1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên.

105 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

28 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ ÁNH TUYẾT

CHøC N¡NG CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N TRONG §IÒU TRA Vô ¸N H×NH Sù Mµ BÞ CAN

Lµ NG¦êI CH¦A THµNH NI£N

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Ánh Tuyết

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ

ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 8

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN

LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 8 1.1.1 Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ

án hình sự mà bị can là người chưa thành niên 8 1.1.2 Đặc điểm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ

án hình sự mà bị can là người chưa thành niên 14 1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 17 1.2.1 Cơ sở lý luận 17 1.2.2 Cơ sở thực tiễn 22 1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 24 1.3.1 Ý nghĩa chính trị 24

Trang 5

1.3.2 Ý nghĩa pháp lý 25

1.3.3 Ý nghĩa xã hội 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 29

2.1 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 29

2.1.1 Chức năng thực hành quyền công tố 30

2.1.2 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp 47

2.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 51

2.2.1 Những kết quả đạt được 51

2.2.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ BẢO ĐẢM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 68

3.1 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 68

Trang 6

3.1.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sự 68

3.1.2 Ban hành các văn bản hướng dẫn 73

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC BẢO ĐẢM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 76

3.2.1 Nâng cao chất lượng cán bộ của ngành Kiểm sát 76

3.2.2 Tăng cường về cơ sở vật chất cho ngành kiểm sát 80

3.2.3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 83

3.2.4 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên 85

3.2.5 Xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên 88

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

ĐTV: Điều tra viên KSV: Kiểm sát viên NCTN: Người chưa thành niên TAND: Tòa án nhân dân

TTHS : Tố tụng hình sự THQCT: Thực hành quyền công tố VAHS: Vụ án hình sự

VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tỉ lệ NCTN phạm tội từ năm 2011 - 2016 51 Bảng 2.2: Tỷ lệ NCTN bị VKS truy tố so với NCTN bị đề nghị truy tố 53 Bảng 2.3: Số liệu kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ một số

biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra VAHS mà

Bảng 2.4: Số liệu thống kê số bị can là người chưa thành niên do

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày

02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp

trong thời gian tới” đã đặt ra yêu cầu đối với VKSND các cấp là:

Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động

tư pháp phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ [6]

Sau đó, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị

về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định: “ tăng cường

nhiệm vụ của công tố trong hoạt động điều tra ” [8] và gần đây nhất, tại Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định:

Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo

vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công

tố với hoạt động điều tra [8]

Trang 10

Yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi)

và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can là NCTN là thể hiện cụ thể một trong những chức năng của VKS, bảo đảm việc giải quyết vụ án có bị can là NCTN được chính xác, nhanh chóng, đảm bảo quyền con người của NCTN, đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước nhằm góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án

Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong công tác của mình, VKS đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong vụ án hình sự nói chung, cũng như vụ án có bị can là NCTN nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKS vẫn còn có những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình, như: Vẫn còn tình trạng bắt, tạm giam, tạm giữ NCTN chưa đáp ứng được điều kiện, yêu cầu của Bộ luật Tố tụng hình sự; việc tạm giam NCTN còn được áp dụng tương đối phổ biến trong khi đó biện pháp giám sát tại gia đình và cộng đồng thì lại

ít được áp dụng trên thực tế, mặc dù đây là biện pháp tốt đối với quá trình giáo dục, cải tạo đối với NCTN; các quyền cơ bản của NCTN trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đặc biệt là quyền bào chữa của họ vẫn chưa được đảm bảo, điều này dẫn đến tình trạng oan sai, vi phạm quyền con người của NCTN đang còn xảy ra; về đội ngũ cán bộ tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên; Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, về khả năng giao tiếp, làm việc với NCTN Những bất cập trên vẫn còn xảy ra, và có

xu hướng gia tăng, chính vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu, sửa đổi

Trang 11

tục tố tụng đối với người thành niên nói chung và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án có NCTN nói riêng

Từ các lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài "Chức năng của Viện

Kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý hình sự, chức năng của VKSND trong điều tra

vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã được một số tác giả trong nước nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau

Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng của VKSND trong điều tra vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với NCTN như: luận văn

thạc sỹ của Nguyễn Ngọc Thương với đề tài: Thủ tục TTHS đối với những vụ

án do NCTN thực hiện - Lý luận và thực tiễn năm 2006, Luận án tiến sỹ luật

học của tác giả Đỗ Thị Phượng với đề tài Thủ tục tố tụng đối với NCTN – một

số vấn đề lý luận và thực tiễn năm 2008, Luận văn thạc sỹ của Võ Huỳnh

Ngọc Thủy với đề tài “Thủ tục giải quyết các vụ án đối với người chưa thành

niên (trên cơ sở số liệu của địa bàn tỉnh Bình Dương)” năm 2013, luận văn

thạc sỹ của Bùi Ngọc Tú với đề tài “nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm

sát điều tra” năm 2013, luận văn thạc sỹ của Vũ Thị Anh Đào với đề tài

“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị

cáo là NCTN” năm 2014, luận văn thạc sỹ của Trần Quỳnh Hoa với đề tài

“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên” năm 2014, luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Thành với đề tài “Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra các vụ ánh hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2015

Trang 12

Về đề tài khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội của tập thể tác giả: Nguyên

tắc nhân đạo trong các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS đối với NCTN ở Việt Nam, năm 2005 Ngoài ra, còn có những nghiên cứu đề cập

đến những vấn đề lý luận chung hoặc nghiên cứu những đề tài khác nhưng có

một số nội dung liên quan đến thủ tục tố tụng đối với NCTN như cuốn: Tăng

cường năng lực hệ thống tư pháp NCTN tại Việt Nam, thông tin khoa học

pháp lý của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2000; hay

cuốn: Thủ tục điều tra và xét xử liên quan đến trẻ em và NCTN: Đánh giá về

các thủ tục nhạy cảm đối với trẻ em của Tòa án nhân dân (TAND); Trường

Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội với công trình: Đào tạo kiểm sát viên làm việc với

NCTN (Sách dự án Danida)

Bên cạnh đó, một số tác giả đã công bố các tác phẩm liên quan đến chức năng của VKSND và thủ tục tố tụng đối với NCTN như:

- Tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết: Áp dụng các quy định của

BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm

sát số 6 tháng 3 năm 2007;

- Tác giả Mai Bộ với bài viết: Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về

việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí

Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007;

- Tác giả Phan Trung Hoài với bài viết: Vấn đề bảo đảm quyền bào

chữa của NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007

- Tác giả Phạm Hồng Quân với bài viết: Về chức năng, nhiệm vụ của

Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự đăng trên Tạp chí khoa

học, ĐH Quốc gia Hà Nội, Luật học số 28 năm 2012

- Tác giả Trần Thị Minh Thư với bài viết: “Kỹ năng của Kiểm sát viên

khi thụ lý, giải quyết các vụ án do người chưa thành niên phạm tội” đăng trên

Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội số 07, năm 2014

Trang 13

Như vậy, nghiên cứu về chức năng của VKSND trong giai đoạn điều tra cũng như thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã có rất nhiều người nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Riêng về vấn đề chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN nói riêng còn chưa được quan tâm nghiên cứu sâu sắc

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề "Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" nhằm làm rõ bản chất của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có bị can là NCTN và những đặc trưng cơ bản của hoạt động này trong vụ án có NCTN tham gia Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can là NCTN Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án có người chưa thành niên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Làm sáng tỏ lý luận bị can là người chưa thành niên; chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra; chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên

- Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên từ đó thấy được những ưu điểm,

Trang 14

tích cực và mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chức năng này

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên

Về thời gian: Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn trong 05 năm (từ năm 2010 đến năm 2015)

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử Đồng thời để phục vụ các nhiệm vụ khoa đặt ra từ đề tài luận văn, luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp,

so sánh và khảo sát thực tế

5 Ý nghĩa và điểm mới và đóng góp của luận văn

Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát điều tra của VKS đối với các vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên Qua đó thấy được vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Luận văn có nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình

Trang 15

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sát nhân

dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003

và năm 2015 về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên và thực tiễn thi hành

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự

và bảo đảm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình

sự mà bị can là người chưa thành niên

Trang 16

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN

LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1.1 Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên

Thuật ngữ “Người chưa thành niên” là một thuật ngữ thông dụng được

sử dùng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như xã hội học, tâm lí học, luật học Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học

Việt Nam, năm 2002 đã đưa ra khái niệm về NCTN như sau: “NCTN là người

chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa

có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [35] Dựa vào khái niệm này chúng ta

có thể xác định được NCTN trên hai góc độ:

Thứ nhất, NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực,

trí tuệ và tinh thần (đặc điểm về tâm, sinh lí) Điểm đặc trưng của lứa tuổi này

là sự phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm, sinh lí NCTN là người đang ở giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình Đối với NCTN, do tư duy của họ chưa phát triển hoàn thiện nên họ chưa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thường trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiềm chế chưa cao

Thứ hai, NCTN là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân

Các yếu tố khách quan của xã hội chính là cơ sở quan trọng để phân chia độ

Trang 17

cũng khác nhau Chính vì vậy, độ tuổi để phân chia NCTN và người thành niên trên thế giới là không giống nhau Ngày 29 - 11 – 1985, Đại hội đồng Liên hợp

quốc đã thông qua Quy tắc Bắc Kinh và định nghĩa: “NCTN là trẻ em hay

người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật ” [13, phần I, khoản 22, mục a]

Sau đó, Những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo vệ

NCTN bị tước quyền tự do thông qua ngày 14 - 12 - 1990 đã bổ sung: “NCTN

là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được luật xác định ” [14, phần II, khoản 11, mục a] Theo quy định này thì phạm vi độ tuổi

của NCTN được giới hạn từ 0 đến dưới 18 tuổi [12] Có thể nói, việc xác định

độ tuổi người chưa thành niên như thế nào cho phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan tới nhiều chính sách lớn của Nhà nước trong quản lý xã hội Trên nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, đảm bảo sự phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, các văn bản pháp luật Việt Nam cũng giới hạn độ tuổi cho NCTN “Ở Việt Nam, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công tới nay, Nhà nước Việt Nam đã nhất quán xác định độ tuổi ranh giới này là 18 tuổi tròn Như vậy độ tuổi đối với một người có đầy đủ quyền

và nghĩa vụ công dân là đủ 18 tuổi”[9, tr.8] Mặc dù đều nhằm mục đích bảo

vệ quyền trẻ em nhưng do khách thể bảo vệ trong từng ngành luật khác nhau nên độ tuổi của NCTN cũng được quy định khác nhau

Đối với Luật hình sự, việc xác định một người, ở độ tuổi nào phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình gây ra có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người mà chủ yếu

là sự phát triển về quá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Tại Điều 68 BLHS Việt Nam năm 1999, đã được sửa đổi và bổ sung năm 2009 quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi

Trang 18

phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [24] Theo quy định trên và các quy định khác của BLHS có thể hiểu rằng: một NCTN chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý thì đều không phải là tội phạm Cùng với quy định của BLTTHS năm

2015 “Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự” [28, Điều 60],

theo chúng tôi, Bị can là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi bị

khởi tố về hình sự

Thuật ngữ “Chức năng” được hiểu là “nhiệm vụ, công dụng và vai trò” [45]

“Chức năng của cơ quan Nhà nước” là hoạt động chủ yếu thường xuyên có tính ổn định tương đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nước [38]

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định

chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 107 như sau: “Viện kiểm sát

nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [26]

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy

định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát

hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27]

Đồng thời lần đầu tiên đưa ra khái niệm về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND tại Điều 3, 4 của Luật này như sau:

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát

nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết

Trang 19

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát

nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [27, Điều 3-4]

Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, theo quy định của BLTTHS năm 2003, quá trình tố tụng của nước ta trải qua các giai đoạn đó là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Với tư cách là một cơ quan pháp luật nhân danh Nhà nước, trong các giai đoạn tố tụng hình

sự, Viện kiểm sát nhân dân đều đảm nhận hai chức năng đã nêu Trong đó, việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn điều tra Bởi lẽ, trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội

phạm Thực tiễn đã chỉ ra rằng, “có thể nói những kết quả khả quan cũng như

những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người

vô tội thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra” [17]

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn TTHS và phạm vi giai đoạn điều tra VAHS Có quan điểm cho rằng:

Điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng hình

sự, trong đó CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội [18, tr.5] Quan

Trang 20

điểm khác lại cho rằng: Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi VAHS được khởi tố (một

số trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố) và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố hoặc không truy tố kẻ phạm tội ra toà, hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS [30, tr.91]

Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng:

Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình TTHS do Cơ quan có thẩm quyền điều tra VAHS tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn khởi tố được tiến hành trên cơ sở Quyết định khởi tố của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố và kết thúc khi CQĐT hoàn thành bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Toà án hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra [4, tr.96] Theo quan điểm này, điều tra là một giai đoạn tố tụng độc lập, bắt đầu

từ khi cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc kết luận kèm theo quyết định đình chỉ điều tra Trong giai đoạn này, CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can

Trang 21

Như vậy, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, BLTTHS năm 2015,

các luật về tổ chức và lý luận luật tố tụng hình sự, theo chúng tôi, chức năng

của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội và kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp ngay từ khi Cơ quan điều tra hoặc một số cơ quan khác có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy

tố người phạm tội hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án

Trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN, ngoài việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp như những vụ án hình sự thông thường, VKS còn có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS và các văn bản pháp lý có liên quan nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị can là người chưa thành niên trong vụ án Tránh trường hợp bị can là NCTN bị áp dụng những biện pháp

mà BLTTHS cấm áp dụng hoặc hạn chế áp dụng như tạm giam, áp dụng hình phạt quá nặng

Khi thực hiện việc bảo vệ quyền con người, đặc biệt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, VKS thực hiện đồng thời hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nếu kiểm sát các hoạt động tư pháp được thực hiện để phát hiện nhanh chóng các

vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng thì thực hành quyền công tố là chức năng để VKS buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân theo pháp luật Do tính chất khác nhau của từng giai đoạn mà vai trò bảo vệ NCTN biểu hiện ở những mức độ khác nhau, đặc biệt là giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Từ những phân tích theo chúng tôi: Chức năng của Viện kiểm sát nhân

Trang 22

dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN là hoạt động thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội và kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và một số cơ quan có thẩm quyền điều tra khác trong quá trình điều tra hình sự mà bị can là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

1.1.2 Đặc điểm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên

1.1.2.1 Đặc điểm chức năng thực hành quyền công tố của VKSND trong điều tra VAHS mà bị can là người chưa thành niên

Thứ nhất, Chủ thể tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố trong

giai đoạn điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN là Viện kiểm sát

Thứ hai, Đối tượng của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

tra vụ án hình sự chính là việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi trong giai đoạn này

Thứ ba, nội dung chức năng thực hành quyền công tố của VKSND

trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên tuân theo những quy định chung về chức năng thực hành quyền công tố của VKSND tại Điều 165 BLTTHS năm 2015 (Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) [25, Điều 112] và Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Theo đó, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra VAHS mà bị can là người chưa thành niên Viện kiểm sát nhân tiến hành những hoạt động sau:

Một là, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

Hai là, phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật

Trang 23

Ba là, khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi

tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định

Bốn là, phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này, hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do

Năm là, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này

Sáu là, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ qua được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Bẩy là, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp

để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của

Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố

Tám là, khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và

Trang 24

trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm

Chín là, quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án

Mười là, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật này

Thứ tư, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án

hình sự có bị can là NCTN bắt đầu từ khi CQĐT hoặc một số cơ quan khác có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT

ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố người phạm tội hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án

1.1.2.2 Đặc điểm chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong điều tra VAHS mà bị can là người chưa thành niên

Thứ nhất, chủ thể tiến hành kiểm sát hoạt động điều tra VAHS mà bị

can là NCTN là Viện kiểm sát nhân dân Đây là chức năng hiến định của VKSND và được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan đã xác định chức năng kiểm sát hoạt động điều tra VAHS cho VKSND

Thứ hai, đối tượng của kiểm sát điều tra các VAHS mà bị can là NCTN

là các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, người tham gia tố tụng và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra VAHS có bị can từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

Thứ ba, nội dung của kiểm sát điều tra các VAHS mà bị can là NCTN

của VKSND là giám sát trực tiếp và điều chỉnh mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác có liên

Trang 25

Thứ tư, phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra các VAHS mà bị can

là NCTN được xác định bắt đầu từ khi CQĐT hoặc một số cơ quan khác có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT

ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố người phạm tội hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án

Có thể nói, việc xác định đúng chủ thể, đối tượng, nội dung và phạm vi của hoạt động THQCT là cơ sở quan trọng để phân biệt với hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp và các hoạt động thực hiện chức năng khác nhằm thực hiện đúng thẩm quyền trong quá trình điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cơ quan VKSND trong tố tụng hình sự

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN

LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.2.1 Cơ sở lý luận

Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm tâm – sinh lý người chưa thành niên

Giai đoạn từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi trẻ em sang tuổi người lớn Trong giai đoạn này, con người có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần Chính sự thay đổi về thể chất và tinh thần ấy

đã dẫn đến những thay đổi trong tâm lý– sinh lý của người chưa thành niên

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và kiểm soát hành vi của họ còn hạn chế, dễ bị kích động và bị tác động bởi môi trường xã hội và những điều kiện khách quan

Về sinh lý, Cơ thể người chưa thành niên trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có sự phát triển không cân bằng giữa hệ tim và mạch “Tim phát triển nhanh hơn các mạch máu đã gây ra sự thiếu máu trong từng bộ

Trang 26

phận vỏ não và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch Do đó người chưa thành niên có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc suy giảm, dễ bị kích động, dễ nổi nóng… Đồng thời, tuyến nội tiết ở người chưa thành niên hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến sinh dục

và tiếp giáp trạng) gây ra sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dễ đưa họ đến những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, những hành vi bất thường” [37, tr.62] Trên thực tế, trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc không cân bằng là một trong những yếu tố có thể gây nên các hành vi lệch chuẩn của người chưa thành niên Trong nhiều trường hợp chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhưng người chưa thành niên không thể kiềm chế được sự nóng giận quá khích, không thể làm chủ được bản thân để dẫn đến những hành động sai lầm, thậm chí là thực hiện hành vi phạm tội

Về tâm lý, ở độ tuổi này, NCTN bắt đầu hình thành nhu cầu độc lập, có tâm lý thích khám phá những điều mới lạ và nhận thức pháp luật còn hạn chế

Do có sự phát mạnh mẽ về thể chất và sự hoàn thiện về các chức năng sinh lý nên người chưa thành niên dần ý thức được rằng “mình không còn là trẻ con nữa” Chính vì vậy nhu cầu độc lập của người chưa thành niên bắt đầu hình thành Đó là nhu cầu khẳng định bản thân, tự đưa ra các quyết định theo ý kiến riêng, tự hành động mà không bị phụ thuộc bởi ông, bà, bố mẹ… Một số người chưa thành niên biểu hiện nhu cầu độc lập một cách thái quá: ngang bướng, cố chấp, hành động bồng bột, khoe khoang, gây gổ, sử dụng bạo lực

để thể hiện sức mạnh của bản thân, muốn được tôn trọng như người lớn… Tất

cả những hành vi đó của người chưa thành niên đều mang tính chất lệch chuẩn và dễ dẫn đến các hành vi phạm tội

Ngày nay, các phương tiện truyền thông, mạng xã hội phát triển vô cùng mạnh mẽ và phổ biến Đó chính là công cụ giúp người chưa thành niên khám phá cuộc sống xung quanh, nâng cao nhận thức đối với xã hội… Đây là

Trang 27

yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách của người chưa thành niên Tuy nhiên, bên cạnh những khám phá có lợi, trong quá trình khám phá, tìm tòi những điều mới lạ, người chưa thành niên thường còn bị thu hút bởi những điều thiếu lành mạnh, lệch chuẩn và nhanh chóng học theo đó Nếu

họ không tự chủ được bản thân, không phân biệt được đúng sai, phải, trái Thêm vào đó là sự thiếu quan tâm, kịp thời uốn nắn, giúp đỡ của gia đình, nhà trường thì việc người chưa thành niên sa vào con đường phạm tội là tất yếu

Ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, người chưa thành niên chưa

có những nhận thức đúng đắn về xã hội, và pháp luật Hành vi của họ thường

dễ bị ảnh hưởng bởi cảm xúc cá nhân, bạn bè cùng trang lứa Cùng với cái

“tôi” cá nhân ngang bướng, thích thể hiện nên họ dễ bị lôi cuốn theo những trào lưu lệch chuẩn, những bạn bè xấu Nhiều người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội mà không biết rằng mình đã phạm tội, không thấy được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội mà lại cho rằng mình chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính mình Có thể nói rằng, Ý thức pháp luật là nhân

tố rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của người chưa thành niên Khi họ không có được ý thức đúng đắn thì nguy cơ dẫn tới hành vi phạm tội

là rất cao Do vậy, chúng ta cần phải có những phương pháp giáo dục phù hợp với tâm lý của người chưa thành niên nhằm ngăn chặn những khuynh hướng tiêu cực trong ý thức pháp luật của thế hệ công dân tương lai

Thứ hai, xuất phát từ việc đảm bảo giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan

Như đã phân tích ở trên, NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, nhận thức pháp luật còn chưa đầy đủ và đặc biệt họ dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu sinh trưởng trong môi trường xấu và không được chăm sóc giáo dục chu đáo, NCTN dễ bị

Trang 28

ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội dẫn đến hành vi phạm tội Bên cạnh đó, so với người đã thành niên ý thức phạm tội của NCTN chưa sâu sắc, họ dễ tiếp thu sự giáo dục của xã hội, nhà trường cũng như gia đình để từ

bỏ con đường phạm tội Do vậy xét về mặt nhân thân người phạm tội, không thể coi NCTN phải chịu trách nhiệm hình sự giống như người đã thành niên được Chính vì thế, hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội phải nhẹ hơn

so với người đã thành niên phạm tội và không phải tất cả những NCTN phạm tội đều phải xử lý bằng hình sự; Thủ tục tố tụng đối với các vụ án hình sự do NCTN thực hiện cũng phải đặc biệt hơn so với thủ tục tố tụng đối với những

vụ án thông thường Vì lý do đó trong công tác điều tra các VAHS mà bị can

là NCTN, Điều tra viên, KSV cần phải thu thập thông tin, chứng cứ để không chỉ làm rõ tất cả những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự mà còn nhằm xác định rõ những vấn đề khác theo quy định tại Điều 416 BLTTHS năm 2015 Phải vận dụng một cách có căn cứ các nguyên tắc quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015 nhằm đảm bảo việc giải quyết các VAHS

Trang 29

đảm quyền con người và sự nghiêm minh của pháp luật Áp dụng hình phạt nghiêm với người chưa thành niên phạm tội không phải là một biện pháp tốt bởi sẽ làm cho những đứa trẻ đó trở nên chai sạm, lỳ lợm hơn khi cảm thấy xã hội không khoan dung Mặc cảm của đứa trẻ không dễ gì xóa được trong suy nghĩ trong nhận thức còn non nớt của chúng Việc xử lý hành vi phạm tội của NCTN chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội

Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên năm 1985 (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh) đề ra các tiêu chuẩn tối thiểu, toàn diện về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên Các quy tắc này hướng dẫn các quốc gia thành viên khi xây dựng các hệ thống tư pháp riêng cho người chưa thành niên theo nghĩa vụ được quy định tại Điều 40 của Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em Nội dung của điều này là cơ sở để các quốc gia thành viên xây dựng và ban hành các luật, quy tắc, thể chế để áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, và bảo vệ các quyền cơ bản của họ Quy tắc Bắc Kinh một lần nữa nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống các quy định áp dụng đối với người chưa thành niên cần chú trọng đến quyền, lợi ích của người chưa thành niên, đồng thời đảm bảo mọi quyết định xử lý người chưa thành niên phải phù hợp với hoàn cảnh và tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các

em đã thực hiện

Ở nước ta, bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội khi có sự xâm hại, sự vi phạm quyền của các em từ các cơ quan, các chủ thể thực hiện việc xem xét, xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên Pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng

Trang 30

không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm cho các em được hưởng thụ các quyền, cũng như bảo đảm cho các em không bị tước mất quyền của mình trong hoàn cảnh đối mặt với pháp luật và là đối tượng xem xét của pháp luật Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế nêu trên, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện Việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật

Hiện nay, trong pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, hàng loạt các chế định pháp luật mang tính cá biệt nhằm bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội Đó là các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên; nghĩa vụ của các cơ quan, người tiến hành tố tụng… đối với người chưa thành niên phạm tội Toàn bộ những quy định đó thể hiện những tư tưởng, nguyên tắc của Nhà nước ta mang tính nhân đạo và hướng tới mục tiêu chung bảo đảm cho quyền của người chưa thành niên không bị tước

em và thanh thiếu niên, đặc biệt là những thanh thiếu niên phạm tội; đồng thời cần có hệ thống pháp luật hoàn thiện để điều chỉnh và áp dụng cho đối tượng tội phạm này

Trang 31

Thực trạng số lượng người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng và trẻ hóa đang diễn ra ở nước ta hiện nay chính là cơ sở chứng minh cho

sự cần thiết của các quy định về hình sự và TTHS đối với đối tượng tội phạm này Đồng thời việc quy định thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên nói chung và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát điều tra vụ án mà bị can là người chưa thành niên phạm tội nói riêng là một trong những biện pháp để hạn chế tình trạng gia tăng tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Bởi lẽ bên cạnh tác dụng giáo dục người chưa thành niên, các biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng còn có tác dụng nhất định đến việc ngăn chặn tội phạm

Thực tiễn người chưa thành niên phạm tội nêu trên đã đặt ra cho chúng

ta những câu hỏi nhức nhối: Phải làm thế nào để hạn chế và đi đến loại trừ tình trạng người chưa thành niên phạm tội ra khỏi đời sống xã hội? Khi đưa người chưa thành niên ra khởi tố, điều tra cần phải áp dụng các thủ tục tố tụng như thế nào cho phù hợp đối với đặc điểm về lứa tuổi, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành mà vẫn có tác dụng tích cực trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm là người chưa thành niên? Để trả lời cho những câu hỏi trên thì những người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng đối với người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên phải là những người có hiểu biết về tình hình tội phạm của người chưa thành niên, tâm lý người chưa thành niên cũng như hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên thì mới có thể đạt được các nhiệm vụ tố tụng đặt ra

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người chưa thành niên

Công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên những năm qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận như: mọi hành

Trang 32

vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, không để người nào bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; tất cả

bị can là người chưa thành niên đều được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật, tình trạng bị can bỏ trốn hoặc phạm tội mới đã giảm; không có trường hợp nào quá thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can; công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam đã có nhiều kiến nghị được chấp thuận và các vi phạm trong quá trình áp dụng đã được khắc phục đáng kể

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác điều tra như các cơ quan tiến hành tố tụng lạm quyền, chưa thực sự tôn trọng quyền lợi của bị can

là người chưa thành niên, vẫn còn xảy ra một số trường hợp bị oan, sai

Từ những vướng mắc trong thực tế trên nên hoạt động kiểm sát điều tra

vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên của VKS càng có một ý nghĩa quan trọng Bởi vì, ngoài các quy định về kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự nói chung thì trong vụ án có bị can là NCTN, VKS còn có những vai trò, nhiệm vụ quyền hạn nhất định cần phải được quy định một cách chặt chẽ

1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.3.1 Ý nghĩa chính trị

Việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

vụ án hình sự có bị can là NCTN của Viện kiểm sát nhân dân mang một ý nghĩa chính trị hết sức to lớn và là biểu hiện rõ nét của tính dân chủ trong chế

độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay Quá trình thực hiện chức năng trên của VKSND không chỉ góp phần đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền con người đặc biệt quyền của NCTN phạm tội trong

Trang 33

TTHS mà còn góp phần đảm bảo cho quá trình TTHS được thực hiện một cách đúng luật, đúng trình tự theo quy định

Chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp là một chức năng Hiến định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013 [26] Với chức năng này, VKS đã góp phần bảo vệ pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp của bị can là NCTN được ghi nhận trong BLHS và BLTTHS nước ta Qua đó, đạt được những yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra đối với việc xử

lý NCTN phạm tội, giúp cho họ được giáo dục, cải tạo đủ điều kiện trở lại làm người có ích cho xã hội

Quá trình VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN có tác động tích cực đến chất

Trang 34

lượng hoạt động điều tra, truy tố của các cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án Nếu thực hiện tốt chức năng này sẽ tránh được đến mức thấp nhất tình trạng oan sai trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Ngược lại, nếu không thực hiện tốt chức năng này thì sẽ dẫn đến nhiều vi phạm pháp luật TTHS, bởi vì nó hạn chế quyền của NCTN và ảnh hưởng đến việc ra các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ và hợp pháp

1.3.3 Ý nghĩa xã hội

Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ

án hình sự mà bị can là NCTN có một ý nghĩa xã hội hết sức sâu sắc và được thể hiện trên các phương diện khác nhau

Thứ nhất, việc thực hiện chức năng này của VKSND thể hiện tính nhân đạo XHCN Việc VKS thực hiện tốt các chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật sẽ giúp bảo đảm tốt hơn quyền con người của NCTN trong tố tụng hình sự Trong quá trình thực hiện chức năng của mình, VKSND đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Nếu phát hiện thấy các

cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện không đúng các thủ tục tố tụng đối với NCTN thì VKS sẽ không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn

cứ pháp luật và kiến nghị, yêu cầu kịp thời để các cơ quan tiến hành tố tụng sửa chữa và tuân thủ đúng quy định của luật

Thứ hai, việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên của VKSND ngoài việc thể hiện tính nhân đạo XHCN còn thể hiện tính dân chủ Bị can là NCTN thường ở trong trạng thái bất lợi hơn so với người thành niên về thể chất, sự hiểu biết về các mặt của đời sống xã hội thêm vào đó họ lại chưa có đầy đủ

Trang 35

quyền và nghĩa vụ công dân Chính vì vậy, việc VKS tiến hành các hoạt động thực hành quyền công tố cũng như kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo quyền tự do, dân chủ của họ trong quá trình tham gia tố tụng Cụ thể là việc đảm bảo cho bị can là NCTN được thực hiện quyền lựa chọn người bào chữa, quyền được người đại diện hợp pháp tham gia vào quá trình hỏi cung, xét xử; quyền sử dụng tất cả những biện pháp mà pháp luật không cấm để chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của CQĐT, VKS hoặc Toà án để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong khoa học pháp lý hình sự, chức năng của VKSND trong điều tra

vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã được một số tác giả trong nước nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau Riêng về vấn

đề chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN nói riêng còn chưa được quan tâm nghiên cứu sâu sắc

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và kiểm soát hành vi của họ còn hạn chế Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN là hoạt động thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội và kiểm tra, giám sát hoạt động của các

cơ quan, người tiến hành tố tụng và một số cơ quan có thẩm quyền điều tra khác trong quá trình điều tra hình sự mà bị can là người chưa thành niên từ đủ

14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Việc quy định về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN mang những ý

nghĩa thực tiễn cũng như ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc

Trang 37

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM

2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI

CHƯA THÀNH NIÊN

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 cũng như năm 2015 thì thủ tục tố tụng trong việc điều tra vụ án do người chưa thành niên thực hiện không làm thành một trình tự thủ tục tố tụng riêng biệt Việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện vẫn được tiến hành theo một trình tự chung, đồng thời tuân theo những thủ tục có tính đặc biệt áp dụng riêng cho quá trình giải quyết vụ án hình sự

do người chưa thành niên thực hiện Các thủ tục có tính đặc biệt này nhằm đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện; “đảm bảo nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên”, phù hợp với chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Đảng, Nhà nước ta và các chuẩn mực quốc tế, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên chỉ tiến hành trong trường hợp cần thiết, với mục đích chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ các em sớm nhận ra sai lầm

để tích cực sửa chữa, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, trở thành công dân có ích cho đất nước” [2, tr 9]

Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự

mà bị can là người chưa thành niên cũng không nằm ngoài chức năng của

Trang 38

Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự thông thường là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Do vậy trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến những chức năng

riêng biệt của VKSND trong điều tra VAHS mà bị can là NCTN

2.1.1 Chức năng thực hành quyền công tố

“Nhiệm vụ của VKSND là những hoạt động cụ thể của VKSND trong

một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành mình

để cùng thực hiện nhiệm vụ chung của cả bộ máy Nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật” [21] Cụ thể hóa điều này, tại Điều 165

BLTTHS năm 2015 và Điều 12 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định

10 nhiệm vụ cụ thể của chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND Có thể thấy rằng, so với các quy định tại Điều 112 BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung rất nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra” và bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức VKSND năm 2014 Việc quy định chi tiết, rõ ràng nhiệm vụ của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra sẽ góp phần làm cho việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của CQĐT cũng như tại điều kiện để giữa CQĐT và VKS phối hợp chặt chẽ hơn trong giai đoạn điều tra, tạo ra sự chế ước lẫn nhau với mục đích cao nhất là bảo đảm quá trình điều tra diễn ra đúng quy định của pháp luật

Về chức năng thực hành quyền công tố của VKSND trong điều tra vụ

án hình sự mà bị can là NCTN trên cơ sở tuân theo quy định chung giống như các vụ án hình sự thông thường còn tuân theo các quy định riêng biệt như sau:

2.1.2.1 Chức năng thực hành quyền công tố trong việc Khởi tố vụ

án, khởi tố bị can

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án

Trang 39

hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định đó là quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự [5, tr 64]

Khởi tố bị can là hành vi pháp lý của cơ quan có thẩm quyền xác định một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội và cần phải tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó [36, tr.34]

Khi thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can là

NCTN, VKS cần yêu cầu cơ quan điều tra xác định ngay “tuổi, trình độ phát

triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người lớn xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội? ” [20, tr.18] Yêu cầu

điều tra này của Viện kiểm sát không chỉ đảm bảo cho việc không để lọt tội phạm mà còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng hiểu rõ hơn về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Việc xác định rõ có hay không có những người khác cùng tham gia phạm tội sẽ phản ánh mức độ ý chí phạm tội, mức độ lỗi và vai trò của từng người làm cơ sở áp dụng biện pháp xử lý với hành vi phạm tội Tại Điều 91 BLHS năm 2015 quy định “Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm);

Trang 40

Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều

150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều

168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất

ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; Người dưới

18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”

* Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt

động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

Tại Điều 161 BLTTHS năm 2015 quy định: Khi thực hành quyền công

tố trong việc khởi tố vụ án hình sự, VKS có quyền: yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi,

bổ sung quyết định khởi tố VAHS; hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố VAHS; Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết

Ngày đăng: 25/09/2020, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w