Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, những cuốn sách chuyên khảo của các chuyên gia đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, về cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ LOAN
NHµ N¦íC PH¸P QUYÒN
Vµ VÊN §Ò KIÓM SO¸T QUYÒN LùC NHµ N¦íC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ LOAN
NHµ N¦íC PH¸P QUYÒN
Vµ VÊN §Ò KIÓM SO¸T QUYÒN LùC NHµ N¦íC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 8
1.1 Kiểm soát quyền lực là biểu hiện cơ bản của nhà nước pháp quyền 8
1.1.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền 8
1.1.2 Kiểm soát quyền lực nhà nước là biểu hiện cơ bản của nhà nước pháp quyền 16
1.2 Vai trò, ý nghĩa của kiểm soát quyền lực nhà nước 21
1.3 Các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền 24
1.3.1 Chủ thể, đối tượng, nội dung của kiểm soát quyền lực nhà nước 26
1.3.2 Các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền 39
Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 52
2.1 Thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 52
2.2 Phương hướng, giải pháp cơ bản đổi mới và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước 61
2.2.1 Hoàn thiện cơ chế phân công phối hợp kiểm soát quyền lực nhà nước 61
2.2.2 Hoàn thiện cơ chế giám sát của Đảng 64
2.2.3 Hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan Nhà nước 67
3.2.4 Hoàn thiện cơ chế giám sát xã hội 77
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQ: Mặt trận tổ quốc TAND: Tòa án nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song có thể hiểu nước nước pháp quyền theo cách đơn giản, đó là một nhà nước quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật và nhà nước hoạt động tuân theo pháp luật Nhà nước pháp quyền là nhà nước phục tùng pháp luật mà chủ thể phục tùng pháp luật trước hết là cơ quan nhà nước và công chức nhà nước Quyền lực được ủy quyền, giao cho một số người trong thay mặt nhân dân thực thi pháp luật Do đó, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyền lực ấy nếu không được kiểm soát sẽ trở nên xa lạ với xã hội, lạm dụng quyền lợi ấy tự thân nó sẽ mất đi trách nhiệm của chính mình
Cơ chế kiểm tra giám sát quyền lực Nhà nước luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong tổ chức và thực thi quyền công quyền Xây dựng một cơ chế kiểm soát hợp lý, đầy đủ và có hiệu lực luôn là một trong những bảo đảm cho guồng máy quyền lực hoạt động hết công suất đồng thời tránh được tình trạng bộ máy quyền lực vận hành ngoài tầm kiểm soát của người chủ quyền lực dẫn đến quan liêu, tha hóa quyền lực
Từ khi thành lập nước đến nay, quyền lực Nhà nước của ta luôn được thực hiện dưới sự kiểm tra, giám sát của những cơ chế khác nhau Chúng ta đã thiết lập nhiều công cụ kiểm soát quyền lực Nhà nước và ở mức độ nhất định, các cơ chế đó đã góp phần vào việc duy trì vận hành an toàn của bộ máy quyền lực nước ta Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - khi việc thực hiện quyền lực Nhà nước đã có sự thay đổi về chất - thì vị trí của hoạt động kiểm soát quyền lực Nhà nước cũng như của các cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước đã khác trước về cơ bản Chúng ta không thể duy trì các cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước như trước kia, cũng không thể hiểu về giải quyết và các cơ chế, công cụ kiểm soát quyền lực Nhà nước trong khuôn khổ và tính chất như trước kia
Trang 7Vị trí, vai trò của giám sát và các cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định xuất phát từ hai yêu cầu chủ yếu:
Thứ nhất liên quan đến tính thống nhất về bản chất của quyền lực Nhà nước
ở nước ta Quyền lực Nhà nước là quyền lực thống nhất của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Thứ hai liên quan đến việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước Ở nước ta, chúng ta đã có công thức hoàn chỉnh trong tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước
Đó là sự phân công giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở phối hợp để bảo đảm quyền lực Nhà nước thống nhất Đã là phân công quyền lực thì phải thấy được hai mặt của nó: phân công và phối hợp Về sự phân công, chúng ta xác định trong bộ máy Nhà nước có quyền lập pháp, hoạt động lập pháp, có quyền hành pháp và hoạt động hành pháp, có quyền tư pháp và hoạt động tư pháp
Có thể nói, hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước
là một hoạt động tất yếu trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm để duy trì bản chất, định hướng chung thể hiện qua nhiệm vụ chung của quyền lực Nhà nước và để bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả Xã hội càng phát triển, quá trình dân chủ hóa trong xã hội càng được mở rộng thì yêu cầu kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước càng cao Điều này lý giải bởi sự tăng cường của phạm vi tác động của quyền lực, bởi tính phức tạp trong tổ chức và thực hiện quyền lực, bởi sự đan xen, giao thoa và mâu thuẫn trong việc sử dụng quyền lực
Ở Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân là vấn đề được Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định là một trong tám mối quan hệ lớn của đường lối đổi mới toàn diện đất nước Trong đó vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đã được xác định là quan điểm có tính nguyên tắc trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Thực hiện chủ trương trên, thời gian qua công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được những
Trang 8thành tựu quan trọng Tuy vậy trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu làm rõ cả về vấn đề lý luận và thực tiễn trong đó có vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Nhà nước pháp quyền và vấn đề kiểm soát quyền lực
nhà nước” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là nhận diện được những nội dung cơ bản về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền trên cơ sở
đó nhận thức được nhu cầu, thực tiễn, những quan điểm để tiếp thu vận dụng nó trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu về những vấn đề lí luận chung về xây dựng nhà nước pháp quyền,
về vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
- Các yêu cầu của việc kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền
- Chỉ ra được cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
- Thực trạng các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
- Chỉ ra được tính cấp thiết của việc kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
- Luận giải về nhu cầu, khả năng phương hướng hay nói cách khác là phương hướng, giải pháp để tăng cường hiệu lực việc kiểm soát quyền lực nhà nước trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn, các nghiên cứu về quyền lực nhà nước, yêu cầu cuả việc kiểm soát quyền lực nhà nước, các cơ chế hay hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước, thực trạng vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam khi đang xây dựng nhà nước pháp quyền cụ thể:
- Việc tổ chức thực thi và kiểm soát quyền lực nhà nước trong chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay
Trang 9- Các cơ chế, hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong và bên ngoài trong chính quyền địa phương nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ta
từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đến nay, Nghiên cứu hệ thống vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước trong bộ máy Nhà Nước
ta hiện nay
4 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị xã hội quý báu được tích lũy và phát triển trong Lịch sử tư tưởng nhân loại Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ rất sớm, trong tư tưởng chính trị - pháp lý thời cổ đại đã chứa đựng nhiều nhân tố của nhà nước pháp quyền Đến thời kỳ cách mạng Dân chủ tư sản, những tư tưởng quý báu đó đã được kế thừa, phát triển để trở thành học thuyết về nhà nước pháp quyền Học thuyết đó đã được áp dụng ở các mức độ, phạm vi khác nhau ở nhiều nước tư sản Ngày nay, ở Việt Nam học thuyết đó lại tiếp tục được bổ sung, phát triển cho phù hợp với những đổi thay sâu sắc của xã hội hiện đại Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, luận giải vấn đề nhà nước pháp quyền và vấn đề kiểm soát quyền lực, nhằm tìm hiểu những phương thức kiểm soát cụ thể khác nhau
Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, những cuốn sách chuyên khảo của các chuyên gia đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, về cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước, tiêu biểu là một số cuốn sách như:
“Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992” của tác giả Trần Ngọc Đường; “Sự hạn chế quyền lực nhà nước” của tác
giả Nguyễn Đăng Dung; “Kiểm soát quyền lực nhà nước – Một số vấn đề lí luận
và thực tiễn” của tác giả Trịnh Thị Xuyến; “Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay” của tác giả Đào Trí Úc và Võ
Khánh Vinh đồng chủ biên; “Mối quan hệ pháp lí giữa cá nhân công dân với
Nhà nước” của tác giả Trần Ngọc Đường và Chu Văn Thành đồng chủ biên;“Vai
Trang 10trò của Mặt trận tổ quốc Việt nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta” của tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh;“Nhà nước và trách nhiệm của Nhà nước” tác giả Nguyễn Đăng Dung; “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam trong giai đoạn hiện nay – một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của tác giả Đào Trí Úc và Phạm Hữu Nghị đồng chủ biên;“Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Đào Trí Úc,…
Về cơ bản các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ bản chất của Nhà nước Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước vậy cần có sự phân công phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Bên cạnh đó có một số đề tài nghiên cứu việc kiểm soát quyền lực trong từng lĩnh vực cụ thể đối với hoạt động của bộ máy nhà nước như: Một số công trình nghiên cứu của Bộ Tư Pháp “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” hay của Khoa Nhà nước pháp luật của Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
“Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc Hội” Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếp cận phương pháp luận khoa học phân tích từng hoạt động cụ thể của việc thực hiện chức năng giám sát của từng cơ quan cụ thể như của Quốc Hội, HĐND, hoạt động của Chính Phủ
Những công trình này đã đưa ra được những đánh giá khái quát các giải pháp mang tính định hướng chung của việc kiểm soát nhưng lại không đi sâu luận chứng
hệ thống kiếm soát quyền lực nhà nước ta đặc biệt là trong tiến trình đi lên xây dựng nhà nước pháp quyền Cho đến nay các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát quyền lực ở nước ta không nhiều Nhằm tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, đồng thời vận dụng vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề kiểm
soát quyền lực ở Việt Nam tôi chọn đề tài “Nhà nước pháp quyền và vấn đề kiểm
soát quyền lực nhà nước” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận và lịch
sử nhà nước pháp luật
Trang 115 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn là nhằm nhận diện được những nội dung
cơ bản về nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền trên cơ sở đó nhận thức được nhu cầu, thực tiễn, những quan điểm để tiếp thu vận dụng nó trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin; các khoa học chuyên ngành khác đặc biệt
là khoa học về Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, chú trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đưa ra được những luận giải những nhận thức cơ bản trên lí luận và thực tiễn
về kiểm soát quyền lực nhà nước trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù đã có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề kiếm soát quyền lực nhà nước nhưng luận văn sẽ Góp phần nhận diện đầy đủ hơn nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong bộ máy chính quyền ở Việt Nam hiện nay để từ đó hoàn thiện cơ chế, phương thức giải pháp tăng cường hiệu lực của việc kiểm soát quyền lực nhà nước
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Nâng cao nhận thức lý luận và nhận thức thực tiễn, tính tất yếu cấp bách của vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước
- Luận văn cung cấp những luận điểm khoa học nhất về nhà nước pháp quyền, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
- Các luận điểm khoa học cũng như kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với những người làm công tác nghiên cứu, cho các nhà hoạt động chính trị xã hội, các học viên, sinh viên chuyên ngành luật, tổ chức cá nhân Góp phần nâng cao văn hóa chính trị cho người đọc, áp dụng trong thực tiễn hạn chế sự
Trang 12lạm dụng quyền lực trong bộ máy nhà nước đảm bảo hiệu lực hiệu quả, đẩy mạnh thực thi dân chủ trong xã hội đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài bao gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước
pháp quyền
Chương 2: Thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và phương hướng giải pháp tăng cường hiệu lực kiểm soát quyền lực nhà nước
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 Kiểm soát quyền lực là biểu hiện cơ bản của nhà nước pháp quyền
1.1.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.CN) Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 -1704), Montesquieu (1698 -1755), J.J.Rút-xô (1712 -1778), I.Kant (1724 -1804), Hêghen (1770 -1831)
Hiện nay, trong lý luận có nhiều quan điểm cách tiếp cận khác nhau về khái niệm và các yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền Cụ thể các quan điểm thường nhấn mạnh đến một trong những yếu tố cơ bản sau đây của nhà nước pháp quyền: tính tối cao của luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của chính nhà nước, cơ chế phân chia quyền lực, kìm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực: Lập pháp, Hành pháp, tư pháp, dân chủ, xã hội công dân, quyền con người
Theo PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế Nhà nước pháp quyền được định nghĩa như sau:
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao động khoa học hợp lí giữa các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người [14, tr.174]
Những giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lập hiến Sự
hiện diện của Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân
Trang 14chủ và Nhà nước pháp quyền, bởi vì Hiến pháp thể hiện ý chí của mình, là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp của nhà nước
Hiến pháp là văn bản khế ước của nhân dân, được đa số nhân dân thông qua theo những trình tự đặc biệt Như vậy, chủ nghĩa lập hiến đồng nghĩa với việc coi nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, là chủ thể của quyền lực nhà nước Làm theo Hiến pháp là tuân theo ý chí gốc rễ của chủ thể quyền lực, làm trái hoặc khác với Hiến pháp là xâm phạm chủ quyền của nhân dân
Nhà nước pháp quyền trước hết là nhà nước được tạo nên bằng ý chí chung của nhân dân, nhằm bảo vệ tự do tài sản của mỗi thành viên của nó Mỗi thành viên tuân thủ ý chí chung (được nhà nước thể hóa thành pháp luật) cũng tức là tuân thủ ý chí của riêng mình mà vẫn tự do Quá trình chuyển nhà nước từ cá nhân vua chúa, từ
ý chí tối cao thành nhà nước của nhân dân trở thành quá trình xóa bỏ các chế độ độc đoán, chuyên quyền và tách nhà nước ra khỏi sự nhà thờ, tách xã hội dân sự ra khỏi
xã hội thần dân Nhà nước không có mục đích tự thân nào, mà chỉ là công cụ phục vụ nhân dân, phục vụ yêu cầu phát triển của xã hội Nếu ở thời cổ đại, hình thức nhà nước hỗn hợp (kết hợp ba hình thức quân chủ, quý tộc và cộng hòa) được coi là thích hợp, thì ở thời cận đại và hiện đại hình thức cộng hòa dân chủ được coi là thích hợp
và đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Sự ra đời của Nhà nước pháp quyền đồng thời phủ nhận nhà nước chuyên chế, cực quyền, độc quyền phát xít Tiêu chí đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà toàn bộ quyền lực của nó thuộc về nhân dân và trở thành vấn đề mang tính pháp lý Đây thực sự là một bước tiến lớn lao trong lịch sử chính trị của nhân loại Trong các nhà nước không pháp quyền, nhân dân không chỉ là chủ thể, mà chỉ là khách thể của quyền lực Bởi vì, chỉ khi nào có quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì nhân dân mới có quyền kiểm tra
và giám sát quyền lực đó Hoặc nói khác đi, sở dĩ đặt ra vấn đề phải đặt nhà nước dưới sự giám sát của nhân dân vì đó là sự giám sát của người chủ quyền lực Pháp luật không chỉ có mục đích tự thân mà chỉ là công cụ thực hiện quyền lực Do đó, nếu Chính phủ sai thì nhân dân phải có thái độ, kể cả thay đổi chính phủ, pháp luật không phù hợp với Hiến pháp thì phải đình chỉ hiệu lực thi hành
Trang 15Thứ hai, pháp luật giữ vị trí chi phối và có hiệu lực pháp lý tối thượng trong
xã hội, Nhà nước cũng phải chịu sự ràng buộc của pháp luật
Với sự ra đời của học thuyết Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật đã có sự thay đổi căn bản Pháp luật do nhà nước ban hành giữ vị trí và có hiệu lực thống trị không chỉ đối với xã hội mà còn đối với cả nhà nước Đây là sự kết hợp giữa tổ chức quyền lực của xã hội và giai cấp cầm quyền với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, với công lý và công bằng Quyền lực nhà nước không chỉ dựa trên công bằng thì chỉ là bạo lực thô bạo Công lý và lẽ phải mà không có sự đảm bảo của quyền lực nhà nước thì bất lực Nhà nước ban hành pháp luật không chỉ để tổ chức và quản lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý bản thân mình Pháp luật trở thành công cụ chế
ước, quy định kiểm tra, giám sát tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước
Nhà nước pháp quyền tự đặt mình dưới pháp luật, chứ không đứng trên và đứng ngoài pháp luật Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và phát triển xã hội mà còn là công cụ duy trì sự tồn tại của chính Nhà nước Chức năng, quyền hạn của nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ pháp quyền Đặt mình trong chế độ pháp quyền, nhà nước là mạnh nhất, ngoài lĩnh vực pháp quyền, nhà nước luôn luôn nằm trong nguy
cơ của sự chuyên quyền và mất dân chủ Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xây dựng trên cơ sở lý trí, hợp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm pháp lý Trong Nhà nước pháp quyền, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân lại được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Vượt quá giới hạn cho phép, nhà nước sẽ thoái hóa, biến chất Với nguyên tắc pháp luật chi phối, mối quan hệ giữa công dân và nhà nước cũng có sự thay đổi Nhà nước và công dân đều có quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật
Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được luật hóa, là tiếng nói của công lý và lý trí Pháp luật là một thực thể hay một đại lượng chung có tính phổ biến bảo đảm sự tự do và bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội Trong quy phạm của xã hội là tính tất yếu được hình thành qua vô số ngẫu nhiên Pháp luật chứa đựng những giá trị ổn định,
Trang 16chuẩn mực hóa những quan hệ xã hội và có các chức năng đặc biệt tổ chức, bảo
vệ, trọng tài Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật là quản lý bằng
ý chí phổ biến của nhân dân được thể chế hóa, chứ không phải bằng chỉ lệnh, luật lệnh của cá nhân tùy tiện Nhờ pháp luật mà cái vốn là của một giai cấp trờ thành của một toàn xã hội Nhà nước và công dân đều tuân thủ pháp luật có nghĩa là
cũng tuân theo những quy tắc đã đặt ra Pháp luật trong nhà nước pháp quyền là ý
chí của nhân dân được thể chế hóa là một tiến bộ lịch sử Nó đề cao giá trị của con người trong mối quan hệ với nhà nước Về hình thức, pháp luật trong nhà nước pháp quyền chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội và nhà nước Về nội dung, pháp luật thể hiện và đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển
Về cấu trúc, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là một thể thống nhất và có thứ bậc, trong đó Hiến pháp giữ vị trí cao nhất chi phối toàn bộ các đạo luật và các quy định dưới luật
Quản lý xã hội bằng pháp luật và nhà nước tự đặt mình dưới pháp luật là một tiến bộ, một giá trị xã hội Với nguyên tắc pháp luật thống trị, tính ổn định về tổ chức và hoạt động của nhà nước được duy trì, tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của các chính sách được bảo đảm, quan hệ nhà nước - công dân chuyển từ quan hệ quyền lực sang quan hệ pháp lý, nhà nước ban hành luật, nhưng sau khi luật được ban hành thì chính nhà nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của đạo luật đó Đó là quan niệm có tính nền tảng của học thuyết về Nha nước pháp quyền
Quan niệm cho rằng bản thân nhà nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật có rất nhiều yêu cầu nhưng về cơ bản có thể tóm tắt lại rằng, Nhà nước pháp quyền là tính tối tối cao của pháp luật, nó là tối thượng đối với mọi người, kể
cả các quan chức, người lãnh đạo
Tuy nhiên, quan điểm đặt nhà nước và các quan chức của nhà nước dưới sự điều chỉnh của pháp luật sẽ không có ý nghĩa nếu không có cách thức gì để kiểm tra tính hợp pháp và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan và viên chức nhà nước Chính vì vậy, cơ chế bảo hiểm đã ra đời, các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được thiết kế và áp dụng đối với tất cả các nhánh quyền lực
Trang 17Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc phân quyền và yêu cầu về sự độc lập của tư
pháp Có thể nói rằng, sự độc lập của hoạt động tư pháp là một trong những yếu tố
cơ bản của Nhà nước pháp quyền Tòa án là cơ quan áp dụng pháp luật khi mà pháp luật được coi là có vị trí tối thượng, phán xét về khả năng vi phạm các quyền công
dân từ phía người khác hoặc từ phía nhà nước, lại cũng là nơi phán xét các quyết
định của các cơ quan hành pháp nếu có biểu hiện vi phạm quyền công dân hoặc thẩm quyền của các cơ quan khác Nguyên tắc phân quyền nói rõ là quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về Tòa án Mặt khác, cơ chế cho phép Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với các thành viên Chính phủ để lập Chính phủ mới được bổ sung bởi các cơ chế có tính đối trọng là quyền của Chính phủ giải tán Quốc hội sự độc lập của Tòa án xuất phát từ yêu cầu bảo đảm để không có sự can thiệp từ phía cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, bảo đảm để công chúng có được lòng tin vào sự không thiên vị của các thẩm phán khi họ giải quyết các việc tư của dân
Thứ tư, pháp luật phải được áp dụng công bằng, nhất quán, phải bảo đảm
tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời Tuy nhiên, ý nghĩa của yêu cầu công bằng là hết sức rõ ràng Lòng tin của công chúng vào Nhà nước pháp quyền chỉ có thể được duy trì nếu nhận thức về tính công bằng của pháp luật đủ sâu rộng đến mức không có chỗ cho sự thiên vị dựa trên những tiêu chí tôn giáo, chủng
tộc Yêu cầu về tính minh bạch có hai nội dung: thứ nhất đòi hỏi pháp luật phải dễ
hiểu và được công bố rộng rãi để mọi người được cảnh báo trước về những hành động có thể phải chịu chế tài của nhà nước, hoặc có thể thực hiện các quyền của mình theo các cách thức thích hợp và để cho người khác có thể tôn trọng các quyền của họ sau khi tìm hiểu những quy định có liên quan
Yêu cầu về tính minh bạch đòi hỏi trong mọi hoạt động của mình, Chính phủ phải tuân thủ pháp luật mà trước đó đã được thông qua và công bố Những quy định pháp luật phải cho phép dự báo về các thức mà Chính phủ sẽ sử dụng để thực thi
quyền cưỡng chế của mình trong những hoàn cảnh nhất định Nội dung thứ hai của
yêu cầu minh bạch liên quan đến vấn đề thủ tục Quy trình làm luật cũng phải được
Trang 18công bố công khai Nếu luật pháp được công bố chỉ để các quan chức Chính phủ tuân thủ, thì rất có thể sẽ đi đến chổ coi nhẹ tính hợp lý và sự cần thiết ban hành văn bản Ngay cả khi đã rõ về sự cần thiết ban hành một đạo luật, nếu không công khai hóa quy trình ban hành luật và không tạo điều kiện để những người có thể bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng luật tham gia ý kiến về dự luật thì sự ủng hộ của dân chúng dành cho văn bản luật đó cũng sẽ bị giảm sút
Thứ năm, tôn trọng và bảo vệ quyền công dân và quyền con người
Đây là giá trị của mọi giá trị tư tưởng về Nhà nước pháp quyền mà tư duy nhân loại đã đạt đến Với sự ra đời của học thuyết về Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền tư sản trong hiện thực, lần đầu tiên trong lịch sử con người đã bước từ đại vị nô lệ trong xã hội thần dân sang địa vị người công dân trong xã hội công dân Người công dân trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền là con người, mà các quyền cơ bản, thiêng liêng nhất của nó như quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền sở hữu tài sản được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật Về lý thuyết, mỗi cá nhân có thể phát triển bình đẳng và tự do trước pháp luật, có đủ cơ hội pháp lý để phát huy mọi khả năng của mình Nhà nước cam
kết, tôn trọng trên thực tế và bằng pháp luật các quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự và
nhân phẩm của công dân Con người được sống trong công lý và lẽ phải Pháp luật
là phương tiện để con người đạt được tới tự do Trong Nhà nước pháp quyền, người công dân có quyền kiểm tra và giám sát hoạt động của nhà nước, kể cả quyền thay đổi nhà nước khi nó xâm phạm đến các quyền và lợi ích của nhân dân và xã hội Không gian và xã hội cho sự sinh tồn và hoạt động của con người được mở rộng Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật nên nó có đặc điểm là hoạt động công khai và dân chủ Công dân có quyền và nghĩa vụ chống lại
sự xâm phạm hay can thiệp tùy tiện, trái pháp luật của nhà nước Điều này khác với các nhà nước không phải là Nhà nước pháp quyền ở đó, người dân phải làm các nghĩa vụ với nhà nước, còn nhà nước thì không Nó khác với nhà nước khác còn ở chỗ nó không thể ban hay thu lại cái không thể ban phát là tự do cho người dân Với
sự ra đời của Nhà nước pháp quyền, nhà nước trở về đúng vị trí của mình trong mối quan hệ với xã hội công dân
Trang 19Trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được xác lập
về mặt pháp lý, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng Các quyền đó được mở rộng và nâng cao bao nhiêu thì quyền hạn nhà nước bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu
Ở Việt Nam hiện nay, Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
đã được Đảng ta coi là nhiệm vụ quan trọng và đã được Hiến pháp ghi nhận Nhiệm
vụ đó được Đảng đặt trong định hướng chung của việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII (tháng 01/1994) Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết phải xây dựng Nhà Nước pháp quyền như điều kiện không thể thiếu để có nền dân chủ thực sự vì nhân dân Liên tiếp qua các kì đại hội gần đây (Đại hội IX Đại hội X, Đại hội XI Đại hội XII), Đảng ta tiếp tục coi nhiệm vụ xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong các văn kiện của Đảng đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII nêu vấn đề: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN” “Xây dựng” và “hoàn thiện” Nhà nước pháp quyền đều là những nhiệm vụ quan trọng Đảng ta đã xác định đi vào chiều sâu của nhiệm vụ này Quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN sẽ là quá trình không ngừng nâng cao nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền nói chung và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng Theo tinh thần đó, Đảng, Nhà nước sẽ chú trọng rà soát lại toàn bộ hệ thống thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách và môi trường, điều kiện để đạt được mục đích thiết lập bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, bảo đảm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân, vừa bảo đảm là công cụ quan trọng nhất để giữ vững định hướng chế độ, vừa phù hợp với xu thế phát triển
Trang 20chung của thế giới Quá trình hoàn thiện sẽ bổ khuyết những gì còn thiếu mà chúng ta đã xây dựng, thay thế những gì đã có nhưng không còn phù hợp Đây không phải là sự chuyển hướng trong cách tiếp cận, mà là sự nhấn mạnh của Đảng
về những nhiệm vụ cần làm đối với vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong thời gian tiếp theo
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhìn nhận thẳng thắn, đánh giá đúng những ưu điểm và nghiêm khắc chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong thời gian qua, đồng thời xác định những nguyên nhân cốt lõi nhất của hạn chế, khuyết điểm Theo đó, những tồn tại, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta trong thời gian qua được Đảng ta chỉ ra bao gồm cả những vấn đề thuộc về thể chế, cơ chế, chính sách; cả về tổ chức và hoạt động; cả về yếu tố con người Về nguyên nhân của những hạn chế, Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng đã xác đinh vấn đề
cơ bản nhất: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới đối với nước
ta Sự phân định giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn nhiều điểm chưa được chế định rõ và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Tổ chức thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN chưa nghiêm” Nếu nguyên nhân thứ nhất là khách quan, thì nguyên nhân thứ hai là chủ quan, trong đó tập trung trọng tâm vào vai trò của Đảng Cách nhìn nhận, đánh giá như vậy cho thấy, Đảng ta đã sẵn sàng cho một sự “chuyển mình” cả
về nhận thức và hành động trong thời gian tới, nhằm tháo gỡ, minh bạch, chính xác hóa mối quan hệ Đảng - Nhà nước Đây cũng chính là then chốt cho sự hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN được Đại hội XII của Đảng khẳng định sâu sắc hơn So với Báo cáo chính trị Đại hội XI, Báo cáo chính trị Đại hội XII đã dành riêng một ý trong phần phương hướng, nhiệm vụ để khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ
Trang 21thống chính trị” Tuy đây là sự tiếp tục quan điểm nhất quán của Đảng ta, song việc nhấn mạnh này trong văn kiện Đại hội đã cho thấy rõ quyết tâm chính trị của toàn Đảng Đảng ta chỉ rõ: “Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa-xã hội” Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị là một trong tám mối quan
hệ lớn cần nắm vững và tập trung giải quyết đã được Đảng ta xác định Trong đổi mới chính trị thì nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm, có vai trò chi phối, quyết định đến các nhiệm
vụ khác và đến việc giải quyết mối quan hệ lớn này
Có thể nói xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là chủ trương đường lối có tính chiến lược mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra Là đòi hỏi tất yếu khách quan của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân
1.1.2 Kiểm soát quyền lực nhà nước là biểu hiện cơ bản của nhà nước pháp quyền
1.1.2.1 Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước
Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước: là hoạt động có chủ đích của nhà nước và xã hội, với tổng thể những phương tiện tổ chức và pháp lý thông qua các hình thức kiểm soát bên trong, kiểm soát bên ngoài nhằm hạn chế những nguy cơ sai phạm cũng như hành vị lộng quyền của cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, khoa học, hiệu lực và hiệu quả
Lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước được thiết lập đầu tiên bởi các nhà
tư tưởng chính trị - pháp lý, đó là của Aristotle, J Locke, S.L Montesquieu và J.J Rousseau, tạo thành học thuyết được gọi là Chủ nghĩa Hiến pháp/Chủ nghĩa hợp hiến mà cái cốt lõi căn bản của học thuyết là sự giới hạn quyền lực nhà nước nhằm chống lại chế độ chuyên chế phong kiến, và bảo vệ nhân quyền
Trang 22Ở Việt Nam, các bản Hiến pháp đều nhất quán khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Tại Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ:
“Tất cả quyền bính trong nước ta là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo giai cấp tôn giáo” [16, Điều 1] Tư tưởng nhất
quán này đều được thể hiện qua bản hiến Pháp 1959, Hiến pháp 1980, và Hiến pháp
1992 Tại Hiến pháp 1992 thì:
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, Nhân dân
sử dụng quyền lực thông qua Quốc Hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân [19, Điều 2, 6]
Hiến pháp năm 2013 đã được thông qua theo một quy trình dân chủ, bảo đảm việc lấy ý kiến rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân, thể hiện ý chí của đông đảo nhân dân lao động Điều đó khẳng định hơn nữa quyền xây dựng Hiến pháp trước hết thuộc về nhân dân
Một điểm mới về quyền lực trong Hiến pháp năm 2013 đó là việc nhận thức
về chủ thể của quyền lập hiến Cụ thể, nếu như trong Hiến pháp năm 1992 tại Điều
83 có quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” thì sang Hiến pháp năm 2013 nội dung này đã được quy định như sau: “ Quốc hội
thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp ” [16, Điều 69] Quốc hội không phải là
cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, Quốc hội chỉ là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, Nhân dân mới là chủ thể tối cao của quyền lập hiến
Một điểm mới nữa có thể thấy của Hiến pháp mới được ban hành, Điều 6 ghi
nhận “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân
chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được thể hiện bởi các cơ quan trong bộ
Trang 23máy, với những con người cụ thể trong bộ máy ấy Vì vậy việc thực thi quyền lực
cụ thể phụ thuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước và con người trong bộ máy ấy Nếu như người cầm quyền được trao quyền không biết thực thi quyền lực cho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích vụ lợi thì sức mạnh quyền lực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội Vì thế muốn có một xã hội tốt đẹp, quyền tự do con người được đề cao thì phải có cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát hoạt động của công chức, viên chức nhà nước Đây là một điều tất yếu trong tổ chức và hoạt động của một nước dân chủ, kể cả trong việc đi lên xây dựng nhà nước pháp quyền của nước ta
Hiến pháp Việt Nam quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [16, Điều 2] Vậy,khái niệm “kiểm soát” giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nó có sự khác biệt gì so với giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát việc thực hiện quyền lực nhà nước
Chúng ta đều biết, trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước luôn phải tiến hành các hoạt động “giám sát” Thông thường, giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống Trong bộ máy nhà nước, giám sát thường thể hiện chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động của bộ máy nhà nước hoặc của Tòa án nhân dân; các tổ chức xã hội và công dân đối với hoạt động quản lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước Chẳng hạn, theo điều 69 của Hiến pháp năm 2013 thì: Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân [16, Điều 74]; Hội đồng dân tộc thực hiện quyền giám sát việc
Trang 24thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số [16, Điều 75]; Uỷ ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định [16, Điều 76]; Đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri [16, Điều 79]; Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân [16, Điều 113]
Ngoài việc giám sát, các cơ quan nhà nước còn phải tiến hành “thanh tra”,
“kiểm tra” việc thực hiện quyền lực nhà nước Hiến pháp quy định: Chính phủ tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên [16, Điều 96]; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc [16, Điều 99]; Chính quyền địa phương chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên [16, Điều 112] Như vậy, “thanh tra” là sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định nhằm phát hiện, ngăn chặn pháp luật trái với quy định Thanh tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới (mang tính trực thuộc) Còn “kiểm tra” là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét Đây
là hoạt động của các chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc) Chẳng hạn, kiểm tra của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước hoặc kiểm tra của các cơ quan, nhân viên nhà nước có thẩm quyền nhằm xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan kiểm tra
Ở Việt Nam, “kiểm sát” là hoạt động xem xét, đánh giá của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Chẳng hạn, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp
Còn “kiểm soát” được cho là xem xét Đánh giá, theo dõi nhằm ngăn chặn
Trang 25những điều trái với quy định Như vậy, về cơ bản, thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm soát có nghĩa như nhau, đó là xem xét, đánh giá hoạt động của các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước để Hiến pháp, pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ, nhưng chúng khác nhau về chủ thể thực hiện, về nội dung, hình thức, phạm và đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá So với thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát thì kiểm soát có phạm vi xem xét, đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn, nó bao hàm cả việc giám sát, thanh tra, kiểm tra, theo dõi đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá của kiểm soát là tất cả các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước Nội dung kiểm soát bao gồm việc tổ chức và việc thực hiện đối với cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vậy:
1.1.2.1 Biểu hiện của kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
- Kiểm soát quyền lực của “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân
do dân, vì dân, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm soát quyền lực trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp: Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến pháp Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là Đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân Những quan điểm lớn, những nội dung cơ bản của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân
- Kiểm soát quyền lực của một nhà nước đơn nhất, nhiều yếu tố tập quyền, được xây dựng trên nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Quyền lực nhà nước ở nước ta là quyền lực
Trang 26thống nhất Sự thống nhất đó không phải là sự tập trung quyền lực cao độ vào một nhánh quyền lực nào theo kiểu phân lập quyền lực mà là sự thống nhất ở mục tiêu chung là phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc
Một trong những quan điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quan điểm về quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ
sở phân công và phân phối trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Có thể hiểu rằng, sự thống nhất là nền tảng, sự phân công phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực nhà nước
- Dựa trên sự bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
- Thiết lập trong cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái (mâu thuẫn) với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta Trong ý nghĩa ấy, Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
1.2 Vai trò, ý nghĩa của kiểm soát quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của Nhà nước mà quyền lực của nhân dân, được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền Nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình mà lại giao cho Nhà nước thay mình thực hiện, tuy nhiên khi ủy quyền cho Nhà nước, quyền lực nhà nước lại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu (từ của nhân dân là số đông chuyển sang số ít của một nhóm người hoặc
Trang 27của một người) C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những con người cụ thể thực thi Mà hành động của con người thì luôn luôn chịu sự tác động của các loại tình cảm và dục vọng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền.mặt khác quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm xác định được một cách chính xác, để có thể giao quyền một cách cụ thể Chính vì vậy mà kiểm soát quyền lực nhà nước có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lắp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, làm cho hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước bị hạn chế
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta coi
là nhiệm vụ quan trọng và đã được Hiến pháp ghi nhận Nhiệm vụ đó được Đảng đặt trong định hướng chung của việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Vị trí, vai trò của kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ý nghĩa lớn trong việc khẳng tính thống nhất về bản chất của quyền lực Nhà nước ở nước ta Quyền lực Nhà nước là quyền lực thống nhất của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cụ thể hơn, quyền lực Nhà nước đó thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Bản chất Hiến định của Nhà nước ta là như vậy Nhưng để duy trì được sự thống nhất về bản chất cũng như sự thống nhất về mục tiêu, định hướng của quyền lực Nhà nước là giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính
Trang 28nhân dân của quyền lực Nhà nước thì phải luôn bảo đảm cho quyền lực Nhà nước ở trong quỹ đạo nhất định Vì vậy, phải có giám sát, thiếu giám sát sẽ có nguy cơ quyền lực Nhà nước đi chệch khỏi quỹ đạo về bản chất giai cấp Cho nên, để đạt được các mục tiêu mà quyền lực Nhà nước của chúng ta phải phụng sự thì nhất thiết phải duy trì giám sát, phải có cơ chế giám sát hữu hiệu
Vai trò trong việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước Nếu trước đây, quyền lực Nhà nước phong kiến là quyền lực tập trung trong tay vua chúa, không có
sự phân chia nào thì trong Nhà nước hiện đại, việc phân công, phân quyền là một trong những phương thức quan trọng để thực hiện quyền lực Nhà nước Hiện nay, chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định sự hiện diện của việc phân quyền ở những mức độ nhất định trong các Nhà nước hiện đại Ở nước ta, chúng ta đã có công thức hoàn chỉnh trong tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước Đó là sự phân công giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở phối hợp
để bảo đảm quyền lực Nhà nước thống nhất Đã là phân công quyền lực thì phải thấy được hai mặt của nó: phân công và phối hợp Về sự phân công, chúng ta xác định trong bộ máy Nhà nước có quyền lập pháp, hoạt động lập pháp, có quyền hành pháp và hoạt động hành pháp, có quyền tư pháp và hoạt động tư pháp Mỗi thứ quyền đó và mỗi phạm vi hoạt động của quyền lực Nhà nước có những đặc điểm và đòi hỏi riêng, nhiệm vụ riêng Nếu tất cả các quyền lực đó trong phạm vi của mình, đều thực hiện đúng các mục tiêu thì sẽ tạo nên hiệu quả hoạt động chung của bộ máy Nhà nước và của việc thực hiện quyền lực Nhà nước Khi đã có sự phân công thì phải theo dõi, kiểm tra bảo đảm cho các cơ quan đó làm đúng chức năng, nhiệm
vụ của mình, không vượt ra khỏi phạm vi, thẩm quyền, tính chất và chức năng được xác định Ngoài sự phân công như trên còn phải kể đến vấn đề phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương Sự phân cấp quản lý này cũng cần được thực hiện một cách hợp lý, sao cho trên không can thiệp sai trái xuống dưới, dưới không vượt quyền, thực hiện đúng thẩm quyền của mình trong sự chủ động tối đa Vì thế, mọi
sự phân công, phân quyền, phân cấp đều phải gắn liền với sự kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực
Trang 29Có thể nói hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước
là một hoạt động tất yếu trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm để duy trì bản chất, định hướng chung thể hiện qua nhiệm vụ chung của quyền lực Nhà nước và để bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả Xã hội càng phát triển, quá trình dân chủ hóa trong xã hội càng được mở rộng thì yêu cầu kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước càng cao Điều này lý giải bởi sự tăng cường của phạm vi tác động của quyền lực, bởi tính phức tạp trong tổ chức và thực hiện quyền lực, bởi sự đan xen, giao thoa và mâu thuẫn trong việc sử dụng quyền lực
1.3 Các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
Cơ chế là một thuật ngữ có thể hiểu theo nhiều nghĩa, tùy vào hoàn cảnh và lĩnh vực Theo từ điển tiếng Việt: “Cơ chế là cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” Theo quan điểm của GS.TS triết học Phạm Ngọc Quang: “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liên kết với nhau theo một logic nhất định, nhờ vậy mục tiêu được thực hiện” Vì vậy, tác giả cho rằng, theo nghĩa chung nhất thì cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
được hiểu là phương thức, quy trình, quy định và các thiết chế có liên quan đến việc
kiểm soát quyền lực nhà nước, gắn kết chặt chẽ với nhau hợp thành một chỉnh thể, thông qua đó việc kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện, nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của nhà nước, cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng các quy định của Hiến pháp,
pháp luật, đúng mục đích mong muốn và có hiệu quả
Kiểm soát quyền lực nhà nước luôn gắn với một chủ thể, đối tượng nhất định với nội dung và hình thức khác nhau
Thực chất của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta là tổng hợp các công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, của các cơ quan trong hệ thống chính trị
và của nhân dân
Trang 30Cụ thể:
Cơ chế giám sát của Đảng
Cơ chế giám sát tối cao của Quốc Hội
Cơ chế giám sát của chính phủ
Cơ chế giám sát của TAND, VKSND
Cơ chế giám sát của MTTQ
Cơ chế giám sát của chính quyền địa phương (UBND, HĐND)
Cơ chế giám sát của Nhân dân
Quá trình kiểm tra, giám sát được thể hiện bằng các quy định của Đảng Báo cáo chính trị đại hội IX chỉ rõ
Lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra của Chính phủ và các cơ quan hành pháp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, theo đúng chức năng và thẩm quyền của các cơ quan đó Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy, của Ủy ban kiểm tra các cấp tập trung vào các nội dung chủ yếu: Thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và qui chế làm việc, củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên [17, tr 146]
Có thể nói, sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển của Đảng ta về công tác kiểm tra, kiểm soát thể hiện ở mấy điểm chủ yếu sau:
Một là, Đảng ta đã cụ thể hóa rõ hơn, đầy đủ hơn vị trí, tầm quan trọng của
công tác kiểm tra - đã xác định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng; một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng Có lãnh đạo thì phải có kiểm tra Lãnh đạo cũng có nghĩa là kiểm tra Công tác kiểm tra
là của toàn Đảng, các cấp ủy Đảng và người đứng đầu cấp ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
Hai là, xác định rõ ràng và cụ thể hóa nội dung, nhiệm vụ kiểm tra của cấp
ủy và của Ủy ban kiểm tra Trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng, Đảng
ta đều có sự sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới, phù hợp với hoàn cảnh
Trang 31thực tiễn Việc xác định chủ thể, khách thể kiểm tra trong từng nhiệm vụ cũng rõ ràng hơn Điều này có ý nghĩa thiết thực - khắc phục được tình trạng buông lỏng, khoán trắng, thiếu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra của một số cấp ủy Việc Ủy ban kiểm tra các cấp chuyển từ kiểm tra chấp hành sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đã khắc phục được tình trạng kiểm tra tràn lan, không trúng đối tượng, thiếu trọng điểm nên kém hiệu quả Nhiều trường hợp kết luận của kiểm tra chấp hành không nói lên đúng thực trạng của tình hình vi phạm, tiêu cực trong các
tổ chức đảng
Nhờ sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà công tác kiểm tra của Đảng ta trong gần 74 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đặc biệt trong hơn một thập niên đổi mới, công tác kiểm tra của Đảng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện, bảo vệ đường lối, chính sách, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng
Các tổ chức đảng đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra Nhiều cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo công tác kiểm tra, xây dựng chương trình kế hoạch và trực tiếp kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới theo quy định của Điều lệ Đảng, bước đầu có kết quả thiết thực
1.3.1 Chủ thể, đối tượng, nội dung của kiểm soát quyền lực nhà nước
Kiểm soát quyền lực nhà nước luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi: ai (người, hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện nhiệm
vụ kiểm soát và đối tượng nào sẽ là đối tượng chịu tác động của kiểm soát quyền lực nhà nước
Giám sát được tiến hành bởi chủ thể là:
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay nhiều cơ quan nhà
nước khác Ở nước ta đó là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), là
Trang 32hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (HĐND) đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương và còn là hoạt động giám sát của Tòa án đối với
bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét xử Các phương pháp, cách thức mà loại hình giám sát này áp dụng luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước
- Ngoài ra chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước còn.Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước (còn gọi là giám sát mang tính nhân dân) bao gồm các hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, thanh tra nhân dân và công dân hay còn gọi là Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước (giám sát mang tính nhân dân)
1.3.1.1 Kiểm tra của Đảng
Công tác kiểm tra của Đảng là toàn diện, kiểm tra công việc, kiểm tra tổ chức
và cá nhân đảng viên Trong bộ máy nhà nước ta ở tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến cơ sở hầu hết các chức vụ quan trọng đều
do đảng viên đảm nhận Trong quá trình lãnh đạo của Đảng được chia thành ba khâu chủ yếu: ra quyết định, tổ chức thực hiện quản lý và kiểm tra sự thực hiện Kiểm tra nhằm phát hiện ưu, khuyết điểm, uốn nắn, bổ sung hoàn chỉnh quyết định, hoàn thiện quy trình lãnh đạo, giáo dục và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên Tạo nên sự thống nhất giữa ý chí và hành động
Công tác kiểm tra của Đảng: là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên, hướng vào việc xây dựng và thực hiện các quyết định, giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt và nội bộ Đảng, hoàn thiện quy trình lãnh đạo giữ vững kỷ luật với mục đích bảo đảo cho các quyết định
đã đề ra được thực hiện nghiêm túc và có kết quả cao
Về chủ thể công tác kiểm tra của Đảng: Công tác kiểm tra là của toàn đảng
trong đó nổi bật hai chủ thể cấp ủy và Ủy ban kiểm tra Ngoài ra còn có các chủ thể khác là các ban tham mưu của cấp ủy, cá nhân đảng viên mỗi chủ thể có khách thể
và nội dung kiểm tra riêng
Về đối tượng: Kiểm tra mọi tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vị lãnh
đạo và quản lý của cấp ủy trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp và đảng viên
Trang 33thuộc diện cấp ủy mình quản lý, nhất là cán bộ tham gia các cương vị chủ chốt hoặc được giao các nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước ở các địa bàn trọng điểm
dễ phát sinh vi phạm
Thực tế các tổ chức đảng vừa là chủ thể kiểm tra (có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra) vừa là đối tượng kiểm tra (chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên) gồm có: chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi
bộ trong Đảng bộ bộ phận) đảng ủy bộ phận, Đảng ủy cơ sở, cấp ủy, Ban thường
vụ cấp ủy các cấp, Ủy ban kiểm tra các ban đảng, văn phòng cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn)
Về nội dung kiểm tra: Kiểm tra việc chấp hành cương lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên và của cấp mình về mọi lĩnh vực hoạt động Kiểm tra việc ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp mình
và cấp dưới Các nguyên tắc tổ chức của Đảng trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc Gìn giữ đoàn kết nội bộ, giáo dục rèn luyện nâng cao phẩm chất cán bộ đảng viên Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị Việc thực hiện chính sách và pháp luật của nhà nước Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và thực tế của Đảng bộ mà cấp ủy lựa chọn và quyết định nội dung kiểm tra cho phù hợp
Cho đến nay công tác kiểm tra của Đảng phải tập trung giải quyết những vấn
đề còn nan giải, nổi cộm trong bộ máy nhà nước ta đó là:
Khắc phục bệnh quan liêu, xa dân, xa cấp dưới, xa cơ sở, ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng, xảy ra trong bộ máy nhà nước, nhất là đảng viên có chức có quyền; kiên quyết loại bỏ tình trạng đảng viên và tổ chức đảng coi thường pháp luật, đứng trên pháp luật, hạn chế tệ tranh giành quyền lực phe cánh, cục bộ địa phương trong Đảng hiện nay dẫn đến mất đoàn kết nghiêm trọng trong Đảng và Nhà nước Đẩy lùi bệnh hình thức, phô trương lãng phí làm thất thoát công quỹ tổn hại đến lợi ích của nhân dân, làm tha hóa đạo đức công chức góp phần rèn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ công chức vững về chính trị, giỏi về chuyên môn Có như vậy mới phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững bản chất cách mạng của một nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân
Trang 341.3.1.2 Giám sát tối cao của Quốc hội
Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Quốc hội do vị trí vai trò của quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên hoạt động giám sát của Quốc hội có tính chất là giám sát tối cao; như vậy:
Chủ thể hoạt động giám sát tối cao là của Quốc hội; Ủy ban Thường vụ Quốc
hội (UBTVQH), Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu và đại biểu Quốc hội nhằm theo dõi, xem xét kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong các văn bản pháp luật, trong hoạt động của chủ tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC và toàn bộ hoạt động của nhà nước nhằm đảm bảo sự tuân thủ hiến pháp, pháp luật và hiệu lực tham gia hoạt động của các cơ quan này Xử lý vi phạm theo
quy định của pháp luật, kịp thời bổ sung sửa đổi hoàn chỉnh hiến pháp, pháp luật
Đối tượng chịu giám sát tối cao là toàn bộ hoạt động của nhà nước, mà trước hết
là: Chủ Tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Chủ tịch Quốc hội, UBTVQH
Nội dung:
Một là, theo dõi, trong xem xét, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối với các
văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, TANDTC và VKSNDTC
Hai là, xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp và luật bằng các chế tài bãi
nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ do Quốc hội bầu và phê chuẩn trong bộ máy nhà nước, đình chỉ, bãi bỏ các văn bản trái với hiến pháp, luật và ra các nghị quyết khi xét thấy cần thiết
1.3.1.3 Giám sát của Chính phủ, Chủ tịch nước
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có chức năng kiểm tra, giám sát trước hết thông qua những thẩm quyền được Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ quy định Tuy nhiên, cơ chế kiểm tra thường xuyên và chuyên nghiệp của Chính phủ là cơ chế thanh tra của Chính phủ Nội dung chủ yếu của hình thức thanh tra Chính phủ là kiểm tra các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực thi pháp luật mà hậu quả là kiến nghị về các biện pháp xử lý cho các cơ quan quản lý hoặc các cơ quan tư pháp,
bị ràng buộc và chế ước trong khuôn khổ và chức năng của cơ quan quản lý cùng cấp
Trang 35Cùng với hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các hoạt động kiểm tra, giám sát khác, công tác kiểm tra, thanh tra của Chính phủ giữ vị trí quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả, kỷ cương của nền hành chính Hoạt động kiểm tra, thanh tra của Chính phủ là một loại tự kiểm soát quyền lực trong nội bộ hệ thống, do các cơ quan chuyên trách (Thanh tra nhà nước) thực hiện đối với các bộ phận của hệ thống hành chính từ trên xuống dưới Sự thiết lập hệ thống kiểm tra, thanh tra này bên cạnh các cơ chế kiểm tra, giám sát khác đối với hoạt động hành chính nhà nước là hết sức cần thiết vì so với các hệ thống cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước khác thì nguy cơ lạm quyền từ phía các cơ quan của Chính phủ là rất lớn Hiện nay có nhiều quan điểm về vị trí của kiểm tra, thanh tra nhưng xét về bản chất, trong quản lý nhà nước cần phải có thanh tra, kiểm tra các hoạt động hành chính như một tác nhân tất yếu để hạn chế, khắc phục các khiếm khuyết của bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nói riêng
Nội dung:
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động công vụ
- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện thể chế hành chính
- Kiểm tra, thanh tra bộ máy hành chính
- Kiểm tra, thanh tra tính chính xác của quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền
- Kiểm tra, thanh tra người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý (công chức, viên chức nhà nước)
Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phải tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác kiểm tra, thanh tra của Chính phủ về tổ chức hệ thống
cơ quan thanh tra, xác định chức năng, thẩm quyền kiểm tra, thanh tra của Chính phủ Theo hướng đó, cần hoàn thiện mô hình kiểm tra, thanh tra của Chính phủ trên những vấn đề sau:
Thứ nhất, mở rộng phạm vi và thẩm quyền Hoạt động kiểm tra, thanh tra
của Chính phủ trong tình hình mới phải bao quát những nội dung sau:
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động công vụ Trong bất kỳ quốc gia nào, hoạt
Trang 36động công vụ cũng được xem là đối tượng của thanh tra, kiểm tra Mặc dù có sự gắn bó giữa hoạt động công vụ và kiểm tra, thanh tra như là điều kiện và kết quả của nhau, nhưng đến lượt mình, kiểm tra, thanh tra như một công cụ thiết yếu làm cho hoạt động của công chức, viên chức có hiệu quả hơn: nâng cao chất lượng công việc, tính siêng năng, khả năng trung thành, sự tận tụy trong công việc, đạo đức nghề nghiệp đến mối quan hệ của họ với các chủ thể khác trong bộ máy nhà nước Có thể nói, kiểm tra, thanh tra là sự kiểm nghiệm, đánh giá nội dung hoạt động công vụ
- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện thể chế hành chính.Thể chế hành chính
được thể hiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật và dưới góc độ quản
lý, tất cả các lĩnh vực đó cần được kiểm tra, thanh tra một cách nghiêm ngặt Việc kiểm tra phải thể hiện ở các mặt: kiểm tra tính thống nhất của hệ thống văn bản do Chính phủ và các cơ quan hành chính ban hành; kiểm tra thẩm quyền của các cơ quan hành chính quy định trong pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các
cơ quan đó; kiểm tra việc ban hành các quy chế nhằm phân công, phân cấp trong hoạt động của các cơ quan hành chính phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kiểm tra tính minh bạch của pháp luật trong điều kiện hòa nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới; kiểm tra việc pháp luật đi vào cuộc sống
- Kiểm tra, thanh tra bộ máy hành chính Trong điều kiện cải cách hiện nay,
việc kiểm tra bộ máy là hết sức quan trọng Kiểm tra bộ máy ở đây không chỉ dừng lại ở chỗ bộ máy có bao nhiêu cơ quan, hoạt động như thế nào mà cần tiếp cận cơ sở khoa học của việc hình thành bộ máy Kết quả kiểm tra bộ máy mang tính khoa học
là ở chỗ: chỉ ra cho những người có thẩm quyền nhận thức được rằng bộ máy của chúng ta hoạt động vì lợi ích của đại đa số những người lao động, và từ đó thiết kế
bộ máy không phải vì quyền lợi của cá nhân này hay cá nhân khác Đây là vấn đề hết sức khó khăn, cần có sức mạnh không chỉ trí tuệ của những người làm chính sách mà còn cả trí tuệ của những người làm công tác kiểm tra, thanh tra
- Kiểm tra, thanh tra tính chính xác của quyết định hành chính và hành vi
Trang 37hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền Theo pháp luật hiện hành, chúng ta
chỉ có "cơ chế tĩnh" tức là cấp trên phát hiện thấy sai trái thì có quyền đình chỉ, hủy
bỏ chứ không có cơ chế tự kiểm tra và kiểm tra, thanh tra trước và sau khi ban hành (cơ chế động), trừ trường hợp quyết định hành chính và hành vi hành chính bởi Tòa án và các cơ quan thanh tra của chúng ta hiện nay cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là ở thẩm quyền xử lý Để cơ quan hành chính tự kiểm tra tính chính xác của các quyết định hành chính và hành vi hành chính cần có thiết chế tài phán hành
chính ở ngay trong Chính phủ, có thể theo hai hướng: Một là, thành lập cơ quan tài phán hành chính thuộc Chính phủ; Hai là, xây dựng lại hệ thống cơ quan thanh tra
Chính phủ tập trung vào thanh tra trách nhiệm hành chính của người, cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động công vụ Trước mắt, cần phân định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan thanh tra và Tòa hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện đối với các cơ quan và cán bộ, công chức hành chính, tạo điều kiện để các Tòa hành chính phát huy đúng chức năng và thẩm quyền
- Kiểm tra, thanh tra người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý (công
chức, viên chức nhà nước) Việc kiểm tra con người trong hoạt động công vụ thể hiện ở hai mặt: kiểm tra nhằm khắc phục tình trạng thiếu trật tự, kỷ cương nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi trái pháp luật của công chức, viên chức nhà nước; kiểm tra nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể trong từng cơ quan, tổ chức
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện tổ chức và cơ sở pháp lý của hệ thống thanh tra
trong lĩnh vực hành chính nhà nước Trước hết cần thấy rằng thanh tra là chức năng của quản lý Vì vậy, cần có chủ thể chuyên thực hiện chức năng thanh tra có thẩm quyền độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, tránh sự chỉ đạo theo dõi kiểm tra của riêng người Thủ trưởng Cơ quan chuyên thực hiện chức năng thanh tra này có thể được
tổ chức theo hai cách: hoặc là, chỉ có cơ quan Thanh tra của Chính phủ Cơ quan này kiểm tra, thanh tra trách nhiệm hành chính của các cơ quan, người có trách nhiệm (công chức, viên chức) trong hoạt động công vụ Phạm vi hoạt động của cơ quan này tập trung vào nội dung quản lý nhà nước của tất cả các cơ quan trong bộ
Trang 38máy nhà nước bao gồm cả các hoạt động hành chính của Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát; hoặc là, thành lập cơ quan Thanh tra của Quốc hội Đây là quan điểm của một số nước tổ chức mô hình theo chế độ đại nghị triệt để, nhằm đề cao vai trò của Nghị viện Tuy nhiên, theo phương án này và theo lý luận, cho dù Quốc hội có thành lập tổ chức thanh tra thì theo bản chất của quản lý, cơ quan thực hiện chức năng hành pháp vẫn phải có cơ quan kiểm tra, thanh tra riêng của mình để thực hiện việc kiểm tra chu trình quản lý
Như vậy, dù mô hình tổ chức nào thì sự tồn tại của một số loại cơ quan thanh tra nằm ngay trong hệ thống hành chính cũng là tất yếu Hiện nay, theo Luật Thanh tra ở nước ta, hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước được thành lập gồm cơ quan Thanh tra Chính phủ và cơ quan Thanh tra ở các bộ, ngành Các cơ quan thanh tra
bộ, ngành mang tính chất là thanh tra nhà nước và tổ chức, hoạt động cụ thể của nó
do Thanh tra Chính phủ quy định Nói cách khác, cơ quan Thanh tra được thiết lập
ở các bộ, ngành là một bộ phận chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan Thanh tra Chính phủ Cơ cấu này đảm bảo tính thống nhất và phối hợp chặt chẽ của hệ thống thanh tra trong lĩnh vực hành chính, đảm bảo cho các khâu của hoạt động hành chính nhà nước đều được kiểm tra bởi các cơ quan độc lập với khâu hoạt động hành chính đó Tuy nhiên, vấn đề vẫn đang tiếp tục đặt ra là cần cụ thể hóa bằng các cơ chế pháp lý các mối quan hệ trong cơ cấu đó, đặc biệt cần xây dựng cơ chế để nâng cao tinh thần trách nhiệm cả về đạo đức, tinh thần và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể lãnh đạo trong hệ thống các cơ quan nhà nước, nhất là các chức danh như: Thủ tướng, Phó Thủ trướng, Bộ trưởng đồng thời cũng cần tạo ra các đảm bảo về mặt vật chất (phương tiện làm việc, đội ngũ cán bộ ) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra nhà nước
1.3.1.4 Cơ chế giám sát của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân
Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thực hiện các hình thức kiểm tra, giám sát hai mặt Một mặt, đó cũng là cơ chế tự kiểm tra trong nội bộ hệ thống như hoạt động kiểm tra, thanh tra của Chính phủ Cụ thể, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là người lãnh đạo toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và do đó
Trang 39việc kiểm tra, giám sát được thực hiện thông qua chế độ báo cáo công tác Mặt khác, chức năng cơ bản của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, vì vậy sự kiểm tra, giám sát này là sự kiểm tra, giám sát từ phía Viện kiểm sát đối với các cơ quan, cá nhân khác
Theo quy định hiện hành TAND các cấp trong phạm vi chức năng của mình
có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN Giám sát thông qua hoạt động xét xử nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm của công dân
Hoạt động giám sát của TAND chỉ tiến hành thông qua hoạt động xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế trong quá trình xét xử bên cạnh việc xác định tội phạm, TAND kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi quản lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ quan quản lý nhà nước và người có chức vụ Và sự kiểm tra, giám sát bên trong hệ thống Tòa án trước hết được thực hiện thông qua thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm của Tòa án cấp trên đối với các Tòa án cấp dưới, nhưng đây là sự kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền tố tụng chứ không phải theo thẩm quyền hành chính trên - dưới Tòa án kiểm tra, giám sát thông qua tổ chức, cá nhân tuân thủ Hiến pháp, pháp luật là sự kiểm tra của một
cơ quan đối với mọi cơ quan khác từ ngoài, mang tính độc lập
Đối tượng giám sát: Có thể nói, giám sát của cơ quan tài phán đây là loại
hình giám sát của hệ thống cơ quan độc lập (cơ quan nhà nước) thông qua trình tự
tố tụng, được thực hiện thông qua việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính sự kiểm tra, giám sát bên trong hệ thống Tòa án
Nội dung:
Giám sát thông qua hoạt động xét xử nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Hoạt động giám sát của TAND chỉ tiến hành thông qua hoạt động xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế trong quá trình xét xử bên cạnh việc xác định tội phạm, TAND kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi quản lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ quan quản lý nhà nước và người có chức vụ
Trang 40Và sự kiểm tra, giám sát bên trong hệ thống Tòa án trước hết được thực hiện thông qua thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm của Tòa án cấp trên đối với các Tòa án cấp dưới, nhưng đây là sự kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền tố tụng chứ không phải theo thẩm quyền hành chính trên - dưới Tòa án kiểm tra, giám sát thông qua tổ chức, cá nhân tuân thủ Hiến pháp, pháp luật là sự kiểm tra của một cơ quan đối với mọi cơ quan khác từ ngoài, mang tính độc lập
Trong Hiến pháp 2013 VKSND có vai trò vị trí đặc biệt để thực hiện quyền lực nhà nước đó là: Bảo đảm pháp chế XHCN, bảo vệ tài sản nhà nước, bảo vệ tài sản, từ đó danh dự, nhân phẩm của công dân
Với hai chức năng cơ bản là kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố
Viện Kiểm sát thực hiện:
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
- Điều tra một số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán
bộ thuộc các cơ quan tư pháp
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự
- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án quyết định của TAND
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù
- Về chủ thể kiểm sát: là VKSND ở cả 3 cấp: huyện, tỉnh và Trung ương
- Về đối tượng kiểm sát: trên cả hai lĩnh vực tư pháp hình sự và tư pháp dân sự
VKSND kiểm soát hoạt động của các cơ quan điều tra và các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm soát hoạt động xét xử vụ
án hình sự, kiểm soát với hoạt động thi hành án hình sự Đảm bảo cho hoạt động tư