ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Phạm Văn Chiến BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA THÚ BIỂN DỰA TRÊN BỘ SƯU TẬP MẪU VẬT ĐƯỢCLƯU TRỮ TẠI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Phạm Văn Chiến
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA THÚ BIỂN DỰA TRÊN BỘ SƯU TẬP MẪU VẬT ĐƯỢCLƯU TRỮ TẠI CÁC BẢO TÀNG VÀ ĐỀN THỜ CÁ ÔNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG VEN BIỂN TỪ QUẢNG NINH TỚI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Phạm Văn Chiến
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA THÚ BIỂN DỰA TRÊN BỘ SƯU TẬP MẪU VẬT ĐƯỢC LƯU TRỮ TẠI CÁC BẢO TÀNG VÀ ĐỀN THỜ CÁ ÔNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG VEN BIỂN TỪ QUẢNG NINH TỚI KHÁNH HÒA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Học viên xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Quân, PGS TS Nguyễn Xuân Huấn, những người thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn học viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Học viên cũngxin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Viện Tài nguyên và Môi trường biển, lãnh đạo phòng Bảo tồn và Đa dạng sinh học biển– Viện Tài nguyên
và Môi trường biển đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để học viên có thể thực hiện được luận văn này
Học viên xin được gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiện cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Sinh học nói chung và bộ môn Động vật học có xương sống nói riêng đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ để học viên có thể hoàn thành chương trình học tại Khoa Sinh học – trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Học viên cũng muốn gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiện Đề tài 15: “Nghiên cứu giải pháp phục hồi hệ sinh thái đầm, hồ ven biển đã bị suy thoái ở khu vực miền Trung” do Viện Tài nguyên và Môi trường biển chủ trì, đã tạo điều kiện cho học viên được sử dụng nguồn số liệu của Đề tài để sử dụng cho luận văn này
KC.08.25/11-Nhân đây học viên cũng xin gửi lời tri ân tới các chuyên gia nước ngoài PGS.TS Chiou-Ju-Yao (Bảo tàng tự nhiên Quốc gia Đài Loan), GS.TS Tadasu Yamada (Bảo tàng tự nhiên Quốc gia Nhật Bản), GS.TS Hinkiu Mok (Đại học Cao Hùng, Đài Loan) đã cung cấp những trợ giúp về mặt kỹ thuật và các ý kiến tư vấn hết sức hiệu quả, giúp học viên hoàn thành luận văn này
Cuối cùng học viên cũng muốn gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè những người luôn bên cạnh giúp đỡ, là chỗ dựa tinh thần để học viên có thể hoàn thành luận văn này
Hải Phòng, tháng 12 năm 2013
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về thú biển 4
1.1.1 Vị trí phân loại của thú biển 4
1.1.2 Đặc điểm sinh học của thú biển 5
1.2 Tình hình nghiên cứu thú biển 16
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 19
Chương 2 – TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 21
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 22
2.2 Tài liệu và thiết bị nghiên cứu 22
2.2.1 Tài liệu nghiên cứu 22
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2 Phương pháp định loại mẫu vật 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Thành phần loài thú biển trong khu vực nghiên cứu 37
3.1.1 Mẫu vật thu tại Quảng Ninh 37
3.1.2 Mẫu vật thu tại Hải Phòng 40
3.1.3 Mẫu vật thu tại Thanh Hóa 43
3.1.4 Mẫu vật thu tại Hà Tĩnh 44
3.1.5 Mẫu vật thu tại Quảng Bình 45
3.1.6 Mẫu vật thu tại Quảng Ngãi 46
3.1.7 Mẫu vật thu tại Khánh Hòa 50
3.2 Ghi nhận về thú biển ở một số vùng biển trong khu vực nghiên cứu 55
3.3 Mô tả đặc điểm các loài thú biển phát hiện trong khu vực nghiên cứu 57
3.4 Các loài quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa, tuyệt chủng 80
Trang 53.5 Khóa định loại các loài thú biển trong khu vực nghiên cứu 81
3.5.1 Khóa định loại dựa trên đặc điểm hình thái 81
3.5.2 Khóa định loại dựa trên đặc điểm bộ xương 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Địa điểm thu mẫu 22
Bảng 2.2 Các mẫu vật được thu thập và nghiên cứu 23
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu hình thái ngoài của cá voi và cá heo 26
Bảng 2.4 Các số đo hộp sọ cá heo 27
Bảng 2.5 Các số đo hộp sọ cá voi 29
Bảng 3.1 Số đo một số mẫu hộp sọ ở vườn Quốc gia Bái Tử Long 38
Bảng 3.2 Số đo bộ xương Cá voi xám ở Bảo tàng Quảng Ninh 39
Bảng 3.3 Số đo mẫu cá heo ở Hải Phòng 42
Bảng 3.4 Số đo hộp sọ cá heo ở Quảng Ngãi 49
Bảng 3.5 Số đo hộp sọ Cá heo đốm nhiệt đới trưởng thành ở Khánh Hòa 52
Bảng 3.6 Danh lục các loài thú biển trong khu vực nghiên cứu 54
Bảng 3.7 Thành phần loài thú biển so với những nghiên cứu trước 54
Bảng 3.8 Ghi nhận về thú biển ở một số vùng biển trong khu vực nghiên cứu 56
Bảng 3.9 Mức đe dọa của các loài thú biển theo Sách đỏ Việt Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN năm 2013 80
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá voi 6
Hình 1.2 Hình dạng cột nước do các loài cá voi tạo ra 7
Hình 1.3 Hình dạng ngoài của bò biển 8
Hình 1.4 Hình dạng ngoài của bộ ăn thịt 9
Hình 1.5 Bộ xương của thú biển 10
Hình 1.6 Hộp sọ của thú biển 11
Hình 1.7 Cột sống của thú biển 13
Hình 1.8 Xương chi của thú biển 14
Hình 2.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu 22
Hình 2.2 Đặc điểm Họ Eschrichtiidae 33
Hình 2.3 Đặc điểm Họ Banaenopteridae 34
Hình 2.4 Đặc điểm Họ Physeteridae 35
Hình 2.5 Đặc điểm họ Kogiidae 35
Hình 2.6 Đặc điểm Họ Delphinidae 36
Hình 2.7 Đặc điểm họ Phocoenidae 36
Hình 3.1 Mẫu thu tại Quảng Ninh 37
Hình 3.2 Mẫu thu tại Hải Phòng 42
Hình 3.3 Cá voi Balaenopterasp ở Thanh Hóa 44
Hình 3.4 Mẫu Cá nhà táng nhỏ ở Hà Tĩnh 45
Hình 3.5 Mẫu thu tại Quảng Bình 46
Hình 3.6 Mẫu thu tại Quảng Ngãi 49
Hình 3.7 Mẫu thu tại Khánh Hòa 52
Hình 3.8 Cá voi xám 57
Hình 3.9 Hộp sọ của Cá voi xám 58
Hình 3.10 Bản đồ phân bố Cá voi xám trên thế giới 59
Hình 3.11 Cá voi lưng gù 60
Hình 3.12 Hộp sọ của Cá voi lưng gù 61
Hình 3 13 Phân bố của Cá voi lưng gù trên thế giới 62
Hình 3.14 Cá voi omura 63
Hình 3.15 Hộp sọ của Cá voi omura 64
Trang 8Hình 3.16 Phân bố của Cá voi omura trên thế giới 65
Hình 3.17 Cá voi nhỏ 66
Hình 3.18 Hộp sọ của Cá voi nhỏ 66
Hình 3.19 Phân bố của Cá voi nhỏ trên thế giới 67
Hình 3.20 Cá nhà táng 68
Hình 3.21 Hộp sọ Cá nhà táng 68
Hình 3.22 Phân bố của Cá nhà táng trên thế giới 69
Hình 3.23 Cá heo lưng gù Thái Bình Dương 70
Hình 3.24 Hộp sọ của Cá heo lưng gù Thái Bình Dương 71
Hình 3.25 Phân bố của Cá heo lưng gù Thái Bình Dương trên thế giới 72
Hình 3.26 Cá heo đốm nhiệt đới 73
Hình 3.27 Hộp sọ của Cá heo đốm nhiệt đới 74
Hình 3.28 Phân bố của Cá heo đốm nhiệt đới trên thế giới 74
Hình 3.29 Cá heo không vây 75
Hình 3.30 Hộp sọ của Cá heo không vây 76
Hình 3.31 Phân bố của Cá heo không vây trên thế giới 76
Hình 3.32 Cá heo mũi chai 77
Hình 3.33 Hộp sọ của Cá heo mũi chai 78
Hình 3.34 Phân bố của Cá heo mũi chai trên thế giới 78
Hình 3.35 Cá nhà táng nhỏ 79
Hình 3.36 Hộp sọ của Cá nhà táng nhỏ 79
Hình 3.37 Phân bố của Cá nhà táng nhỏ trên thế giới 80
Trang 9BẢNG KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
DD: Mức đe dọa thiếu dẫn liệu trong sách đỏ IUCN
EN: Mức đe dọa nguy cấp trong sách đỏ IUCN
IUCN: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
FAO: Viết tắt của Food and Agriculture Organization of the United Nations – Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GPS: Viết tắt của Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu
LC: Mức đe dọa ít được quan tâm trong sách đỏ IUCN
NOAA: Viết tắt của National Oceanic and Atmospheric Administration – Cục Quản
lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ
NT: Mức đe dọa gần nguy cấp trong sách đỏ IUCN
VU: Mức đe dọa sẽ nguy cấp trong sách đỏ IUCN
PCR: Viết tắt của Polymerase Chain Reaction – Phản ứng chuỗi trùng hợp
VQG: Vườn Quốc gia
Trang 101
MỞ ĐẦU
Thú biển là nhóm động vật thuộc lớp thú(cá voi, bò biển, hải cẩu …) nhưng
có đời sống gắn liền với biển.Trên thế giới hiện nay các nhà khoa học đã mô tả và xác địnhđược khoảng 128 loài, chúng phân bố ở hầu hết các vùng biển và đại dương, một số loài cá heo còn phân bố trong các con sông lớn như sông Amazon, sông Hằng, sông MêKông ….Vùng biển của Việt Nam được ghi nhận lànơi sinh sống của rất nhiềuloài thú biển, chúng được các ngư dânbắt gặp thường xuyên ngoài
tự nhiên khi đi đánh bắt hải sản Ngoài ra, mẫu vật của chúng cũng được tìm thấy trong các bảo tàng chuyên ngành, các lăng thờ cúng cá ông do ngư dân xây dựng ở các địa phương ven biển Trong những năm gần đây nhờ sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng,các thông tin về cá voi, cá heo, hải cẩu bị chết trôi dạt vào bờ được cập nhật thường xuyên hơn.Tuy nhiên,nhóm đối tượng thú biển ở Việt Nam còn chưa được quan tâm và nghiên cứu đầy đủ, các dẫn liệu ban đầu về thành phần loài, sự phân bố và số lượng của mỗi loài thú biển ở Việt Nam là rất ít, phần lớn do các nhà khoa học nước ngoài cung cấp từ những năm 1990.Các thông tin này ngày nay đã không còn đúng với thực tế về hiện trạng thú biển của nước ta Các nghiên cứu mớivề thú biển ở Việt Nam là hầu như không có, dẫn tới những khó khăn trong công tác quản lý và bảo tồn nhóm động vật biển quý hiếm này Chính vì
vậy đề tài “Bước đầu nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của thú biển dựa trên bộ sưu tập mẫu vật được lưu trữ tại các bảo tàng và đền thờ cá ông ở các địa phương ven biển từ Quảng Ninh tới Khánh Hòa” được thực hiện với các mục tiêu
và nhiệm vụcụ thể sau:
Mục tiêu:
Nắm được các phương pháp điều tra khảo sát,nghiên cứu về thú biển
Có được bộ số liệu ban đầu về thành phần loài, sự phân bố của thú biển ở khu vực ven bờ từ Quảng Ninh tới Khánh Hòa
Nhiệm vụ:
Trang 112
Thu thập và xử lý tất cả các tài liệu lịch sử đã xuất bản có liên quan tới vấn
đề nghiên cứu (các công bố khoa học, các thông tin xã hội, văn bản pháp luật
…)
Đánh giá các mẫu vật, tài liệu nghiên cứu trong hệ thống các bảo tàng chuyên ngành và hệ thống cáclăng thờ cá ông được ngư dân xây dựng ở các địa phương ven biển trong khu vực nghiên cứu
Tiến hành điều tra khảo sát ngoài thực địa thông qua việc phỏng vấn thu thập thông tin từ các ngư dân, các nhà quản lý địa phương, các cộng đồng ven biển tại các khu vực nghiên cứu
Phân tích mẫu vật dựa trên phương pháp hình thái học dựa vào các đặc điểm
hình thái của cơ thể và cấu trúc của bộ xương để xác định tên loài
Các hoạt động triển khai:
Để thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên, học viêncùng với chuyên gia thú biển của Bảo tàng Tự nhiên Quốc gia Đài Loan đã tiến hành khảo sát một hệ thống các bảo tàng chuyên ngành, lăng thờ cá ông do người dân lập ra ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hòa trong khuôn khổ đề tài cấp cơ
sở Viện Tài nguyên và Môi trường biển năm 2012
Kết hợp với các đề tài, dự án do Viện Tài nguyên và Môi trường biển chủ trì, các thông tin truyền thông đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình …) học viên đã thu thêm những thông tin và tư liệu liên quan tới thú biển trong khu vực nghiên cứu
Tranh thủ sự giúp đỡ từ phía đối tác Đài Loan học viên được trực tiếp sang học tập phương pháp nghiên cứu thú biển dựa trên các bộ mẫu chuẩn và trang thiết bị thí nghiệm sẵn có của Bảo tàng Tự nhiên Quốc gia Đài Loan
Các kết quả chính đạt được:
Trang 123
Dựa trên những mẫu vật trong hệ thốngbảo tàng chuyên ngành, các lăng thờ
cá ông, các thông tin do các cơ quan chức năng địa phương cung cấp đã xác định được danh sách thành phần loài thú biển dải ven bờ khu vực nghiên cứu gồm 11 loài Trong đó đã bổ sung được 2 loài mới cho danh lục thú biển Việt
Nam đó là: loài Cá voi xám (Eschrichtius robustus) và loài Cá voi omura (Balaenoptera omurai) Cả hai loài mới ghi nhận này đã được các chuyên gia
nước ngoài phối hợp nghiên cứu và khẳng định
Dựa vào kết quả phân tích mẫu vật, các thông tin thu thập được từ các phiếu phỏng vấn đã xác định được phạm vi, vùng phân bố của các loài thú biển thường gặp ở dải ven bờ khu vực nghiên cứu Dựa vào vật mẫu ở Bảo tàng Lịch sử tỉnh Quảng Ninh đã bổ sung được phạm vi phân bố của loài Cá voi xám mở rộng sang cả vùng biển bờ tây vịnh Bắc bộ So với các tài liệu của
Tổ chức Bảo tồn Quốc tế IUCN đã công bố trước đây thì phạm vi phân bố của loài này chỉ đến đảo Hải Nam của Trung Quốc
Đã công bố được 03 bài báo đăng hoặc đã được chấp nhận cho đăng có liên quan tới nội dung của luận văn: 01 bài đăng trên Tuyển tập Tài nguyên và Môi trường biển, 01 bài đăng trên Kỷ yếu Hội nghị Toàn quốc về Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật lần thứ V, 01 bài đăng trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 13là phân loại các họ thú biển theo tác giả Hadoram Shirihai [9]
Cetacea
(Cá voi)
Mysticeti (Cá voi tấm sừng hàm)
Banaenidae (có 4 loài) Neobalaenidae (có 1 loài) Balaenopteriadae (có 9 loài) Eschrichtiidae (có 1 loài)
Odontoceti (Cá voi có răng)
Physeteridae (có 1 loài) Kogiidae (có 2 loài) Monodontidae (có 2 loài) Ziphiidae (có 21 loài) Delphinidae (có 34 loài) Phocoenidae (có 7 loài Platanistidae (có 1 loài) Iniidae (có 1 loài) Pontoporiidae (có 1 loài)
Trang 145
Serenia
(Bò nước)
Trichechidae (có 3 loài) Dugongidae (có 2 loài)
Carnivora
(Ăn thịt)
Pinnipedia (Chân màng)
Otariidae (có 16 loài) Odobenidae (có 1 loài) Phocidae (có 19 loài)
Fissipedia (Chân chẽ)
Mustelidae (có 2 loài) Ursidae (có 1 loài) Một danh sách các loài thú biển trên thế giới theo tác giảHadoram Shirihai được liệt kê trong phụ lục 1 của tài liệu này
1.1.2 Đặc điểm sinh học của thú biển
Thú biển là nhóm động vật có vú, đẻ con và nuôi con bằng sữa nhưng đời sống lại gắn liền với biển Chính vì vậy thú biển mang một số đặc điểm khác so với các loài thú trên cạn
a) Đặc điểm hình thái cơ thể
Các loài thú thuộc Bộ Cá voi đã thích nghi hoàn toàn với cuộc sống dưới nước vào khoảng 50 triệu năm về trước, trong thời gian này động vật dạng cá voi đã mất dần đi những thuộc tính phù hợp cho sự sinh tồn trên đất liền và thu được những đặc tính thích nghi với cuộc sống ở dưới nước Chi sau biến mất, cơ thể của chúng trở lên thon và thuôn hơn, hình dạng cho phép chúng có thể di chuyển nhanh hơn trong nước Đuôi nguyên thủy của chúng được chuyển thành một cặp thùy đuôi
có tác dụng dẫn lái khi di chuyển Chi trước của chúng biến thành các tay chèo rất hiệu quả khi di chuyển trong môi trước nước và làm cân bằng kích thước to lớn của chúng (hình 1.1) Do không còn nhu cầu giữ ấm từ bên ngoài lên lớp lông của các loài cá voi cũng bị tiêu biến giúp giảm lực ma sát khi di chuyển trong nước Tuy sống ở dưới nước nhưng là những loài thú thực sự, các loài cá voi cũng hô hấp bằng phổi, quá trình trao đổi khí được thực hiện thông qua lỗ thở trên đỉnh đầu Khi cá voi thở ra do không khí cũ được làm ấm từ phổi tiếp xúc với không khí lạnh hơn ở
Trang 156
môi trường bên ngoài tạo ra một cột nước tựa như khói Cột nước này có hình dạng,
độ cao, góc phun đặc trưng cho từng loài Vì thế, các loài cá voi có thể được những thợ săn cá voi hay những người theo dõi cá voi giàu kinh nghiệm nhận dạng từ xa bằng cách sử dụng đặc trưng này (hình 1.2) Do sống dưới biển mặn thị giác của cá voi có các tuyến tiết ra chất nhờn giúp bảo vệ mắt trước nước mặn của biển cả Cá voi cũng có thủy tinh thể gần như hình cầu trong mắt, có hiệu quả tập trung cao nhất đối với cường độ ánh sáng yếu trong vùng nước sâu Thị giác của các loài cá voi nói chung là kém (ngoại trừ một số loài cá heo) Giống như mắt, tai của cá voi cũng nhỏ, cuộc sống dưới nước đã làm tiêu giảm các tai ngoài của chúng, mà chức năng của nó là thu thập các sóng âm thanh trong không gian Tuy nhiên, do nước là môi trường truyền âm tốt hơn nhiều so với không khí, nên tai ngoài không còn cần thiết nữa Nó chỉ còn là một lỗ nhỏ trên da, ngay phía sau các mắt[12]
(a)
(b)
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá voi
(a – Phân bộ cá voi tấm lược sừng, b – Phân bộ cá voi có răng)
(theo Mark Carwardine, 2005)
Trang 167
(Cá voi Eden’s)(Cá voi Sei) (Cá nhà táng)
(Cá voi đầu bò)(Cá voi vây) (Cá voi đầu cong)
(Cá voi xanh) (Cá voi xám)(Cá voi lưng gù)
Hình 1.2 Hình dạng cột nước docác loài cá voi tạo ra
(theo Mark Carwardine, 2005) Các loài thú thuộc Bộ Bò biểncũngthích nghi hoàn toàn với cuộc sống dưới nước nhưng vẫn giữ nhiều nét của thú ở cạn Mình thon dài, cổ không rõ, chi trước biến thành tay chèo nhưng ngón tay vẫn còn di tích của móng guốccó tác dụng như một giá đỡ khi kiếm ăn Chi sau thiếu, đuôi rộng hình vây cá nằm ngang Thân phủ lông thưa (hình 1.3) Bò biển là nhóm thú biển chủ yếu ăn thực vật(một cá thể dugong có thể ăn khoảng 25 kg cỏ biển/ngày) Kích thước cơ thể tương đối lớn, khi mới sinh con non có kích thước khoảng 1 mét, khi trưởng thành có thể đạt 2,5 mét
và nặng đến 400 kg Phần miệng được cấu tạo khá đặc biệt và linh động giúp nó đào
Trang 178
tận rễ thảm cỏ biển (dưới nền cát), phần đệm ở răng của bò biểncũng giống như các loài thú nhai lại được coi là bộ phận quan trọng nhất trong khi gặm cỏ biển và chuyển tải thức ăn vào bên trong miệng Bò biển không thể lặn lâu trong nước mà thường xuyên ngoi lên mặt nước để thở, chúng di chuyển chậm chạp, với vận tốc khoảng vài km/giờ, và thường xuyên nghỉ ngơi ở tầng nước 2-10 mét.Tuổi thọ của các loài bò biển khá cao, chúng có thể sống hơn 70 tuổi Có thể phân biệt con đực
và con cái dễ dàng nhờ vào vị trí khe hở của cơ quan sinh dục Vùng xương chậu của con đực được tìm thấy bên trong khe hở của bộ phận sinh dục ở giữa hậu môn
và rốn Tinh hoàn ở bên trong bụng, cuống sinh dục chỉ nhô ra khi con đực hưng phấn Trái lại khe sinh dục của con cái nằm gần hậu môn hơn Cả con đực và cái đều trưởng thành về giới tính khoảng từ 7-19 năm, khi đó kích thước cơ thể của chúng khoảng 2,5 mét [12]
Hình 1.3 Hình dạng ngoài của bò biển
(theo Mark Carwardine, 2005) Các loài thú thuộc Bộ Ăn thịtthích nghi với đời sống dưới nước (hải cẩu, sư
tử biển, …) có cơ thể thon dài, cổ ngắn không phân biệt rõ với thân Các loài trong Phân bộ Chân màng có chi trước biến thành tay chèo, móng tiêu giảm hay tiêu biến, lớp mỡ dưới da dày, lông và răng tiêu giảm, răng thịt không phân hóa, vành tai thiếu, thị giác kém phát triển, khứu giác rất thính (hình 1.4) Tinh hoàn nằm trong khoang bụng, tử cung hai sừng, nhau ống Phần lớn có cuộc đời sống trong nước, chỉ lên cạn để sinh sản và thay lông Chúng là nhóm sinh vật phân bố chủ yếu ở miền lạnh Bắc cực và Nam cực [12]
Trang 189
(a)
Hình 1.4 Hình dạng ngoài của bộ ăn thịt
(a – hải cẩu; b – rái cá; c – gấu bắc cực)
(theo Mark Carwardine, 2005)
b) Đặc điểm hình thái bộ xương
Bộ xương bao gồm tất cả các xương và sụn gồm có phần đầu, phần trục (xương sống, xương sườn, xương đuôi) và phần chi Bộ xươnggiúp nâng đỡ các mô mềm định dạng hình dáng, xác định kích thước tổng thể và tham gia vào quá trình vận động (hình 1.5) Tủy ở một số xương chứa tế bào gốc để tạo ra các tế bào máu
Ở nhóm cá voi xương chứa nhiều chất béo hơn còn ở nhóm bò biển xương lại chứa nhiều canxi hơn, các đặc điểm này có ảnh hưởng tới sức nổi của cơ thể Thành phần hóa học của xương liên tục thay đổi theo tuổi thọ của các loài thú biển nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh lý, sinh hóa của cơ thể, dựa vào các đặc điểm này có thể sử dụng xương để xác định tuổi của các loài thú biển[16]
(a)
Trang 1910
(b)
Hình 1.5 Bộ xương của thú biển
(a – cá voi, b – cá heo, c – bò biển, d – hải cẩu)
(theo Sentiel Rommel, 1999) Hộp sọ của thú biển có hình thái đặc trưng là hướng về phía trước, có kích thước lớn (hộp sọ cá voi xanh có kích thước khoảng 5 mét) Hộp sọ có 2 lồi cầu chẩm, có cung gò má Các xương chẩm, xương vảy, xương đá, xương màng nhĩ gắn với nhau hình thành xương thái dương Có xương khẩu cái thứ sinh ngăn đôi xoang mũi Ngoài ra còn có các xương đặc trưng là: xương gian đỉnh, xương xoăn mũi phân hoá phức tạp liên quan đến sự phát triển thính giác và khứu giác (hình 1.6).Tai thú biên có đủ 3 xương là xương đe (do xương vuông biến thành), xương búa (do xương khớp biến đổi thành) và xương bàn đạp (do xương móng biến đổi thành), ở các loài cá voi xương búa ở tai trong được hợp nhất với thành của hốc xương nơi chứa xương tai trong, xương hàm dưới chỉ còn một xương răng Nhìn chung sọ của thú biển tiến hóa hơn nhiều so với các nhóm động vật có xương sống
ở biển khác, các xương ởvùng sọ gắn với nhau rất muộn liên quan đến sự phát triển của não bộ[16]
Trang 20(a – các xương của hộp sọ, b – cá voi và cá heo, c – bò biển và hải cẩu)
(theo Sentiel Rommel, 1999)
Trang 2112
Cột sống của thú biểnđược chia làm 5 phần: phần cổ thường có 7 đốt trong
đó đốt chống có cấu tạo làm cho đầu cử động linh hoạt, phần ngực gồm 13 - 14 đốt mang sườn (gồm đốt thật và đốt giả), phần thắt lưng có từ 6 -7 đốt (đây là những đốt sống có kích thước lớn nhất), phần chậu có khoảng 4 đốt và đuôi có nhiều đốt khác nhau (hình 1.7)[16]
(a)
(b)
Trang 2213
(c)
Hình 1.7 Cột sốngcủa thú biển
(a – phần cổ, b – phần thân, c – phần đuôi)
(theo Sentiel Rommel, 1999)
Về phần chi, ở thú biển đai vai đã tiêu giảm nhiều, gồm chủ yếu là xương bả, nhiều loài thiếu xương đòn, đa số các loài thú biển có xương quạ tiêu giảm, hình thành mấu quạ gắn với xương bả.Xương chi sau ở đa số các loài bị tiêu giảm (cá voi, bò biển) Ở các loài ăn thịt đai hông giống với hầu hết các loài thú ở cạn khácgồm xương chậu, xương ngồi và xương háng gắn với nhau ở mặt bụng, hình thành xương không tên.Xương chi tự do về cơ bản có cấu tạo giống với kiểu chi 5 ngón điển hình ở nhóm ăn thịt, Ở nhóm cá voi và nhóm bò biển các xương ngón tay liên kết với nhau cùng với các mô cơ tạo thành các tay chèo (hình 1.8) [16]
(a)
(b)
Trang 23Hình 1.8 Xương chi của thú biển
(a,b – cá voi; c,d – cá heo; e,f – bò biển; g,h – hải cẩu)
(theo Sentiel Rommel, 1999) c) Sinh thái học của thú biển
Thú biển xuất hiện ở tất cả các vùng biển và đại dương trên trái đất, từ những vùng lạnh giá như Bắc cực (Gấu Bắc cực, Cá voi đầu cong, Cá voi đầu bò…)cho tới các vùng biển nhiệt đới (Cá heo đốm nhiệt đới, Cá voi sát thủ, Dugong…), hoặc vùng nước ôn đới (cá heo Risso, Cá voi xám ) Một số loài cá heo (Cá heo susu,
Trang 2415
Cá heo boto, Cá heo baiji…)còn xâm chiếm các con sông lớn trên thế giới như sông Amazon, sông Mê Kông, sông Hằng …Với khu vực phân bố rộng lớn như vậy,thú biển rất đa dạng về kích thước và các đặc trưng sinh thái Từ những loài thú biển có kích thước khoảng một mét (Cá heo không vây, Cá heo đốm nhiệt đới, Hải cẩuđốm trắng …) cho tới những loài thú biển có kích thước vài chục mét (Cá voi xanh, Cá voi vây, Cá voi lưng gù …) Chúng có thể sống trong môi trường nước với nhiệt độ
từ 2oC cho tới 30oC (Cá voi đầu bò, Cá voi đầu cong, gấu Bắc cực …), một số loài
có thể lặn hàng giờ ở độ sâu hàng nghìn mét (Cá nhà táng, Cá voi mõm khoằm …)
Cá voi xám hàng năm di chuyển một quãng đường từ 15.000 đến 20.000 km để kiếm ăn và sinh sản Cá voi đầu cong có thể sử dụng đầu của chúng để phá vỡ các lớp băng ở Bắc cực [10]
Dù đa dạng về hình dạng, kích thước, tập tính nhưng xét cho cùng tất cả các loài thú biển cũng chỉ là những sinh vật thứ cấp ở biển khơi vì nguồn gốc của chúng
là ở trên cạn, hô hấp bằng phổi vì vậy vẫn cần tới oxy của không khí Chính vì vậy,mỗi loài thú biển lại có sự phân bố rất khác nhau Cá voi sát thủ có thể được tìm thấy ở hầu hết các đại dương trên thế giới Một số loài khác như Cá heo California thì chỉ phân bố ở giới hạn vài trăm km2, Gấu Bắc cực, Cá voi đầu bò chỉ phân bố ở các vùng cực lạnh giá của trái đất Hầu hết các loài cá voi trong Phân bộ Cá voi tấm sừng hàm có thể di chuyển rộng với bán kính hàng nghìn km để tìm kiếm thức ăn và sinh sản Một số loài thích sống ở các vùng nước ven bờ (Cá voi xám, Cá heo mũi chai, Cá heo cảng, Dugong), hoặc số khác lại thích sống ở các vùng biển sâu của đại dương (Cá nhà táng) Các loài thú biển sống trong các môi trường khác nhau sẽ có những cách thích ghi với điều kiện môi trường sống khác nhau Ví dụ, các loài sống trong vùng biển lạnh giá phải bảo tồn nhiệt độ cơ thể do đó chúng có lớp mỡ rất dày (Cá voi đầu cong, Gấu bắc cực), các loài lặn sâu dưới đáy biển (Cá nhà táng) phải bảo tồn oxy nên chúng có lượng máu nhiều, các cơ dự trữ máu lớn để có thể lặn được lâu Các loài kiếm ăn trong điều kiện ánh sáng yếu (ăn đêm, lặn sâu, sống trong sông đục) có khả năng phát triển định vị bằng âm thanh, tầm nhìn tốt hơn [10]
Trang 25Cá voi tấm sừng hàm(Mysticeti) chúng không có răng, thay vì thếchúng có các tấm sừng có cấu tạo từ kê-ra-tin(tương tựnhưcác chất ởmóng tay người) thảrủxuống từhàm trên Các tấm sừng này có vai trò nhưmột bộlọc khổng lồ, lọc ra các động vật nhỏ(như động vật nhuyễn thểvà cá) từluồng nước biển Các dạng cá voi trong nhóm này như Cá voi xanh, Cá voi lưng gù, Cá voi đầu cong, Cá voi xám … Không phải mọi loài cá voi của nhóm Cá voi tấm sừng hàm đều có thức ăn là sinh vật phù du Các loài cá voi lớn trong nhóm này có xu hướng ăn các dạng cá nhỏtụtập thành đàn, nhưcá trích và cá mòi Một loài trong nhóm Cá voi tấm sừng hàm Cá voi
xám(Eschrichtius robustus) là động vật ăn ởtầng đáy, chủ yếu săn bắt các loài động
vật giáp xác ở đáy biển (như tôm, cua) [10]
Giống như nhiều loài động vật khác, các loài thú biển cũng có tập tính kết đàn nhằm mục đích săn mồi và bảo vệ trước sự tấn công của kẻ thù Một số loài cá heo thường tụ tập thành đàn để săn bắt cá Một nhóm Cá voi sát thủ có thể cùng nhau tấn công một cá thể Cá voi xanh Ngày nay mối đe dọa tới các loài thú biển ngoài con người còn có các loài thú ăn thịt khác như Cá voi sát thủ, Cá mập trắng, Gấu Bắc cực chính vì vậy để tránh bị săn bắt các cá thể thú biển cùng loài thường
có xu hướng tụ tập thành các đàn lớn để bảo vệ lẫn nhau tránh sự tấn công của kẻ thù [10]
1.2 Tình hình nghiên cứu thú biển
Trang 2617
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hơn 2000 năm trước đây, các học giả Trung Quốc thời nhà Hán trong từ điển
đã biết mô tả cá heo như là một trong những loài động vật có trí thông minh Ngay
cả trước đó, nhà khoa học Hy Lạp là Aristotle cũng đã phân biệt giữa Cá voi tấm sừng hàm và Cá voi có răng với những mô tả chi tiết cho cả hai đối tượng này Tuy nhiên, thật đáng tiếc là ông ta đã xếp thú biển vào lớp cá.Trên thực tế không có nhiều giả thuyết hoặcnghiên cứu mang tính bài bản được thực hiện giữa thời kỳ Roman và phục hưng phương tây, thậm chí chỉ là các mô tả hoặc các văn bản chính thức về thú biển Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học hiện đại về thú biển có thế được tóm lược trong 4 giai đoạn: (1) Mô tả về hình thái từ các mẫu vật bắt gặp ven
bờ và mẫu vật hóa thạch; (2) Mô tả về tập tính sinh học, giải phẫu, phân bố thu thập được trong các hoạt động săn bắn và khai thác thú biển; (3) Nghiên cứu về sinh lý
và tập tính học trong điều kiện nuôi nhốt; (4) Nghiên cứu về sinh thái học, môi trường sống, biến động số lượng, vòng đời, tập tính và sinh lý học trong điều kiện
tự nhiên Giai đoạn nghiên cứu thứ năm có thể mang tính chất tổng hợp giữa các nghiên cứu trên cạn sẵn có với các nghiên cứu so sánh ở biển trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề khoa học có liên quan đến thú biển [20]
Các giai đoạn nghiên cứu được mô tả ở trên trải qua một trình tự khá lâu dài với các chủ đề nghiên cứu về hình thái học và hệ thống học là chủ đề cơ bản Các giai đoạn nghiên cứu hiện nay nhờ có sự trợ giúp của các thiết bị điện tử tiên tiến đã nâng cao được giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu về thú biển lên tầm cao mới.Sự bùng nổ thực sự của kiến thức liên quan đến động vật biển chỉ đến trong giai đoạn sau này Thế kỷ 18 được đánh giá là thời kỳ tăng trưởng đột ngột về các hiểu biết khoa học trên thế giới Trong khi có nhiều tác giả có thể được nhắc tới, ba người đương thời đầu tiên được nhắc tới nhiều hơn do đã có công thúc đẩy các mô
tả về cá voi, phân loại, và hệ thống học Đây là những nhà động vật học người Pháp Lacépède và hai anh em nhà Cuvier Georges Cuvier, người được cho là thành lập thuyết tiến hóa hiện đại, đã viết về nhiều chủ đề, bao gồm cả các loài động vật biển, trong khi đó anh trai của ông ít nổi tiếng hơn là Frederic Cuvier Kế tiếp ba tác giả
Trang 2718
trên là nhà động vật học người Bỉ là Beneden sống trong nửa sau của thế kỷ thứ 19, với công việc chủ yếu là thu thập thông tin cá voi hóa thạch, là người đứng đầu về lĩnh vực nghiên cứu hình thái học, phân loại học, và lịch sử tiến hóa trong thế kỷ
XX Trong khi phần lớn các nhà nghiên cứu trước đó làm việc tập trung vào các loài cá voi, nhà động vật học người Anh là John Edward Gray đã đi sâu mô tả cả hải cẩu và cá voi ở Bảo tàng Hoàng gia Anh [20]
Trong những nghiên cứu sau này, nhìn chung các nghiên cứu về sinh học mô
tả động vật biển đã chuyển từ phương pháp tiếp cận chủ yếu là hình thái họcsang các phương pháp nghiên cứu sinh học phân tử Cho tới tận những năm 1960, các nhà nghiên cứu cá voi vẫn nghiên cứu bằng cách đâm chúng bằng lao để thu mẫu Đây là cách thức nghiên cứu phổ biến nhất do nếu không có mẫu vật thì không thể nghiên cứu được Quan niệm này đã được thay đổi sau khi luật bảo vệ thú biển được áp dụng ở rất nhiều quốc gia trong những năm 1970 Ngoài ra các mẫu vật có thể được thu dựa trên mẫu khô, hoặc mẫu vật từ các hoạt động khai thác cá heo Hiện nay thì phần lớn các nhóm cá voi, cá heo, hải cẩu, bò biển được bảo vệ nghiêm ngặt ngoài tự nhiên ở rất nhiều quốc gia Đối với các quốc gia ở Châu Đại dương, hạn chế đánh bắt đã được áp dụng đối với một số lượng cá thể nhất định Kết quả là các nhà nghiên cứu động vật biển có thể tiếp cận các nghiên cứu hình thái bằng cách lấy một số mẫu (sinh thiết tế bào) để áp dụng phương pháp nghiên cứu ở mức
độ phân tử bằng kỹ thuật PCR Các mẫu sinh thiết được thu thập bằng con đường này là hợp pháp và khả thi, do đó đã cân bằng được các nghiên cứu về phân loại học
và biến động quần thể Những nhà nghiên cứu về hình thái học truyền thống sẽ phải tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu di truyền thông qua việc tự đào tạo lại và tuyển thêm các cộng tác viên có cùng mối quan tâm để xây dựng lên các tập thể khoa học nghiên cứu thú biển mạnh [20]
Hướng nghiên cứu về thú biển hiện nay đã được định hình xong và chuyển sang giai đoạn thứ năm đó là không phân biệt các ranh giới giữa các giai đoạn nghiên cứu trước đây Các nghiên cứu mới về thú biển thường mang tính chất tổng hợp rất cao, tập hợp bởi các phương pháp nghiên cứu đã có sẵn từ nhóm động vật
Trang 2819
trên cạn So sánh các ý tưởng và phương pháp nghiên cứu này hứa hẹn các kết quả tuyệt vời về sinh học thú biển
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trên thế giới thú biển đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm Tuy nhiên, ở Việt Nam nhóm đối tượng này còn chưa được quan tâm và nghiên cứu đầy
đủ Các công trình nghiên cứu về thú biển còn rất ít, phần lớn đó là những bài báo mang tính chất thông báo đã xuất hiện loài thú biển ở vùng biển nào đó của Việt Nam Các báo cáo mang tính chất nghiên cứu sâu hơn về thú biển như thành phần loài, sự phân bố, sinh thái học của các loài hay các mối đe dọa tới chúng là rất hiếm
và hầu như không có Năm 1995 Brian D Smith và cộng sự đã có một cuộc khảo sát trong hai tháng nhằm thu thập các thông tin về thú biển đầu tiên của Việt Nam, kết quả phát hiện được 16 loài thú biển tại Việt Nam [5].Để tiếp tục với nghiên cứu trước đó của mìnhBrian D Smith và cộng sự đã tiến hành điều tra bổ sung tại khu vực vịnh Bắc bộ trong tháng 10 năm 1999 và tháng 4 năm 2000, kết quả đã ghi nhậnđược một số loài cá heo sống trong vịnh Bắc bộ [6] Có thể nói đây là một trong những nghiên cứu hiếm hoi về thú biển được thực hiện quy mô nhất tại Việt Nam, có sự tham gia của rất nhiều chuyên gia về thú biển trên thế giới như Brian D Smith, Gill Braulik, Thomas A Jefferson và một số lượng các nhà khoa học của Việt Nam như Bùi Đình Chung, Chu Tiến Vĩnh, Phạm Đình Trọng …Nhằm có được một danh sáchđầy đủ về các loài thú biển ở Việt Nam Michael Andersen và cộng sự đã tổng hợp lại tất cả những nghiên cứu trước đó để cho ra một báo cáo đã xác định được 20 loài thú biển từng xuất hiện tại Việt Nam [14].Trên đây được xem
là những nghiên cứu đầy đủ và chi tiết nhất về thú biển đã được thực hiện tại Việt Nam Ngoài ra một số nghiên cứu khác của các tác giả như Đào Tấn Hỗ [1,2,3], của Nicholas J Cox [15] cũng được thực hiện và có những kết quả nhất định Nhìn chung hầu hết những nghiên cứu về thú biển ở Việt Nam đều được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài từ trước những năm 2000 và tập trung vào việc điều tra thành phần loài và phân bố của chúng Những năm 2000 trở về đây chúng ta gần như bỏ quên nhóm đối tượng này, chính vì vậy những hiểu biết về chúng là rất hạn
Trang 2920 chế dẫn tới những khó khăn nhất định trong công tác bảo vệ cũng nhƣ bảo tồn nhóm động vật biển quý hiếm này
Trang 3021
Chương 2 – TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong khu vực ven bờ kéo dài từ tỉnh Quảng Ninh tớitỉnh Khánh Hòa, trong đó 7 tỉnh thành đã được lựa chọn là những địa điểm thu mẫu chính gồm: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi và Khánh Hòa (hình 2.1) Một loạt địa điểm thu mẫu là các bảo tàng, các lăng thờ cá ông trong khu vực nghiên cứu được lựa chọn và tiến hành thu mẫu (bảng 2.1)
Trang 3122
Hình 2.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu Bảng 2.1 Địa điểm thu mẫu
1 Vườn Quốc gia Bái Tử Long Huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
2 Bảo tàng Lịch sử Quảng Ninh TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Bảo tàng Viện nghiên cứu Hải sản TP Hải Phòng
6 Đền Hùng Thành Huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
8 Đền Đức Trạch Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
10 Đền Âm Linh Tự Huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
12 Lăng Đông Hải Huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
14 Đền Phổ Thạnh Huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
15 Đền Đại Lãnh Huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
16 Bảo tàng Hải Dương Học TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 Tuy nhiên, một số mẫu vật được tiếp cận và nghiên cứu từ tháng 07/2011 trong khuôn khổ chương trình hợp tác với đối tác Đài Loan về điều tra thú biển dải ven bờ Việt Nam
2.2 Tài liệu và thiết bị nghiên cứu
2.2.1 Tài liệu nghiên cứu
Tài liệu nghiên cứu là tất cả các mẫu vật (cá thể, bộ xương) của thú biểnđang được lưu trữ tại các bảo tàng chuyên ngành, các lăngthờ cá ông được ngư dân xây dựngở các địa phương trong khu vực nghiên cứu.Những bức ảnh thú biển được các
cơ quan chức năng và người dân chụp lại khi phát hiện thú biển cũng được sử dụng như những tài liệu nghiên cứu Các thông tin được ngư dân cũng như các cơ quan chức năng cung cấp về sự xuất hiện và tồn tại của thú biển tại địa phươngthông qua việc phỏng vấn bằng các phiếu phỏng vấn là một trong những vật liệu chính.Tổng
Trang 3223
số mẫu vậtđược thu thập và nghiên cứu là 51 mẫu, trong số 51 mẫu này có 11 mẫu
là các bức ảnh được cung cấp bởi các nhà quản lý trong khu vực nghiên cứu, 40 mẫu là những bộ xương, hộp sọ, cơ thể bảo quản khô tại các bảo tàng và lăng thờ cá ông Tất cả các mẫu này đều thuộc Bộ Cá voi Thông tin chi tiết về các mẫu đượcliệt kê trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Các mẫu vật được thu thập và nghiên cứu
1 BTL01 Ảnh chụp VQG Bái Tử Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
2 BTL02 Ảnh chụp VQG Bái Tử Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
3 BTL03 Hộp sọ VQG Bái Tử Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
4 BTL04 Hộp sọ VQG Bái Tử Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
5 BTL05 Hộp sọ VQG Bái Tử Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
6 BTL06 Hộp sọ VQG Bái Tử Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
7 BQN01 Bộ xương Bảo tàng Lịch sử Quảng Ninh, Quảng Ninh
8 BLV01 Bộ xương Đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng
9 BLV02 Ảnh chụp Đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng
10 BLV03 Ảnh chụp Đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng
11 BLV04 Ảnh chụp Đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng
12 BLV05 Ảnh chụp Đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng
13 BLV06 Ảnh chụp Đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng
14 BHS01 Mẫu khô Bảo tàng Viện Hải Sản, TP Hải Phòng
15 BDS01 Mẫu khô Bảo tàng biển Đồ Sơn, TP Hải Phòng
16 BDS02 Mẫu khô Bảo tàng biển Đồ Sơn, TP Hải Phòng
17 BDS03 Bộ xương Bảo tàng biển Đồ Sơn, TP Hải Phòng
18 ĐHT01 Xương sườn Đền Hùng Thành, Hậu Lộc, Thanh Hóa
19 ĐTB01 Ảnh chụp Đền Thạch Bằng, Lộc Hà, Hà Tĩnh
20 ĐĐT01 Ảnh chụp Đền Đức Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
21 ĐĐT02 Ảnh chụp Đền Đức Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
22 ĐĐT03 Ảnh chụp Đền Đức Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
23 LAH01 Hộp sọ Lăng An Hải, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
24 LAH02 Xương sườn Lăng An Hải, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
25 LAH03 Hộp sọ Lăng An Hải, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
26 LAH04 Hộp sọ Lăng An Hải, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
27 LAH05 Hộp sọ Lăng An Hải, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
28 ĐLT01 Hộp sọ Đền Âm Linh Tự, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
29 LAC01 Xương sườn Lăng Chánh, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
30 LAC02 Xương hàm Lăng Chánh, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
31 LĐH01 Hộp sọ Lăng Đông Hải, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
Trang 3324
32 LTA01 Xương hàm Lăng Tân, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
33 LTA02 Hộp sọ Lăng Tân, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
34 LPT01 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
35 LPT02 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
36 LPT03 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
37 LPT04 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
38 LPT05 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
39 LPT06 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
40 LPT07 Hộp sọ Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
41 LPT08 Xương hàm Lăng Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi
42 ĐĐL01 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
43 ĐĐL02 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
44 ĐĐL03 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
45 ĐĐL04 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
46 ĐĐL05 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
47 ĐĐL06 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
48 ĐĐL07 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
49 ĐĐL08 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
50 HDH01 Hộp sọ Đền Đại Lãnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa
51 HDH02 Bộ xương Bảo tàng Hải Dương Học, Khánh Hòa
Tổng: 51 mẫu
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu
Thước đo:Được sử dụng để đokích thướccủa mẫu vật, thước đo gồm có ba loại: loại thước dây mềm 50 mét dùng để đo các mẫu vật có kích thước lớn, loại thước cứng có chiều dài 2 mét, loại thước kẹp có chiều dài 0,5 mét dùng
để đo các số đo của hộp sọ và các mẫu vật có kích thước nhỏ
Máy ảnh: Được sử dụng để chụp ảnh mẫu vật, máy ảnh được học viên sử dụng trong suốt quá trình thu mẫu là máy ảnh kỹ thuật số Nikon D5000
Sổ nhật ký và phiếu ghi thông tin: Sổ nhật ký dùng để ghi chép tất cả các hoạt động trong quá trình nghiên cứu; phiếu ghi thông tin được sử dụng để ghi chép lại các kết quả trong quá trình nghiên cứu (các loại phiếu thông tin theo mẫu tại bảng 2.1, bảng 2.2 và bảng 2.3)
Trang 3425
Các vật dụng cần thiết khác:phương tiện đi lại (ô tô, xe máy, xe đạp, tàu thuyền), các trang thiết bị dùng cho việc thu mẫu sinh thiết, các phương tiện thông tin như máy tính cá nhân, máy ghi âm, định vị vệ tinh GPS
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
a) Phương pháp phỏng vấn
Là một trong những phương pháp truyền thống nhưng lại rất hiệu quả đối với nhóm đối tượng khó nghiên cứu ngoài tự nhiên như thú biển Đâylà một trong những phương pháp ít tốn kém nhất, được sử dụng để thu thập các thông tin về sự xuất hiện và phân bố của các loài thú biển trong khu vực nghiên cứu.Các thông tin thu thập từ các phiếu phỏng vấn được phân tích, đánh giá và kết hợp với các kết quả phân tích mẫu vật ở các bảo tàng và lăng thờ cá ông qua đó đưa ra những kết quả về thành phần loài cũng như khu vực phân bố của thú biển trong khu vực nghiên cứu Các câu hỏi được thiết kế dễ hiểu, tập trung vào mục đích chính liên quan đến các thông tin như loài thú biển họ bắt gặp? bắt gặp ở đâu? vào thời gian nào? (mẫu phiếu phỏng vấn ở phụ lục 2) Kết hợp với những câu hỏi trong quá trình phỏng vấn, học viên cũng sử dụng các hình ảnh của một số loài thú biển dễ nhận biết ngoài
tự nhiên để sử dụng trong quá trình phỏng vấn giúp đối tượng được phỏng vấn dễ dàng hình dung
Nhiều đối tượng khác nhau được chọn làm đối tượng phỏng vấn như các ngư dân, các nhà quản lý ở các khu bảo tồn biển, các cán bộ quản lý ở địa phương … nhưng học viên chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng là các ngư dân thường xuyên
đi khai thác hải sản ngoài tự nhiên cũng như các cộng đồng ngư dân sinh sống lâu năm có nhiều kinh nghiệm trong khu vực nghiên cứu Cách thức phỏng vấn được học viên sử dụng là nói chuyện và phỏng vấn trực tiếp những đối tượng được phỏng vấn, tập trung vào mục tiêu chính muốn thu thập Ở mỗi địa điểm nghiên cứu học viên sẽ cố gắng thu được số lượng phiếu phỏng vấn nhiều nhất có thể
b) Phương pháp thu thập các số đo và hình ảnh
Trang 3526
Việc đo đạc, ghi chép và thu thập mẫu vật được thực hiện theo sổ tay hướng dẫn nghiên cứu thú biển do NOAA phát hành năm 1994 [19] Đối tượng cá voi, cá heocũng như các bộ xương của chúng đang được lưu trữ và trưng bày tại các bảo tàng và các lăng thờ cá ông do nhiều nguyên nhân khách quan(một số mẫu vật không nguyên vẹn, các mẫu vật được bảo quản kín …) mà số liệu đo đạc về kích thước còn thiếu hoặc không được thực hiện Tuy nhiên, các số liệu về hình ảnh vẫn được ghi lại để sử dụng trong quá trình phân tích xác định tên loài tại phòng thí nghiệm
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu hình thái ngoài của cá voi và cá heo
1 Chiều dài tổng số
2 Chiều dài tới miệng
3 Chiều dài tới mắt
4 Chiều dài tới lỗ thở
5 Chiều dài tới tai
6 Chiều dài tới vây lưng
7 Chiều dài tới tay chèo
8 Chiều dài tới giữa vây lưng
Trang 3627
9 Chiều dài tới rốn
10 Chiều dài tới hậu môn
11 Đường kính qua tai
12 Đường kính qua tay chèo
13 Đường kính giữa vây lưng và tay chèo
19 Chiều cao vây lưng
20 Chiều rộng nhất tay chèo
21 Chiều rộng gốc tay chèo
22 Đường chéo dài tay chèo
23 Đường chéo ngắn tay chèo
24 Chiều dài cánh đuôi trái
25 Chiều rộng cánh đuôi trái
26 Chiều rộng thùy đuôi
Trang 3728
Trang 40Mẫu vật được phân tích để định danh loài bằng phương pháp hình thái học
Sử dụng các đặc điểm nhận dạng dựa trên hình dạng ngoài cơ thể, hình dạng hộp sọ, bằng tài liệu định loại của FAO năm 1994 [8], tài liệu hướng dẫn nhận dạng thú biển của Hadoram Shirihai năm 2006[9], tài liệu hướng dẫn nhận dạng thú biển của Mark Carwardine năm 2005[12] và một số tài liệu định loại khác Các số liệu về kích thước được tính toán và xử lý bằng các phần mềm trong bộ phần mềm Microsoft Office
a) Các đặc điểm được dùng trong định loại thú biển
Hình thái ngoài của cơ thể:Các chi tiết trên cơ thể thú biển được sử dụng để
định loại rất đa dạng Số lượng, hình dạng của lỗ thở được sử dụng để xác định các loài trong Phân bộ Cá voi tấm sừng hàm và Phân bộ Cá voi có răng (Cá voi tấm sừng hàm có hai lỗ thở, Cá voi có răng có một lỗ thở) Cấu tạo răng và các kiểu rănggiúp nhận dạng một sốloài cá heo (các loài cá heo thuộc họ Phocoenidae có răng kiểu hình nấm, các loài cá heo thuộc họ Ziphiidae có hình dạng đặc biệt và rất lớn) Kích thước và hình thái của tay chèo, vây lưng ở một số loài cá voi mang những đặc điểm khác nhau (một số loài như Cá voi xám, Cá voi đầu cong, Cá voi đầu bò, Cá heo không vây không có vây lưng, một số loài như Cá voi xanh, Các loài thuộc họ Ziphiidae có vây lưng rất nhỏ so với tổng chiều dài cơ thể, một số loài như
Cá voi lưng gù, Cá heo tay dài có tay chèo rất lớn) Đặc điểm của da cũng là một