1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)

93 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 892,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các công trình này chưa làm nổi bật được các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng, với tư cách là hậu qu pháp lý bất lợi áp dụng đối với

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THANH ĐỨC

CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THANH ĐỨC

CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH)

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Ngô Thị Thanh Đức

Trang 4

4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ Đ U 1

Chương 1: MỘT SỐ V N ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội phạm tham nhũng 6

1.1.1 Khái niệm các tội phạm tham nhũng 6

1.1.2 Các đ c điểm cơ bản của các tội phạm tham nhũng 9

1.2 Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về các tội phạm tham nhũng 12 1.2.1 iai đoạn trư c Cách mạng Tháng Tám năm 1945 13

1.2.2 iai đoạn t sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trư c khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 17

1.2.3 iai đoạn t sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến trư c khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 20

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 24

2.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm tham nhũng và hình phạt áp dụng 24

2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý đ c trưng của các tội phạm tham nhũng 24

2.1.2 Hình phạt áp dụng đối v i các tội phạm tham nhũng 35

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội phạm tham nhũng của các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Nam Định 37

2.2.1 Khái quát tình hình xét xử các tội phạm tham nhũng trên cả nư c 37

2.2.2 Thực tiễn xét xử các tội phạm tham nhũng trên địa bàn t nh Nam Định 39

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, thiếu sót trong áp dụng các quy định về các tội phạm tham nhũng trong Bộ luật hình sự năm 1999 47

Trang 5

5

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 61

3.1 Một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội phạm tham nhũng 61

3.1.1 Một số nội dung m i trong Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội phạm tham nhũng 61 3.1.2 Một số kiến nghị tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình

sự năm 2015 về các tội phạm tham nhũng 65

3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu qu áp dụng các quy định về tội phạm tham nhũng 75

3.2.1 Đổi m i phương thức đào tạo, nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp 75 3.2.2 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát v i Cơ quan điều tra, Tòa án 78 3.2.3 Thực hiện tốt cơ chế: Kiểm soát, giám sát quyền lực; xử lý nghiêm minh

và đãi ngộ hợp lý 78

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 6

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

1

MỞ Đ U

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Các tội phạm về tham nhũng được quy định tại Mục A, Chương XXI,

Bộ luật hình sự năm 1999; sửa đổi, bổ sung năm 2009 Các tội phạm tham nhũng trên có thể gây ra rất nhiều hậu qu nghiêm trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đ ng, Nhà nước Các tội phạm tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đ o lộn những chuẩn mực đạo đức

xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước [1,tr12]

Các tội phạm về tham nhũng hiện nay đang là những loại tội phạm phổ biến, tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng cao, hậu qu của các tội phạm này nghiêm trọng và khó khắc phục, do đó nghiên cứu, đánh giá thực trạng các loại tội phạm này, xác định tính chất, mức độ, xu hướng diễn biến trong thời gian tới, phân tích nguyên nhân phạm tội của loại tội phạm này, đề ra gi i pháp ngăn chặn, gi m thiểu tội phạm giúp cho các cơ quan nhà nước, người

có thẩm quyền đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp ngăn chặn, gi m thiểu tội phạm là rất cần thiết

Đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung, các tội phạm tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ quan trọng liên quan đến sự tồn vong, của chế độ

ta Tuy nhiên, đây là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đ ng, sự chung tay, vào cuộc của c hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của toàn xã hội

Công tác đấu tranh, phòng, chống các tội phạm về tham nhũng trên phạm vi toàn quốc nói chung và trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng trong những năm qua đã được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ

đạo; tuy nhiên hiệu qu còn hạn chế

Hiện nay, tình hình phạm tội liên quan đến chức vụ, quyền hạn ở nước

ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo động Những tội phạm này x y ra ở cấp Trung ương, ở cấp địa phương, ở những chương trình, ở các dự án Tác hại

Trang 8

2

nguy hiểm của những tội phạm về tham nhũng nh hưởng trực tiếp đến hiệu

qu của việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và một số nhiệm vụ qu n lý nhất định của Nhà nước Điều đáng báo động đối với những tội phạm về tham nhũng, quyền hạn dường như đã trở thành bình thường trong quan niệm của một số cán bộ, công chức, viên chức Đó chính

là biểu hiện của sự suy thoái, xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức [3,tr 21]

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nguyên nhân, thực trạng các tội phạm

về tham nhũng; gi i pháp phòng, chống loại tội phạm này trên phạm vi c nước Tuy nhiên, nghiên cứu, đề xuất các gi i pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qu áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 đối với các tội phạm về tham nhũng tại địa bàn tỉnh Nam Định hiện chưa có một nghiên cứu chính thức nào

Từ những lý do trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)" làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm tham nhũng mặc dù không

ph i là vấn đề mới, nhưng nó là vấn đề khá phổ biến và quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, do đó, dưới góc độ các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đã được các tác gi , nhà nghiên cứu, học viên quan tâm nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp dưới các góc độ khác nhau, trong đó:

+ Các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án: Các Tội phạm về

tham nhũng trong Luật hình sự Việt Nam, Trần Văn Đạt, Luận án Tiến sĩ

(2012); Các Tội phạm về tham nhũng trong luật Hình sự Việt Nam, Trần Văn Đạt, Luận văn thạc sĩ luật (2002); Đấu tranh phòng chống các tội phạm tham

nhũng trong thành phố Hồ Chí Minh, Dương Ngọc H i, Luận văn thạc sỹ luật,

trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011; Tội tham ô tài sản trong Bộ luật hình sự

Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Trần Quang Sơn; Luận văn thạc sĩ

luật, Đại học luật Hà Nội, 2007

Trang 9

3

+ Sách, báo, tạp chí: Trách nhiệm hình sự đối v i các tội phạm về tham

nhũng t những qui định của pháp luật hình sự hiện hành đến thực tiễn áp dụng của Nguyễn Ngọc Tính, Tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư pháp, Số

1/2016, tr 31 – 37; Một số ý kiến góp ý đối v i phần các tội phạm về tham

nhũng trong Dự th o Bộ luật hình sự (sửa đổi 2015), Hoàng Đình Thanh, tập

chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, Số 9/2015, tr 55 – 60;

Một số ý kiến đóng góp về chương XXIII các tội phạm về tham nhũng trong dự thảo Bộ Luật Hình sự (sửa đổi 2015) của Trương Thế Nguyễn, Thanh tra, tạp

chí Thanh tra chính phủ, Số 9/2015, tr 35- 36; óp phần hoàn thiện một số quy

định đối v i các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 1999,

Nguyễn Ngọc Tính , Kiểm sát, Tạp chí Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số

22/2015, tr 23 – 29, 42; Các tội đưa và nhận hối lộ của Luật hình sự Hoa Kỳ

trong sự so sánh v i Luật hình sự Việt Nam của Trần Hữu Tráng, tạp chí Luật

học Số 12/2010 H.; Đại học Luật Hà Nội; 2010 - tr 51-60…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã làm rõ được các vấn

đề về cấu thành tội phạm các tội phạm về tham nhũng, khát quát được lịch sử lập pháp về các tội phạm này và thực tiễn áp dụng xét xử các tội phạm về tham nhũng trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, các công trình này chưa làm nổi bật được các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng, với tư cách là hậu qu pháp lý bất lợi áp dụng đối với người có hành vi phạm tội thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng… từ đó, đánh giá các quy định của BLHS năm 1999 về vấn đề này, phát hiện tồn tại, bất cập, qua

đó kiến gi i hoàn thiện pháp luật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở các kết qu nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam, luận văn đề xuất các gi i pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu

qu áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 đối với các tội phạm về tham

Trang 10

4

nhũng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu những nội dụng sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, sự cần thiết quy định các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam

- Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định các tội phạm tham nhũng

- Nghiên cứu, so sánh quy định về các tội phạm tham nhũng trong Luật hình sự Việt nam với một số nước

- Các dấu hiệu pháp lý và đường lối xử lý đối với các tội phạm tham nhũng theo Bộ luật hình sự năm 1999

- Thực tiễn áp dụng các quy định đối với tội phạm tham nhũng, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong áp dụng các quy định về các tội này

- Đề xuất các gi i pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qu áp dụng quy định về các tội phạm tham nhũng trong BLHS năm 1999

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các tội phạm tham nhũng trên cơ sở xét xử thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định

- Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, các quan điểm, chính sách hình sự của Đ ng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: nghiên cứu tài liệu kết hợp với phân tích, so sánh, tổng hợp logic lịch sử, tổng hợp, phân tích, thống kê

Trang 11

5

6 Tính mới và nh ng đ ng g p của đề tài

- Phân tích chuyên sâu về khái niệm, đặc điểm, cơ sở và ý nghĩa của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm tham nhũng

- Khái quát quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm tham nhũng và so sánh với các tội phạm tham nhũng tại một số quốc gia trên thế giới (Luật hình sự một số quốc gia trên thế giới)

- Phân tích các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Phân tích những bất cập còn tồn tại về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các tội tham nhũng

- Kiến nghị gi i pháp hoàn thiện thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như nâng cao hiệu qu áp dụng đối với các tội tham nhũng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham kh o, luận văn có nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam;

Chương 2: Các quy định về các tội phạm tham nhũng theo Bộ Luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Nam Định;

Chương 3: Một số gi i pháp hoàn thiện các quy định đối với các tội phạm tham nhũng trong Bộ Luật hình sự năm 1999 và nâng cao hiệu qu áp dụng tại địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 12

6

Chương 1 MỘT SỐ V N ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1 1 Khái niệm và đặc điểm của các tội phạm tham nhũng

1.1.1 Khái niệm các tội phạm tham nhũng

Tội phạm tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, mang tính lịch sử Sự hình thành, phát triển của tội phạm về tham nhũng nói riêng

và tệ nạn tham nhũng nói chung gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước Tội phạm tham nhũng diễn ra ở tất c các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, điều kiện và trình

độ phát triển kinh tế - xã hội Tội phạm tham nhũng diễn ra thường xuyên

và luôn tồn tại ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, gây ra những hậu qu hết sức nguy hại về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, c n trở sự phát triển đi lên của xã hội, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của c một thể chế [4, tr 02]

Tội phạm tham nhũng xuất hiện khi một người được giao một quyền lực nhất định và người đó đã sử dụng quyền lực được giao để thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân nhằm mục đích vụ lợi

Tội phạm tham nhũng luôn luôn gắn liền với yếu tố quyền lực, không

có quyền lực thì không thể có tội phạm tham nhũng Đối với một người có quyền lực phạm tội tham nhũng, thì quyền lực đó được thể hiện ở việc người

đó được giao một chức vụ, quyền hạn nhất định Người được giao chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi trái với các quy định của pháp luật, xâm phạm đến uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân nhằm mục đích vụ lợi Tuy nhiên, không ph i lúc nào người có chức

vụ, quyền hạn cũng có thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực

Trang 13

7

hiện hành vi xâm hại các quan hệ xã hội được luật hình sự b o vệ, mà ph i trong những điều kiện, hoàn c nh và lý do nhất định như: do hạn chế của pháp luật, chế độ qu n lý cán bộ, công chức lỏng lẻo, yếu kém hoặc do thờ ơ, thiếu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao v.v Đồng thời, hành vi lợi dụng chức

vụ, quyền hạn ph i gắn liền với việc thi hành công vụ của người có chức vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật trên cơ sở công vụ được giao và người đó có quyền hạn nhất định đối với công vụ đó [4, tr2]

Để tìm hiểu khái niệm tội phạm tham nhũng cần ph i đi từ khái niệm người có chức vụ Trong Bộ luật Hình sự, các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện không chỉ bao gồm các tội phạm tham nhũng mà còn bao gồm các tội phạm được quy định ở các chương khác Mặt khác, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện cho thấy còn gặp những khó khăn vướng mắc nhất định, một số quy định của pháp luật về vấn đề này còn trừu tượng, chung chung, khó gi i thích, khó áp dụng nhất là trong tình hình xã hội hiện nay đã có nhiều sự chuyển biến, thay đổi trên các phương diện khác nhau, nhiều lĩnh vực đã được xã hội hóa (những công việc trước đây chỉ có nhà nước đ m trách giờ đã được giao cho nhân dân cùng làm)… Vì vậy, về mặt nhận thức cần có sự thống nhất trong việc xác định như thế nào là người có tham nhũng, và thế nào là lợi dụng chức vụ để phạm tội? Đó chính là nội dung chúng tôi muốn trao đổi trong bài viết này

Trước hết, khái niệm người có chức vụ được quy định tại Điều 277 Bộ luật Hình sự 1999 như sau: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu

cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”

Theo khái niệm này, có rất nhiều căn cứ khác nhau để xác định một người có chức vụ như do được bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác…Hình thức khác ở đây có thể hiểu là bất cứ hình thức

Trang 14

8

nào mà gắn những quyền năng nhất định của chủ thể với chức vụ mà họ có Như vậy, trong khái niệm này theo chúng tôi người có chức vụ có thể được hiểu một cách ngắn gọn là “người được giao thực hiện công vụ (mang tính chất hợp pháp) và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ đó” Chẳng hạn: Bác sĩ được giao nhiệm vụ khám sức khoẻ để tuyển dụng cán bộ, viên chức; thủ kho được giao nhiệm vụ qu n lý kho hàng của công ty, dân phòng đang đuổi bắt tội phạm… Tất c những người này đều được coi là người có chức vụbởi vì họ được giao thực hiện công vụ vì lợi ích chung của toàn xã hội và có những quyền năng nhất định trong khi thi hành công vụ

Trong Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đưa ra khái niệm người có chức

vụ như sau: Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ [45, tr 03]

Theo quy định của Điều 352 BLHS năm 2015 các tội phạm tham nhũng trong pháp luật hình sự là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của

cơ quan, tổ chức do người có chức vụ (là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ) thực hiện trong khi thi hành công vụ, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức Các tội phạm tham nhũng trực tiếp xâm hại sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Xâm hại đến quan hệ sở hữu Nhà nước và xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cơ b n của công dân Trong đó, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật hoặc điều lệ quy định, những hoạt động này nhằm thực hiện chức năng và mục đích đã đề

ra Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì cán bộ, công chức ph i chí công,

vô tư, không được lợi dụng chức vụ để trục lợi, nhưng trong cơ quan, tổ chức nào đó có cán bộ đã tham ô, nhận hối lộ, hoặc lấy tiền của cơ quan, tổ chức

Trang 15

9

mà mình là thành viên để đưa hối lộ là đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đó Có thể nói, những hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do các tội phạm về tham nhũng gây ra, chính là những quy định của pháp luật hoặc của điều lệ buộc ph i làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm Những quy định cụ thể này được thể hiện trong từng hành vi phạm tội cụ thể trong từng tội phạm về tham nhũng trong chương này Hành vi khách quan của các tội phạm tham nhũng là đa số các tội phạm về tham nhũng được thể hiện bằng hành động Đa số các tội phạm tham nhũng có cấu thành tội phạm (CTTP) hình thức - tức là trong mặt khách quan chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan mà không có dấu hiệu hậu qu [7,tr 14]

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm các tội phạm tham

nhũng như sau: Tội phạm tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội

được quy định trong luật hình sự do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ bằng l i cố ý trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của

cơ quan, tổ chức

1.1.2 Các đặc điểm cơ bản c a các tội phạm tham nhũng

Thứ nhất, các tội phạm tham nhũng xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nư c, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân:

Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình

để thực hiện hành vi trái với công vụ được giao nhằm mục đích vụ lợi nhưng không xâm hại đến uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì không được coi

là tội phạm về tham nhũng mà chỉ là những vi phạm pháp luật khác của người

có chức vụ, quyền hạn Thông thường, một người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện hành vi trái với công vụ được giao, thì sẽ xâm hại đến uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan,

tổ chức, lợi ích của hà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Đây là

Trang 16

10

những quan hệ xã hội được luật hình sự b o vệ Hay nói cách khác, sự xâm hại đến các quan hệ xã hội nói trên là hậu qu tất yếu của hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với công vụ của người có chức vụ, quyền hạn Trên thực tế, người có chức vụ, quyền hạn mặc dù đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện hành vi trái với công vụ được giao nhằm mục đích vụ lợi nhưng không xâm phạm đến những quan hệ xã hội nói trên hoặc mức độ xâm hại đến những quan hệ xã hội đó chưa đến mức độ nguy hiểm cho xã hội, thì hành vi đó không được coi là phạm tội tham nhũng [9, tr 22]

Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, ở mỗi giai đoạn khác nhau, PLHS quy định mức độ xâm hại đến các quan hệ xã hội của hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn cũng khác nhau Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, không thể quy kết bất kỳ một hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ của người có chức vụ, quyền hạn là phạm tội tham nhũng khi hành vi đó không xâm hại đến uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ hai, trong các tội phạm tham nhũng, người có chức vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi trái v i công vụ

Trên cơ sở quyền hạn được giao, trong khi thi hành công vụ, người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi (hành động hoặc không hành động) trái với công vụ được giao, trái với các quy định của pháp luật Tội phạm về tham nhũng bao giờ cũng được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với chức năng, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn Hay nói một cách cụ thể hơn, trong tất c các tội phạm về tham nhũng nhất thiết ph i có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành

vi trái công vụ được giao Trường hợp không chứng minh được dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái công vụ được giao, thì không thể coi bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào của người có chức vụ, quyền hạn là tội phạm về tham nhũng Đối với các tội phạm khác, dấu hiệu lợi

Trang 17

11

dụng chức vụ, quyền hạn chỉ là tình tiết tăng nặng định khung trong BLHS

Thứ ba, chủ thể của các tội phạm tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn

Chức vụ và quyền hạn là hai dấu hiệu quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất Một người có chức vụ thì đương nhiên người đó có một số quyền hạn nhất định Tuy nhiên, một người có quyền hạn thì không nhất thiết người đó ph i là người có chức vụ Tùy theo từng cách tiếp cận, có nhiều quan điểm về các dấu hiệu, điều kiện của người có chức vụ, theo các phạm vi rộng, hẹp khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các quan điểm đều thống nhất rằng, người có chức vụ ph i là người thỏa mãn các điều kiện sau:

- Do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác;

- Đang làm việc trong một cơ quan hoặc tổ chức;

- Có hưởng lương hoặc không hưởng lương;

- Được cơ quan, tổ chức, giao cho thực hiện một công vụ nhất định;

- Theo nhiệm vụ được giao, khi thực hiện công vụ, người đó có quyền hạn nhất định [9, tr 35]

Thứ tư, các tội phạm tham nhũng được thực hiện bằng l i cố ý trực tiếp

và mục đích vụ lợi Tội phạm về tham nhũng là các hành vi cố ý trực tiếp, có

mục đích Mục đích của các tội phạm về tham nhũng ph i là mục đích vụ lợi Trường hợp một người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi không cố ý hoặc không có mục đích vụ lợi thì hành vi đó không được coi là hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn Việc chứng minh dấu hiệu mục đích vụ lợi để từ đó truy cứu trách nhiệm của người phạm tội luôn là vấn đề khó khăn, phức tạp nhất trong các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng Trước khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành, trong các văn b n pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam quy định về dấu hiệu vụ lợi chỉ dừng lại ở các lợi ích vật chất có thể định lượng được một cách cụ thể Điều này đã làm hạn chế không nhỏ đến hiệu qu của công tác phòng, chống tham nhũng nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng Để thống nhất về mặt nhận thức

Trang 18

1.2 Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về các tội phạm tham nhũng

Các tội phạm về tham nhũng là một hiện tượng mang tính lịch sử xã hội, nó ra đời, tồn tại gắn với sự tồn tại của Nhà nước Đó không chỉ là sự băng hoại đạo đức, bất công xã hội mà còn có thể làm suy vong những quốc gia hùng mạnh nhất, sụp đổ c thể chế chính trị Đặc biệt, các tội về tham nhũng chức vụ làm xói mòn nền pháp quyền và gây tổn hại đến uy tín của Nhà nước, cũng như làm gi m niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan Nhà nước Lịch sử loài ngừời đã chứng minh rằng tham nhũng là mặt trái của quyền lực nhưng song hành với quyền lực Xã hội nguyên thủy không có tư hữu, của c i dùng chung hoặc chia đều; không có giai cấp với đặc quyền, đặc lợi, không áp bức, bóc lột nên không có các tội về tham nhũng, tham nhũng Chế độ tư hữu, giai cấp và Nhà nước đã tạo ra quyền lực với các loại chức tước, đẳng cấp, đặc quyền, đặc lợi Quyền lực đó không được giám sát chặt chẽ sẽ x y ra hiện tượng độc quyền, cửa quyền, lạm quyền…là nguồn gốc của tham nhũng và các tội phạm tham nhũng Tham nhũng là một căn bệnh của Nhà nước Do đó, nghiên cứu tham nhũng, phòng, chống tham nhũng chủ yếu là nghiên cứu Nhà nước, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực Nhà nước Vậy nên việc kiểm soát và tiêu trừ các tội phạm

Trang 19

13

liên quan đến tham nhũng là mục tiêu của hầu hết các chính quyền, nhà nước Nhưng đến nay, có thể khẳng định chưa có Nhà nước nào trên thế giới dám tuyên bố đã có thể kiểm soát và tiêu trừ được hoàn toàn các tội phạm tham nhũng [19, tr21] Do đó, đối mặt và tuyên chiến với các tội phạm tham nhũng, tham nhũng là vấn đề của mọi quốc gia, dân tộc Bởi lẽ tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực, gắn liền với Nhà nước nên khi còn quyền lực, còn Nhà nước thì còn tham nhũng, còn tội phạm về tham nhũng Ngay c những quốc gia tiên tiến nhất thế giới cũng cần thường xuyên phòng, chống tham nhũng Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó và đã có một lịch sử lập pháp lâu dài ghi dấu những nỗ lực đấu tranh chống tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng khác như được ghi nhận dưới đây

1.2.1 iai đoạn tr c Cách mạng háng ám n m 1 45

Ở nước ta, ngay từ trong xã hội phong kiến, việc đấu tranh phòng, chống các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội đã được đặt ra như một yêu cầu tất yếu để b o vệ chế độ và bộ máy nhà nước phong kiến đương thời Các đạo luật quan trọng trong lịch sử như: Bộ luật Hình thư (Nhà Lý), Bộ Quốc triều Thông lễ (Nhà Trần), Bộ Quốc triều Hình luật (Nhà Lê),

Bộ luật Gia Long (Nhà Nguyễn) đều có ghi nhận và trừng trị những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội của những người có chức vụ, quyền hạn trong xã hội thời bấy giờ Nổi bật trong đó là Bộ Quốc triều Hình luật đã đặt ra các quy định trừng trị nhiều hành vi phạm tội tham nhũng, tội phạm liên quan đến tham nhũng như: nhận hối lộ, đưa hối lộ, làm trung gian hối lộ, lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt tài s n; v.v Hành vi nhận hối lộ được Quốc triều Hình luật quy định chung tại Điều 138 - quan lại ăn hối lộ với khung

hình phạt nghiêm khắc: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ t 1 quan

đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức; t 10 đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, t 20 quan trở lên thì xử tội chém Những bậc công thần, quý thần cùng những người có tài dự vào hạng bát nghị mà ăn hối lộ t 1 quan đến 9 quan thì phạt tiền 50 quan; t 10 đến 19 quan thì phạt tiền 60 quan đến 100 quan,

Trang 20

vi nhận hối lộ Tuy nhiên, đằng sau đó vẫn ẩn chứa tính bất bình đẳng khi ít nhiều nương nhẹ cho tầng lớp quý tộc, hoàng thân, quốc thích phạm tội bằng việc đặc cách cho áp dụng hình phạt tiền hoặc hình phạt nhẹ hơn quy định Đồng thời với trừng phạt hành vi nhận hối lộ, Quốc triều Hình luật cũng có những quy định tiến bộ về xử lý c hành vi đưa hối lộ, trung gian, môi giới

hối lộ Điều 137 quy định: “Những kẻ đến cầu cạnh v i quan chủ ty việc trái

pháp luật và kẻ vì người khác mà đến cầu cạnh thay, đều xử tội biếm hay phạt; quan chủ ty nghe theo thì phải ghép vào tội làm trái pháp luật, việc chưa thi hành thì xử tội biếm hay phạt Việc làm trái pháp luật ấy thuộc về tội n ng thì quan chủ ty phải ghép tội ăn tiền mà xóa tội hay gán tội cho người ta trái sự thực; kẻ vì người mà đến cầu cạnh thì xử tội nhẹ hơn quan chủ ty ba bậc; tự mình có tội mà đến cầu cạnh thì xử tội nhẹ hơn quan chủ ty hai bậc” Ngoài ra, Điều 140 quy định: “Những người đưa hối lộ mà xét ra việc của họ có trái lẽ thì theo việc của họ mà định tội Còn người nào thật oan khổ, vì muốn cho khỏi tội mà hối lộ thì được giảm tội Người nào không phải việc mình mà đi hối lộ thay người khác thì xử tội nhẹ hơn người ăn hối

lộ hai bậc Những người thuộc hạ mà xúc xiểm quan trên thì cũng xử tội như thế Của hối lộ phải nộp vào kho” [22, tr 32] Những quy định này đã đặt ra

những gi định rất cụ thể, sát với tình huống trong đời sống thực tế (hối lộ, giúp hối lộ, nhận hối lộ, đưa hối lộ vì muốn gi i oan, nhận hối lộ nhưng chưa thực hiện việc được yêu cầu…); cũng như phân hóa trách nhiệm hình sự sâu

Trang 21

15

sắc tương ứng với từng loại chủ thể và tính chất của hành vi (người đưa hối

lộ, người trung gian, người nhận hối lộ); thể hiện tinh thần nhân đạo với những tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự hợp lý, hợp tình Ngoài hành vi nhận, đưa, trung gian đưa hối lộ, Quốc triều Hình luật còn quy định một số

hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn khác để trục lợi như: quan giám qu n tự

tiện dùng dân đinh làm việc riêng cho mình (Điều 166); quan thu thuế giấu bớt thuế đã thu hoặc thu thêm thuế để làm của riêng (Điều 206); Như vậy,

có thể nói rằng những quy định của Quốc triều Hình luật về các tội phạm về tham nhũng, tham nhũng là một điểm sáng trong lịch sử lập pháp Việt Nam

Sau đó, Hoàng Việt luật lệ của triều Nguyễn mặc dù chịu nh hưởng sâu sắc từ pháp luật phong kiến Trung Hoa nhưng cũng vẫn tiếp thu được một phần những tiến bộ đó trong quy định các tội phạm về tham nhũng, tham nhũng Luật này quy định về các hành vi nhận hối lộ hoặc lợi dụng chức vụ nhũng nhiễu nhân dân và đều bị xử lý nghiêm khắc Chẳng hạn, Chương IX - Nhận hối lộ, Quyển XVII quy định chín điều luật để xử lý như: Điều 1 - Quan lại nhận tiền của; Điều 2 - Tọa tang chí tội; Điều 3 - Sau công việc mới nhận tiền; Điều 4 - Quan lại hứa nhận tiền của; Điều 5 - Có công việc dùng tiền của cầu cạnh; Điều 6 - Làm quan lại sách nhiễu vay mượn tiền của của dân; Điều

7 - Cho người nhà sách nhiễu tiền của; Điều 8 - Nhận việc công bắt dân đóng góp và Điều 9 - Lưu giữ tang vật ăn trộm Điều 1 quy định quan lại nhận tiền

của nêu rõ: “Phàm quan lại mà nhận của thì tính hết tang vật mà định tội

Quan thì bị truy thu bằng sắc và bị cấm không được dùng các danh hiệu quan chức ho c phẩm hàm, lại thì bị bãi chức dịch, đều không được tiếp tục

sử dụng Theo lệ thì các quan viên phạm tội t phạt 100 trượng đều bị bãi chức, không được tiếp tục sử dụng, riêng phạm tội nhận hối lội ch t 1 lạng trở xuống, nếu uổng pháp phạt 70 trượng, nếu bất uổng pháp phạt 60 trượng, đều bị bãi chức…” [22, tr 23]; Điều 4 quy định về quan lại hứa nhận tiền của

nêu: “Phàm quan lại đồng ý cho đem tiền của t i, tuy chưa tiếp nhận, nhưng

nếu là trường hợp việc bị xử sai, chuẩn theo điều uổng pháp mà luận tội…”;

Trang 22

16

Điều 6 quy định về làm quan lại sách nhiễu, vay mượn tiền của dân nghiêm

trị “phạm quan lại cấu kết v i đồng bọn cường hào sách nhiễu, vay mượn

tiền của của dân sở tại thuộc mình cai quản, thì tính toàn bộ tang, chuẩn theo điều bất uổng pháp mà luận tội Nếu là cưỡng mức thì chuẩn theo điều uổng pháp mà luận tội, tiền của trả lại cho chủ…”; Điều 9 quy định trường

hợp “phàm quan tuần bố đã bắt được bọn trộm cư p kèm theo tang vật mà

lưu giữ tang vật không đưa lên quan thì phạt 40 roi Nếu bỏ túi tính tang thì lấy bất uổng pháp luận tội ” Thậm chí, ngay c các quan lợi dụng chức vụ,

quyền hạn sử dụng dân đinh, phu thợ làm việc riêng cũng bị xử lý Điều 9

(Chương I - Hộ dịch, Quyển VI) quy định: “Phàm các quan ty sai khiến dân

sở tại làm việc riêng cho mình và quan giám công sai dân thợ làm việc riêng cho mình ở nơi xa ngoài 100 d m ho c sai khiến lâu ngày ở nhà mình, thì đối

v i quan ti cứ sai khiến 1 tên dân là bị xử đánh 40 roi, cứ 5 tên lại tăng thêm một mức, tội n ng nhất cũng ch đánh 80 trượng…” Tiếp đến, c việc gây

khó dễ ở cửa quan, bến đò cũng bị xử lý nghiêm khắc Điều 3 (Chương III -

Quan i, Quyển XI) quy định: “Người và thuyền bè qua lại nơi cửa quan, bến

đò mà thủ bá không lập tức xét hỏi, kiểm tra rồi quan đi qua mà vô c gây cản trở, thì cứ chậm một ngày bị xử phạt 20 roi, thêm một ngày thì xử tăng một mức, tội ch t i mức 50 roi Nếu nhận hối lộ thì chiếu theo lệ quan lại làm việc nhận hối lộ thì người hữu sự, luận tội uổngpháp, tính theo số tang vật mà xử tội ” Đặc biệt, để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, tham ô, Bộ

luật còn quy định tại Ðiều 5 - Tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai

qu n (Chương II - Ruộng đất, Quyển VI) nêu rõ: “Phàm quan lại đương chức

không được mua tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai quản Nếu vi phạm, xử phạt 50 roi, bãi nhiệm, ruộng đất nhà cửa đem sung công”; Điều 7 -

Vay mượn riêng tiền lương của công (Chương IV - Kho tàng, Quyển VIII)

quy định: “Phàm giám thủ, chủ thủ đem các loại tiền lương của Nhà nư c

mượn riêng ho c chuyển cho người khác vay mượn, tuy có văn tự, đều bị tính theo tang vật mà xử vào tội giám thủ tự lấy trộm Nếu đem đồ vật của mình

Trang 23

1.2.2 iai đoạn từ sau Cách mạng háng ám n m 1 45 đ n tr c khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam n m 1 85

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Nhận thức rõ muốn xây dựng được chính quyền trong sạch, vững mạnh và củng cố nền độc lập vừa giành được thì ph i chú trọng việc ngăn chặn tệ nạn tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng, b o

vệ tài s n xã hội chủ nghĩa, tài s n của nhân dân, Đ ng và Nhà nước ta đã sớm ban hành nhiều văn b n pháp luật quy định và trừng phạt các hành vi tham nhũng Trước khi có một Bộ luật hình sự năm 1985, ph i kể đến một số các văn b n tiêu biểu có quy định trực tiếp hoặc gián tiếp các tội phạm về tham nhũng như: Sắc lệnh 267/SL ngày 15/6/1946 quy định trừng trị những

âm mưu và hoạt động phá hoại tài s n của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân làm c n trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước; Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ; Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài s n xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài s n riêng của công dân được ban hành ngày 21/10/1970; Sắc luật 267/SL ngày 15/5/1956 về tội

Trang 24

18

cố ý làm trái công tác phụ trách gây hậu qu nghiêm trọng; Sắc luật số 001/SL ngày 19/4/1957 về cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế; Quyết định số 550/QĐ-TTg ngày 16/02/1971 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm lập quỹ trái phép trong các xí nghiệp và các cơ quan Nhà nước; Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ được ban hành ngày 20/5/1981 Trong đó, Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ là văn b n pháp luật đầu tiên tập trung quy định riêng về tội phạm tham nhũng của Nhà nước ta Mặc dù được ban hành khi Nhà nước non trẻ mới ra đời một năm nhưng Sắc lệnh này đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi

nhận như: Một là, Sắc lệnh quy định và trừng phạt hai dạng hành vi cơ b n

liên quan đến tham nhũng: hối lộ (đưa, nhận hối lộ) và tham ô (phù lạm, biển

thủ) Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức

nhận hối lộ ho c phù lạm, biển thủ công quỹ hay của công dân đều bị phạt khổ sai t năm đến hai mươi năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ; tang vật hối lộ bị tịch thu sung công; người phạm tội có thể

bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản; các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên” [24, tr 45] Hai là, Sắc lệnh đã xác định một

cách rõ ràng về chủ thể của các tội phạm về tham nhũng Điều 3 Sắc lệnh này

quy định: “Đối v i tội trên, công chức còn gồm nhân viên Chính phủ, trong

Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội

và tất cả những người phụ trách một công vụ” Như vậy, chủ thể của tội

phạm về tham nhũng khá rộng, là cán bộ, công chức và có thể là bất kỳ ai có

chức vụ, quyền hạn Ba là, các hình phạt được quy định hợp lý và hiệu qu

Hình phạt ở đây vừa thể hiện tính nghiêm khắc vừa có tinh thần nhân đạo, lại phù hợp với đặc thù của tội phạm về tham nhũng Hình phạt cao nhất đối với các tội phạm này có thể lên đến 20 năm tù khổ sai, thể hiện thái độ đấu tranh kiên quyết và không khoan nhượng của Nhà nước Các hình phạt mang nặng tính kinh tế rất phù hợp để thu hồi tài s n thất thoát do tham nhũng Tuy

nhiên, quy định “tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản” của người

Trang 25

19

phạm tội lại thể hiện tính nhân văn sâu sắc của chế độ dân chủ mới (để lại một phần tư gia s n có thể b o đ m cuộc sống cho những người phụ thuộc)

Bốn là, Sắc lệnh đã thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc trong

đường lối xử lý - phân biệt người đưa hối lộ chủ động hay bị bắt ép; khoan hồng đối với những người tự thú, tố giác đồng bọn Theo đó, Điều 2 Sắc lệnh

này quy định: “Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo

giác cho nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đưa hối lộ là vì bị công chức cưỡng bách ư c hứa hay là dùng cách trá ngụy thì người ấy được miễn hết các tội Trong trường hợp này, tang vật hối lộ được hoàn lại” Do

đó, với những ưu điểm đã nêu, có thể khẳng định “đạo luật” đầu tiên về các

tội tham nhũng với vẻn vẹn 300 từ của Nhà nước ta cho đến nay vẫn còn nguyên những giá trị xứng đáng để kế thừa 24 [48]

Sau Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946, các văn b n pháp luật khác cũng tiếp tục đề cập đến một số hành vi phạm tội liên quan đến chức vụ Tuy nhiên, chỉ đến Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ ngày 20/5/1981 thì các tội phạm về tham nhũng mới được tập trung điều chỉnh một cách hệ thống Trong Pháp lệnh, lần đầu tiên tội nhận và đưa hối lộ được quy định độc lập với nhau, hành vi môi giới hối lộ cũng được đề cập tới Điều 1 Pháp lệnh đã

xác định: “Tội hối lộ bao gồm nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi gi i hối lộ”

Sau đó, Điều 2 Pháp lệnh xác định hành vi nhận hối lộ; Điều 3 về hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ; Điều 4 về hành vi lợi dụng nh hưởng đối với người có chức, có quyền để phạm tội Đặc biệt, Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách phân hóa rõ rệt trong xử lý tham nhũng Điều 5 Pháp lệnh xác định sáu trường hợp cần xử nặng gồm: phạm tội hối lộ có tổ chức; phạm tội hối lộ nhiều lần; dùng thủ đoạn x o quyệt để thực hành hối lộ; của hối lộ có giá trị lớn; lợi dụng chức vụ cao để nhận hối lộ; phạm tội hối lộ gây hậu qu nghiêm trọng Điều 8 quy định ba trường hợp miễn, gi m trách nhiệm hình

sự và miễn hình phạt đối với những trường hợp phạm tội lần đầu, không nghiêm trọng; trường hợp trước khi bị phát giác đã chủ động khai báo, giao

Trang 26

20

nộp của hối lộ và trường hợp sau khi bị phát giác tỏ ra thành thực hối c i,

khai rơ sự việc… Đặc biệt, Điều 9 Pháp lệnh quy định: “Người bị ép buộc

đưa hối lộ, nếu chủ động khai báo trư c khi bị phát giác thì được coi là không có tội” Bên cạnh đó, Pháp lệnh còn có quy định khen và thưởng giá

trị vật chất đối với người tố giác, giúp đỡ cơ quan chức năng đấu tranh chống lại hành vi hối lộ (Điều 12) Những quy định này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khuyến khích phát hiện, đấu tranh và xử lý kịp thời các tội phạm về tham nhũng - loại tội phạm có tỷ lệ ẩn rất cao [22, tr 10]

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm tham nhũng trong thời kỳ từ năm 1945 đến trước năm 1985 còn một số hạn chế như: Các tội phạm về tham nhũng được quy định một cách gi n đơn, gộp nhiều hành vi vào một tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm chưa được mô t cụ thể, rõ ràng Tuy vậy, đánh giá một cách tổng thể thì có thể khẳng định rằng, các quy định đó đã ph n ánh được tình hình thực tế khách quan của đất nước, có ý nghĩa chính trị, pháp lý và xã hội sâu sắc, có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống và hạn chế đáng kể các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn xâm phạm uy tín, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, tài s n và lợi ích hợp của công dân, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và b o vệ Tổ quốc

1.2.3 iai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam n m

1 85 đ n tr c khi ban hành Bộ luật hình sự n m 1

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các tội phạm tham nhũng ngày càng phát triển mạnh và phức tạp, tính chất, mức độ và hậu qu ngày càng nghiêm trọng hơn Các văn b n pháp luật ban hành trước năm 1985 ngày càng trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình đó Ngày 27/6/1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành Kế thừa kinh nghiệm lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm những giai đoạn trước đó, Bộ luật hình sự năm 1985

Trang 27

21

đã dành một Chương IX quy định về các tội phạm về chức vụ Khái niệm tội

phạm về chức vụ tại Điều 219 quy định như sau: “Tội phạm về chức vụ là

những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nư c ho c tổ chức xã hội do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ” Điều 219 cũng diễn gi i khái niệm “người có chức vụ” là người

“do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định

và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” [18, tr24]

Các tội phạm về chức vụ được quy định trong Bộ luật hình sự năm

1985 bao gồm: Điều 220 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu qu nghiêm trọng; Điều 221 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ; Điều 222 Tội cố ý làm lộ bí mật công tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác; Điều 223 Tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác; Điều 224 Tội gi mạo trong công tác; Điều 225 Tội đào nhiệm; Điều 226 Tội nhận hối lộ; Điều 227 Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ; Điều 228 Tội lợi dụng nh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi Như vậy, ở chương IX Bộ luật hình

sự năm 1985, không có quy định riêng về tội phạm tham nhũng mà quy định chung là tội phạm về chức vụ, trong đó có những tội có dấu hiệu cấu thành tội phạm của các tội phạm tham nhũng đã được mô t tương đối cụ thể Hình phạt đối với các tội phạm này được quy định nghiêm khắc và đa dạng, tuy nhiên hình phạt có tính kinh tế nhằm thu hồi tài s n vốn rất quan trọng để khắc phục hậu qu của tham nhũng lại bị bỏ qua Mặc dù vẫn có một số hạn chế nhất định nhưng Bộ luật hình sự năm 1985 là một văn b n pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung

và tội phạm về tham nhũng nói riêng Các quy định của Bộ luật đã thể hiện chính sách hình sự của Đ ng và Nhà nước ta là xử lý nghiêm khắc, không khoan nhượng đối với loại tội phạm này Bộ luật hình sự năm 1985 đã đánh dấu bước phát triển tiến bộ về lập pháp hình sự nước ta, là cơ sở nền t ng cho

Trang 28

là các tội: Tội tham ô tài s n xã hội chủ nghĩa (Điều 133); Tội lợi dụng chức

vụ, quyền hạn lừa đ o chiếm đoạt tài s n xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài s n xã hội chủ nghĩa (Điều 137a); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài s n của công dân (Điều 156); Tội lập quỹ trái phép (Điều 175); về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221a); Tôi gi mạo trong công tác (Điều 224); Tội nhận hối lộ (Điều 226); Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ (Điều 227); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây nh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 228a) [26 tr 115]

Ngoài ra, bổ sung cho Bộ luật hình sự năm 1985, Nhà nước ta còn ban hành Pháp lệnh Phòng, chống tham nhũng năm 1998 quy định khá cụ thể về khái niệm tham nhũng, các hành vi tham nhũng và các hành vi phạm tội chức

vụ khác Bên cạnh đó, hàng loạt các văn b n khác của Nhà nước cũng tiếp tục ban hành để tạo hệ thống văn b n đồng bộ trong công tác đấu tranh chống tham nhũng như: Quyết định số 240-HĐBT ngày 26/6/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng; Chỉ thị số 416-CT ngày 03/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường công tác thanh tra, điều tra, xử lý các việc tham nhũng và buôn lậu; Chỉ thị số 08-CT/TATC ngày 06/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao về triển khai chống tham nhũng, chống buôn lậu qua biên giới và một số tội phạm kinh tế khác; Quyết định số 114-TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về những biện

Trang 30

24

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG BỘ LUẬT

tế - xã hội; đối với tội phạm về tham nhũng thì còn được coi là một căn bệnh nguy hiểm, nó gây ra tác hại nhiều mặt, c n trở sự phát triển của xã hội, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ của c một thể chế Vì vậy, Đ ng và Nhà nước coi tham nhũng là một trong bốn nguy cơ, là mục tiêu đấu tranh để loại trừ ra khỏi đời sống xã hội [30, tr 22]

Các tội phạm chức vụ nói chung, các tội phạm tham nhũng nói riêng là nhóm các loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm của loại tội phạm này thể hiện ở chỗ nó làm phương hại đến lợi ích quốc gia, đến

sự thụ hưởng các quyền và lợi ích của người nghèo, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự gia tăng sự bất công trong xã hội, làm xói mòn niềm tin của người dân đối với Nhà nước Về đối ngoại, sự gia tăng tội phạm về tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng làm gi m niềm tin của các đối tác nước ngoài, uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, c n trở hoạt động đối ngoại và hạn chế

các nguồn đầu tư [36] Nhận thức được mối hiểm họa cao của loại tội phạm

này, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã dành riêng 01 chương quy định về các tội phạm về tham nhũng trong đó 01 mục (mục A) với 07 điều luật quy định về các tội phạm tham nhũng với chế tài hết sức nghiêm khắc, đó là: Tội tham ô tài s n (Điều 278); Tội nhận hối lộ (Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ,

Trang 31

Khách thể loại của các tội phạm tham nhũng nói trên là những quan hệ

xã hội xã hội chủ nghĩa đ m b o cho hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động và tổ chức xã hội là hoạt động đúng theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật hoặc điều lệ quy định, những hoạt động này nhằm thực hiện chức năng và mục đích đã đề ra Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì cán bộ, công chức ph i chí công, vô tư, không được lợi dụng chức vụ để trục lợi, nhưng trong cơ quan, tổ chức nào đó có cán bộ đã tham ô, nhận hối lộ, hoặc lấy tiền của cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để đưa hối lộ là đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đó Có thể nói, những hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

bị xâm phạm do các tội phạm về tham nhũng gây ra, chính là những quy định của pháp luật hoặc của điều lệ buộc ph i làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm Những quy định cụ thể này được thể hiện trong từng hành vi phạm tội cụ thể trong từng tội phạm về tham nhũng trong chương này

Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích của công dân

* Mặt khách quan c a các tội phạm tham nhũng

Tội phạm là hành vi nguy hiểm của con người, là thể thống nhất giữa những diễn biến tâm lý bên trong của con người thực hiện hành vi nguy

Trang 32

26

hiểm cho xã hội và những biểu hiện diễn ra bên ngoài mà ta có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan Những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu qu nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân qu giữa hành vi nguy hiểm và hậu

qu nguy hiểm cho xã hội, các dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm, hoàn c nh phạm tội Tổng thể các biểu hiện

đó tạo thành mặt khách quan của tội phạm

- Về hành vi nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm tham nhũng: Hành vi là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm, "hành vi khách quan là biểu hiện cơ b n nhất", trong khi đó, các dấu hiệu khác chỉ

được quy định trong những cấu thành tội phạm nhất định mà thôi

Hành vi phạm tội khách quan của các tội phạm tham nhũng rất đa dạng, nhưng được đặc trưng bằng hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình xâm phạm đến sự hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [30, tr 42]

Nghiên cứu cho thấy:

+ hành vi phạm tội tham ô tài s n được mô t trong cấu thành tội phạm tội tham ô tài s n tại Điều 278 BLHS là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài s n mà mình có trách nhiệm qu n lý có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp gây hậu qu nghiêm trọng; đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này

mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

+ Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ được quy định tại Điều 279 Bộ luật hình sự là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài s n hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới

Trang 33

phạm tội có trách nhiệm qu n lý

+ Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 281 Bộ luật hình sự đó là tội phạm mà một người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

+ Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 282

Bộ luật hình sự là tội phạm một người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Như vậy, về b n chất, hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ không khác với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

mà chỉ khác nhau về tính chất, mức độ nghiêm trọng Đây đều là những hành vi làm trái công vụ nhưng đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn dừng lại ở mức

độ lợi dụng quyền hạn còn ở tội lạm quyền là vượt quá quyền hạn

+ Tội gi mạo trong công tác được quy định tại Điều 284 Bộ luật hình sự

là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu, làm, cấp giấy tờ gi , gi mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn vì mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá

Trang 34

28

nhân khác Như vậy, hành vi khách quan của người phạm tội gi mạo trong công tác bao gồm nhiều dạng hành vi khác nhau được thực hiện bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn như: sửa chữa; làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ gi ; gi mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn

+ Điều 283 Bộ luật hình sự quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây nh hưởng đối với người khác để trục lợi thể hiện ở việc một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài s n hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào đó có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu qu nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng nh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm [ 29, tr 05]

- Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tham nhũng:

Hậu qu nghiêm trọng là dấu hiệu pháp lý trong mặt khách quan của một số tội phạm như tội Tham ô tài s n (Điều 278), Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài s n (Điều 280), Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ (Điều 281), Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282)

Đối với những tội phạm này, việc xác định mối quan hệ nhân qu giữa

hành vi và hậu qu nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc

* Ch thể c a các tội phạm tham nhũng

Chủ thể của các tội phạm này ph i là người có chức vụ, quyền hạn và

họ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài s n bằng các hình thức khác nhau Vì vậy, “chức vụ, quyền hạn,, là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành định tội hoặc trong cấu thành định khung ở những tội phạm này, đồng thời nó cũng là dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt các tội tham nhũng với các tội phạm khác trong BLHS Vì vậy, việc làm rõ khái niệm

“chức vụ, quyền hạn,, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực

Trang 35

29

tiễn sâu sắc trong việc đấu tranh, xử lý tội phạm

Điều 277 BLHS 1999 qui định: “Người có chức vụ, quyền hạn là người

do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định

và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” Theo qui định này, thì người có chức vụ quyền hạn ph i thỏa mãn những điều kiện sau:

Thứ nhất, ph i là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy

công quyền Ở nước ta khái niệm công vụ không chỉ là khái niệm “công

quyền” trong bộ máy Nhà nước, mà còn bao gồm nhiệm vụ của các cơ quan,

tổ chức trong hệ thống chính trị mà Nhà nước chỉ là một cơ quan trong hệ thống đó Chỉ người nào có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy công quyền đó mới được coi là người có chức vụ, quyền hạn.Để có được chức vụ quyền hạn này ph i qua bầu cử, được bổ nhiệm, được tuyển dụng hoặc được giao nhiệm

vụ thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị Theo Điều 1, Pháp lệnh Cán bộ công chức ngày 26-2- 1998, được sửa đổi, bổ sung ngày 29-4-2003 thì cán bộ, công chức gồm:

- Những người do bầu cử để đ m nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một công vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

- Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà

Trang 36

30

không ph i là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không ph i là sĩ quan,

hạ sĩ quan chuyên nghiệp

- Những người do bầu cử để đ m nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đ ng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, phường, thị trấn

- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã

Cụ thể hơn, Kho n 3, Điều 1 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005, qui định người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Cán

bộ lãnh đạo, qu n lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo,

qu n lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó

Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn ph i được giao thực hiện một

nhiệm vụ nhất định Thông thường khi một người có một chức danh thì

thường kèm theo và tương ứng sẽ có một nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, không ít các trường hợp có chức danh nhưng không hoặc chưa được giao nhiệm vụ và do đó chưa ph i là chủ thể của Tội tham ô cũng như các tội phạm về chức vụ khác do còn thiếu dấu hiệu “được giao thực hiện một công

vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ“ như qui định của Điều 277 BLHS 1999 Đây là dấu hiệu rất quan trọng nhưng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không chú ý đến dấu hiệu này mà chỉ chú ý đến chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có, nên không ít trường hợp người phạm tội chỉ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài s n do mình có trách nhiệm qu n

Trang 37

31

lý đã vội xác định họ phạm tội tham ô, mà không xác định hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó là lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ công hay nhiệm

vụ của một số người giao cho họ

Theo Luật hình sự Việt Nam, tội phạm là hành vi của con người có tính nguy hiểm cho xã hội, chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độ

tuổi chịu TNHS do BLHS quy định

Đối với các tội phạm về tham nhũng, chủ thể của các tội phạm tham nhũng là chủ thể đặc biệt – người có chức vụ, quyền hạn Chủ thể của những tội phạm này ngoài 02 dấu hiệu thông thường là độ tuổi và năng lực TNHS,

thì bắt buộc ph i có thêm dấu hiệu chức vụ, quyền hạn

Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong

khi thực hiện công vụ Người do bổ nhiệm, do bầu cử có thể được coi họ là

cán bộ, công chức và theo Điều 1 Pháp lệnh Công chức của Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội ngày 26-2-1998, thì cán bộ, công chức gồm: (i)Những người do

bầu cử để đ m nhiệm tham nhũng nhất định theo nhiệm kỳ trong các cơ quan

nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (ii) Những người được

tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (iii) Những người được tuyển

dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp

về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; (iv) Thẩm phán Toà

án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; (iv) Những người được

tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không ph i là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn

Trang 38

tội nhất định

Người có chức vụ, quyền hạn chỉ có thể trở thành chủ thể của các tội phạm về tham nhũng khi hành vi phạm tội của hộ được thực hiện trong khi thi hành công vụ, nếu họ thực hiện hành vi phạm tội ngoài phạm vi thi hành công

vụ thì không thuộc trường hợp phạm tội về tham nhũng Tuy nhiên, điều khẳng định này không bao gồm các trường hợp phạm tội có đồng phạm (nhiều người tham gia), trong đó có người không thực hiện hành vi phạm tội trong phạm vi thi hành công vụ, nhưng trong một vụ án cụ thể, tội phạm mà

họ thực hiện ph i có người thực hiện hành vi phạm tội trong khi thi hành công

hoặc người giúp sức Một đặc điểm chúng ta thường thấy đối với các tội phạm

về tham nhũng là: Tội phạm thường được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, có vụ được thực với quy mô rất lớn, có tổ chức chặt chẽ như: Vụ Tân Trường Sanh, vụ Nhà máy dệt Nam Định, vụ Tamexco, vụ Epco-Minh Phụng, vụ Mường Tè, vụ nước khoáng Kim Bôi, vụ Trịnh Vĩnh Bình ở Bà

Trang 39

33

Rịa-Vũng Tàu, vụ tham ô x y ra ở cầu Sông Hàn-Đà Nẵng, vụ Thuỷ Cung

Thăng Long Thủ đoạn phạm tội cũng ngày càng tinh vi, x o quyệt hơn

trước, người phạm tội mặc dù đã là người có chức vụnhưng thường móc nối với một số cán bộ có chức, có quyền cao hơn trong các cơ quan, tổ chức kể c các cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng để tạo dựng mối quan hệ nhằm

trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật [49, tr 25]

Nghiên cứu chủ thể của những tội tham nhũng cụ thể cho thấy như sau:

+ Chủ thể của tội tham ô tài s n là chủ đặc biệt, ngoài việc đáp ứng điều

kiện của chủ thể thường (về tuổi và không thuộc trường hợp mất NLTNHS) thì người phạm tội ph i là người có chức vụ, quyền hạn được giao qu n lý tài s n nhất định Đối tượng bị xâm hại trực tiếp là tài s n mà chủ thể có trách nhiệm

qu n lý Tài s n đó ph i có giá trị từ hai triệu đồng trở lên, trường hợp tài s n dưới hai triệu đồng thì chỉ bị coi là phạm tội khi gây hậu qu nghiêm trọng hoặc chủ thể đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết

án và chưa được xóa án tích về một trong các tội về tham nhũng

+ Chủ thể của tội nhận hối lộ là chủ thể đặc biệt, đó là người có chức vụ, quyền hạn (không nhất thiết là người được giao qu n lý tài s n như chủ thể của hành vi tham ô tài s n) đã trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài s n, lợi ích vật chất khác để thực hiện yêu cầu của người đưa hối lộ

+ Chủ thể tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài s n được quy định tại Điều 280 Bộ luật hình sự là người không có chức vụ, quyền hạn nhất định nhưng đã có hành vi lạm quyền, tức là lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài s n của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu qu nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

+ Tương tự, cũng giống như chủ thể của các tội tham nhũng khác, chủ thể của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thoe Điều

281 ph i là người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được

Trang 40

+ Chủ thể tội gi mạo trong công tác người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu, làm, cấp giấy tờ gi , gi mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn vì mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác

+ Chủ thể của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây nh hưởng đối với người khác để trục lợi là người có chức vụ, quyền hnaj nhất định đã lợi dung chức vụ, quyền hạn đó gây nh hưởng đến người khác để trục lợi [61, tr 24]

* Mặt chủ quan của các tội phạm tham nhũng

Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc truy cứu TNHS đối với một người mà chỉ căn cứ vào yếu tố khách quan - tức là chỉ dựa vào hành vi trên thực tế có gây thiệt hại hay không, mức độ gây thiệt hại như thế nào, mà không xem xét đến thái độ chủ quan của chủ thể khi thực hiện hành vi đó Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu qu do hành vi ấy gây ra cho xã hội và được thể hiện bởi các yếu tố:

lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Trong đó lỗi là yếu tố quan trọng nhất

Đối với các tội phạm tham nhũng, lỗi trong mặt chủ quan của các tội phmaj này là lỗi cố ý trực tiếp, tức là chủ thể nhận thức rõ hành của mình là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm nhưng vẫn thực hiện

Động cơ, mục đích phạm tội ở các tội tham nhũng là dấu hiệu pháp lý bắt buộc, như tội tham ô, tội nhận hối lộ, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, tội lạm quyền trong thi hành công vụ, tội gi mạo

trong công tác

Ngày đăng: 25/09/2020, 19:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w