1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam

108 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song sự phát triển dân trí đó là quá trình phát triển toàn diện của đất nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và qua thực tiễn áp dụng, nhiều quy định hoạt độ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THANH DUNG

MéT Sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN

VÒ HO¹T §éNG SAU PHI£N TßA XÐT Xö Vô ¸N H×NH Sù

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ luật học này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ

và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét và cho phép tôi được bảo vệ Luận văn thạc sỹ luật học của mình theo quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thanh Dung

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 10

1.1 Khái niệm hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 10

1.2 Đặc điểm của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 12

1.3 Phân loại hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 14

1.4 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 15

1.4.1 Vai trò của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 15

1.4.2 Ý nghĩa của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 17

1.5 Tổng quan pháp luâ ̣t T ố tụng hình sự về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự từ năm 1945 đến năm 2003 18

Chương 2: HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 24

2.1 Hoạt động sau phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 24

2.1.1 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra Bản án 24

2.1.2 Hoạt động sau phiên tòa trong trư ờng hợp Hô ̣i đồng xét xử ra Quyết đi ̣nh ta ̣m đình chỉ hoă ̣c đình chỉ xét xử sơ th ẩm vu ̣ án hình sự 45

Trang 4

2

2.1.3 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra

quyết định hoãn phiên tòa 50

2.1.4 Hoạt động sau phiên tòa trong trư ờng hợp Hội đồng xét xử ra Quyết đi ̣nh trả hồ sơ để điều tra bổ sung 54

2.2 Hoạt động sau phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 58

2.2.1 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra Bản án 58

2.2.2 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm 67

2.2.3 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa 71

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LẬT T Ố TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ HOA ̣T ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA X ÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 76

3.1 Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự 76

3.2 Nguyên nhân của các hạn chế trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 81

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự 83

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 83

3.3.2 Giải pháp đối với Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng 88

3.3.3 Giải pháp đối với người tiến hành tố tụng 92

3.3.4 Giải pháp đối với các chủ thể khác 94

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đấu tranh phòng chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu mà bất kỳ một nhà nước nào, một xã hội nào cũng cần phải quan tâm Để việc đấu tranh này được thực hiện một cách kiên quyết, kịp thời, có hiệu quả, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, trong đó có các văn bản về pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Pháp luật hình sự mà trọng nhất là Bộ luật hình sự quy định hành vi nào là nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt, tức là đưa ra các căn cứ giúp cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì pháp luật tố tụng hình sự nói chung, Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng lại đóng vai trò quan trọng Bởi lẽ, Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Như vậy, diễn tiến giải quyết một vụ án sẽ diễn ra theo các giai đoạn: giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án Đan xen giữa những giai đoạn chính đó là những “giai đoạn phụ”, những hoạt động nhỏ khác nhưng rất quan tro ̣ng Hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là “một trong những giai đoạn như thế” Hoạt động này bắt đầu sau khi Hội đồng xét xử đưa ra một bản án hoặc quyết định tố tụng và kết thúc sau khi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện hết các hoạt động mà luật tố tụng hình sự quy định họ phải thực hiện Như vậy, về mặt thời gian hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự có thể có sự đan xen với giai đoạn xét xử sau và giai đoạn thi hành án

Trang 7

2

Các hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử các vụ án hình sự là một chuỗi các hoạt động đa phần không mang nhiều tính chất tố tụng, mà thông thường mang tính chất hành chính tư pháp , báo cáo Tuy nhiên, những hoạt động này lại giữ một vai trò quan trọng, mà thiếu đi những hoạt động này, việc giải quyết vụ án hình sự sẽ không được khách quan, minh bạch, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí khiến cho những giai đoạn tố tụng trước đó trở nên vô nghĩa Điều đó dẫn đến mục đích đấu tranh, phòng chống tội phạm của Đảng và Nhà nước ta không đạt được

Khi xã hội càng phát triển, trình độ pháp luật của người dân được nâng cao và khi các phương tiện truyền thông luôn theo sát với từng vụ án, đặc biệt là những vụ án hình sự nhạy cảm như an ninh quốc gia, giết người, thì hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự lại càng trở nên quan trọng và cần được chú trọng hơn

Song song sự phát triển dân trí đó là quá trình phát triển toàn diện của đất nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và qua thực tiễn áp dụng, nhiều quy định hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vẫn còn một số bất cập và hạn chế (như: chưa quy định về thời hạn gửi bản án của Viện kiểm sát cấp dưới tới Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, chưa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng sau khi kết thúc phiên tòa, các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét

xử vụ án hình sự trong quy chế của các ngành Tòa án, Viện kiểm sát còn cần được bổ sung và quy định cụ thể hơn; v.v )

Một số tồn tại và hạn chế nêu trên về mặt pháp luật đã gây ra những vướng mắc, lúng túng trong hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự của

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng người tham gia tố tụng và các tổ chức, cá nhân khác trong thực tiễn Dẫn tới hệ quả, hoạt động sau phiên tòa chưa được chú trọng, còn mang tính hình thức, đối phó, làm cho có mà chưa phát huy được tối qua hiệu quả, mục đích của hoạt động này

Trang 8

3

Hiện nay, khoa học luật tố tụng hình sự trong nước mới chỉ có các công trình nghiên cứu nghiên cứu về hoạt động xét xử vụ án hình sự nói chung hoặc hoạt động xét xử sơ thẩm, hoạt động xét xử phúc thẩm hình sự, trong đó phần nào đề cập tới một số quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự Tuy nhiên, sự đề cập đó mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê ra các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự mà chưa có một công trình nghiên cứu độc lập nào nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về hoạt động sau phiên tòa xét xử

vụ án hình sự, đề cập tới những mặt được và những mặt hạn chế, vướng mắc của hoạt động này

Về mặt thực tiễn công tác, với vị trí là một chuyên viên của Viện kiểm sát nhân dân, một kiếm sát viên tương lai, việc nghiên cứu vấn đề hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự lại càng có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong bối cảnh pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay vẫn đang duy trì chức năng kiểm sát hoạt động xét xử đối với Tòa án của Viện kiểm sát Quá trình nghiên cứu sẽ giúp người thực hiện đề tài có tầm nhìn bao quát về những hoạt động cần phải thực hiện sau phiên tòa của các cơ quan, tổ chức có liên quan, từ đó xác định cần kiểm sát những vấn đề gì, những vấn đề gì hay bị vi phạm, những vấn đề nào không cần sự kiểm sát của Viện kiểm sát, v.v Mặt khác, luận văn cũng sẽ giúp các cơ quan, người tiến hành tố tụng hiểu rõ hơn

về hoạt động của ngành bạn, từ đó có thể hỗ trợ, phối hợp giúp đỡ nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sau phiên tòa Đặc biệt, công trình nghiên cứu

sẽ giúp người tham gia tố tụng, tổ chức, cá nhân khác có thêm những kiến thức về quyền, nghĩa vụ của mình sau phiên tòa, từ đó có thể thuận lợi thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trên thực tế

Với những lý do trên cho thấy việc nghiên cứu các quy định của pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải

Trang 9

4

pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng

Chính vì vậy, người nghiên cứu đã lựa chọn đề tài "Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo quy định pháp luật Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức

độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về các hoạt động của

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn xét xử, trong đó ít nhiều cũng đã đề cập đến những hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ

án hình sự

Cấp độ luận văn thạc sỹ Luật học có các đề tài của các tác giả như: Tôn Thất Cẩm Đoàn, Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự: Lý luận và thực tiễn

áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Khoa luật, 2002; Nguyễn Thị Hoàng, Xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Khoa luật, 2006; Nguyễn Hồng Phương, Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoa luật, 2012; Nguyễn Thị Lan Hương, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, Khoa luật, 2012, Ngô Huyền Nhung, Giai đoạn xét xử sơ thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật, 2012; Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Hải Phòng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa luật, 2012; v.v

Bên cạnh đó sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học có các công

trình sau: Mai Thanh Hiếu - Nguyễn Chí Công, Trình tự, thủ tục giải quyết vụ

án hình sự, Hà Nội – 2008; Đinh Văn Quế, Trình tự thủ tục xét xử các vụ án hình sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Nxb Tp Hồ Chí

Trang 10

5

Minh – 2003; Hoàng Văn Hạnh, Giai đoạn xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp

trường, Trường đại học Luật Hà Nội, 2003; v.v

Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có một phần nội dung đề cập đến những hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án

hình sự: Th.s Nguyễn Thị Thủy, Hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2009; Thái Chí Bình, Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2003; Nguyễn Huy Tiến, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,

số 1/2010; Đinh Thế Hưng, Quan hệ giữa các cơ quan công tố với điều tra và xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2011; Phạm Văn An, Một số kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự tại phiên tòa hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 10/2011, v.v

Như vậy, ở nước ta đã có nhiều công trình nhiên cứu về các vấn đề xung quanh giai đoạn xét xử vụ án hình sự, nhưng nhìn một cách tổng quan có thể khẳng định hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo pháp luật hiện hành Bởi các công trình đó chủ yếu chỉ đề cập đến thủ tục tố tụng, các hoạt động diễn ra trước và trong phiên tòa; hoạt động diễn ra sau phiên tòa được đề cập tới rất ít và không có sự phân tích, bình luận, nhận xét về thực trạng cũng như phương hướng hoàn thiện các quy

định pháp luật về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng định

việc nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động sau

Trang 11

6

phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam" là đòi hỏi khách

quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn

3 Mục đích và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cƣ́u

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nêu và phân tích các quy định của Bộ luật TTHS cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử

vụ án hình sự nhằm mục đích : đưa ra khái niệm và đặc điểm của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự , từ đó phân biệt với các hoạt động tố tụng khác; đánh giá được sự hình thành và phát triển các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự từ sau năm 1945 đến nay Từ kết quả đó , nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử

vụ án hình sự trên thực tế, những tồn tại, hạn chế; nguyên nhân của những tồn tại đó và đưa ra các giải pháp nâng cao hiê ̣u quả áp du ̣ng các quy đi ̣nh của pháp luật về hoạt động sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự

3.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự như: Khái niệm, đặc điểm của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự; phân biệt hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình

sự với hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án;

- Nghiên cứu các quy định cụ thể về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ

án hình sự trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt

Nam, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;

- Nghiên cứu , đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định hiê ̣n hành về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của nó;

Trang 12

7

- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt này trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Theo quy đi ̣nh ta ̣i Hiến pháp nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam, nước ta thực hiê ̣n chế đô ̣ hai cấp xét xử; vì vậy Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh hoạt động sau phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự ; nghiên cứu các quy đi ̣nh của pháp luật về tố tụng hình sự hiện hành, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng các quy đi ̣nh này của các Cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng và các cá nhân, tổ chức khác trong thực tiễn Luâ ̣n văn cũng sẽ làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả của các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tổng quan các quy định có liên quan trong lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng hình sự của nước ta từ năm 1945 đến nay; nghiên cứu các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự năm trong Luật

tố tụng hình sự 2003 và các văn bản pháp luật hướng dẫn khác Đồng thời, luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài từ các báo cáo tháng, năm từ đơn vi ̣ nơi cá nhân công tác – Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nô ̣i từ năm 2011-2014

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về

Trang 13

8

Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luận

chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện

lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, học viên chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan tiến hành

tố tụng, đặc biệt là cơ quan Tòa án và Viện Kiểm sát để hoạt động sau phiên tòa được thực hiện, góp phần phát huy tối đa hiệu quả của các hoạt động tố tụng khác – hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Đặc biệt luận văn sẽ giúp các tổ chức, công dân trong xã hội nhận thức rõ hơn

Trang 14

9

quyền – nghĩa vụ của mình, của các cơ quan tiến hành tố tụng – những vấn đề được quy định rất ít và rải rác trong các văn bản pháp luật, từ đó thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ này trên thực tế

7 Kết cấu của luâ ̣n văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vu ̣

án hình sự

Chương 2 Hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo quy định

của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

Chương 3 Các giải pháp nân g cao hiê ̣u quả thi hành quy đi ̣nh của Bô ̣

luâ ̣t Tố tụng hình sự 2003 về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự

Trang 15

10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Trình tự tố tụng hình sự (TTHS) bao gồm nhiều bước, diễn ra liên tục,

hỗ trợ nhau: giai đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử (bao gồm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm); giai đoạn thi hành bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trong đó, giai đoạn xét xử là giai đoạn trung tâm Chính vì tầm quan trọng của xét xử như vậy , mà đối với

mô ̣t vu ̣ án , dư luâ ̣n không chỉ quan tâm tới nô ̣i dung diễn biến ta ̣i phiên tòa mà còn quan tâm tới các hoa ̣t đô ̣ng diễn ra sau phiên tòa đó

Có thể nói rằng ho ạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là khái niệm chưa được nghiên cứu sâu và đầy đủ trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước tới nay Để đưa ra được khá i niê ̣m này , cần thiết nghiên cứu mô ̣t số khái niê ̣m liên quan như : hoạt động, hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động hành chính tư pháp

Theo Triết ho ̣c , hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người Hoạt động được Luâ ̣n văn nghiên cứu là nh ững hoạt động diễn ra sau phiên tòa xét xử các vụ án hình sự Hiện nay, kết thúc phiên tòa xét xử có hai cách hiểu khác nhau: kết thúc phiên tòa theo lịch công việc và kết thúc phiên tòa theo bản chất công việc

Kết thúc phiên tòa theo lịch công việc là sự kết thúc đã được định sẵn

theo kế hoạch, thường được thể hiện trong lịch phiên tòa, quyết định đưa vụ

án ra xét xử Hết thời điểm được định sẵn đó, phiên tòa được coi là kết thúc

Cụ thể, đến thời điểm này, vụ án được đưa ra xét xử và kết thúc khi Tòa án ra

Trang 16

11

một quyết định tố tụng bất kỳ (bản án, quyết định hoãn phiên tòa, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, ), quyết định này có thể đã giải quyết được nội dung vụ án hoặc cũng có thể chưa; sau khi kết thúc phiên tòa, vụ án có thể được xóa khỏi sổ thụ lý (trường hợp ra bản án, đình chỉ xét xử, ), nhưng cũng có thể vẫn là án tồn tại Tòa (trường hợp tạm đình chỉ, hoãn phiên tòa, )

Kết thúc phiên tòa theo bản chất công việc là sự chấm dứt hoàn toàn vụ

án, được biểu hiện bằng việc đưa ra một quyết định giải quyết nội dung của

vụ án như: bản án, quyết định đình chỉ, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, v.v Lúc này, Tòa án chấm dứt việc giải quyết đối với vụ án Hay nói cách khác, sau khi kết thúc phiên tòa, vụ án không còn được coi là án chưa giải quyết (án tồn) tại Tòa án nữa

Như vậy, theo phân tích trên, khái niệm kết thúc phiên tòa theo bản chất công việc hẹp hơn khái niệm kết thúc phiên tòa theo lịch công việc Thời điểm kết thúc phiên tòa được luận văn nghiên cứu được hiểu theo nghĩa thứ nhất

Theo nguyên tắc hai cấp xét xử được quy đi ̣nh trong Hiến Pháp và Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành, Tòa án thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử nên thuật ngữ “phiên tòa” được đề cập trong Luận văn là phiên tòa

sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm xét xử vu ̣ án hình sự

Các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự bao gồm các hoạt

đô ̣ng tố tụng hình sự, hoạt động hành chính tư pháp và các hoạt động khác

Hoạt động tố tụng hình sự sau phiên tòa là toàn b ộ hoạt động của các

chủ thể TTHS sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự nhằm hư ớng tới việc giải quyết cũng như kết quả vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

Hoạt động hành chính tư pháp sau phiên tòa được hiểu là các quy

trình, thủ tục mang tính chất hành chính hỗ trợ cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, giải quyết các yêu cầu của người dân sau các phiên

Trang 17

12

tòa xét xử và các hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo của các

cơ quan tiến hành tố tụng Hoạt động này bao gồm các công việc như: việc tiếp dân; tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện, cấp sao lục bản án, quyết định của Tòa án, v.v

Các hoạt động khác sau phiên tòa là hoạt động của những người bị kết

án, bị cáo, người giám hộ của họ, luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, bị cáo, Trong thực tế, một vụ án mang theo sự quan tâm của rất nhiều người, của cả xã hội, vì vậy, bên cạnh các những chủ thể tiến hành tố tụng được thực hiện những hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động hành chính tư pháp thì một bộ phận lớn các chủ thể khác: người tham gia tố tụng, cơ quan báo chí, các cá nhân, cơ quan, tổ chức xã hội khác liên quan đến vụ án Tuy nhiên thể hiện quyền và nghĩa vụ sau phiên tòa rõ nét nhất chính là các chủ thể đã đề cập đến ở trên: người bị kết án, bị cáo, người đa ̣i diê ̣n, luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, bị cáo

Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niê ̣m sau về hoa ̣t đô ̣ng sau

phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự: hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là các hoạt động diễn ra giữa hai giai đoạn chính của tố tụng hình sự là xét xử và thi hành án hoặc xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm , trong đó, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bị cáo và các tổ chức, cá nhân khác thực hiê ̣n các hoạt động tố tụng, hoạt động hành chính tư pháp hoặc thực hiê ̣n các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật khác để viê ̣c giải quyết vụ án theo đúng trình tự , thời gian do pháp luật quy đi ̣nh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS

1.2 Đặc điểm của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Thứ nhất, các hoạt động sau phiên tòa bao gồm đa dạng các hoạt động:

tố tụng hình sự, hành chính tư pháp và các hoạt động khác Như đã phân tích trong phần khái niệm, hoạt động sau phiên tòa có thể là hoạt động kháng cáo

Trang 18

13

bản án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật hoặc hoạt động kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự chưa có hiệu lực pháp luật hoặc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định hình sự

đã có hiệu lực pháp luật, – đây là những hoạt động TTHS Hoạt động sau phiên tòa còn có thể là các hoạt động như đánh máy, chỉnh sửa bản án, quyết định hình sự, tống đạt các quyết định, – đây là những hoạt động hành chính

tư pháp Cả hai hoạt động này đều có sự tham gia của các chủ thể là đại diện của Cơ quan tư pháp nhà nước là Tòa án và Viện kiểm sát Tuy nhiên, sau phiên tòa còn có sự tham gia của các chủ thể khác nữa như người bị kết án, bị can, bị cáo trong việc viết các đơn khiếu nại, tố cáo, hoạt động thông tin vụ án của các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v Đây là những hoạt động không mang cả tính chất tố tụng và hành chính tư pháp nên được Luận văn gọi là các hoạt động khác

Thứ hai, chủ thể của hoạt động sau phiên tòa đa dạng: Cơ quan tiến

hành tố tụng mà chủ yếu là Tòa án, Viện kiểm sát; người tiến hành tố tụng; bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, v.v Các hoạt động sau phiên tòa chủ yếu là các hoạt động tố tụng hình sự và các hoạt động hành chính tư pháp nên các chủ thể tham gia hoạt động sau phiên tòa cũng chủ yếu là các chủ thể có thẩm quyền tiến hành hoạt động tố tụng hình sự và hoạt động hành chính tư pháp Các hoạt động của các chủ thể là bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của họ và những người tham gia tố tụng khác rất hạn chế Vì vậy, đối với các hoạt động này, Luận văn chủ yếu đi sâu phân tích hoạt động của các chủ thể là bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo

Thứ ba, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự có thể được coi là

một giai đoạn của tố tụng hình sự, mặc dù còn chưa được xem xét là một giai đoạn chính, một giai đoạn độc lập trong chế định của Luật TTHSVN Một

Trang 19

14

giai đoạn của TTHS thường được xác định bởi hai thời điểm là bắt đầu và kết thúc Hoạt động sau phiên tòa đáp ứng được cả hai thời điểm đó Hoạt động này bắt đầu sau khi tại phiên tòa, Tòa án tuyên một trong các văn bản tố tụng sau: Bản án, Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ xét xử đối với vụ án hoặc đối với bị cáo, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Thời điểm kết thúc của hoạt động này là khi Bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án cùng cấp ra Quyết định thi hành án hoặc Tòa án cấp tiếp theo thụ

lý vụ án để xét xử phúc thẩm, xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Như vậy, giai đoạn sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập trong TTHS VN Tuy nhiên, giai đoạn này hiện nay còn có sự bỏ ngỏ, chưa được quy định riêng biệt và các thiếu nhiều quy định điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia các hoạt động trong giai đoạn này Vì vậy, điều này

sẽ dẫn đến rất nhiều vướng mắc khi các chủ thể hoạt động này trên thực tiễn Mặc dù vậy, là một giai đoạn độc lập nhưng giai đoạn sau phiên tòa lại không phải là một giai đoạn chính của TTHS TTHS Việt Nam chỉ bao gồm các giai đoạn chính như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Bởi lẽ, đây là những hoạt động thể hiện rõ nét nhất bản chất của TTHS, nhiệm vụ, vai trò của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; tập trung đầy đủ và chủ yếu nhất các hoạt động TTHS - hoạt động đặc trưng của TTHS

Thứ tư, mục đích của hoạt động sau phiên tòa là nhằm mục đích tạo

bước đệm giữa các giai đoạn tố tụng khác, đảm bảo cho kết quả của các giai đoạn tố tụng trước được công bằng, minh bạch, có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo quyền con người; để viê ̣c giải quyết vu ̣ án theo đúng trình tự , thời gian do pháp luâ ̣t quy đi ̣nh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS

1.3 Phân loại hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại các hoạt

Trang 20

Luận văn có sự kết hợp của cả ba cách phân loại trên, trong đó, lấy cách phân loại thứ nhất để thể hiện trong kết cấu

1.4 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình

sự

1.4.1 Vai trò của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự có vai trò rất quan trọng trong tố tụng hình sự nói riêng và trong đời sống pháp luâ ̣t, đời sống xã

hô ̣i nói chung Tuy nhiên, có thể điểm lại ở ba vai trò chính sau:

Thứ nhất, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự thực hiện nhiệm

vụ là cầu nối cho các hoạt động của các giai đoạn khác Điển hình nhất là sự nối tiếp cho giai đo ạn xét xử và giai đoạn thi hành án Các hoạt động sau phiên tòa không những là sự nối tiếp về mă ̣t thời gian (kết thúc phiên tòa – các hoạt động sau phiên tòa – thi hành án ) mà còn là sự nối ti ếp về mặt nội dung công viê ̣c Trong mô ̣t vài trường hợp, nếu không có hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa nào đó thì hoạt động thi hành án sẽ không thể diễn ra Ví dụ, nếu có hoa ̣t

đô ̣ng bắt ta ̣m giam bi ̣ cáo để đảm bảo thi hành án củ a Hô ̣i đồng xét xử trong giai đoa ̣n xét xử thì các hoa ̣t đô ̣ng trong giai đoa ̣n thi hành án đối với bi ̣ cáo

sẽ diễn ra suôn sẻ , tránh được những trường hợp phải tạm đình chỉ do bị cáo trốn Hay nếu không có hoa ̣t đô ̣ng chuyển hồ sơ kháng cáo cho Tòa án cấp

Trang 21

Thứ hai, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự góp phần cho vụ

án được giải quyết hoàn thiê ̣n đúng trình t ự, thủ tục, thời gian Nếu như các giai đoa ̣n tố tu ̣ng trước đó đã được thực hiê ̣n đúng trình tự thủ tu ̣c , nhưng đến sau khi phiên tòa kết thúc , các hoạt động sau phiên tòa không được thực hiện

mô ̣t cách đầy đủ thì vu ̣ án vẫn chưa được c oi là đã được giải quyết triê ̣t để Đối với các hoạt động sau phiên tòa mà Bộ luật TTHS có quy định , nếu các hoạt động này không được thực hiện theo đúng trình tự , thủ tục thì vẫn có thể

bị coi là vi phạm tố tụng , mă ̣c dù không bi ̣ kháng cáo , kháng nghị nhưng vẫn

có thể bị khiếu nại, tố cáo Và quay trở lại, chính việc khiếu nại, tố cáo này sẽ khiến cho vu ̣ án bi ̣ dây dưa , kéo dài, gây mất niềm tin của nhân dân , xã hội vào các cơ quan tiến hành tố tu ̣ng Vì vậy, thực hiê ̣n đúng và đầy đủ các hoa ̣t

đô ̣ng sau phiên tòa sẽ giúp vu ̣ án được hoàn thiê ̣n hơn , hoàn thiện cả về mặt thủ tục và về mặt thời gian

Thứ ba, hoạt động sau phiên tòa góp phần tăng cường pháp chế, đảm

bảo quyền con người Mô ̣t trong những hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa được biết đến là hoạt động kháng cáo , kháng nghị phúc thẩm và hoạt động phát hiện ra các

vi pha ̣m pháp luâ ̣t đ ể kháng nghị hoặc đề nghi ̣ cơ quan có th ẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Đây là những hoa ̣t đô ̣ng biểu hiê ̣n rõ ràng nhất cho công cuô ̣c phát hiê ̣n những khiếm khuyết , thâ ̣m chí là những vi pha ̣m

Trang 22

17

pháp luật, từ đó có thể khắc phu ̣c được các vi ph ạm đó, góp phần tăng cường pháp chế Ngoài ra, việc thực hiê ̣n đúng các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự cũng là thể hiê ̣n sự tôn tro ̣ng pháp luật , đề cao tính tối cao của pháp luật , gìn giữ pháp chế trong xã hội Đảm bảo mo ̣i chủ thể liên quan đến vu ̣ án đều tuân theo pháp luâ ̣t khi thực hiê ̣n quyền và nghĩa vu ̣ của mình sau phiên tòa cũng chính là cơ chế để bảo vê ̣ quyền con người Bởi lẽ quyền của chủ thể này chính là nghĩa vụ của chủ thể khác Các chủ thể khi tham gia hoạt động sau phiên tòa phải tôn trọng và tạo điều kiê ̣n cho các chủ thể còn la ̣i thực hiê ̣n quyền của mình Quyền được kháng cáo là một ví dụ Nếu bi ̣ c áo thấy bản án còn có vi phạm hoặc chưa tương xứng với hành vi của mình thì bi ̣ cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định để tìm lại sự công bằng Trên thực tế, rất nhiều vu ̣ án được đưa

ra xét xử nhiều lần , ở nhiều cấp khác nhau , và quyết định cuối cùng lại khác với quyết đi ̣nh ban đầu Như vâ ̣y, phải chăng là công lý đã được tìm thấy , quyền con người của bi ̣ cáo đã được bảo vê ̣ Ngoài ra các hoạt động khác như hoạt động được n hâ ̣n bản án, các quyết định tố tụng , hoạt động bắt tạm giam đúng pháp luâ ̣t của Tòa án đối với bi ̣ cáo để đảm bảo thi hành án , quyền thực hiê ̣n viê ̣c khiếu na ̣i , tố cáo trong tố tụng hình sự, v.v đều mang trong mình các nội dung về việc đảm bảo quyền con người và thể hiê ̣n tính dân chủ trong

Tố tụng hình sự của Nhà nước ta

1.4.2 Ý nghĩa của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Về mặt lý luận, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự góp phầ n

thực hiê ̣n đúng đắn các quy đi ̣nh của BLTTHS Bên ca ̣nh đó, đa phần các hoa ̣t

đô ̣ng sau phiên tòa được quy đi ̣nh trong các văn bản nghiê ̣p vu ̣ nô ̣i bô ̣ , vì vậy tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa sẽ giúp hoàn thiê ̣n , thực hiê ̣n triê ̣t để được các hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa đã được quy đi ̣nh trong Luâ ̣t , từ đó, các quy

Trang 23

18

đi ̣nh nghiê ̣p vu ̣ tiến bô ̣ dần dẫn có thể được pháp điển hóa thành các quy đi ̣nh của pháp luật TTHS

Về mặt pháp lý, thứ nhất, hoạt động sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự

góp phần làm cho hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử của người, cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng đư ợc thực hiê ̣n đúng pháp luâ ̣t , kịp thời phát hiê ̣n và khắc phu ̣c các vi pha ̣m pháp luâ ̣t trong các quyết đi ̣nh, hành vi tố tụng đó Thứ hai, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là bước đệm , tạo điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho các hoa ̣t đô ̣ng ở các giai đoa ̣n tố tu ̣ng tiếp theo

Về mặt xã hội, hoạt đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự góp phần

bảo vệ lợi ích của Nhà nước , quyền và lợi ích hợp pháp của Cơ quan , tổ chức, cá nhân, phát huy quyền tự do , dân chủ của các chủ thể này Không có các hoạt động sau phi ên tòa thì quyền và lợi ích của các chủ thể nêu trên chưa được thực hiê ̣n triê ̣t để Trong quá trình tố tu ̣ng , đa phần các chủ thể đều phải thực hiện các nghĩa vụ nhiều hơn là được hưởng quyền : cung cấp thông tin , khai báo , giao nô ̣p tài liê ̣u , bị tạm giam , v.v Chỉ đến khi sau phiên tòa, các quyền của các chủ thể mới được thể hiện nhiều hơn như : tìm lại sự công bằng cho người bị hại , người có quyền lợi bi ̣ xâm pha ̣m thì được bồi thường, ngay cả bi ̣ cáo cũng có các quyền như : được giao nhâ ̣n bản án , được gă ̣p người thân thích trước khi chấp hành hình pha ̣t ,v.v Tất cả những hoạt động này đồng thời cũng thể hiện ý nghĩa , chủ trương nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta

1.5 Tổng quan pháp luâ ̣t Tố tụng hình sự về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự từ năm 1945 đến năm 2003

Hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là một bộ phận không thể tách rời của tố tụng hình sự, cho dù chúng có được quy đi ̣nh mô ̣t cách chính thức trong các văn bản pháp luâ ̣t hay không Về mă ̣t pháp luâ ̣t , từ năm 1945 đến nay, cùng với sự thay đổi của các thời kỳ lịch sử , các quy định về các

Trang 24

19

hoạt động sa u phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự đã và đang có sự phát triển rõ

rê ̣t, từ chỗ chưa được ghi nhâ ̣n trong các văn bản pháp lý đến chỗ được ghi nhâ ̣n mô ̣t cách khái quát, rồi quy đi ̣nh ngày càng chi tiết và tiến bô ̣ hơn

Trước Cách mạng tháng Tám hệ thống pháp luật TTHS đã có những quy

đi ̣nh về chế đô ̣ xét xử , số lượng, nhiê ̣m vu ̣ của các thẩm phán , lục sự, thư ký, tần suất tổ chức mô ̣t phiên tòa, v.v… [8] Tuy nhiên, tại các văn bản này, những hoạt đô ̣ng sau phiên tòa la ̣i chưa được đề câ ̣p , quy đi ̣nh một cách chính thức Mặc dù vậy, các hoạt động này vẫn diễn ra như một phần không thể tách rời sau khi kết thúc một vụ án hình sự, tất nhiên là những hoạt động này được thực hiê ̣n mô ̣t các tùy nghi, theo kinh nghiê ̣m, tiền lê ̣ của chính các cơ quan đó

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi , miền Bắc tiến hành xây dựng các thể chế xã hô ̣i chủ nghĩa , trong đó pháp luâ ̣t tố tụng hình sự dần được chú ý Đỉnh cao của thời kỳ này là viê ̣c Quốc hô ̣i quyết đi ̣nh Tòa án nhân dân tối cao và hê ̣ thống các Tòa án đi ̣a phương, Viê ̣n công tố trung ương cùng hệ thống Viện công tố các cấp vào năm 1958 Để rồi trên cơ sở Hiến pháp 1959, Luâ ̣t tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành Ở Miền Nam, sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc lệnh số 01 ngày 15/3/1976 về tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp Tại các văn bản này , ít nhiều đã có quy định gián tiếp về các hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa Ví dụ, theo Điều 9 và Điều 10 Luâ ̣t tổ chức Tòa án nhân dân 1960 thì các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự bao gồm một số hoạt động như:

- Hoạt động chống án của đương sự : Sau phiên tòa, đương sự có quyền chống bản án hoă ̣c quyết định của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên một cấp

- Hoạt động kháng nghị của Viện Kiểm sát

Trang 25

- Kháng nghị phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà

án nhân dân cùng cấp và cấp dưới một cấp;

- Báo cáo lên VKSND TC về các sai lầm trong bản án hoặc các quyết

đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t của Tòa án cấp mình hoă ̣c cấp dưới để Viện kiểm sát nhân dân tối cao để kháng nghị [27]

Như vâ ̣y, dù quy đi ̣nh mô ̣t cách trực tiếp hay gián tiếp nhưng những nô ̣i dung trên về hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa cũng đã góp phần vào công cuô ̣c bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi

Năm 1980, Quốc hô ̣i thông qua Hiến Pháp mới Trên cơ sở đó , Luâ ̣t tổ chức Tòa án nhân dân và Luâ ̣t t ổ chức VKSND năm 1981 thay thế các Luâ ̣t này từ năm 1960 Các văn bản pháp luật mới đã có sự quy định chi tiết hơn , góp phần đáng kể vào việc khắc phục những thiếu sót , sai lầm trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hình sự , tuy nhiên hầu hết các nô ̣i dung này vẫn được hiểu mô ̣t cách gián tiếp như những quy định trong các văn bản trước đây

Trang 26

- Hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm;

- Hoạt động kiến nghị của Tòa án với các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân khắc phục những thiếu sót trong công tác quản lý đã là nguyên nhân hoặc điều kiện phát sinh tội phạm hoặc việc làm vi phạm pháp luật;

- Hoạt động nghiên cứu và thực hiện những chủ trương, biện pháp nhằm phòng ngừa và chống các tội phạm và các việc làm vi phạm pháp luật [28]

Quy đi ̣nh ta ̣i Luâ ̣t tổ chức Viện kiêm nhân dân 1981 cho thấy có các hoa ̣t

đô ̣ng sau phiên tòa như hoạt động Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp và giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết

đi ̣nh đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới [29, Điều 13]

Năm 1988 đánh dấu mô ̣t bước ngoă ̣t trong pháp luâ ̣t Tố tụng hình sự Viê ̣t Nam và cũng từ đây các hoa ̣t đô ̣ng sau phiên tòa được quy đi ̣nh mô ̣t cách

cụ thể, chi tiết hơn Xuất phát từ thực tế xã hô ̣i đang chuyển biến , xây dựng nền kinh tế thi ̣ trường , căn cứ vào thực tế các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t tố tụng hình sự đơn hành chưa toàn diê ̣n , đầy đủ Chính vì vậy, ngày 28/6/1988, Quốc hô ̣i nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam đã thông qua Bô ̣ luâ ̣ t tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta - Bô ̣ Luâ ̣t Tố tụng hình sự năm1988, sau đó sửa đổi bổ sung lần thứ nhất vào năm 1990, sửa đổi lần thứ hai năm 1992, sửa đổi lần thứ ba năm 2000 Trên tinh thần lấy dân làm gốc, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân , xử lý kiên quyết và triê ̣t để mo ̣i hành vi pha ̣m

Trang 27

22

tô ̣i, không ha ̣n chế quyền của bi ̣ can , bị cáo và những người tham gia tố tụng ; bảo đảm hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ p háp luật trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tô ̣i pha ̣m trong tình hình mới , các hoạt động sau phiên tòa phần nào đã được quy đi ̣nh trong các điều luâ ̣t cu ̣ thể như:

Điều 174 đề cập tới hoạt động kiểm tra , xem biên bản phiên tò a: sau khi kết thúc phiên toà, chủ toạ phiên toà phải kiểm tra biên bản và cùng với thư ký phiên toà ký vào biên bản đó; bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của những người đó được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận [30]

Điều 199 đề cập tới hoạt động yêu cầu yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý [30]

Điều 203 đề cập tới hoạt động giao bản án:

Chậm nhất là mười lăm ngày sau khi tuyên án, Toà án phải giao bản sao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, gửi bản sao bản án cho những người bị xử vắng mặt và thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi

bị cáo cư trú hoặc làm việc Trong trường hợp xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm b, khoản 2 Điều 162 Bộ luật này thì trong thời hạn nói trên bản sao bản án phải được niêm yết tại trụ

sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Toà án cấp trích lục bản

án hoặc bản sao bản án [30]

Điều 207, 208 đề cập tới hoạt động, thời hạn kháng cáo, kháng nghị:

Trang 28

23

1- Người kháng cáo phải gửi đơn đến Toà án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo

Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã

xử sơ thẩm về việc kháng cáo Toà án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó

2- Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản, có nói rõ lý do Kháng nghị được gửi đến Toà án đã xử sơ thẩm [30, Điều 207] Tuy nhiên, dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội , Bô ̣ luâ ̣t TTHS

1988 không còn phù hợp nữa, Bô ̣ luâ ̣t TTHS 2003 ra đời nhằm nâng cao chất lượng hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu của cuô ̣c đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới ; nêu cao hơn nữa trách nhiê ̣m của

Cơ quan nhà nước đối với công dân , đảm bảo quyền tự do , dân chủ của công dân đã được hiến pháp và pháp luâ ̣t quy đi ̣nh ; đề cao nhiệm vụ và xác định chức năng, nhiê ̣m vu ̣ của các cơ quan và người tiến hành tố tu ̣ng , xác định rõ hơn quyền và nghĩa vu ̣ của những người tham gia tố tu ̣ng ; các quy định về trình tự, thủ tục tố tụn g được sửa đổi rõ ràng , cụ thể, dễ hiểu, có tính khả thi hơn, tạo điều kiện cho những người tiến hành và tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiê ̣m của mình [52]

Trang 29

24

Chương 2 HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003

2.1 Hoạt động sau phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu thấy có đầy đủ các điều kiện thì Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử Thực tiễn cho thấy sau khi khai mạc phiên tòa thì không phải trong mọi trường hợp Hội đồng xét xử sơ thẩm đều ra Bản án mà tùy theo từng trường hợp cụ thể sẽ ban hành các quyết định tương ứng Sau mỗi quyết định tương ứng đó là các hoạt động cần thiết phải tiến hành

2.1.1 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra Bản án

Bản án hình sự sơ thẩm là kết quả xét xử của quá trình truy cứu TNHS người pha ̣m tô ̣i do Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên ta ̣i phiên tòa sơ thẩm , mà trong đó quyết đi ̣nh về viê ̣c người bi ̣ đưa ra xét xử có bi ̣ coi là có tô ̣i hay không có tô ̣i, cũng như về việc có áp dụng hay không áp dụng hình phạt , biê ̣n pháp cưỡng chế về hình sự khác đối với người đó theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luâ ̣t TTHS

Trong thực tế, Tòa án sơ thẩm có thể tuyên 4 dạng bản án sau:

- Bản án tuyên vô tội , theo đó, người bi ̣ xét xử ta ̣i phiên tòa không bi ̣ Tòa án tuyên coi là có tội nên không phải chịu TNHS

- Bản án tuyên hành vi của người pha ̣m tô ̣i có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng có căn cứ để miễn TNHS cho người pha ̣m tô ̣i theo các quy định của pháp luật hình sự

- Bản án kết tội tuyên người bi ̣ kết án là có tô ̣i, nhưng nhâ ̣n thấy có căn

cứ để miễn hình phạt cho họ và có thể kèm theo việc áp dụng biện pháp tư pháp nhất định theo các quy định của pháp luật hình sự

Trang 30

25

- Bản án kết tội tuyên người bị kết án là có tội và phải chịu hình phạt , đồng thời còn có thể kèm theo viê ̣c áp du ̣ng biê ̣n pháp tư pháp nhất đi ̣nh theo các quy định của pháp luật hình sự

2.1.1.1 Hoạt động của Tòa án

Sau khi kết thúc một phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án mà

cụ thể là các thư ký và thẩm phán phải thực hiện nhiều thao tác nghiệp vụ để

vụ án được hoàn tất Có thể nói , trong tất cả các chủ thể , Tòa án là chủ thể thực hiện nhiều hoạt động sau phiên tòa nhất và hầu hết các hoạt động này đều là các hoạt động mang tính chất quan trọng, bắt buộc phải thực hiện

Hoạt động của Tòa án cấp sơ thẩm

Đầu tiên và cũng là phổ biến nhất, hoạt động phát hành bản án , cấp trích lục, bản sao bản án

Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm , Thư ký Tòa án cần kiểm tra biên bản phiên tòa , ký và sửa đổi bổ sung biên bản phiên tòa Thư ký vào sổ kết quả, lấy số, đánh máy bản án, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng chỉnh theo mẫu ban hành khi Thẩm phán yêu cầu , soát xét và trình thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ký theo mẫu bản án hình sự sơ thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, Tiếp theo, Tòa án sẽ tiến hành việc giao , gửi hoă ̣c niêm yết bản án Hoạt động này được quy định cụ thể và chi tiết tại Điều 229 BLTTHS 2003 Theo đó, những đối tượng mà Tòa án bắt buộc phải giao bản án là: người đã tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người bào chữa, người bị xử vắng mặt, cơ quan công an cùng cấp Những đối tượng mà Tòa án không bắt buộc phải giao bản án là: người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ Tòa án có thể “cấp” bản sao bản án khi những chủ thể này có yêu cầu, hoặc không “cấp” bản sao bản án mà chỉ cung cấp cho họ trích lục bản án Ngoài việc phải giao bản án, Tòa án còn phải thực

Trang 31

26

hiện việc niêm yết bản án trong trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo Việc niêm yết này được thực hiện tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo, được lập thành biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án

Cùng với đó , khi kết thúc một vụ án , Thư ký Tòa án soa ̣n thảo Thông báo kết quả xét xử trình Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ký rồi gửi đến chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc

Ngoài hoạt động giao bản án, Tòa án còn thực hiện một số các thao tác nghiệp vụ khác như:

Hoạt động sắp xếp lại hồ sơ vụ án, đánh số thứ tự tiếp theo và lập bản kê

tài liệu hồ sơ Nếu hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì chuyển hồ sơ vu ̣

án lên cho Tòa án cấp phúc thẩm; nếu hồ sơ vụ án không có kháng cáo, kháng nghị hoặc kháng cáo quá hạn không được chấp nhận thì chuyển cho bộ phận lưu trữ Đối với hồ sơ vụ án hình sự có bị cáo bị xử phạt tử hình thì dù không

có kháng cáo, kháng nghị thì sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ

vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thư

ký TAND tối cao) và bản án phải được gửi ngay lên Viện VKSND tối cao

Hoạt động ban hành ki ến nghị sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý để gửi riêng cho các cơ quan, tổ chức hữu quan Đây là

những kiến nghi ̣ chưa đề câ ̣p trong b ản án, quyết định tố tụng mà cần phải ban hành riêng [32, Điều 225]

Hoạt động tiến hành các thủ tục để tr ả tự do cho bị cáo quy đi ̣nh ta ̣i

Điều 227 BLTHS hoặc bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án quy định tại Điều

228 BLTTHS Sau khi kết thúc phiên tòa, trong trường hợp phải trả tự do cho

bị cáo đang bị tạm giam ngay tại phiên Tòa , thư ký sẽ soạn thảo Quyết định trả tự do cho bị cáo theo mẫu 5d ban hành kèm Nghi ̣ quyết 04/2004/NQ-HĐTP trình thẩm phán – chủ tọa phiên tòa ký Đối với trường hợp bắt tạm

Trang 32

27

giam bi ̣ cáo ngay sau khi tuyên án, thư ký sẽ soa ̣n Quyết đi ̣nh bắt và ta ̣m giam theo mẫu 1đ (nếu bi ̣ cáo không bi ̣ ta ̣m giam ) ban hành kèm Nghi ̣ quyết 04/2004/NQ-HĐTP trình thẩm phán – chủ tọa phiên tòa ký Cũng giống như các quyết định tạm đình chỉ , đình chỉ vu ̣ án , BLTTHS hiê ̣n hành chưa q uy

đi ̣nh thời ha ̣n , chủ thể được nhận các quyết định tố tụng này Vì vậy, cũng như đã phân tích ở trên , căn cứ vào thời ha ̣n được kháng nghi ̣ phúc thẩm các quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của VKS thì những Quyết đi ̣nh này phải được g ửi cho VKS trong vòng 7 ngày, kể từ ngày Tòa án ban hành Quyết đi ̣nh này

Hoạt động tiếp nhận đơn kháng cáo, kháng nghị và thông báo bằng văn

bản về việc kháng cáo, kháng nghị cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị [32, Điều 236] Thủ tục cụ thể của hoạt động này như sau : đối với những đơn kháng cáo , quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ nhâ ̣n trực tếp , Thư ký Tòa án sẽ vào sổ nhận đơn kháng cáo , quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ Nếu người kháng cáo trình bày trực tiếp về việc kháng cáo thì tiến hành lập biên bản về viê ̣c kháng cáo theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 95 BLTTHS và theo mẫu 01a ban hành kèm Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm

2003 Nếu đơn kháng cáo được gửi qua Bưu điê ̣n thì thư ký ghi vào sổ nhâ ̣n đơn ngày công văn đến , lưu kèm đơn kháng cáo , quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ là phong bì có đóng dấu của bưu điê ̣n nơi gửi để xác đi ̣nh ngày kháng cáo , kháng nghị Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thi ̣ Tra ̣i ta ̣m giam hoă ̣c nhà ta ̣m giữ thì Tòa án phải yêu cầu ban giám thi ̣ tra ̣i ta ̣m gi am hoă ̣c nhà ta ̣m giữ xác nhâ ̣n ngày nhâ ̣n đơn và thu ̣ lý đơn như trường hợp gửi qua bưu điê ̣n [32, Điều 324]

Hoạt động kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo , kháng nghị Theo yêu

cầu của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Thư ký kiểm tra kháng cáo, kháng nghị xem có hợp lê ̣ không theo cách thức sau:

Trang 33

28

Nếu chủ thể, nội dung và thời hạn kháng cáo , kháng nghị đúng v ới những quy định pháp luật TTHS thì căn cứ vào Điều 236 BLTTHS, Thư ký giúp Thẩm phán soạn thảo thông báo kháng cáo, kháng nghị gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng theo mẫu số 01đ ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP Cùng với đó, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa áp cấp phúc thẩm trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị [32, Điều 327]

Hoạt động tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đây là công viê ̣c được thực hiê ̣n xuyên suốt quá trình giải quyết vu ̣ án Với Tòa

án, thời điểm này bắt đầu từ khi Tòa án thu ̣ lý hồ sơ truy tố từ Viê ̣n kiểm sát cùng cấp chuyển sang Trên thực tế, các đơn khiếu nại, tố cáo thường được gửi trước khi phiên tòa diễn ra vì người gửi hi vo ̣ng những đơn thư đó sẽ đe m la ̣i hiê ̣u quả tích cực đối với viê ̣c giải quyết vu ̣ án Tuy nhiên, viê ̣c gửi đơn khiếu nại, tố cáo vẫn có thể diễn ra sau phiên tòa xét xử vu ̣ án hình sự, những đơn này thể hiê ̣n nội dung kháng cáo – lúc này hoạt động của Tòa án là hướng dẫn người viết đơn viết la ̣i thành đơn kháng cáo và thực hiê ̣n các thao tác nghiê ̣p vu ̣ tiếp nhâ ̣n đơn, thông báo kháng cáo như đã đề câ ̣p ở trên Đối với những đơn không mang tính chất kháng cáo mà đơn thuần chỉ là khiếu na ̣i, tố cáo các quyết đi ̣nh tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, Tòa án cần thực hiện việc phân loại đơn và chuyển đơn đến Cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu nội dung khiếu na ̣i, tố cáo không liên quan đến quyết đi ̣nh tố tu ̣ng, hành vi tố tụng của đơn

vị mình Nếu đơn thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của đơn vi ̣ thì cần vào sổ thu ̣ lý và tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật Cụ thể:

Đối với việc giải quyết khiếu nại, Bô ̣ luâ ̣t TTHS hiê ̣n hành chỉ quy đi ̣nh

thẩm quyền, thời ha ̣n giải quyết khiếu na ̣i trước khi mở phiên tòa Sau phiên tòa, những đơn khiếu na ̣i về nô ̣i dung bản án , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng sẽ được hướng dẫn đ ể người nộp đơn viết lại thành kháng cáo (nếu ho ̣ là những chủ

Trang 34

29

thể được quyền kháng cáo ) Song, những đơn khiếu na ̣i về hành vi tố tu ̣ng , quyết đi ̣nh khác của Thẩm phán ta ̣i phiên tòa như : khiếu na ̣i về quyết đi ̣nh hoãn phiên tòa, khiếu na ̣i về quyết đi ̣nh trả hồ sơ điều tra bổ sung thì sẽ được giải quyết như thế nào, BLTTHS không quy đi ̣nh rõ Trên thực tế, đối với các khiếu na ̣i này vẫn được áp du ̣ng Điều 331 BLTTHS để giải quyết như sau:

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà án trước khi mở phiên tòa do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng [32]

Đối với việc giải quyết tố cáo, quy đi ̣nh dường như có sự cụ thể hơn tại

Điều 337 về Thẩm quyền và thời ha ̣n giải quyết tố cáo Cụ thể , về thẩm quyền, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu

cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết

Trong trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Toà án thì Toà án cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết Về thời ha ̣n , thời hạn giải quyết tố cáo không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá chín mươi ngày [32]

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì tố cáo này

Trang 35

30

được coi như là tin báo , tố giác tô ̣i pha ̣m Vì thế những tố cáo này sẽ được giải quyết theo Điều 103 Bô ̣ luâ ̣t TTHS Tuy nhiên ta ̣i Điều 103, các quy định này mới chỉ đề cập đến trách nhiệm tiếp nhận tin báo , tố giác của Viê ̣n kiểm sát và Cơ quan điều tra Vâ ̣y trong trường hợp này, Tòa án là đơn vị tiếp nhâ ̣n,

vâ ̣y sẽ cần thực hiê ̣n thao tác chuyển đơn tố cáo này tới Viê ̣n kiểm sát hoă ̣c

Cơ quan điều tra; nếu đã thực hiê ̣n viê ̣c xác minh đơn tố cáo và thực sự có vi phạm pháp luật trong đó thì viết kiến nghị khởi tố tớ i Viê ̣n kiểm sát và Cơ quan điều tra Cần chú ý , vấn đề này không được quy đi ̣nh trong BLTTHS

2003, vì vậy, hoạt động trên không mang tính bắt buộc và được thực hiện tùy vào quy chế nghiệp vụ của từng Tòa án

Từ sự phân tích ở trên có thể thấy công tác giải quyết khiếu na ̣i , tố cáo là một hoạt động sau phiên tòa vô cùng quan trọng , góp phần lớn trong việc giải quyết dứt điểm vụ án , đồng thời thông qua những đơn thư đó , Tòa án có thể phát hiê ̣n được những vi pha ̣m pháp luâ ̣t nói chung , vi pha ̣m pháp luâ ̣t trong hoa ̣t đô ̣ng tư pháp nói riêng , từ đó ki ̣p thời có biê ̣n pháp chấn chỉnh , phòng ngừa

Hoạt động của Tòa án cấp trên

Mă ̣c dù không trực tiếp giải quyết mô ̣t vụ án hình sự nhưng Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm cũng được quyền tiến hành mô ̣t số hoa ̣t

đô ̣ng sau phiên tòa như sau:

Hoạt động nghiên cứu bản án và đề nghị của Các cơ quan khác để quyết

đi ̣nh kháng nghi ̣ bản án đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t theo thủ tu ̣c giám đốc thẩm hoặc đề nghị VKS có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (trong trường hợp Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm)

Viê ̣c kháng nghi ̣ giám đốc thẩm được thực hiện theo Điều 275 BLTTHS, kháng nghị tái thẩm được thực hiện theo Điều 293 BLTTHS Theo đó , những chủ thể được quyền kháng nghi ̣ giám đốc thẩm sau khi Tòa án cấp sơ

Trang 36

31

thẩm xét xử mô ̣t vu ̣ án hình sự là : Chánh án Tòa án hoă ̣c Viê ̣n trưởng Viện kiểm sát cấp trên của cấp đã xét xử sơ thẩm (không nhất thiết phải là cấp trên trực tiếp ); thẩm quyền kháng nghi ̣ giám đốc thẩm là Viê ̣n trưởng Viện kiểm sát cấp trên của cấp đã xét xử sơ thẩm (không nhất thiết phải là VKS cấp trên trực tiếp ) [32]

Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đối với khiếu nại Điều 331 Bô ̣ luâ ̣t TTHS quy đi ̣nh 2 trường hợp Tòa

án cấp trên trực tiếp của cấp đã xét xử phải giải quyết khiếu nại là:

Thứ nhất, khi không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng

Thứ hai , khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà án trước khi mở phiên tòa do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng [32]

Đối với tố cáo , Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết tố cáo khi người bị tố cáo là Chánh án Toà án thì Toà án cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết Thời hạn giải quyết tố cáo không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá chín mươi ngày.Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì được giải quyết theo quy định tại Điều 103 của

BL TTHS [32, Điều 337]

2.1.1.2 Hoạt động của Viện kiểm sát

Các hoạt động sau phiên tòa của Viê ̣n kiểm sát được quy định rất rõ ràng trong BLTTHS 2003 và trong Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm

Trang 37

32

sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm quyết định 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007) Theo đó, sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Viê ̣n kiểm sát cấp sơ thẩm cần thực hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng nghiê ̣p vu ̣ sau:

Ngay sau khi phiên tòa kết thúc , Kiểm sát viên phả i kiểm tra biên bản phiên tòa

Theo quy định tại khoản 4 Điều 200 BLTTHS thì Kiểm sát viên được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận Để kiểm tra biên bản phiên tòa, Kiểm sát viên đối chiếu bút ký của mình tại phiên tòa với biên bản phiên toà xem biên bản phiên tòa có ghi đầy đủ hay mâu thuẫn không Nếu phát hiện sai sót thì yêu cầu Hô ̣i đồ ng xét xử sửa chữa , bổ sung để Kiểm sát viên và Thư ký Tòa

Bộ phận kiểm sát điều tra và Kiểm sát xét xử Phúc thẩm của VKSND cấp trên trực tiếp Đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Kiểm sát viên đã tham gia xét xử sơ thẩm làm báo cáo kèm theo các văn bản, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án gửi Viện kiểm sát sẽ xét xử phúc thẩm để giải quyết theo thẩm quyền [47]

Hoạt động kiểm sát việc giao bản án

Sau khi xét xử sơ thẩm xong , Kiểm sát viên kiểm sát việc giao bản án của Hội đồng xét xử bảo đảm việc giao bản án thực hiện theo quy định tại Điều 229 BLTTHS Quy chế cũng quy đi ̣nh việc giao bản án ở đây phải được thể hiện bằng biên bản giao - nhận, có chữ ký của người nhận

Trang 38

33

Hoạt động kiểm sát bản án của Tòa án

Sau khi Tòa án chuyển bản án cho Viê ̣n kiểm sát – trong vòng 10 ngày kể từ ngày tuyên án , Kiểm sát viên phải kiểm tra bản án của Toà án nhằm phát hiện những sai sót và vi phạm của Toà án trong việc ra bản án Khi kiểm tra bản án hoặc quyết định của Toà án Kiểm sát viên căn cứ Điều 224 BLTTHS để tiến hành kiểm sát bản án Nếu phát hiện những vi phạm, thiếu sót của bản án thì phải có hướng xử lý tuỳ theo mức độ Những sai sót nhỏ không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án thì kiến nghị Thẩm phán Chủ toạ phiên toà khắc phục, sửa chữa kịp thời Những thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến bản chất của vụ án, không đúng với thực tế khách quan thì phải xem xét thận trọng, kịp thời đề xuất với Lãnh đạo Viện xem xét quyết định kháng nghị Ngoài việc kiểm sát về nội dung , Kiểm sát viên cũng kiểm sát cả về hình thức cũng như thời hạn gửi bản án của Tòa án sang cho Viện kiểm sát Cần chú ý viê ̣c kiểm sát bản án , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng phải được lâ ̣p dưới da ̣ng văn bản “Phiếu kiểm sát bản, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng” và bản chính phải được lưu vào hồ sơ kiểm sát

Sau đó, phiếu kiểm sát Bản án và Bản án phải được Kiểm sát viên gửi tới đơn vị kiểm sát xét xử phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa ra Bản án [48]

Hoạt động kháng nghị phúc thẩm bản án của tòa án chưa có hiê ̣u lực pháp luật

Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ bản án, quyết định sơ thẩm, Kiểm sát viên báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện, nêu rõ quan điểm có kháng nghị phúc thẩm hay không, lý do kháng nghị

Sau khi đã quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ phúc thẩm, viê ̣c kháng nghi ̣ bản án của Tòa án cấp sơ thẩm thuộc thẩm quyền của cả Viê ̣n kiểm sát cùng cấp và Viê ̣n kiểm sát cấp trên trực tiếp Lúc này, Kiểm sát viên sẽ soa ̣n thảo Kháng nghi ̣

Trang 39

34

theo mẫu số 138 ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007, trình Viện trưởng hoă ̣c Phó Viê ̣n trưởng phu ̣ trách ký Sau đó, quyết định kháng nghị phải được gửi tới Tòa án cấp sơ thẩm Thời ha ̣n kháng nghi ̣ đối với bản án là 15 ngày ở Viện kiểm sát cùng cấp [32, Điều 234]

Hoạt động kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị

Sau phiên toà sơ thẩm , Kiểm sát viên còn phải chú ý kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị Viê ̣c bản án bi ̣ kháng cáo , kháng nghị, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho Viê ̣n kiểm sát cùng cấp trong thời ha ̣n 7 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị [32, Điều 236] Khi tiến hành kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị cần chú ý các quy định tại các điều luật của BLTTHS về những người có quyền kháng cáo; thủ tục kháng cáo và kháng nghị; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; kháng cáo quá hạn; thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị; hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị; bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị

Hoạt động kiến nghị khắc phục vi phạm

Kiến nghi ̣ đối với Tòa án : khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử hình sự, nếu phát hiện Toà án có vi phạm pháp luật trong việc xét xử vụ án thì tuỳ từng trường hợp, Kiểm sát viên tự mình hoặc báo cáo Lãnh đạo Viện kiến nghị với Toà án khắc phục vi phạm Kiến nghị có thể ban hành ngay sau phiên toà, nhưng thường là tổng hợp lại thành một dạng để kiến nghị chung theo định kỳ 6 tháng, 1 năm

Kiến nghi ̣ với cơ quan , tổ chức và đơn vi ̣ hữu quan : khi thực hành

quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, nếu phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện để xem xét kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan khắc phục, áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Hoạt động theo dõi kết quả xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

Trang 40

35

Nếu bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Kiểm sát viên đã giải quyết vụ án phải theo dõi kết quả xét

xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để báo cáo Lãnh đạo Viện và Thủ trưởng đơn

vị Kiểm sát viên cần trực tiếp dự phiên toà phúc thẩm (nhất là đối với các vụ

án có kháng nghị của Viện kiểm sát) Nếu thấy không nhất trí với kết quả xét

xử phúc thẩm, thì Kiểm sát viên nêu rõ lý do, có văn bản báo cáo với Lãnh đạo Viện cấp mình, để Lãnh đạo Viện báo cáo với VKSND tối cao xem xét, kháng nghị giám đốc thẩm

Hoạt động lập, sử dụng và lưu trữ hồ sơ kiểm sát án hình sự

Sau khi kết thúc phiên toà, Kiểm sát viên làm sắp xếp lại hồ sơ kiểm sát, đánh số bút lục, làm danh mục bảng kê các tài liệu có trong hồ sơ kiểm sát… Những tài liệu bổ sung sau này cũng phải được đưa đầy đủ vào hồ sơ kiểm sát Sau đó, Kiểm sát viên chuyển hồ sơ cho bộ phận Văn phòng để lưu trữ Tùy từng đơn vị mà việc lưu trữ có thể triển khai sáu tháng hoặc một năm một lần

Hoạt động giải quyết khiếu nại , tố cáo thuộc t rách nhiệm của V KS trong TTHS Hoạt động này được thực hiện theo quy định của BLTTS và Quy

chế 59/2006-QĐ-VKSTC-V7 về viê ̣c ban hành quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại , tố cáo và kiểm sát viê ̣c giải quyết khiếu na ̣i, tố cáo

thuô ̣c thẩm quyền của viê ̣n kiểm sát

Hoạt động giải quyết khiếu nại

Các đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát là : khiếu nại trong quản lý hành chính và khiếu nại trong hoạt động tư pháp Đối với những đơn này, bô ̣ phâ ̣n giải quyết khiếu tố cần gửi đơn ngay tới lãnh đạo Viện phụ trách khối, các đơn vị có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất, để có biện pháp giải quyết, đồng thời báo tin cho người có đơn biết Thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi hành chính, giải quyết khiếu nại

Ngày đăng: 25/09/2020, 19:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w