1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế (Nghiên cứu trường hợp tại một số trường được chọn tại thành phố Hồ Chí Minh

232 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC LÊ CHI LAN TÁC ĐỘNG CỦA YÊU CẦU TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐẾN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ NGHIÊN CỨU TRƯỜ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

LÊ CHI LAN

TÁC ĐỘNG CỦA YÊU CẦU

TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐẾN CHƯƠNG TRÌNH

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐƯỢC CHỌN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

LÊ CHI LAN

TÁC ĐỘNG CỦA YÊU CẦU

TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐẾN CHƯƠNG TRÌNH

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐƯỢC CHỌN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành : Đo lường và đánh giá trong giáo dục

Mã ngành : 62140120

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS PHẠM VĂN QUYẾT

2 TS HOÀNG THỊ XUÂN HOA

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện Các số liệu, thông tin được sử dụng trong nghiên cứu của luận án có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu của các tác giả khác

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Nghiên cứu sinh

Lê Chi Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Đảm bảo chất lượng Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Giám hiệu Trường Đại học Sài Gòn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và luận án

Xin chân thành cám ơn sâu sắc đến hai giáo viên hướng dẫn: PGS.TS PHẠM VĂN QUYẾT, TS HOÀNG THỊ XUÂN HOA tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, góp ý kiến, cung cấp tài liệu nghiên cứu, mang lại cho tôi những tri thức quý báu, thiết thực để hoàn thành luận án nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Viết Ngoạn, Hiệu trưởng trường Đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích và động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án tiến sĩ Bên cạnh đó, xin cám ơn PGS.TS Nguyễn Khắc Hùng, Phó Hiệu trưởng đã giúp đỡ và hỗ trợ trong việc thu thập thông tin từ cơ sở đào tạo; PGS.TS Phạm Hoàng Quân, Phó Hiệu trưởng đã cung cấp một

số kiến thức toán phục vụ cho việc nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô: PGS.TS.Nguyễn Quý Thanh, PGS.TS Lê Đức Ngọc, PGS.TS Lê Hùng Tiến, PGS.TS.Nguyễn Công Khanh, TS Phạm Xuân Thanh, TS Nguyễn Kim Dung đã tận tình giảng dạy trong các chuyên đề làm nền tảng cho cơ sở lý luận của luận án

Xin chân thành cảm ơn Phòng Quản lý Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo – Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Ban đào tạo của Đại học Quốc Gia Hà Nội, các Thầy, Cô, các nhà chuyên môn, các tác giả nghiên cứu về lĩnh vực chuyên môn và

có liên quan đến đề tài luận án hỗ trợ, cung cấp cho tôi kiến thức quý báu làm nền tảng cho quá trình thực hiện luận án

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo các đơn vị trường Đại học Sài Gòn, các đơn vị Trường bạn đã nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp các thông tin có liên quan và đóng góp những ý kiến quý báu tăng cường tính xác thực của nghiên cứu

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Tác giả

LÊ CHI LAN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cám ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẻ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 9

1.1 Các nghiên cứu liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động 10

1.1.1 Nghiên cứu về khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp 10

1.1.2 Nghiên cứu về năng lực của sinh viên tốt nghiệp 13

1.2 Các nghiên cứu liên quan đến chương trình đào tạo 16

1.2.1 Nghiên cứu về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo 16

1.2.2 Nghiên cứu về nhu cầu đổi mới chương trình đào tạo 19

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo 22

1.3.1 Nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và người sử dụng lao động 22

1.3.2 Nghiên cứu về sự đánh giá của người sử dụng lao động về chất lượng đào tạo 25

1.3.3 Nghiên cứu về sự thay đổi mục tiêu và cách thức đào tạo 28

1.3.4 Nghiên cứu về việc đào tạo theo nhu cầu xã hội, tiếp cận CDIO 30

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 34

2.1 Các khái niệm và cơ sở lý luận 34

2.1.1 Chương trình đào tạo 34

2.1.2 Người sử dụng lao động và yêu cầu của người sử dụng lao động 38

2.1.3 Đánh giá tác động 41 2.2 Vai trò của giáo dục đại học và vai trò của chương trình đào tạo trong giáo dục

Trang 6

đại học 43

2.2.1 Vai trò của giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực 43

2.2.2 Vai trò của chương trình đào tạo trong giáo dục đại học 46

2.3 Cơ sở thực tiễn của nghiên cứu 47

2.3.1 Mối quan hệ giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của người sử dụng lao động 47

2.3.2 Một số phương thức tác động đến chương trình đào tạo 51

Chương 3 QUY TRÌNH TỔ CHỨC VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 57

3.1 Phương pháp thu thập thông tin 57

3.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu 57

3.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 57

3.1.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 58

3.1.4 Phương pháp thống kê 59

3.2 Mẫu nghiên cứu 59

3.3 Quy trình tổ chức nghiên cứu 61

3.3.1 Nghiên cứu sơ bộ 61

3.3.2 Nghiên cứu chính thức 62

3.4 Các biến số sử dụng trong nghiên cứu 63

3.5 Nghiên cứu thử và hoàn thiện công cụ 64

3.5.1 Mục đích của phiếu khảo sát 64

3.5.2 Cơ sở xây dựng phiếu khảo sát 65

3.5.3 Quy trình xây dựng phiếu khảo sát 72

3.5.4 Cấu trúc phiếu khảo sát 73

3.5.5 Kết quả thử nghiệm 76

Chương 4 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO KHỐI NGÀNH KINH TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH DỰA TRÊN CHUẨN ĐẦU RA 80

4.1 Xu hướng thay đổi chương trình đào tạo khối ngành kinh tế theo chuẩn đầu ra tại các cơ sở đào tạo đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh 80 4.2 Một số yêu cầu chung của người sử dụng lao động thể hiện trong việc tuyển

Trang 7

dụng sinh viên ngành kinh tế 83

4.3 Những thay đổi về cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh 89

4.3.1 Ngành Kế toán 89

4.3.2 Ngành Tài chính Ngân hàng 94

4.3.3 Ngành Quản trị kinh doanh 98

4.4 Đánh giá chung về xu hướng thay đổi của chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế tại các cơ sở đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh 102

Chương 5 PHƯƠNG THỨC VÀ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA YÊU CẦU TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐẾN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ 107

5.1 Tác động đến chương trình đào tạo theo phản ánh của người phát triển chương trình đào tạo 107

5.1.1 Vai trò của người sử dụng lao động trong quá trình đào tạo 107

5.1.2 Các hình thức thể hiện yêu cầu từ người sử dụng lao động 108

5.1.3 Về quy trình thay đổi chương trình đào tạo 110

5.2 Phương thức tác động trực tiếp và gián tiếp đến chương trình đào tạo 117

5.2.1 Mối liên hệ giữa yêu cầu từ người sử dụng lao động và quy trình thay đổi chương trình đào tạo 117

5.2.2 Tác động trực tiếp đến chương trình đào tạo 118

5.2.3 Tác động gián tiếp đến chương trình đào tạo 131

5.3 Đánh giá mức độ tác động của yêu cầu của người sử dụng lao động 138

5.3.1 Đánh giá chung về mức độ tác động 138

5.3.2 Đánh giá chung về mức độ tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo theo từng loại hình trường 141

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153

Tài liệu tham khảo 153

Phụ lục 170

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Khung đánh giá tác động (vấn đề A tác động đến vấn đề B) 43

Bảng 3.1 Bảng thống kê và so sánh chương trình đào tạo ngành Quản trị kinh doanh (trường Z) 67

Bảng 3.2 Bảng thống kê và so sánh chương trình đào tạo ngành Kế toán (trường X) 70

Bảng 3.3 Bảng các giả thuyết được đề nghị của nghiên cứu 72

Bảng 4.1 Mức độ thay đổi cơ cấu việc làm từ năm 2000 so với năm 2012 84

Bảng 4.2 Thống kê các yêu cầu tuyển dụng của người sử dụng lao động 87

Bảng 4.3 So sánh chương trình đào tạo đại học ngành Kế toán của 2 trường công lập A và B 91

Bảng 4.4 So sánh chương trình đào tạo đại học ngành Kế toán của 3 trường ngoài công lập X, Y và Z 93

Bảng 4.5 So sánh chương trình đào tạo đại học ngành Tài chính - Ngân hàng khối kiến thức giáo dục đại cương của trường A, B, C và X 95

Bảng 4.6 So sánh chương trình đào tạo đại học ngành Tài chính Ngân hàng khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp của trường A, B, C, X 97

Bảng 4.7 So sánh chương trình đào tạo đại học ngành Quản trị kinh doanh của 2 trường công lập A, B 99

Bảng 4.8 So sánh chương trình đào tạo đại học ngành Quản trị kinh doanh của 3 trường ngoài công lập X, Z 101

Bảng 4.9 Xu hướng thay đổi chương trình đào tạo khối ngành kinh tế 103

Bảng 5.1 Hình thức thể hiện của yêu cầu từ người sử dụng lao động 109

Bảng 5.2 Sự tham gia của người sử dụng lao động vào quá trình đào tạo (phiếu hỏi ý kiến từ người sử dụng lao động) 110

Bảng 5.3 Các yêu cầu của người sử dụng lao động trong tuyển dụng (Phiếu hỏi người sử dụng lao động) 113

Trang 9

Bảng 5.4 Mối liên hệ giữa quy trình thay đổi chương trình đào tạo với yêu cầu

của người sử dụng lao động 118 Bảng 5.5 Yêu cầu thông tin tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế tác

động đến chương trình đào tạo 119 Bảng 5.6 Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế sau khi được tuyển dụng

phải tham gia các khóa học bổ sung 120 Bảng 5.7 Sự phản hồi chất lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế tác động

đến chương trình đào tạo 121 Bảng 5.8 Người sử dụng lao động cung cấp các yêu cầu nghiệp vụ chuyên

môn cần thiết tác động đến chương trình đào tạo 123 Bảng 5.9 Người sử dụng lao động tham gia tập huấn nghiệp vụ chuyên môn

tác động đến chương trình đào tạo 124 Bảng 5.10 Sự tương quan giữa ý kiến đóng góp chuẩn đầu ra từ phía người sử

dụng lao động với chương trình đào tạo 126 Bảng 5.11 Sự tương quan giữa ý kiến đóng góp trong quá trình giao lưu với

chương trình đào tạo 127 Bảng 5.12 Yêu cầu của người sử dụng lao động tác động lên cấu trúc chương

trình đào tạo khối ngành kinh tế 129 Bảng 5.13 Yêu cầu của người sử dụng lao động tác động lên nội dung chương

trình đào tạo khối ngành kinh tế 130 Bảng 5.14 Thống kê số lượng thống kê liên quan đến giáo dục từ năm 2007 đến

2013 132 Bảng 5.15 Yêu cầu của người sử dụng lao động tác động đến cấu trúc của

chương trình đào tạo qua các yếu tố bên trong của cơ sở đào tạo 136 Bảng 5.16 Yêu cầu của người sử dụng lao động tác động đến nội dung của

chương trình đào tạo qua các yếu tố bên trong của cơ sở đào tạo 137 Bảng 5.17 Mối quan hệ giữa các biến số của nghiên cứu 139 Bảng 5.18 Mô hình hồi quy tạo nên tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao

động đến chương trình đào tạo 140

Trang 10

Bảng 5.19 Mối quan hệ giữa các biến số của nghiên cứu phân biệt khối trường

công lập và ngoài công lập 141 Bảng 5.20 Kiểm định T-Test sự khác biệt của việc thay đổi chương trình đào

tạo ở khối trường công lập và ngoài công lập 142 Bảng 5.21 Mô hình hồi quy tạo nên tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao

động đến chương trình đào tạo (Khối công lập) 143 Bảng 5.22 Mô hình hồi quy tạo nên tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao

động đến chương trình đào tạo (Khối ngoài công lập) 144 Bảng 5.23 Kết quả kiểm định các giả thuyết thống kê 146

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình CPS kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp 11

Hình 1.2 Mô hình USEM kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp 12

Hình 1.3 Mô hình CarrerEDGE kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp 13

Hình 1.4 Mô hình các kỹ năng cần có đối với sinh viên tốt nghiệp. 15

Hình 1.5 Cơ sở phát triển chương trình đào tạo của Tyler (1949). 17

Hình 1.6 Mô hình mối quan hệ giữa nhà trường, người sử dụng lao động và người học của Harvey. 23

Hình 2.1 Mô hình ASK về yêu cầu của người sử dụng lao động 39

Hình 2.2 Các yêu cầu chung của người sử dụng lao động 40

Hình 2.3 Mô hình 3 bên liên quan chính tham gia vào quá trình đào tạo 45

Hình 2.4 Mô hình AUN về đánh giá chương trình đào tạo 50

Hình 2.5 Mối quan hệ giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của người sử dụng lao động thông qua sự thống nhất về mục tiêu 51

Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu đánh giá tác động 55

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu tác động 63

Hình 3.2 Các biến số trong nghiên cứu 64

Hình 3.3 Mô hình giả thuyết của nghiên cứu 72

Hình 4.1 Mẫu tuyển dụng trên báo tuổi trẻ năm 2011 85

Hình 4.2 Mẫu tuyển dụng trên báo tuổi trẻ năm 2013 86

Hình 4.3 Phiếu ý kiến đóng góp của người sử dụng về chương trình đào tạo 90

Hình 5.1 Cơ sở của việc điều chỉnh chương trình đào tạo 112

Hình 5.2 Những yếu tố tác động đến cấu trúc chương trình đào tạo 134

Hình 5.3 Những yếu tố tác động đến nội dung chương trình đào tạo 133

Hình 5.4 Tóm tắt một số kết quả mô hình giả thuyết 146

Hình 5.5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu đánh giá tác động 147

Trang 12

DANH MỤC CÁC HỘP

Hộp 4.1 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giảng viên về chuẩn đầu ra và cơ sở

của việc thay đổi chương trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo 81

Hộp 4.2 Phỏng vấn sâu người sử dụng lao động về yêu cầu tuyển dụng 86

Hộp 4.3 Phỏng vấn sâu người sử dụng lao động về chất lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế 88

Hộp 4.4 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý/giảng viên tham gia phát triển chương trình đào tạo ngành Kế toán của trường A 89

Hộp 4.5 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý của trường đại học Y 92

Hộp 4.6 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý tham gia phát triển chương trình đào tạo của trường C 94

Hộp 4.7 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý phát triển chương trình đào tạo đại học ngành Tài chính – Ngân hàng của trường đại học X 96

Hộp 4.8 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý/giảng viên tham gia phát triển chương trình đào tạo của trường B 98

Hộp 4.9 Phỏng vấn người phát triển chương trình đào tạo của trường Z 100

Hộp 5.1 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý ngành kế toán 114

Hộp 5.2 Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý ngành Quản trị kinh doanh 115

Hộp 5.3 Phỏng vấn cán bộ quản lý ngành Tài chính Ngân hàng 116

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những quan điểm chỉ đạo của chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 là phát triển khoa học công nghệ và khoa học giáo dục, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội, đảm bảo tính hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng1 Năm 2013, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa XI và Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục chỉ đạo các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp rà soát, điều chỉnh, bổ sung nội dung chuẩn đầu ra đối với từng ngành, từng chương trình đào tạo cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội

Trong những năm gần đây tình trạng sinh viên các trường đại học, cao đẳng sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc làm việc không phù hợp với chuyên môn đào tạo có xu hướng tăng lên Theo số liệu khảo sát của dự án giáo dục đại học về việc làm của sinh viên tốt nghiệp, năm 2011 trong 200.000 sinh viên ra trường hàng năm chỉ có 30% đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động, 45% đến 62% sinh viên tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp, trong đó chỉ có 30% làm đúng ngành nghề đào tạo Trong khi sinh viên tốt nghiệp không có việc làm thì các doanh nghiệp lại thiếu lao động trầm trọng cả về số lượng và chất lượng Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2007 có khoảng 260.000 doanh nghiệp đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, trong đó số lượng các doanh nghiệp mới thành lập năm 2007 khoảng 50.000 doanh nghiệp, năm 2008 có thêm 52.000 doanh nghiệp, nên nhu cầu lao động của các doanh nghiệp rất lớn Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, dự kiến đến năm 2015, Việt Nam sẽ có hơn 500.000 doanh nghiệp, thêm 2,7 triệu chỗ làm mới cho người lao động [102]

Bên cạnh đó, theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong tổng số 416 trường tuyển sinh năm 2011 có 248 trường (chiếm tỉ lệ 59,62%) tuyển sinh một trong bốn ngành: Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính-Ngân hàng, Kế toán Bình quân trong ba năm (2009-2011), số thí sinh đăng ký vào bốn ngành này chiếm xấp

1 Chiến lược phát triển giáo dục năm 2011 – 2020, Nhà xuất bản Giáo dục

Trang 14

xỉ 41% so với tổng số hồ sơ đăng ký dự thi Sự mất cân đối cơ cấu về ngành nghề nghiêng hẳn ở khối ngành kinh tế2 Với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, nếu nguồn nhân lực được đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động về số lượng và chất lượng sẽ dẫn đến lãng phí rất lớn cho xã hội Hiện nay, các ngành xã hội, ngành sư phạm, … cũng có số lượng sinh viên tốt nghiệp không

có việc làm hoặc làm việc hoàn toàn không liên quan đến ngành nghề đã học, tuy nhiên số lượng này không lớn như số lượng của khối ngành kinh tế Do nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam nên đào tạo khối ngành kinh tế được xem là trọng điểm, số lượng sinh viên tốt nghiệp không có việc làm rất lớn nhưng tỷ lệ thí sinh đăng kí thi vào ngành kinh tế vẫn cao Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những cảnh báo nhưng số sinh viên thi vào các ngành thuộc khối kinh tế chưa có chiều hướng giảm Trong quá trình hội nhập quốc tế, giáo dục là một trong những lĩnh vực chịu tác động mạnh của quá trình toàn cầu hóa Phát triển đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội là một vấn đề cần thiết Mặt khác, công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học hiện nay đòi hỏi chương trình đào tạo được xây dựng với sự tham gia của người sử dụng lao động Vì vậy, chương trình đào tạo phải gắn kết chặt chẽ với yêu cầu của người sử dụng lao động là một quy luật tất yếu Tuy nhiên, vấn đề ở đây là yêu cầu của thị trường lao động nói chung và của người sử dụng lao động nói riêng có tác động đến việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo hay không? Điều này luôn là câu hỏi thúc đẩy những nhà nghiên cứu giáo dục nói chung và bản thân tác giả luận án nói riêng cũng băn khoăn và trăn trở để tìm ra giải đáp Hiện nay, qua tìm hiểu của tác giả luận án chưa

có công trình nghiên cứu nào về đánh giá tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo Việc tìm ra phương thức và nguyên lý của tác động trên sẽ làm cơ sở giúp các cơ sở đào tạo phát triển hoặc thiết kế chương trình đào tạo tiếp cận nhu cầu của xã hội Điều này tạo nên sự phù hợp giữa chương trình đào tạo với yêu cầu của người sử dụng lao động, sinh viên tốt nghiệp dễ dàng hội nhập vào các cơ quan, các doanh nghiệp Xuất phát từ những lý do trên tác giả đã chọn đề

2 Trích bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga tại hội nghị hiệu trưởng các trường ĐH, CĐ năm 2012

Trang 15

tài nghiên cứu “Tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế (Nghiên cứu trường hợp tại một số trường được chọn tại Thành phố Hồ Chí Minh)”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là tập trung nghiên cứu đánh giá tác động của yêu cầu

từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế, nghiên cứu một số trường được chọn tại Thành phố Hồ Chí Minh Đây là nghiên cứu trường hợp với mục tiêu nhằm nhận dạng và tìm ra cách lý giải về tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế Vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào những vấn đề sau:

1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo, tìm ra mối quan hệ giữa yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo, cách tiếp cận nghiên cứu mối quan hệ này

2 Phân tích thực trạng yêu cầu của người sử dụng lao động qua các thông tin tuyển dụng và qua sự đóng góp ý kiến hoặc các ý kiến trao đổi với cơ sở đào tạo bằng một số hình thức có liên quan đến hoạt động đào tạo Bên cạnh đó, tìm hiểu sự thay đổi chương trình đào tạo khối ngành kinh tế (Cụ thể: Ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh và Tài chính Ngân hàng) trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013, tại một số trường được chọn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

3 Tìm ra phương thức và đánh giá tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế tại địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh Mặt khác, xem xét sự khác nhau về tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế của trường công lập và ngoài công lập

3 Câu hỏi nghiên cứu

Yêu cầu từ người sử dụng lao động tác động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế tại một số trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào? Phương thức diễn ra như thế nào và kết quả của tác động này?

Mức độ tác động từ yêu cầu của người sử dụng lao động đến sự thay đổi

Trang 16

chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế giữa nhóm trường công lập và ngoài công lập có sự khác biệt hay không?

4 Giả thuyết nghiên cứu

Yêu cầu từ người sử dụng lao động tác động mạnh đến chương trình đào tạo khối ngành kinh tế tại một số trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh Sự tác động này diễn ra theo 2 phương thức: tác động trực tiếp và tác động gián tiếp Kết quả tác động dẫn đến sự thay đổi cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế

Có sự khác biệt trong tác động từ yêu cầu của người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế giữa 2 nhóm trường công lập và ngoài công lập Yêu cầu từ người sử dụng lao động tác động đến sự thay đổi cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế, ở trường ngoài công lập mạnh hơn ở trường công lập

5 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế

- Khách thể nghiên cứu: Yêu cầu của người sử dụng lao động và sự thay đổi của chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế Đối tượng khảo sát gồm: (1) Cán bộ quản lý, giảng viên có tham gia vào việc phát triển/thay đổi chương trình đào tạo và (2) Người sử dụng lao động gồm: các doanh nghiệp, công ty, cơ sở giáo dục, cơ quan hành chánh…(3) Chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian

Đây là nghiên cứu trường hợp với mục tiêu nhằm nhận diện và tìm ra cách

lý giải về tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế, tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Trên địa bàn đang xét có tổng cộng 50 trường đại học (37 trường công lập và 13 trường ngoài công lập), trong đó 37 trường công lập có 13 trường đào tạo khối ngành kinh tế và 13 trường ngoài công lập có 12 trường đào tạo khối ngành kinh tế (Bách khoa Toàn thư

Trang 17

Wikipedia) Nghiên cứu luận án là nghiên cứu trường hợp nhằm để nhận diện và giải thích về sự tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế, nên việc chọn các điển hình là cách lựa chọn phù hợp Theo đó, nghiên cứu xác định 6 trường đại học có nhiều kinh nghiệm và

có bề dày thành tích trong đào tạo các ngành kinh tế tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, nhằm để nhận diện sự khác nhau và lý giải sự khác nhau trong sự tác động đó giữa 2 nhóm trường công lập và ngoài công lập, nghiên cứu đã xác định trong 6 trường có 3 trường công lập và 3 trường ngoài công lập có đào tạo ngành kinh tế gồm: Trường Đại học Sài Gòn, Đại học Kinh tế, Đại học Mở, Đại học Hoa Sen, Đại học Văn Lang và Đại học Kỹ thuật Công Nghệ thuộc khu vực Thành phố

Hồ Chí Minh Trong các trường được chọn, chúng tôi thấy nổi bật lên 3 ngành đào tạo trình độ đại học hầu hết đều có ở cả 6 trường là: ngành Kế toán, ngành Quản trị kinh doanh và ngành Tài chính Ngân hàng Việc chọn 3 ngành đào tạo này với lý do

vì đây là 3 ngành được đào tạo nhiều và phổ biến ở hầu hết tại các trường đại học thuộc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng thí sinh dự thi vào các ngành này khá cao, ngoài ra khối ngành này cung cấp rất nhiều nguồn nhân lực cho thị trường lao động chiếm tỉ lệ > 38% tổng chỉ số cơ cấu cung ứng nguồn nhân lực theo các ngành nghề3

- Về thời gian

Dữ liệu dùng để thực hiện luận án được thu thập từ khoảng thời gian 2007 –

2013 gồm các chương trình đào tạo đại học ngành kinh tế, các minh chứng về vai trò của người sử dụng lao động trong quá trình đào tạo, các thông tin tuyển dụng của người sử dụng lao động, các dữ liệu có sẵn từ báo cáo của Tổng cục thống kê, của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nghiên cứu chọn cột mốc bắt đầu từ năm

2007, vì năm này có những chuyển biến khá lớn về tình hình xã hội cũng như về giáo dục cụ thể: Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006, sau 1 năm người sử dụng lao động đã có những thay đổi về yêu cầu trong tuyển dụng để có thể phù hợp với

sự những thay đổi của thị trường lao động Bên cạnh đó, từ năm 2007 ngành giáo

3 Trích số liệu phân tích chỉ số cơ cấu cung nguồn nhân lực theo ngành nghề trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Tháng 01/2015) của Trung tâm dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và thông tin thị trường lao động

Trang 18

dục đã có những chủ trương đổi mới giáo dục như: đào tạo theo học chế tín chỉ tại các trường đại học, xây dựng và công bố công khai chuẩn đầu ra của các ngành đào tạo…Bên cạnh đó, dữ liệu sơ cấp thu được qua phiếu khảo sát được thiết kế phù hợp với nội dung nghiên cứu được thực hiện từ năm 2012 đến năm 2013

- Về nội dung

Chương trình đào tạo đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực, hiện nay chương trình đào tạo được phân chia ở nhiều trình độ như: trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Trong giới hạn của luận án này chỉ xem xét chương trình đào tạo ở trình độ đại học

Bên cạnh đó, khi xem xét về chương trình đào tạo có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: Mục tiêu, chuẩn đầu ra, cấu trúc, nội dung, đảm bảo chất lượng, kiểm tra và đánh giá… Trong nghiên cứu đề tài chúng tôi giới hạn xem xét

sự thay đổi của chương trình đào tạo khối ngành kinh tế ở hai khía cạnh cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo dưới tác động từ phía người sử dụng lao động Đây là 2 khía cạnh thuận lợi nhất cho việc quan sát, đo lường để đánh giá sự biến đổi, đồng thời cũng là 2 khía cạnh giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Mặt khác, cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo là sự thể hiện đầy đủ mục tiêu, chuẩn đầu ra và các yêu cầu khác của chương trình đào tạo, là sự phản ánh rõ nét quan điểm, định hướng của cơ sở đào tạo đại học Nói cách khác, trong quá trình xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, mục tiêu, chuẩn đầu ra và các yêu cầu khác đối với chương trình đào tạo cần thiết phải được chuyển tải vào trong cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo

Có thể nói khi xem xét 2 khía cạnh này có thể thấy được sự tương quan với các khía cạnh còn lại

6 Phương pháp nghiên cứu

Hướng tiếp cận nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn Nghiên cứu đã kết hợp nhiều phương pháp, trong đó có phương pháp lịch sử tức là lần theo dấu vết các dữ liệu cũ từ các nguồn thông báo tuyển dụng, các

ý kiến đóng góp… để tìm ra yêu cầu của người sử dụng lao động là gì? Thu thập các chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế trước và sau khi thay đổi Bên

Trang 19

cạnh đó, phỏng vấn sâu các đối tượng có liên quan để tìm hiểu vai trò của người sử dụng lao động trong việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo

Nghiên cứu này kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Mục đích của việc kết hợp hai phương pháp này là nhằm tìm ra những thông tin với tính thuyết phục cao để kiểm chứng giả thuyết

6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu sử dụng các số liệu từ các nguồn có sẵn như: thông tin tuyển dụng lao động, thống kê về cơ cấu ngành nghề từ Tổng cục thống kê, từ Bộ Lao động Thương binh và xã hội… lập bảng biểu hoặc đồ thị để so sánh và đánh giá, đối chiếu với vấn đề cần nghiên cứu Bên cạnh đó, nghiên cứu còn kết hợp phân tích tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để tìm hiểu các đặc tính, bản chất của yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo

Nghiên cứu kết hợp với việc sử dụng phương pháp chuyên gia như: phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý, giảng viên có tham gia phát triển chương trình đào tạo

và trưng cầu ý kiến của người sử dụng lao động sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học ngành kinh tế ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Việc chọn mẫu khảo sát, phỏng vấn sâu và phương pháp nghiên cứu sẽ được phân tích sâu ở chương 3

6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm nhận diện các nhân tố tạo ra những yêu cầu từ người sử dụng lao động tác động đến chương trình đào tạo Thông qua các giá trị và độ tin cậy, mức độ phù hợp của thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu với giả thuyết đặt ra để xác định tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo khối ngành kinh tế tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp này được thực hiện dựa trên các thống kê thu thập được từ thực tiễn như: yêu cầu của người sử dụng lao động qua thông tin tuyển dụng, chương trình đào tạo khối ngành kinh tế thuộc khối trường công lập và ngoài công lập từ các trường đại học được chọn ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007 – 2013, thống kê và phân tích dữ liệu nghiên cứu bằng bảng hỏi

7 Những luận điểm cần bảo vệ trong luận án

Yêu cầu của người sử dụng lao động đối với nguồn nhân lực là năng lực

Trang 20

hành nghề, bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên tốt nghiệp Tất cả những yêu cầu thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau như: thông tin tuyển dụng, trao đổi ý kiến trong quá trình hợp tác đào tạo…

Các cơ sở đào tạo trong những năm vừa qua (giai đoạn từ năm 2008–2013)

đã có những thay đổi chương trình đào tạo của các ngành, trong đó có khối ngành kinh tế Mục tiêu của việc thay đổi này là hướng đến việc đáp ứng nhu cầu xã hội nói chung và yêu cầu của người sử dụng lao động nói riêng

Các yêu cầu của người sử dụng lao động được các cơ sở đào tạo quan tâm

và tác động đến việc thay đổi chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế thông qua việc lấy ý kiến của người sử dụng lao động xây dựng chuẩn đầu ra, trao đổi và hợp tác với người sử dụng lao động trong quá trình đào tạo, …

8 Những đóng góp mới của luận án

Điểm mới của luận án là nghiên cứu đánh giá tác động từ yêu cầu của người

sử dụng lao động đến chương trình đào tạo ở một số ngành thuộc khối ngành kinh tế như: ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính Ngân hàng

8.1 Về phương diện học thuật

Hệ thống hóa những nghiên cứu có liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo Từ đó, đưa ra cơ sở lý luận về đánh giá tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo Kết quả của nghiên cứu có những đóng góp nhất định trong việc nhận diện và tìm ra cách lý giải

về tác động từ yêu cầu của người sử dụng lao động đến việc thay đổi và phát triển chương trình đào tạo khối ngành kinh tế hiện nay, làm cơ sở cho việc thực hiện các nghiên cứu có quy mô lớn hơn về mối quan hệ này ở Việt Nam Mặt khác, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ vai trò của người sử dụng lao động đối với quá trình đào tạo

8.2 Về phương diện thực tiễn

Kết quả của nghiên cứu đã phát hiện phương thức tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học ngành kinh tế hiện nay Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đã khẳng định yêu cầu của người sử dụng lao động tác động mạnh đến cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo khối ngành kinh tế

Trang 21

Ngoài ra, điểm mới của luận án được rút ra từ nghiên cứu cho thấy chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế ở trường ngoài công lập chịu tác động nhiều hơn

ở trường công lập Mặt khác, để làm tăng độ tin cậy từ khảo sát, nghiên cứu đã kết hợp với phân tích thực trạng về sự thay đổi của chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế Từ đó, kiểm chứng và khẳng định tính đúng đắn của các giả thuyết

đã đưa ra Vì vậy, từ nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà quản lý, các giảng viên có cái nhìn toàn diện về nhân tố tác động đến chương trình đào tạo hiện nay Đây là điều kiện cần thiết để thay đổi và phát triển chương trình đào tạo tiếp cận yêu cầu người sử dụng lao động

8.3 Về phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu là một công trình thử nghiệm (ở khối ngành kinh tế) kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm với nghiên cứu ứng dụng thực tiễn Điểm mới của nghiên cứu là đề xuất khung lý thuyết đánh giá tác động có thể sử dụng cho các nghiên cứu khác Ngoài ra, nghiên cứu đã thu thập những bằng chứng cụ thể như: thông tin tuyển dụng, xu hướng thay đổi của chương trình đào tạo, các hoạt động của người

sử dụng lao động… Kết quả khảo sát được đối chiếu với kết quả thực tế thu được tạo nên độ tin cậy cao Do đó kết quả nghiên cứu có thể bổ sung và phát triển về mặt phương pháp lý luận trong đánh giá và phát triển chương trình đào tạo

9 Cấu trúc của luận án

Đề tài nghiên cứu “Tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế” bao gồm: mục lục, danh mục các bảng và hình, phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo Trong phần nội dung của luận án gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Chương 3: Quy trình tổ chức và thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Thực trạng của việc thay đổi chương trình đào tạo khối ngành kinh

tế tại các cơ sở đào tạo đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên chuẩn đầu ra

Chương 5: Phương thức và mức độ tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế

Trang 22

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Mục tiêu của phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo Qua đó tìm ra các ưu điểm của các nghiên cứu đã có trước đây và tìm ra những điểm hạn chế cũng như các vấn đề chưa được nghiên cứu Trên cơ sở đó định hướng cho việc nghiên cứu “Tác động từ yêu cầu của người

sử dụng lao động đến chương trình đào tạo khối ngành kinh tế”

1.1 Các nghiên cứu liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thị trường lao động đối mặt với nhiều thách thức, do đó nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao rất cần thiết Giáo dục đại học giữ vai trò cung cấp kiến thức, kỹ năng…cho người học để có thể tham gia vào thị trường lao động Vì vậy, giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong đào tạo

và phát triển nguồn nhân lực cho thị trường lao động Các trường đại học trên thế giới phải đối mặt với vấn đề làm thế nào cung cấp các kiến thức, kỹ năng phù hợp

để sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng tốt yêu cầu của người sử dụng lao động

1.1.1 Nghiên cứu về khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp

Ở thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp đa số liên quan đến các kỹ năng sống và làm việc Năm 1974, Katz đã đưa ra 3 yêu cầu cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp là: Kỹ năng sử dụng phương tiện kỹ thuật, kỹ năng quan hệ giao tiếp trong công việc và kiến thức cơ bản đạt được ở sinh viên tốt nghiệp [150] Sau đó, năm 1993 tác giả Analoui đã bổ sung thêm 3 kỹ năng mà người sử dụng lao động quan tâm ở sinh viên tốt nghiệp là: kỹ năng quan hệ hợp tác trong công việc, kỹ năng thu thập thông tin và kỹ năng phân tích giải quyết công việc [136] Đồng quan điểm trên, 2 tác giả Carmichael và Routledge cho rằng môi trường làm việc mang tính cạnh tranh khá cao nên ngoài khả năng giao tiếp thì bản thân sinh viên tốt nghiệp cần có kỹ năng cạnh tranh và kiểm soát, động cơ làm việc và đặc biệt phải có kỹ năng đổi mới suy nghĩ hợp lý để phù hợp với những thay đổi của thực tế [142] Năm 2009, tác giả Kumpikaite và Alas đã nêu lên yêu cầu của người sử dụng lao động về thái độ làm

Trang 23

việc của sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh tế và Quản lý [153] Năm 2012, tác giả Kumpikaitė và Ribeiro đã kế thừa và tổng hợp các nghiên cứu kỹ năng cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp từ các tác giả trên [154] Điểm mạnh của các nghiên cứu trên là nêu lên yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp không chỉ

là bằng cấp chuyên môn mà còn là những kỹ năng làm việc cần thiết khác Đặc biệt,

kỹ năng hợp tác và giao tiếp của sinh viên tốt nghiệp được hầu hết các tác giả nhắc đến và xem đây là một trong những kỹ năng quan trọng không thể thiếu Các nghiên cứu liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp của các tác giả nước ngoài ở giai đoạn đầu chủ yếu là dùng phương pháp nghiên cứu định tính như: phương pháp quan sát và phân tích môi trường thực tế nghiên cứu, chưa có những dữ liệu thống kê cụ thể từ điều tra khảo sát thực tế Tuy nhiên,

từ các nghiên cứu trên đã chỉ ra các kỹ năng cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp, có thể nói đây cơ sở lý luận đầu tiên và là kênh thông tin cần thiết cho các trường đại học xem xét hướng đến xây dựng mục tiêu đào tạo để sinh viên tốt nghiệp có thể hòa nhập và tiếp cận thực tiễn

Giáo dục đại học được xem là một công cụ hiệu quả để tăng cường khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp, vì vậy muốn tăng cường chất lượng đào tạo thì các trường đại học cần phải tăng cường khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp [156] Một số tác giả đưa mô hình lý thuyết về khả năng làm việc như sau:

(1) Mô hình CPS của Fugate và các cộng sự (2004) được xác định bởi các yếu tố (hình 1.1) như sau: Bản sắc nghề nghiệp (Career identity) – Thích ứng cá nhân (Personal adaptability) – Vốn hiểu biết về xã hội và con người (Social and human capital) [152]

Hình 1.1 Mô hình CPS kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp

Trang 24

Điểm mạnh của mô hình CPS là nêu được các yếu tố tạo nên khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp gồm: thích ứng nghề nghiệp, bản sắc nghề nghiệp và vốn hiểu biết về xã hội, con người Tuy nhiên, trong mô hình này có sự hạn chế là đưa ra các khái niệm còn chung chung, chưa phân tích rõ các khái niệm như thích ứng cá nhân, bản sắc nghề nghiệp… Ngoài ra, tác giả chưa làm rõ mối liên hệ giữa các thành tố trong mô hình

(2) Mô hình USEM của Yorke và Knight (2006) về khả năng làm việc được xác định bởi các yếu tố (hình 1.2): Kiến thức (Understanding) – Kỹ năng (Skills) – Niềm tin/ Phẩm chất (Efficacy beliefs) – Tư duy/ Siêu nhận thức (Meta – cognition) [178]

Điểm mạnh của mô hình USEM là nêu được các yếu tố tạo nên khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp là sự tổng hợp của kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức và tư duy/ nhận thức Trong mô hình này, tác giả đã nhấn mạnh ngoài kiến thức, kỹ năng được rèn luyện ở cơ sở đào tạo thì sinh viên tốt nghiệp cần có năng lực nhận thức ở mức độ cao còn gọi là siêu nhận thức Điểm hạn chế của mô hình này là các khái niệm được đề cập một cách chung chung, thiếu yếu tố kinh nghiệm làm việc và chưa đi sâu phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố trong mô hình

Hình 1.2 Mô hình USEM kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp

` (3) Mô hình CareerEDGE của Pool và Sewell (2007) về khả năng làm việc được xác định bởi các yếu tố (hình 1.3): Chuyên môn nghề nghiệp (Career) – Kinh nghiệm (Experience) – Kiến thức chuyên môn (Degree subject) – Kỹ năng cốt lõi (Generic skills) – Trí tuệ cảm xúc (Emotional intelligence) [148]

Trang 25

Điểm mạnh của mô hình CarrerEDGE là nêu lên các yếu tố tạo nên khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp gồm: khả năng nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, kỹ năng chung (cốt lõi) và trí tuệ cảm xúc Cách tiếp cận của Pool và Sewell (2007) được xem như là mở rộng của 2 mô hình trên Tác giả đã chỉ ra khả năng làm việc được phát triển từ một số khả năng như: tự giác, tự lực và tự tin vào bản thân của mỗi cá nhân

Hình 1.3 Mô hình CarrerEDGE kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp

Mô hình CarrerEDGE giống như 2 mô hình CPS và USEM có sự hạn chế là chưa phân tích rõ mối liên hệ giữa các thành tố trong mô hình Đặc biệt, trong cả 3

mô hình chỉ nhấn mạnh vai trò của sinh viên tốt nghiệp trong việc tạo ra khả năng làm việc chưa thấy rõ vai trò của trường đại học và người sử dụng lao động trong quá trình đào tạo

1.1.2 Nghiên cứu về năng lực của sinh viên tốt nghiệp

Bên cạnh các kiến thức và kỹ năng cần thiết thì phẩm chất đạo đức của sinh viên tốt nghiệp cũng được người sử dụng lao động quan tâm trong việc tuyển dụng nhân sự [137] Thực tế, trường đại học không thể dạy toàn bộ các kiến thức và kỹ năng để sinh viên tốt nghiệp tham gia được vào tất cả môi trường xã hội đa lĩnh vực Vì vậy, sinh viên tốt nghiệp cần phải có một số năng lực cần thiết để thích ứng môi trường đa dạng của xã hội Sau năm 1998, một số nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu các vấn đề về yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp

và đưa ra lý thuyết về yêu cầu đối với sinh viên tốt nghiệp gọi chung là “Thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp” [148] Thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp được xem như

Trang 26

những yêu cầu cần thiết mà sinh viên tốt nghiệp cần phải có, tác giả nêu ra một số thuộc tính như: kiến thức, kỹ năng và năng lực thích ứng với môi trường xã hội Kế thừa lý thuyết của Harvey, một số tác giả đã tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm các thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp theo yêu cầu của người sử dụng lao động như: tính chủ động trong công việc và năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

ngày càng cao, vì vậy hàng loạt các nghiên cứu về năng lực của sinh viên tốt nghiệp được các nhà nghiên cứu giáo dục bổ sung và hoàn thiện theo sự phát triển của xã hội Ngoài ra, tác giả Bennett (2002) đã đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn thông qua phân tích 1000 mẫu tuyển dụng, sau đó tổng hợp và phân tích một số những yêu cầu của người sử dụng lao động đòi hỏi ở sinh viên tốt nghiệp như năng lực: năng lực trình bày, năng lực tư duy, năng lực phân tích… [139] Sau đó, Taylor (2005) tiếp tục tìm hiểu về những kỳ vọng của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp và nghiên cứu này đã đưa ra một số năng lực của sinh viên tốt nghiệp như: năng lực quản lý, năng lực giải quyết vấn đề [171] Điểm mạnh của các nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2002 là kế thừa và phát triển lý thuyết về yêu cầu của người sử dụng lao động về năng lực của sinh viên tốt nghiệp Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát và phân tích môi trường thực tế, chưa có những dữ liệu thống kê cụ thể từ việc điều tra khảo sát về thực trạng năng lực của sinh viên tốt nghiệp có đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động hay không

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về yêu cầu của người sử dụng lao động không nhiều, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào chương trình đào tạo Năm 2011, tác giả Nguyễn Thế Dũng và Trần Thanh Tòng đã tiến hành phương pháp nghiên cứu tương tự như tác giả Bennett (2002) là thống kê các yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp ở Việt Nam ngành Quản lý kinh tế [29], phương pháp nghiên cứu của 2 tác giả này là phân tích nội dung dựa trên 2.500 mẫu quảng cáo tuyển dụng Kết quả của nghiên cứu cho thấy người sử dụng lao động kì vọng sinh viên tốt nghiệp ngành quản lý/kinh tế có tổng cộng 17 kỹ năng cần thiết được chia thành 3 nhóm chính (hình 1.4): Nhóm kỹ năng cơ bản; Nhóm năng lực giá trị

Trang 27

gia tăng; Nhóm dành cho lãnh đạo tương lai Điểm mạnh của nghiên cứu này là nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung từ các mẫu tuyển dụng, từ

đó nhóm tác giả này đã đưa ra yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp Kết quả của nghiên cứu này cho thấy người sử dụng lao động rất cần sinh viên tốt nghiệp có năng lực để mang lại hiệu quả trong công việc như năng lực phân tích và tổng hợp vấn đề

Hình 1.4 Mô hình các kỹ năng cần có đối với sinh viên tốt nghiệp

Kế thừa những nghiên cứu trên, năm 2012 tác giả Trần Khánh Đức đã đưa

ra mô hình năng lực của sinh viên tốt nghiệp được cấu tạo dựa trên 3 thành tố cơ bản đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ [34] Ngoài ra, nghiên cứu này khẳng định bên cạnh năng lực chung và năng lực chuyên biệt sinh viên tốt nghiệp cần có những năng lực nghề nghiệp cần thiết khác như năng lực thích ứng để có thể hòa nhập vào thế giới nghề nghiệp đa dạng và phong phú Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu này là đưa ra những yêu cầu cụ thể của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp, chưa đề cập và phân tích mức độ phù hợp của sinh viên tốt nghiệp

so với yêu cầu của người sử dụng lao động như thế nào

Tóm lại, qua tìm hiểu và phân tích về yêu cầu của người sử dụng lao động,

có thể thấy 2 nội dung chính có liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động là: khả năng làm việc và năng lực của sinh viên tốt nghiệp Đặc biệt, một số mô hình về yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp đã được đề

Trang 28

xuất Từ phân tích về yêu cầu của người sử dụng lao động có thể rút ra một số điểm cốt lõi phục vụ cho việc nghiên cứu như sau:

- Yêu cầu của người sử dụng lao động là những yêu cầu có liên quan đến khả năng hay năng lực của sinh viên tốt nghiệp tham gia vào việc làm sau khi tốt nghiệp, thể hiện ở các khía cạnh kiến thức, kỹ năng và thái độ/ phẩm chất đạo đức

- Yêu cầu của người sử dụng lao động có thể tìm thấy qua các mẫu tuyển dụng nhân sự

Điểm mạnh của các nghiên cứu về yêu cầu của người sử dụng lao động là chỉ ra những điều cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp để bản thân sinh viên có thể hòa nhập vào công việc sau khi tốt nghiệp Điều này giúp các cơ sở đào tạo có những định hướng phù hợp trong quá trình đào tạo Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ phân tích đối tượng có liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động là sinh viên tốt nghiệp Trong khi đó người sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các kỹ năng nghề nghiệp thì rất ít công trình nghiên cứu đến Các hình thức thể hiện yêu cầu của người sử dụng lao động được các nghiên cứu tìm hiểu chưa được đa dạng phong phú, cụ thể là yêu cầu của người

sử dụng lao động không chỉ thể hiện ở các mẫu tuyển dụng mà còn thể hiện dưới nhiều hình thức khác Luận án sẽ giải quyết hạn chế trên bằng cách tìm hiểu thêm

về các hình thức thể hiện của yêu cầu từ người sử dụng lao động có liên quan đến chương trình đào tạo

1.2 Các nghiên cứu liên quan đến chương trình đào tạo

Quá trình đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào chương trình đào tạo, vì vậy chương trình đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của quá trình đào tạo được thể hiện qua chất lượng sinh viên tốt nghiệp Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu

có liên quan đến chương trình đào tạo như: xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, nhu cầu đổi mới chương trình đào tạo…

1.2.1 Nghiên cứu về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo

Vấn đề xây dựng và phát triển chương trình đào tạo được khá nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Một số tác giả đã đưa ra mô hình xây dựng và phát

Trang 29

triển chương trình đào tạo Một trong những mô hình nổi tiếng trong việc xây dựng

và phát triển chương trình đào tạo là mô hình của Tyler (1949) [172] Đây là một

mô hình khá toàn diện cho việc xây dựng mục tiêu đào tạo phải được dựa trên 3 nguồn dữ liệu chính là người học, xã hội và các vấn đề liên quan đến môn học Trong đó xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển chương trình đào tạo

Mô hình lý thuyết phát triển chương trình đào tạo của Tyler hướng đến xây dựng mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu cầu của người học, của xã hội và của môn học Từ rất sớm, tác giả đã nhận thấy xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu của chương trình đào tạo (hình 1.5) Cơ sở suy luận có thể rút ra từ

mô hình phát triển chương trình đào tạo của Tyler là chương trình đào tạo cần chú trọng đến việc xây dựng các mục tiêu của chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu của người học, của xã hội…

Hình 1.5 Cơ sở phát triển chương trình đào tạo của Tyler (1949)

Sau đó, tác giả Taba (1962) đã đề xuất cơ sở để phát triển chương trình đào tạo gồm 5 bước thực hiện như: (1) Chuẩn đoán nhu cầu để hình thành mục tiêu của chương trình đào tạo, căn cứ vào mục tiêu của chương trình đào tạo để lựa chọn nội dung, sắp xếp các nội dung một cách logic; (2) Kiểm tra các chương trình đào tạo khi đưa vào thực nghiệm; (3) Sửa chữa và củng cố chương trình đào tạo; (4) Phát triển khung chương trình đào tạo và (5) Áp dụng chính thức và phổ biến cho các đơn vị khác [170] Mô hình của Taba so với của Tyler có sự khác biệt rõ rệt, Taba hướng vào quy trình phát triển chương trình đào tạo, còn Tyler thì nêu ra những yếu

tố có liên quan đến quá trình phát triển chương trình đào tạo

Trang 30

Năm 1982, Oliva đã kế thừa và phát triển lý thuyết chương trình đào tạo

chương trình đào tạo có chất lượng thông qua 12 thành phần như xác định nhu cầu

từ phía người học, xã hội, môn học; xác định mục đích giảng dạy, đánh giá việc giảng dạy… Có thể thấy rằng mô hình của Oliva là phát triển từ mô hình của Tyler, Taba, … Điểm mạnh của các nghiên cứu trên là đưa ra lý thuyết cụ thể làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Đặc biệt, các mô hình này đã chỉ ra mục tiêu của chương trình đào tạo cần phải xuất phát từ việc xác định nhu cầu của xã hội Tuy nhiên trong những mô hình này có điểm hạn chế là chưa thấy vai trò của người sử dụng lao động trong việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo

Năm 1994, Kirkpatrick đã đưa ra mô hình đánh giá chương trình đào tạo với từng mức độ khác nhau: mức độ 1 là xem xét phản ứng của học viên đối với khóa học họ đã tham dự; mức độ 2 là đánh giá kết quả học tập của sinh viên bao gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ mà họ tiếp nhận được từ khóa học; mức độ 3 xem xét khả năng ứng dụng các kiến thức, kỹ năng và mức độ 4 xem xét kết quả đánh giá hiệu quả đào tạo [151] Tiếp theo nghiên cứu trên, tác giả Oliva (1997) [161] đã

đề xuất việc đánh giá chương trình đào tạo trên các nội dung: (1) Mục tiêu cụ thể; (2) Kết quả đạt được; (3) Quá trình thực hiện chương trình đào tạo; (4) Tổng thể quá trình giảng dạy về điều kiện thực hiện chương trình đào tạo, nhu cầu của xã hội, yêu cầu của người sử dụng lao động và kết quả giảng dạy Năm 2001, Barnett và một số tác giả khác đã đưa ra các thành tố về xây dựng chương trình đào tạo gồm: kiến thức, hoạt động giảng dạy và đánh giá kết quả học tập [138] Điểm mạnh của các nghiên cứu trên là cung cấp phương pháp tiếp cận xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo nhằm hướng đến xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ dừng ở mức độ cơ sở lý luận chưa phân tích sâu chương trình đào tạo ở từng ngành cụ thể

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về chương trình đào tạo không nhiều, cụ thể như: tác giả Phạm Văn Lập (1998) [67], tác giả Lê Đức Ngọc (2003)… [77] tập trung vào vấn đề xây dựng chương trình đào tạo theo mục tiêu nhận thức, kỹ

Trang 31

năng… chủ yếu dựa vào phân loại mục tiêu nhận thức của Bloom (1956) Trong nghiên cứu này đã trình bày cách tiếp cận thiết kế và phát triển chương trình đào tạo theo 4 cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận nội dung, tiếp cận quá trình, tiếp cận sự phát triển và tiếp cận hệ thống phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu còn đề xuất xây dựng chương trình đào tạo theo mođun nhằm hướng đến mục đích linh hoạt và mềm dẻo trong quá trình đào tạo Tiếp theo nghiên cứu trên một số tác giả Lâm Quang Thiệp và Lê Viết Khuyến (2003) [110], Trần Khánh Đức (2012) [34] đã nêu lên quan điểm về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo căn cứ vào tình hình thực tiễn Trước nhu cầu xã hội luôn thay đổi, các cơ sở cần đào tạo sinh viên tốt nghiệp có những thuộc tính như thế nào để đáp ứng yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực Một số tác giả đã đề nghị nhúng các thuộc tính cần thiết của sinh viên tốt nghiệp vào chương trình đào tạo như: Nghiên cứu thiết kế chương trình giảng dạy và học tập cho sinh viên tốt nghiệp [155]; Mối quan hệ giữa việc làm và giáo dục đại học [178]; Liên kết khả năng làm việc của sinh viên vào chương trình đào tạo trong giáo dục đại học [169]; Nghiên cứu nâng cao chất lượng việc đào tạo nghề bằng cách thiết kế và đánh giá chương trình đào tạo [91]; Xây dựng chương trình đào tạo gắn lý thuyết và thực hành [147]; Nghiên cứu thiết kế và đánh giá chương trình đào tạo phát triển kỹ năng cá nhân [163] Ưu điểm của các nghiên cứu là chỉ ra các khía cạnh có liên quan giữa chương trình đào tạo và quá trình đào tạo Chương trình đào tạo cần xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực người học Bên cạnh đó cần lưu ý tính thực tiễn của chương trình đào tạo có thể phục vụ chức năng đào tạo đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động Tuy nhiên, việc thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo được tác giả đề cập đến còn mang tính chung chung, chưa cụ thể hóa, cần bổ sung và cập nhật chương trình đào tạo như thế nào để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động

1.2.2 Nghiên cứu về nhu cầu đổi mới chương trình đào tạo

Tại Việt Nam, một số tác giả đã nghiên cứu về đổi mới chương trình đào tạo như: tác giả Phạm Văn Quyết (2005) nghiên cứu về nhu cầu đổi mới chương trình đào tạo (ngành cử nhân Xã hội học) với cỡ mẫu là 277, phương pháp nghiên cứu dùng thống kê mô tả [93] Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng cần phải đổi

Trang 32

mới chương trình đào tạo mang tính hệ thống, chuyên sâu và hợp logic hơn Năm

2010, tác giả Ngô Tứ Thành chỉ ra rằng thực trạng chương trình đào tạo của một số

cơ sở đào tạo tại Việt Nam quá nặng nề về lý thuyết và mang tính hàn lâm, thực hành thực tiễn rất ít [107] Đồng quan điểm trên, tác giả Ngô Xuân Bình (2011) nêu lên thực trạng chương trình đào tạo trong những năm vừa qua có sự thay đổi như giảm thời gian học lý thuyết [5] Tuy nhiên sự thay đổi này còn mang tính cơ học chỉ chú trọng vào việc thay đổi nội dung từng kiến thức, từng học phần sao cho phù hợp, dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp thiếu các kỹ năng cần thiết cho công việc và đặc biệt là kỹ năng mềm Vì vậy, chương trình đào tạo cần bổ sung những kiến thức, kỹ năng chuyên môn và tác phong công nghiệp, kỹ năng mềm, kỹ năng ứng xử, kỹ năng chăm sóc khách hàng… Ngoài ra, tác giả Trần Văn Tùng (2011) đề cập đến vấn đề quản lý hướng vào chất lượng đào tạo tại các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [128] Nghiên cứu này đã dẫn chứng số liệu thống kê trong 2 năm 2007 – 2008, 2008 – 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để chứng minh

hệ thống chương trình đào tạo còn lạc hậu so với nhu cầu thực tế luôn thay đổi Theo xu hướng chung của thế giới, chương trình đào tạo được rút ngắn và thay đổi nội dung, nhưng vẫn đảm bảo được chuyên môn và đáp ứng được kỹ năng nghề nghiệp Tại Việt Nam, tình trạng người học phải học rất nhiều trong quá trình đào tạo nhưng khi va chạm thực tiễn thì khả năng xử lý công việc kém.Thực tế có nhiều môn học người học và nhà quản lý không biết học để làm gì? Sự tương ứng giữa lý thuyết và ứng dụng thực tế là vấn đề rất quan trọng Vì vậy, khi thiết kế chương trình đào tạo nhà trường cần phải tìm hiểu yêu cầu của người sử dụng lao động để thiết kế các môn học và chỉ rõ môn học này đáp ứng kỹ năng nào, thời gian cần thiết

để có thể hình thành kiến thức và kỹ năng trên là bao nhiêu lâu [3]

Năm 2012, tác giả Phạm Văn Nam đã nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học Việt Nam, trong nghiên cứu này tác giả đã nêu lên cách tiếp cận phát triển chương trình đào tạo theo xu thế phát triển của thế giới [74] Tác giả khẳng định chương trình đào tạo cần phải luôn thay đổi gắn với sự phát triển của xã hội và mang tính thời đại, việc phát triển của chương trình đào tạo cần gắn với bộ 3 bao gồm nhiều người học, người dạy và

Trang 33

người sử dụng lao động Tiếp theo nghiên cứu trên, năm 2013 tác giả Võ Đăng Bình

đã nghiên cứu về sự phát triển chương trình đào tạo đại học từ nhu cầu xã hội và đặc điểm của sinh viên, trong bài viết đã khẳng định giáo dục đại học cần hướng đến mục tiêu chung là đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội [6] Trong nghiên cứu đã nêu: “Cần phải có hệ thống quản lý đào tạo cũng như thiết kế chương trình đào tạo vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực tiễn” Điểm mạnh của các nghiên cứu

là chỉ ra cơ chế quản lý đào tạo, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo… cần phải thay đổi và tiếp cận sự đa dạng của thị trường lao động Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở mức độ nêu lên quan điểm khách quan, chưa có những bằng chứng xác thực để thuyết phục việc thay đổi chương trình đào tạo là do tác động của thị trường lao động nói chung và yêu cầu từ người sử dụng lao động nói riêng

Năm 2014, tác giả Nguyễn Quý Thanh đã trình bày các mô hình đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo và đối sánh chất lượng các chương trình đào tạo của Việt Nam với các trường đại học trong khu vực [105] Qua nghiên cứu này có thể thấy số lượng các chương trình đào tạo ở Việt Nam được kiểm định chưa nhiều

và chương trình đào tạo hiện nay còn có những hạn chế nhất định Tác giả đã nêu lên quan điểm việc xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo cần dựa trên tiêu chuẩn của chuẩn đầu ra Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra vai trò của người sử dụng lao động là một trong những hệ thống giám sát việc thực hiện chương trình đào tạo Điểm mạnh của nghiên cứu này là tổng hợp được các tư liệu thống kê về việc đánh giá chương trình đào tạo Qua đó cho thấy chương trình đào tạo của một số ngành đào tạo tại Việt Nam còn hạn chế Tuy nhiên, các ý kiến phản hồi của thị trường lao động cũng như yêu cầu từ người sử dụng lao động tạo nên tác động như thế nào đến chương trình đào tạo chưa được tác giả đề cập đến

Ưu điểm của các nghiên cứu về nhu cầu cần đổi mới của chương trình đào tạo là chỉ ra những mặt còn hạn chế của chương trình đào tạo hiện nay chưa phù hợp nhu cầu xã hội ở Việt Nam Điều này dẫn đến cần phải thay đổi chương trình đào tạo đại học theo yêu cầu của người sử dụng lao động là phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới hiện nay Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc phân tích thay đổi chương trình đào tạo là điều tất yếu để nhằm đáp ứng

Trang 34

nhu cầu xã hội, chưa chỉ ra được tác động của yêu cầu của người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo

Tóm lại, các nghiên cứu có liên quan đến chương trình đào tạo tập trung chủ yếu vào các vấn đề: xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo; nhu cầu đổi mới chương trình đào tạo Điểm mạnh trong các nghiên cứu có liên quan đến chương trình đào tạo là nêu lên các quan điểm về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo cần phải gắn với nhu cầu của xã hội Mặt khác, qua nghiên cứu định lượng của tác giả Phạm Văn Quyết có thể thấy nhu cầu cần đổi mới chương trình đào tạo là cần thiết Tuy nhiên nghiên cứu định lượng này chỉ tìm hiểu ở ngành xã hội học Trong thực tế, các ngành đào tạo khác cụ thể chương trình đào tạo của khối ngành kinh tế có nhu cầu cần đổi mới không? Hiện nay, số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế khá lớn nhưng có đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động không? Chương trình đào tạo đã có thay đổi như thế nào để đáp ứng được yêu cầu của xã hội nói chung và của người sử dụng lao động nói riêng? Tất cả những vấn đề vừa nêu chưa được nghiên cứu Hạn chế này sẽ được bổ sung trong nghiên cứu của luận án, cụ thể: Luận án sẽ tìm hiểu nguyên nhân của sự thay đổi chương trình đào tạo của khối ngành kinh tế trong những năm qua

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo

Trong 20 năm đổi mới vừa qua, giáo dục đại học đã có sự phát triển rõ rệt

về quy mô, mục tiêu đào tạo được mở rộng và nguồn đầu tư được đa dạng hóa Tuy nhiên đổi mới giáo dục chưa mang tính hệ thống và cơ bản, kết quả đổi mới giáo dục chưa toàn diện và vững chắc Giáo dục đại học còn tồn tại những bất cập là chưa đáp ứng được sự đòi hỏi và phát triển của xã hội và của người sử dụng lao động, nguyên nhân tạo ra sự bất cập trên là đào tạo ít gắn với yêu cầu sử dụng lao động [18]

1.3.1 Nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và người sử dụng lao động

Một trong những biện pháp gắn kết đào tạo với thực tiễn là tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và người sử dụng lao động Một số tác giả nước

Trang 35

ngoài đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà trường và người sử dụng lao động và khẳng định mối quan hệ này tạo nên sự thay đổi lớn trong xã hội, đó là sinh viên tốt nghiệp có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó sinh viên tốt nghiệp hình thành kỹ năng chuyên môn và người sử dụng lao động giữ vai trò phát triển năng lực của sinh viên tốt nghiệp (Van der Heijde (2006) [173], Fugate & Kinicki (2008) [146]) Điểm mạnh của những nghiên cứu trên là tác giả đã nêu lên cần có mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và người sử dụng lao động thì hiệu quả đào tạo sẽ cao, tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và dừng lại ở mức độ nêu lên quan đểm, chưa có sự khảo sát thực tế bằng phương pháp nghiên cứu định lượng

Năm 2000, Harvey nêu lên mối quan hệ giữa trường đại học và người sử dụng lao động thông qua khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp Qua đó thấy rằng trường đại học là nơi cung cấp những kiến thức, kỹ năng… để làm tiền đề tạo

cơ hội phát triển nghề nghiệp tương lai cho sinh viên tốt nghiệp Sau đó, Harvey tiếp tục phát triển nghiên cứu của mình bằng cách xem xét tất cả các bên liên quan trong quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực với các yếu tố quan trọng tạo nên khả năng làm việc (hình 1.6) [148]

Hình 1.6 Mô hình mối quan hệ giữa nhà trường, người sử dụng lao động

và người học của Harvey

Harvey đã chỉ ra tầm quan trọng của mối quan hệ giữa các bên liên quan đến quá trình đào tạo nhằm phát triển các kỹ năng nghiệp vụ của sinh viên tốt

Trang 36

nghiệp Các đối tượng liên quan vào quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực là sinh viên tốt nghiệp, trường đại học và người sử dụng lao động Sinh viên tốt nghiệp

có quyền lựa chọn và tham gia các khóa học hoặc tìm kiếm các cơ hội phát triển việc làm từ các trường đại học và kinh nghiệm tích lũy của bản thân để nâng cao những kỹ năng làm việc Tác giả xác định các hoạt động phát triển việc làm bao gồm: sự phát triển các thuộc tính về kỹ năng việc làm, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng làm việc độc lập và kỹ năng tìm hiểu để phát triển nghề nghiệp Điểm mạnh của mô hình phát triển khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp là đã nêu lên quy trình cốt lõi có tác động đến khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp là: (1) Quá trình giáo dục của trường đại học; (2) Sự vận dụng kiến thức, kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp vào công việc thông qua sự phản ánh tư duy và nhận thức; (3) Kết hợp và vận dụng giữa kiến thức và thực tiễn Tuy nhiên, điểm hạn chế trong mô hình của Harvey là thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng liên quan khá phức tạp khó hiểu

Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và người sử dụng lao động như: Trịnh Thị Hoa Mai (2008) [71], Phùng Xuân Nhạ (2008) [83], Nguyễn Văn Anh (2009) [2], Trần Ngọc Trình (2012) [120],

… chỉ ra rằng: một trong những khó khăn nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Trình độ học vấn của người lao động

và chủ doanh nghiệp rất thấp, sinh viên tốt nghiệp được tuyển dụng chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động Ưu điểm của những nghiên cứu từ giai đoạn năm 2008 đến 2012 là chỉ ra thực trạng hiện nay nhiều trường đại học chưa gắn kết đào tạo với nhu cầu của xã hội, dẫn đến sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của tuyển dụng do thiếu kỹ năng, tác phong chuyên nghiệp Điều này dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại khi tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp Tuy nhiên điểm hạn chế của các nghiên cứu trên là dừng lại ở phương pháp nghiên cứu định tính chưa có những minh chứng số liệu cụ thể để thuyết phục những luận điểm đưa ra

Ngoài ra, trong nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Hoa Mai (2008) còn đề cập đến vấn đề vai trò của trường đại học trong việc cung ứng lao động đáp ứng yêu

Trang 37

cầu của các doanh nghiệp trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay [71] Nội dung chương trình đào tạo là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công của đào tạo gắn với yêu cầu của người sử dụng lao động Tùy theo từng đặc điểm công việc, ngành đào tạo thiết kế nội dung chương trình đào tạo bao gồm: kiến thức, kỹ năng, nghiệp

vụ và phẩm chất nghề nghiệp cần thiết Người sử dụng lao động cần tham gia trực tiếp vào việc xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo thông qua cung cấp thông tin, phản biện nội dung chương trình đào tạo…[83] Tiếp theo các nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thanh Sơn (2013) trong bài viết mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp đã chỉ ra vai trò của doanh nghiệp đối với giáo dục đại học và khẳng định các doanh nghiệp đóng vai trò rất lớn trong việc giúp các trường đại học đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội [98] Điểm mạnh của nghiên cứu trên là chỉ ra vai trò của người sử dụng lao động đối với giáo dục như góp phần xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp Tuy nhiên giống như các nghiên cứu trên điểm hạn chế của nghiên cứu là chỉ dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính chưa có những số liệu cụ thể để làm tăng tính giá trị trong nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Kim Dung và Trần Quốc Toản (2010) [26], đã thực hiện khảo sát mối quan hệ giữa nhà trường và người sử dụng lao động trên số lượng mẫu

4474 người, phương pháp nghiên cứu dùng thống kê mô tả tần suất và giá trị trung bình cho thấy mức độ quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo với người sử dụng lao động khá thấp Các nghiên cứu trên đã nêu ra thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa

cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động chưa cao nên dẫn đến chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động Các giải pháp để tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường và người sử dụng lao động là thực hiện liên kết đào tạo, cho sinh viên vừa học tập vừa làm việc tại doanh nghiệp Tuy nhiên, việc liên kết giữa người sử dụng lao động và cơ sở đào tạo có tác động đến chương trình đào tạo thì các tác giả trên chưa đề cập đến

1.3.2 Nghiên cứu về sự đánh giá của người sử dụng lao động về chất lượng đào tạo

Năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng xây dựng và công bố chuẩn năng lực của sinh viên tốt nghiệp còn được gọi là

Trang 38

chuẩn đầu ra, tuy nhiên chất lượng đào tạo còn thấp chưa đáp ứng được kì vọng và nhu cầu xã hội Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn sinh viên tốt nghiệp chỉ

có khoảng 60% làm việc phù hợp với ngành đào tạo Chất lượng sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động chiếm tỉ lệ 74%, phần lớn sinh viên tốt nghiệp khi nhận công việc tại các doanh nghiệp đều phải đào tạo lại [47] Việc đào tạo cần gắn với thực tế là xu hướng chung của thế giới hiện nay, vấn đề đặt ra cần đào tạo như thế nào để phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động của Việt Nam Sự công nhận thông qua việc sử dụng sinh viên tốt nghiệp

từ phía người sử dụng lao động là minh chứng tốt nhất thể hiện chất lượng đào tạo đạt chuẩn [40] Bên cạnh đó, một số tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu sâu

về năng lực sinh viên tốt nghiệp so với yêu cầu người sử dụng lao động thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng cụ thể:

Ở nước ngoài đã có nhiều công trình liên quan đến người sử dụng lao động như: Nghiên cứu sự khác biệt giữa kỳ vọng của nhà tuyển dụng so với hiệu quả làm việc của sinh viên tốt nghiệp [144]; Nghiên cứu đánh giá các kỹ năng việc làm cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp tại trường đại học Missouri [Robinson, 2008]; Nghiên cứu về thông tin phản hồi của nhà tuyển dụng về chất lượng của sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh [177]; Nghiên cứu đánh giá của người sử dụng lao động đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp [143]; Nghiên cứu kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp ngành Quản lý kinh doanh [152]; Nghiên cứu về năng lực của sinh viên tốt nghiệp ngành Quản lý – Kinh tế [135]; Nghiên cứu kỹ năng việc làm của sinh viên tốt nghiệp dựa vào nhu cầu công việc [162] Từ các nghiên cứu trên cho thấy đánh giá của người sử dụng lao động về khả năng của sinh viên tốt nghiệp có sự chênh lệch so với yêu cầu thực tế, tuy nhiên sự chênh lệch không cao < 30

Ở Việt Nam có nhiều tác giả nghiên cứu về chất lượng sinh viên tốt nghiệp

cụ thể: Nghiên cứu mức độ đáp ứng công việc của sinh viên tốt nghiệp ngành kinh

tế tại địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2005, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng như thống kê tần suất, kiểm định thống kê…với số lượng mẫu 150 người

Cửu Long bằng phương pháp định lượng như thống kê giá trị trung bình, độ lệch

Trang 39

chuẩn và hệ số tương quan với số lượng mẫu khảo sát là 98 người [86]; Đánh giá chất lượng đào tạo ngành kinh tế của trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp nghiên cứu định lượng như so sánh tỉ lệ % với số lượng mẫu 225 người [20]; Nghiên cứu về chất lượng đào tạo tại Khoa Kế toán – Tài chính, Trường đại học Kinh tế Huế, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng như thống kê giá trị trung bình, phân tích nhân tố với số lượng mẫu 331 người [114]; Nghiên cứu mức độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp với nhu cầu xã hội về kiến thức và kỹ năng – một tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo đại học [97] Hầu hết, các tác giả trên đều sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và bằng các phương pháp khác nhau như tần suất; giá trị trung bình; độ lệch chuẩn; kiểm định thống kê… Qua kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy năng lực của sinh viên tốt nghiệp thấp hơn nhiều so với yêu cầu của người sử dụng lao động Điểm mạnh trong các nghiên cứu liên quan đến đánh giá của người sử dụng lao động về năng lực của sinh viên tốt nghiệp là chỉ ra mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng lao động được thể hiện qua thông tin phản hồi từ người sử dụng lao động về năng lực của sinh viên tốt nghiệp và thực tế cho thấy rằng yêu cầu của người sử dụng lao động cao hơn bình diện giáo dục Tuy nhiên các tác giả chưa nghiên cứu sâu chương trình đào tạo cần bổ sung các thuộc tính nào cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động Hiện nay, yêu cầu của người sử dụng lao động rất đa dạng không chỉ về cơ cấu ngành nghề, trình độ mà còn về tiêu chuẩn chất lượng nhân lực Trong nghiên cứu về quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp của 2 tác giả Phí Đăng Tuệ và Nguyễn Trọng Khanh (2010) bằng phương pháp nghiên cứu định lượng như thống kê mô tả, cỡ mẫu 1235, kết quả đánh giá của người sử dụng lao động về nội dung chương trình đào tạo cho thấy tỉ lệ phù hợp về lí thuyết là 21,40%, thực hành là 35,8% và tác phong làm việc công việc

là 39,3% [126] Điều này cho thấy chương trình đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động có sự khác biệt lớn Thực tế cho thấy chất lượng các chương trình đào tạo đạt chuẩn và được đánh giá ngang tầm quốc tế chưa có Qua nghiên cứu của tác giả

Võ Thị Xuân (2012) cho thấy rằng chỉ có 33% hài lòng và 66% không hài lòng về lao động qua đào tạo khối ngành Kỹ thuật (thống kê năm 2010), thông qua kết quả

Trang 40

lấy ý kiến phản hồi của người sử dụng lao động, trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phát triển chương trình đào tạo giáo viên kỹ thuật và cấu trúc mới chương trình đào tạo 2 lần và cải tiến thay đổi chương trình đào tạo nhiều lần nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [131] Ngoài ra, 1 nghiên cứu tại trường đại học Kinh

tế kỹ thuật Công nghiệp đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương đã nêu lên quan điểm chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu xã hội cần phải dựa trên thông tin phản hồi từ người sử dụng lao động [39]

1.3.3 Nghiên cứu về sự thay đổi mục tiêu và cách thức đào tạo

Một trong những chủ trương đổi mới hiện nay là đào tạo theo nhu cầu xã hội Năm 2010, tác giả Nguyễn Khang đã nêu lên thực trạng các cơ sở đào tạo thiếu thông tin về thị trường lao động dẫn đến việc đào tạo mất cân đối ngành nghề, cụ thể khối ngành kinh tế có quy mô đào tạo cao như: lĩnh vực kinh tế - dịch vụ - quản

lý chiếm tỉ lệ 43%, sau đó tới lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm tỉ lệ 25% trên tổng số các ngành nghề đào tạo [54] Tỉ lệ đào tạo khá cao nhưng khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực lại thấp, vì vậy chương trình đào tạo cần thay đổi

và xác định lại mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Năm 2012, tác giả Nguyễn Khắc Bình đã nêu giáo dục đại học hiện nay đã có những đổi mới trong quản lý, một trong những đổi mới đó là các

cơ sở đào tạo có sự công khai chất lượng; công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; đào tạo gắn với nhu cầu xã hội [3] Tuy nhiên cần phải phát triển đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực người học để đáp ứng chuẩn đầu ra và theo nhu cầu xã hội Ngoài ra, cơ sở đào tạo cần tăng cường áp dụng các chương trình tiên tiến của các trường đại học trên thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ngoại ngữ và tin học cho sinh viên nhằm đáp ứng hội nhập và cạnh tranh quốc tế… Các nghiên cứu trên cho thấy hệ thống giáo dục đại học cần thay đổi mục tiêu đào tạo và cách thức đào tạo để đáp ứng nhu cầu nhân lực đa dạng Tiếp theo các nghiên cứu trên, năm 2013 tác giả Võ Đăng Bình đã nêu chỉ ra vấn đề giáo dục đại học là tạo ra nguồn có tay nghề cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội [6], vì vậy giáo dục đại học được xã hội xem trọng bởi sản phẩm của

Ngày đăng: 25/09/2020, 19:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w