai không kịp thời nên khi tiến hành các biện pháp điều tra, hiện trường

đã bị xáo trộn, các dấu vết bị thất lạc, dẫn đến việc xác định thời gian, địa điểm chính xác xảy ra tội phạm gặp nhiều khó khăn Do đó, khi THQCT Kiểm sát viên phải phối hợp cùng Điều tra viên làm rõ thời gian, địa điểm xảy

ra tội phạm ngay từ giai đoạn đầu là kiểm tra xác minh tin báo, tố giác tội phạm (thông qua một số biện pháp điều tra ban đầu như lấy lời khai người bị hại, nhân chứng, khám nghiệm hiện trường…), từ đó có định hướng để tiến hành các hoạt động tiếp theo

Thứ hai, các vụ án xâm phạm sở hữu thường liên quan đến việc định

giá tài sản, xác định quyền sở hữu tài sản và xác định tài sản bị chiếm đoạt Việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội phạm cũng như khung xử lí phù hợp với quy định của BLHS Bị can chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với những tài sản thực tế bị can chiếm đoạt Số tiền, tài sản dùng để xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội phải là số tiền họ đã, đang chiếm của Nhà nước, của người khác Tuy nhiên nếu người phạm tội có lỗi, vi phạm các hợp đồng, thỏa thuận,

vi phạm các hợp đồng về quản lý kinh tế thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường Kiểm sát viên cần nắm vững tính quan trọng của việc định giá tài sản chiếm đoạt để yêu cầu CQĐT định giá đúng tài sản chiếm đoạt Nếu thấy việc định giá tài sản chiếm đoạt không khách quan, không phù hợp với các chứng

cứ thu thập được thì phải phải báo cáo lãnh đạo yêu cầu định giá lại hoặc yêu cầu Hội đồng định giá giải thích về kết quả định giá

Ngoài việc xác định giá trị tài sản, trong điều tra các vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu còn phải làm rõ chủ sở hữu, người quản lý các tài sản bị chiếm đoạt tức là xác định người bị hại trong vụ án Như đã phân tích

Trang 34

về đặc điểm các tội xâm phạm sở hữu thì tài sản là đối tượng của các tội phạm xâm phạm sở hữu phải có chủ sở hữu cụ thể Vì vậy xác định người bị hại (tổ chức hoặc cá nhân) trong vụ án là một yêu cầu trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu Việc làm rõ người bị hại trong các vụ án này không chỉ giúp làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn giúp truy tìm tài sản trả lại cho người bị chiếm đoạt, giải quyết bồi thường vật chất…

Thứ ba, các tội xâm phạm sở hữu thường có sự chuyển hóa gây khó

khăn cho việc định tội danh Như đã phân tích ở trên, mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu biểu hiện rất phong phú Dấu hiệu chiếm đoạt thể hiện ở

cả hành vi, mục đích chiếm đoạt và thực tế chiếm đoạt được Trên thực tế, hay xảy ra sự chuyển hóa giữa các tội cướp giật tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, giữa cướp tài sản và cướp giật tài sản, giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay việc hình

sự hóa các quan hệ dân sự Do đó, VKS mà trực tiếp là Kiểm sát viên làm nhiệm vụ phải nắm chặt chẽ hồ sơ, xem xét và đánh giá các chứng cứ thu thập được của CQĐT có đầy đủ, khách quan, hợp pháp để định tội và định khung hình phạt chính xác hay không để từ đó đề ra quyết định truy tố đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật Đồng thời từ những chứng cứ đó thiết lập bản luận tội và bảo vệ quan điểm truy tố trước Tòa án

Ví dụ đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Hai tội này đều có đặc điểm chung là người phạm tội phải thông qua hợp đồng vay, mượn, cho thuê để có được tài sản của người khác

Vì vậy yếu tố đầu tiên cần phải xác định là có hay không việc giao nhận tài sản thông qua hình thức hợp đồng (bằng văn bản hoặc miệng) giữa người phạm tội với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Cần phải thu thập được các tài liệu như hợp đồng, chứng từ, sổ sách thể hiện quá trình vay, giấy nhận

nợ, giấy hẹn hoặc những giấy tờ khác chứng minh việc vay mượn là có thật

Trang 35

(tài sản thế chấp, lời khai của các nhân chứng, sự đảm bảo của bên thứ ba ) Bên cạnh đó khi lấy lời khai của bị can cần làm rõ ý thức chủ quan của họ, có

ý thức chiếm đoạt hay không, ý thức chiếm đoạt có từ thời điểm nào để làm căn cứ xác định tội danh cụ thể Trong quá trình THQCT Kiểm sát viên phải yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ những vấn đề này hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như lấy lời khai bị can, người bị hại, nhân chứng để chứng minh hành vi phạm tội của họ

Thứ tư, các vụ án xâm phạm sở hữu thường liên quan đến một số tội

phạm khác Ví dụ đối với các vụ án cướp tài sản, người phạm tội thường có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Các hành vi này xâm phạm đến quyền nhân thân của người bị hại và trong nhiều trường hợp, các hành vi này đã cấu thành một tội độc lập khác như tội Giết người hoặc Cố ý gây thương tích Bên cạnh đó, các vụ án xâm phạm sở hữu cũng thường liên quan đến các tội phạm về ma túy Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì có khoảng 50% số người phạm tội về xâm phạm sở hữu

là người nghiện ma túy [54]

Như vậy, ma túy và xâm phạm sở hữu có mối quan hệ tương đối chặt chẽ với nhau Tệ nạn ma túy phát triển mạnh sẽ là một nguyên nhân quan trọng làm cho các tội phạm về xâm phạm sở hữu tăng cao Do đó, khi THQCT đối với các tội xâm phạm sở hữu các Kiểm sát viên cần chú ý đến vấn đề nhân thân người phạm tội, đánh giá khách quan, chính xác hành vi phạm tội để tránh bỏ lọt tội phạm cũng như truy cứu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Qua việc tìm hiểu các đặc điểm của hoạt động THQCT với loại tội xâm phạm sở hữu thì loại án này thường vướng mắc ở những điểm sau:

Thứ nhất: Không xác định được chủ sở hữu tài sản, việc định giá tài sản

Trang 36

cũng còn nhiều bất cập, có trường hợp cơ quan định giá không định giá được tài sản Một số vụ án ban đầu có dấu hiệu hình sự sau lại chuyển hóa thành vụ

án dân sự và ngược lại

Thứ hai: Việc phối hợp giữa CQĐT, VKS trong việc đánh giá căn cứ

để kết tội có lúc chưa thống nhất, chưa đánh giá đúng đối tượng, chứng cứ kết tội nên không củng cố được hồ sơ, chứng cứ vì vậy buộc phải trả tự do

Thứ ba: Hành vi phạm tội rõ ràng nhưng lại không đảm bảo về mặt chủ

thể thực hiện tội phạm Sau khi tạm giữ mới phát hiện đối tượng có biểu hiện tâm thần cần phải đi giám định để có kết luận chính xác

Thứ tư: Xác định sai thẩm quyền truy tố do địa điểm phạm tội thuộc địa

bàn khác hoặc thẩm quyền truy tố bị chồng chéo do chủ thể thực hiện hành vi phạm tội ở nhiều nơi

Trang 37

Kết luận chương 1

Thông qua phương pháp nghiên cứu lịch sử, so sánh tư pháp hình sự cho thấy: Quá trình phát triển và hoàn thiện chế định quyền công tố gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật Tùy từng kiểu Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội, con người, yếu tố văn hóa, truyền thống chính trị của mỗi quốc gia bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau Do vậy, quyền công tố, thực hành quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, đi đôi với việc hoàn thiện thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố, thực hành quyền công tố ngày càng rõ nét

Để làm tốt công tác thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu cần phải hiểu rõ: tội XPSH là những hành vi nguy hiểm cho

xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu nhà nước được thừa nhận và sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Nhận biết đặc điểm của các tội XPSH thông qua việc nghiên cứu cấu thành tội phạm của nhóm tội này Đồng thời, khi THQCT đối với nhóm tội này cần phải nắm bắt được những đặc trưng riêng biệt của nó so với các tội khác để có thể nâng cao chất lượng hoạt động THQCT

Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận ở trên tạo cơ sở vững chắc cho việc đánh giá thực trạng hoạt động THQCT đối với nhóm tội XPSH để

từ đó đưa ra cách khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THQCT

Trang 38

Chương 2:

NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

Với đặc điểm là thủ đô của đất nước, Hà Nội có vị trí giao lưu thông thuận với nhiều tuyến giao lưu huyết mạnh; là địa phương có dân số đông thứ hai cả nước, có cơ cấu dân cư phức tạp đặc biệt có lượng lớn học sinh, sinh viên, người lao động từ các tỉnh thành lân cận đến sống và làm việc tại đây; đồng thời số lượng dân cư này không ở cố định mà hay di biến dẫn đến việc quản lý rất khó khăn Ngoài ra Hà Nội còn là trung tâm của sự phát triển về kinh tế, văn hóa do đó mức độ đô thị hóa diễn ra tương đối nhanh kéo theo đó

là sự phân hóa các tầng lớp làm phát sinh các tệ nạn xã hội ngày càng ra tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự an toàn xã hội Đây là nguyên nhân dân đến sự gia tăng phức tạp của loại tội phạm xâm hại sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội Nhóm tội này trên địa bàn TP Hà Nội diễn biến ngày càng phức tạp, tính chất, mức độ và thủ đoạn của hành vi phạm tội ngày càng tinh vi đã gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra và thực hành quyền công tố đối với các vụ án này của Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội.Vì thế chất lượng của hoạt động THQCT đối với các tội XPSH cần phải được nâng cao

2.1 Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu

2.1.1 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các

vụ án xâm phạm sở hữu

Để mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, điều tra, xử lý kịp thời không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Nhà nước giao cho VKS thay mặt Nhà nước thực hành quyền công tố, theo đó Viện kiểm sát được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố

Trang 39

để thực hiện việc truy cứu TNHS người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét

xử trước tòa án Có thể nói: Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án

hình sự là chức năng tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện quyền của nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành

vi phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố và trong suốt quá trình điều tra vụ

án hình sự cho đến khi kết thúc điều tra

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn theo điều 112 Bộ Luật TTHS năm 2003; điều

14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Do đó khi THQCT đối với các tội XPSH Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Một là: Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra

khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

- Khởi tố vụ án XPSH: Là việc Nhà nước (ủy quyền cho cơ quan thực hành quyền công tố) chính thức công khai trước toàn xã hội về việc có tội XPSH xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện tội phạm đó

Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Khởi tố vụ án XPSH là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự Việc khởi tố vụ án XPSH đòi hỏi phải có căn cứ, đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục tố tụng Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Các dấu hiệu của tội phạm thể hiện qua các tình tiết đã được xác định như: Hành vi nguy hiểm cho

xã hội đã thực tế xảy ra; hành vi đó bị pháp luật ngăn cấm được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm; hành vi đó đã gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội; các tình tiết khách quan chứng tỏ người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên cơ sở: Tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Cơ quan

Trang 40

điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú

Theo pháp luật hiện hành thì Quyết định khởi tố và các tài liệu liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và các cơ quan thẩm quyền khác phải được gửi tới Viện kiểm sát (Khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự) Có nghĩa là việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự là do

Cơ quan thực hành quyền công tố (Viện kiểm sát) quyết định

- Khởi tố bị can: Là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức tuyên bố về mặt pháp lý một người nào đó có dấu hiệu phạm tội và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự Theo pháp luật Việt Nam, khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đều có quyền khởi tố bị can Quyết định khởi tố bị can là văn bản áp dụng pháp luật; theo đó CQĐT xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa Cơ quan điều tra với

bị can Đây là cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động điều tra

Khoản 4, 5, 6 Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can; sau khi nhận

hồ sơ và kết luận điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can

Như vậy, mặc dù pháp luật quy định việc khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, nhưng về thực chất quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra chỉ có hiệu lực khi có sự phê chuẩn của Cơ quan THQCT là Viện kiểm sát Việc xem xét phê chuẩn là một thủ tục quan trọng để kiểm tra, xem xét quyết

Ngày đăng: 25/09/2020, 20:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm