1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng di sản văn hóa dan ca quan họ bắc ninh trong dạy học lịch sử việt nam ở trường THPT huyện thuận thành tỉnh bắc ninh

117 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN THUẬN THÀNH

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện cùng với sự dẫn dắt nhiệt tình của PGS.TS Hà Thị Thu Thủy, trong thời gian từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2020

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các nguồn thông tin được tổng hợp, khái quát đưa vào luận văn một cách hợp lý và đúng quy định

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn là khách quan, trung thực và chưa từng được công bố, sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận văn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Hà Thị Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn

và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập và quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Khoa Lịch sử và Phòng Đào tạo (Sau đại học) của trường đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo thuộc khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu làm luận văn

Tôi chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Lịch

sử của các trường THPT trên địa bàn Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là trường THPT Thuận Thành số 2 đã tạo điều kiện cho tôi thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn này

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Giả thuyết khoa học 10

7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn những đóng góp của luận văn 10

8 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa 12

1.1.2 Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh 14

1.1.3 Đặc điểm của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông 17

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Thực tiễn sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 22

1.2.2 Những vấn đề rút ra từ thực tiễn 31

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH 34

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình Lịch sử Việt Nam ở trường THPT 34

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1.1 Vị trí 34

2.1.2 Mục tiêu 35

2.1.3 Nội dung cơ bản 36

2.2 Tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh khai thác trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT 38

2.2.1 Những nội dung Lịch sử Việt Nam sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh 38

2.2.2 Các tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc Ninh khai thác trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT 40

2.2.3 Yêu cầu khi sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 46

2.3 Biện pháp sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 49

2.3.1 Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong thiết kế chủ đề dạy học 49

2.3.2 Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh dạy bài nội khóa 52

2.3.3 Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh dạy bài lịch sử địa phương 58

2.2.4 Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh để tổ chức hoạt động trải nghiệm 63

2.4 Thực nghiệm sư phạm 69

2.4.1 Mục đích, đối tượng, địa bàn và nội dung thực nghiệm 69

2.4.2 Phương pháp thực nghiệm 70

2.4.3 Kết quả thực nghiệm 73

Tiểu kết chương 2 76

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả điều tra học sinh 29

Bảng 2.1 Kế hoạch thực hiện dự án 60

Bảng 2.2 Phiếu đánh giá điểm nhóm 62

Bảng 2.3 Kết quả kiểm tra tại lớp thực nghiệm và đối chứng 73

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát học sinh sau thực nghiệm 75

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hóa đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hội nhập quốc tế tạo nên nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có thách thức về

giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Luật Di sản văn hoá đã xác định: “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và

là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [29] Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã chỉ rõ: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá” [20] Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc là

chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, trong đó giáo dục giữ vai trò quan

sử và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Tất cả những yếu tố đó, đã tạo nên một kho tàng di sản văn hóa đa dạng, độc đáo, giàu giá trị còn được lưu truyền đến ngày nay Trong kho tàng di sản văn hóa đó không thể không kể đến Dân ca Quan họ - loại hình nghệ thuật được coi là cốt lõi của văn hóa “xứ Kinh Bắc" ngàn năm văn hiến Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên Chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Dân ca

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Quan họ đã được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Điều đó,

đã khẳng định giá trị của Dân ca Quan họ, mặt khác cũng đặt ra trách nhiệm lớn lao trong việc bảo tồn và phát huy loại hình dân ca - sản phẩm tinh thần quý báu này

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai chương trình giáo dục di sản từ năm học 2007-2008 Từ năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch đã có hướng dẫn về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học tại các trường phổ thông, các trung tâm giáo dục thường xuyên Đây là hoạt động nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh, giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tại Bắc Ninh, để bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh, góp phần bồi đắp tâm hồn cho thế hệ trẻ, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống văn hóa quý báu của quê hương, từ năm học 2011- 2012, tỉnh Bắc Ninh đưa Dân ca Quan họ vào giảng dạy tại các trường học cho các em học sinh từ mầm non cho đến phổ thông Khẳng định trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh về di sản văn hóa, vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hóa

để dạy học Việc làm này sẽ nâng cao nhận thức và trách nhiệm của học sinh đối với di sản văn hóa Sử dụng DSVH trong dạy học cho học sinh ở nhà trường nhằm hình thành ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa Đồng thời rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập theo hướng tích cực Qua đó bài học trở nên sinh động hấp dẫn và giúp học sinh hứng thú, tiếp thu bài tốt hơn Đặc biệt là, hiện nay đa phần các em học sinh đang thiếu kiến thức thực tế, vì vậy, việc sử dụng DSVH trong dạy học sẽ là sợi dây gắn kết trách nhiệm và tình cảm của nhà trường với gia đình và xã hội Đồng thời sử dụng di sản Dân ca Quan họ trong dạy học còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của học sinh…Tuy nhiên, qua ghi nhận, việc giáo dục DSVH nói chung và Dân ca Quan họ nói riêng trong nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết được vai trò, giá trị của DSVH trong giáo dục Lịch sử

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về các DSVH, nghiên cứu về Dân ca Quan họ Bắc Ninh tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống về việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong dạy học nói chung

và dạy học Lịch sử nói riêng Điều đó cho thấy tính cấp thiết của vấn đề nghiên

cứu Do vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc

Ninh trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh” làm nội dung nghiên cứu luận văn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề cập đến DSVH Dân ca quan họ Bắc Ninh, việc giáo dục di sản, sử dụng

di sản trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng cũng như sử dụng DSVH Dân

ca quan họ trong DHLS đã có nhiều công trình nghiên cứu

2.1 Tài liệu nước ngoài

Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” của Đairi N.G, NXB

Giáo dục, Hà Nội năm 1973 đã khẳng định “toàn bộ công tác dạy học sẽ vô cùng

có lợi, nếu thầy giáo hiểu môn học trên cơ sở tất cả những nguồn tư liệu có liên quan đến sự kiện”[9] Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của việc sử dụng tư

liệu trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng Qua sử dụng tư liệu sẽ xây dựng nên một bức tranh toàn diện, trọn vẹn, rõ ràng, có hình ảnh, gợi cảm

về một biến cố lịch sử hoặc về một quá trình lịch sử

Tác giả IF Kharlamop cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào” (1979) NXB Giáo dục, đã trình bày lí luận và biện pháp nhằm phát huy

tính tích cực của học sinh trong đó khẳng định cần tăng cường tính tích cực tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời có kết hợp với trực quan, với trần thuật và miêu tả [12]

Theo “Hiến chương Quốc tế” về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (1964), Đại hội quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư và kĩ thuật gia về di tích lịch sử, Venice, 1964, được ICOMOS chấp nhận năm 1965 đã coi di tích lịch sử của các thế hệ con người luôn thấm được những thông điệp từ quá khứ, đến nay đó vẫn

là những nhân chứng sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa Nhân loại đang ngày càng nhận thức rõ ràng tính thống nhất của giá trị các di tích và coi

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các di tích cổ như là một di sản chung Nhất thiết phải bảo tồn và phát huy được giá trị của những di sản đó [27]

Trong “Công ước về bảo vệ di sản tự nhiên và di sản văn hóa” (1972) đã nêu: “di sản văn hóa được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng về văn hóa và tính sáng tạo của con người” [38]

Trong báo cáo về vấn đề “Các nhà sử học và việc gìn giữ các di sản văn hóa nhân loại” được trình bày tại Hội nghị quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ

XVII ở Madrit (Tây Ban Nha), từ ngày 26/8 đến ngày 2/9/1990 đã khẳng định:

“Di tích lịch sử - văn hóa là những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cần được bảo vệ và sử dụng đúng đắn” Từ đó, nhấn mạnh “khả năng sử dụng các

di tích lịch sử thể hiện trình độ văn minh của xã hội đương thời” [1]

Như vậy, các tác giả dù tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau nhưng đều nhấn mạnh sự cần thiết của việc sử dụng các tài liệu về di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông Các tác giả cùng đều khẳng định nếu các nguồn tài liệu được sử dụng hợp lý, khai thác tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng giờ học Qua

đó, các công trình nghiên cứu cũng cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học nói chung

2.2 Tài liệu trong nước

Tài liệu về phương pháp dạy học

Cuốn “Sơ thảo phương pháp giảng dạy Lịch sử ở trường phổ thông cấp

II, III” xuất bản năm 1961, các tác giả Lê Khắc Nhãn, Hoàng Triều, Hoàng Trọng

Hanh đã đề cập đến hoạt động ngoại khóa và hoạt động thực hành trong bộ môn Lịch sử qua đó khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động ngoại khóa và thực hành lịch sử trong giáo dục lịch sử [21]

Cuốn “Phương pháp giảng dạy Lịch sử” tập II, xuất bản năm 1966 của Trần Văn Trị chủ biên, ở chương II “Các phương châm giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông” khẳng định: “Dạy học lịch sử cần gắn liền với cuộc sống và cần phải liên hệ tri thức lịch sử trong sách vở với cuộc sống, liên hệ lịch sử toàn quốc với lịch sử địa phương” [37].

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử” của Trịnh Đình Tùng

(chủ biên) của nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2014 có đề cập đến bài

viết “Dạy học Lịch sử thông qua các di sản”của tác giả Phan Mai Hùng Tác giả

đã chỉ ra những tiềm năng của di sản văn hóa Việt Nam, đồng thời đưa ra những lưu ý trong việc giáo dục lịch sử qua các di sản, khẳng định giáo dục qua di sản văn hóa là trách nhiệm của toàn xã hội Việc sử dụng phương pháp dạy và học thông qua các di sản như một phương pháp hỗ trợ tích cực nhằm củng cố và mở rộng kiến thức cho học sinh Tác giả nhấn mạnh: Dạy học thông qua di sản hay giáo dục thông qua các di sản là phương thức tối ưu không chỉ giúp học sinh củng

cố, mở rộng các kiến thức đã được truyền thụ trên lớp mà còn bồi dưỡng trực tiếp cho các em năng lực cảm nhận cái hay, cái đẹp qua các di tích lịch sử, các làn điệu dân ca… Đồng thời giúp học sinh tích lũy vốn sống, kĩ năng lao động, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ứng xử, tôn trọng quá khứ để vững tin bước vào tương lai Trong

cuốn sách này cũng đề cập đến bài viết “Đổi mới dạy học Lịch sử địa phương với các hình thức ngoại khóa thông qua di sản” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt

có đề cập đến vấn đề giáo dục di sản cho học sinh trong đó khẳng định: Trong dạy học Lịch sử địa phương giáo dục di sản chính là phương thức giáo dục truyền thống từ thực tế địa phương góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của con người [33]

Tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc Ninh.

Cuốn “Dân ca Quan họ Bắc Ninh” xuất bản năm 1962 của Nguyễn Văn Phú,

Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm có thể xem là một nghiên cứu tổng hợp đầu tiên giới thiệu về Dân ca Quan họ một cách tương đối đầy đủ về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển, giá trị nội dung và nghệ thuật của Dân ca Quan họ Bắc Ninh, qua đó toát lên vẻ đẹp văn hóa của mảnh đất ngàn năm văn hiến [28]

Cuốn “Không gian Văn hóa Quan họ”, xuất bản năm 2006, tiếp tục được

tái bản năm 2011 do nhà nghiên cứu Lê Danh Khiêm làm chủ biên và là tác giả chính Đây được xem là công trình nghiên cứu khoa học có tính thuyết phục, khảo cứu một cách cụ thể và toàn diện tất cả các lĩnh vực của Văn hóa Quan họ Đây

cũng là “tập sách đầu tiên đưa ra những luận cứ và kiến giải khoa học về nguồn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

gốc sinh hoạt Văn hóa Quan họ qua đó thấy được quan niệm về cuộc sống, con người, thấy được cốt cách và tài năng của người Quan họ” [13].

Trong cuốn “Truyện cổ ca dao tục ngữ các làng Quan họ” của Trung Tâm

văn hóa tỉnh Bắc Ninh, xuất bản năm 2008 đã nêu lên những đặc điểm chính của

“truyện cổ- ca dao- tục ngữ, trình bày các câu truyện cổ ở các làng Quan họ gốc qua đó phản ánh cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, cuộc sống sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của cư dân vùng Quan họ”

[15]

Ngoài ra vấn đề này còn được nghiên cứu qua các văn bản hướng dẫn luận văn, luận án, các tạp chí như:

Năm 2011, Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch phối hợp với Sở Giáo dục và

Đào tạo tỉnh Bắc Ninh đã biên soạn “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy hát Dân ca Quan họ trong các trường học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2015”

Tài liệu giới thiệu những bài Quan họ cổ về văn hóa Quan họ nhằm góp phần giáo

dục ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Quan họ [26]

Ngày 16/1 /2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

lịch đã ban hành văn bản số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL về việc “Hướng dẫn

sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên” Văn bản nêu rõ: “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX được triển khai thực hiện hàng năm ở tất cả các cấp học giáo dục phổ thông và GDTX; Phương thức tổ chức dạy học các nội dung di sản văn hóa trong trường phổ thông, trung tâm GDTX bao gồm: Lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa hoặc ngoại khóa); Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có chủ đề liên quan đến di sản có tính chất điển hình và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, khai thác các nội dung khác của di sản văn hóa thông qua tư liệu, hiện vật Tổ chức chăm sóc di tích, các hoạt động giáo dục tại di tích; Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp: Dạy học trên lớp hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại nhà

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sản văn hóa; dạy học thông qua các phương tiện truyền thông, đa phương tiện;… lựa chọn những phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tìm hiểu, khai thác các giá

Trong luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục “Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học Lịch sử lớp 10 THPT tỉnh Bắc Ninh” năm 2013, trường

Đại học sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thanh Liễu; Luận văn Thạc sĩ

sư phạm Lịch sử của tác giả Nguyễn Tiến Dũng viết về: “Sử dụng tài liệu di sản văn hóa vật thể ở địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT tỉnh Hải Dương”, và luận văn “Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam theo hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT tỉnh Nam Định” của tác giả Bùi Thị Nhung, Đại học Quốc gia Hà Nội năm

2014 Các luận văn đều đề cập đến việc khai thác và sử dụng di sản văn hóa ở địa phương trong dạy học lịch sử và coi đó như một biện pháp đề nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT

Bên cạnh đó còn hàng loạt các bài viết trên các tạp chí như:

Tác giả Hoàng Thanh Hải với bài viết “Giáo dục ý thức tôn trọng và bảo

vệ phát huy giá trị các di sản văn hóa cho HS qua môn Lịch sử” tại Tạp chí

Nghiên cứu giáo dục số 5, năm 1997 đã đề cập đến hình thức và biện pháp sử dụng di tích lịch sử- văn hóa trong DHLS

Tác giả Trần Văn Thụ viết trong Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 11 năm

1996 đã nêu ra “Phương pháp giảng dạy nội dung văn hóa môn Lịch sử ở trường THPT” Các bài viết “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 777 năm 2007 của tác giả Chu Thái Thành; Bài viết “Tổ chức hoạt động trải nghiệm tại di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử

ở trường trung học cơ sở” được đăng trong số đặc biệt, Tạp chí Giáo dục năm

2017 của Phan Thị Hiền; Bài viết “Sử dụng Di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử Việt Nam trong chương trình lịch sử 11 vùng Đồng bằng sông Cửu Long” số 375 kì 1- tháng 2 năm 2016 Tạp chí Giáo dục và “Tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở các trường THPT thành phố Cần Thơ” tập 54,

số 3C năm 2018, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ đều của tác giả

Nguyễn Đức Toàn Hay bài viết: “Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống địa phương cho học sinh trung học phổ thông vùng Tây Bắc thông qua một số hoạt động trải nghiệm trong dạy học Lịch sử”, Số đặc biệt, Tạp chí Giáo dục năm

2018 của tác giả Vũ Thị The Dù các bài viết đều có những cách tiếp cận ở những góc độ khác nhau nhưng đều đã phân tích được vai trò, ý nghĩa DSVH trong DHLS ở trường THPT, từ đó đã đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo tồn DSVH trên địa bàn đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn

Như vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề sử dụng DSVH trong dạy học Đó là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho đề tài nghiên cứu của tôi Tuy nhiên, các công trình mới chỉ đề cập đến một khía cạnh về sử dụng di sản chứ chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng di sản văn hóa Dân ca quan họ trong dạy học lịch ở trường THPT tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về

việc khai thác, sử dụng tài liệu về DSVH Dân ca quan họ trọng dạy học Lịch sử

ở trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tập trung vào bài học nội khóa, bài lịch sử địa phương và hoạt động trải nghiệm sáng tạo

- Phạm vị điều tra: Do điều kiện, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát ở các trường THPT trên địa bàn Huyện Thuận Thành - Tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi thực nghiệm: Đề tài thực nghiệm một bài học học nội khóa, bài lịch sử địa phương và hoạt động trải nghiệm ở trường THPT Thuận Thành số 2

- Bắc Ninh

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Phạm vi vận dụng: Chương trình Lịch sử ở trường phổ thông (Chương trình chuẩn lớp 10); Chương trình lịch sử địa phương; Chương trình trải nghiệm ở trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở khẳng định ý nghĩa của việc sử dụng các DSVH trong dạy học Lịch sử, luận văn khẳng định vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS ở trường phổ thông tỉnh Bắc Ninh

- Lựa chọn những tài liệu về DSVH Dân ca Quan họ để khai thác sử dụng trong DHLS và đề xuất một số hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu về DSVH Dân ca Quan họ trong dạy học Lịch sử

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS ở trường phổ thông

- Tìm hiểu những nội dung tài liệu DSVH Dân ca Quan họ có thể khai thác, sử dụng trong DHLS

- Khảo sát đánh giá thực trạng DHLS ở trường phổ thông nói chung, thực trạng việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS nói riêng

- Đề xuất biện pháp sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS qua đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Dân ca Quan họ

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lên Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, công tác bảo tồn và phát huy các Di sản văn hóa dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo; các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học Lịch sử, các tài liệu lịch sử; tài liệu về di sản văn hóa và di sản văn

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hóa Dân ca Quan họ; chương trình dạy học Lịch sử ở trường phổ thông để xác định những nội dung có thể sử dụng di sản văn hóa Dân ca Quan họ

- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS ở trường phổ thông

- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài, tiến hành thực nghiệm sư phạm một bài lịch sử cụ thể, thiết kế một hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh; Sử dụng thống kê toán học trong nghiên cứu để phân tích, xử lý các số liệu sau quá trình thực nghiệm sư phạm

6 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên thực hiện được các yêu cầu và biện pháp sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS theo như đề xuất trong luận văn sẽ đáp ứng được mục tiêu trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng, đồng thời góp phần giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc

7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn những đóng góp của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm phong phú thêm hệ thống lí luận và phương pháp DHLS về vấn đề sử dụng các DSVH trong DHLS

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp GV môn LS ở trường THPT vận dụng vào thực tiễn dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Đồng thời kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho giảng viên, GV các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm khi dạy và học môn phương pháp DHLS; là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học… chuyên ngành sư phạm LS; góp phần vào việc bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc nói chung và DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh nói riêng

- Đóng góp của luận văn: Khẳng định vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS; đánh giá thực tiễn việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS ở trường phổ thông tỉnh Bắc Ninh; xác định các tài liệu về DSVH Dân ca Quan họ có thể khai thác, sử dụng trong DHLS; đề xuất biện pháp sử dụng DSVH Dân ca Quan họ trong DHLS ở trường phổ thông tỉnh Bắc Ninh

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng di sản văn hóa Dân ca Quan

họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT

Chương 2: Các biện pháp sử dụng di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG

DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC

LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Di sản văn hóa Việt Nam là sự kết tinh từ sáng tạo văn hóa của cộng đồng

54 dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, kế thừa và tái tạo qua nhiều thế hệ; là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa văn minh nhân loại Di sản văn hóa Việt Nam đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể

có sức sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy

Theo Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10; Luật di sản văn hóa sửa đổi,

bổ sung số 32/2009/QH12 [29]:

“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Điều 4 khoản 1 quy định:

“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y học,

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dược học, cổ truyền, về văn hóa ẩm thục, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”

Theo Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 Điều 1, sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 4:

“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc

cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”

Tại Điều 2, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Di sản, Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian, bao gồm thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ, câu đối, ngụ ngôn, ca dao, truyện thơ dân gian, sử thi, trường ca, văn tế, lời khấn và các hình thức ngữ văn truyền miệng khác; Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu, trò nhại, hát đối, trò chơi

và các hình thức trình diễn dân gian khác; Lối sống, nếp sống thể hiện qua khuôn phép ứng xử- đối nhân xử thế; luật tục hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ trong ứng xử với tổ tiên, với ông bà, cha mẹ, với thiên nhiên, ma chay, cưới xin,

lễ đặt tên, hành động, lời chào - mời và các phong tục tập quán khác; Lễ hội truyền thống bao gồm lễ hội có nội dung đề cao tinh thần yêu nước, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm, tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, ca ngợi tinh thần cần cù lao động sáng tạo của nhân dân, đề cao lòng nhân ái, khái vọng tự do hạnh phúc, tinh thần đoàn kết cộng đồng; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức văn hóa dân gian bao gồm tri thức về y học, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về thiên nhiên và kinh nghiệm sản xuất, về binh pháp, về kinh nghiệm sáng tác văn nghệ (học thuật), trang phục truyền thống, đất nước, khí hậu, thời tiết, tài nguyên… và các tri thức dân gian khác

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối Di sản văn hóa nói chung

và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, dù xét ở góc độ nào thì chúng cũng luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc Di sản văn hóa nói lên chiều sâu lịch sử, đặc điểm kiến trúc, đời sống tâm hồn Di sản văn hóa chính là những gì quá khứ để lại, vì vậy nó có ý nghĩa

to lớn, là tấm gương phản chiếu quá khứ và phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn

Theo quan niệm dân gian có ba quan niệm khác nhau về nghĩa của tên gọi Quan họ, gắn liền với nguồn gốc ra đời của Quan họ Đó là quan niệm cho rằng Quan họ nghĩa là “Họ nhà quan”; Quan họ nghĩa là “Quan dừng lại” và Quan họ nghĩa là “Quan viên hai họ”

Theo các nhà nghiên cứu, đã có rất nhiều các bài viết, công trình nghiên cứu về Quan họ song chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về nguồn gốc của

Quan họ Đáng chú ý nhất là bài viết “Quan họ tên gọi và nguồn gốc” của nhà

nghiên cứu âm nhạc Quan họ Hồng Thao, đăng trên Văn nghệ Hà Bắc số 2-1990 Tác giả cho rằng Quan họ có sớm nhất là từ thế kỉ XV, thời điểm ra đời của thơ lục bát- dạng thơ phổ biến của lời ca Quan họ Đồng thời, những liền anh, liền chị gọi nhau là “Quan họ” là “để đề cao, để thi vị hóa bạn mình”

Cho dù Quan họ được giải thích bằng nhiều cách khác nhau về nguồn gốc

ra đời, về cách giải thích tên gọi Quan họ thì tựu chung lại, Quan họ là một một hình thức dân ca dân gian đặc trưng của một vùng Kinh Bắc xưa, đã có từ rất lâu đời Quan họ có nguồn gốc sâu xa từ sinh hoạt giao duyên, đối đáp nam - nữ từ thủa xa xưa mà hầu hết các dân tộc anh em với người Việt đều có Nó tồn tại thường nhật, tập trung nhất và thăng hoa trong sinh hoạt lễ hội của nhân dân Do

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đặc trưng tính chất của loại hình này là truyền miệng nên nó có sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng

1.1.2.2 Không gian văn hóa Quan họ

Di sản văn hóa dân ca Quan họ tồn tại và lan tỏa ở cả một vùng rộng lớn Tuy nhiên, sinh hoạt văn hóa Quan họ thực chất chỉ tồn tại ở một địa vực nhất định, đó là 49 làng quan họ gốc Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 44 làng quan họ Các làng Quan họ ở Bắc Ninh được phân bố ở thành phố Bắc Ninh (14 làng), huyện Tiên Du (11 làng), huyện Yên Phong (17 làng), huyện Từ Sơn (2 làng)

Hát Quan họ thường được tổ chức vào dịp hội xuân Từ tháng giêng đến tháng 3 hàng năm, bước vào thời kỳ nông nhàn, thời tiết mát mẻ, khô ráo, thuận tiện cho việc tổ chức hội làng Ngày hội xuân của bất cứ làng Quan họ nào cũng sôi động với các hoạt động hát Quan họ Ngoài ra Quan họ còn được hát vào mùa thu, mùa hè hoặc bất cứ ngày nào trong năm trong các dịp mừng thọ, mừng nhà mới, đám cưới…Có hai hình thức hát Quan họ ngoài trời và hát Quan họ trong nhà

Về hình thức trình diễn, trong quá trình tồn tại và phát triển, Dân ca Quan

họ Bắc Ninh đã hình thành nhiều hình thức ca hát Trong đó, phổ biến cho toàn vùng, Quan họ có 4 hình thức trình diễn khác nhau: Hát chúc, hát mừng; hát thờ (hay còn gọi là ca Quan họ thờ); hát hội và hát canh

Tổ chức cơ sở của Quan họ phổ biến gọi là “bọn Quan họ” (riêng ở Thị Cầu gọi là sân Quan họ) Mỗi làng Quan họ gốc đều có bọn Quan họ Nam và bọn Quan họ Nữ Đứng đầu bọn Quan họ là ông Trùm và bà Trùm Mỗi bọn Quan họ đều có 5 liền anh hoặc 5 liền chị là những người trực tiếp đi “chơi Quan họ” Mỗi liền anh, liền chị đều có tên phiến chỉ theo thứ tự số lượng, từ anh Hai đến anh Sáu, từ chị Hai đến chị Sáu Ngoài ra mỗi bọn Quan họ đều có một người chuyên làm nhiệm vụ sáng tác giọng Quan họ mới và bài đối Tuy không nằm trong tổ chức nhưng mỗi bọn đều có những người phục vụ đặc biệt là các “em bé” mười, mười hai tuổi theo học Đây là biện pháp đào tạo tầng lớp kế cận của Quan họ

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Văn hóa Quan họ là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có trang phục Quan họ Trang phục Quan họ đóng vai trò không thể thiếu trong trình diễn văn hóa Quan họ Trang phục của người chơi Quan họ giản dị và mang bản sắc văn hóa dân tộc: liền anh đội khăn xếp, mặc áo the, quần trắng, mỗi người có một chiếc ô đen to gọi là ô lục soạn làm đạo cụ Liền chị đội nón quai thao, mặc áo

mớ ba, mớ bảy với các màu hồng, cánh sen, đỏ, vàng, xanh, nâu, tím… ngang lưng các liền chị thắt dải lụa đào, hòa cùng màu yếm đào trước ngực vô cùng đẹp mắt Trong không gian gia đình, liền chị có thể chít khăn mỏ quạ đen Các đạo

cụ như ô, nón quai thao… của các liền anh, liền chị vừa có ý nghĩa sử dụng vừa góp phần tạo ra vẻ duyên dáng, mềm mại khi ca hát

Có nhiều phong tục trong giao du Quan họ tiêu biểu là tục kết bạn Đây là một nét đặc biệt trong sinh hoạt văn hóa Quan họ Đã là Quan họ kết bạn phải khác giới (âm dương tương cầu), khác làng (làng đối làng) Khi kết bạn, Quan

họ đều là anh, là chị, là em của nhau, rất ít khi Quan họ kết bạn lấy nhau làm vợ chồng Khi đi hội hè, các Quan họ kết bạn thường rủ nhau cùng đi Mỗi khi làng

có hội hoặc những việc vui mừng, Quan họ kết bạn cũng thường mời nhau đến nhà ca hát Giữa Quan họ kết bạn với nhau luôn có sự tôn trọng, quý mến, đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau

Tục rủ bọn: Muốn đi hát quan họ phải có bọn: Bọn Quan họ Nam và bọn Quan họ Nữ Mỗi bọn Quan họ thường có từ 4 đến 6 người và được đặt tên từ anh Hai, chị Hai đến anh Sáu, chị Sáu, không có chị cả, anh cả trong bọn Quan

họ Trong bọn Quan họ, họ sống đùm bọc, yêu thương, gắn bó cùng nhau Bọn Quan họ thường có hoạt động “ngủ bọn” ở nhà một anh, một chị nào đó trong bọn Quan họ để học câu, luyện giọng Những bọn Quan họ này thường là bạn trọn đời trong cả ca hát và đời thường

Giao tiếp trong sinh hoạt văn hóa Quan họ đòi hỏi mọi người khi đã đến với Quan họ đều phải lịch sự, trang nhã từ trang phục, cử chỉ, ngôn ngữ khi ăn nói, lúc đứng, ngồi… cho đến miếng trầu, chén nước Vì vậy, giao tiếp trong ca Quan họ là một mảng giá trị đẹp trong văn hóa lối sống, văn hóa giao tiếp xưa

và nay Bởi thông qua những hành vi, cử chỉ tao nhã, lịch thiệp đã cho ta hiểu

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

được phong cách, thái độ đối xử của những người chơi Quan họ với nhau Từ khi Dân ca Quan họ được sinh ra, bản thân nó đã mang trong mình những hình thức sinh hoạt hay những hành vi giao tiếp trong văn hóa Quan họ rất đặc trưng

và khác biệt

Trong các cuộc chơi Quan họ xưa, bọn Quan họ thường kết bạn với nhau

và quan hệ với nhau thường xuyên, nên họ khăng khít và gắn bó với nhau như tình cảm ảnh em ruột thịt hay người thân trong gia đình Bởi vậy, khi họ gặp nhau thì hát Quan họ cũng chỉ là hát chơi chứ không phải hát để phân cao thấp Đặc trưng của ngôn ngữ giao tiếp và lời ca Quan họ là tính trân trọng, cung kính, bình đẳng và đề cao lẫn nhau Khi giao tiếp và cả khi hát, cả hai bên (nam- nữ) đều tự xưng là “em” hoặc “chúng em” và gọi bên kia là “anh” hoặc “chị”, cho

dù đối tượng được gọi là nam hay nữ, ít tuổi hay nhiều tuổi hơn Điều này thể hiện tính bình đẳng trong văn hóa hành vi Quan họ.Người Quan họ lại hay dùng ngoa dụ để nói về bạn, đề cao bạn Người Quan họ cũng sử dụng nhiều nhã ngữ khi giao tiếp và ca hát (là cách nói gián tiếp, tránh gọi tên trực tiếp các sự vật, hiện tượng) Do đó, người Quan họ không bao giờ gọi tên thật của nhau mà dùng những đại từ phiếm chủ đầy tính trân trọng như Người, Quan họ, Đương Quan họ…

Người Quan họ luôn sử dụng một loại ngôn ngữ đặc biệt, đó là “miếng giầu” Trong mọi lĩnh vực sinh hoạt Quan họ đều gắn liền với miếng giầu Quan

họ gặp nhau, việc đầu tiên là mời nhau xơi khẩu giầu, sau rồi mời ca với nhau, mời ướm thử nhời nhau xin nên bạn nên tình Việc mời giầu của người Quan họ rất lịch thiệp, tao nhã thể hiện qua lời ca, qua miếng giầu têm cánh quế, giầu têm cánh phương cầu kì như gửi gắm tấm lòng, sự trân quý của người Quan họ

1.1.3 Đặc điểm của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông

Kiến thức lịch sử mang những đặc điểm nổi bật đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống và sự thống nhất giữa sử và luận

Tính quá khứ:

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lịch sử là quá tình phát triển của xã hội loài người từ lúc con người hình thành đến nay Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ Kiến thức Lịch sử là những sự kiện hiện tượng Lịch sử đã xảy ra trong quá khứ không thể khôi phục hay làm thí nghiệm lại được Đây là điều khác biệt giữa hiện tượng lịch sử với các hiện tượng tự nhiên Điều này tạo ra những khó khăn nhất định trong việc giảng dạy lịch sử Giáo viên phải thông qua việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh hình dung, tưởng tượng, tái tạo lại sự kiện, hiện tượng lịch sử đúng như nó đã từng tồn tại, từ đó tạo nên ưu thế cho bộ môn là giúp bồi dưỡng và phát triển trí tưởng tượng cho học sinh

Tính không lặp lại:

Kiến thức lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra ở một khoảng thời gian, không gian nhất định Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào là hoàn toàn giống nhau

mà là sự kế thừa, phát triển của một sự kiện, hiện tượng lịch sử khác Do dó, trong giảng dạy Lịch sử, khi trình bày một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó nhất thiết phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó

Tính cụ thể:

Lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc đều có những diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định nên lịch sử của các quốc gia dân tộc hoàn toàn không giống nhau Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu thì càng sinh động, hấp dẫn bấy nhiêu

Tính hệ thống:

Tri thức lịch sử rất phong phú, đề cấp đến tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội loài người, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nghệ thuật, khoa học kĩ thuật…Trong lịch sử, không có sự kiện nào là tồn tại đơn lẻ, riêng

rẽ mà nó có mối liên hệ với những sự kiện trước nó, sau nó và đồng thời với nó

Dó đó, trong giảng dạy Lịch sử, GV phải luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc,

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trước sau của các vấn đề lịch sử để cung cấp cho HS những tri thức khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh nhất

Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”

Học sinh nhận thức sự kiện, hiện tượng lịch sử không chỉ dừng lại ở việc

“biết” mà cần phải giải thích sự kiện, so sánh, đánh giá, rút ra quy luật và bài học kinh nghiệm Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát tự sự kiện cụ thể, chính xác, đáng tin cậy

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

1.1.4.1 Vai trò

Di sản văn hóa dân ca Quan họ Bắc Ninh là những kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung và cư dân vùng Kinh Bắc nói riêng Trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho đến ngày nay Những giá trị của DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã và đang được bảo tồn trong đời sống xã hội, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa địa phương Đối với giáo dục, việc sử dụng DSVH trong DHLS ở trường THPT có vai trò to lớn:

Thứ nhất: Góp phần đổi mới dạy học theo hướng tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn

Sử dụng DSVH trong DHLS ở trường THPT là một phương pháp vừa có yếu tố truyền thống, vừa có yếu tố hiện đại Với các nguồn tài liệu liên quan đến

di sản góp phần quan trọng trong việc khôi phục và tái tạo hình ảnh quá khứ Qua

đó, bài học trở nên sinh động hấp dẫn và giúp học sinh tiếp thu bài tốt hơn Việc

sử dụng tài liệu về các DSVH còn giúp học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành khái niệm, hiểu rõ quy luật, bài học quan trọng của lịch sử, rèn luyện cho học sinh thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy lịch sử Học sinh vận dụng kiến thức lịch sử, bài học lịch sử vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày Từ việc thay đổi thái độ với bộ môn, phương pháp tiếp cận bộ môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thứ hai: Vai trò trong giáo dục ý thức đạo đức, ý thức bảo vệ, phát huy giá trị của DSVH trong cộng đồng

Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học không chỉ góp phần củng cố kiến thức bộ môn mà còn giúp học sinh hiểu được DSVH là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lâu bền về khoa học, lịch sử, được lưu truyền vĩnh cửu từ đời này sang đời khác, đó là thứ tài sản vô cùng quý báu mà cha ông để lại cho con cháu muôn đời sau, là yếu tố tạo nên bản sắc riêng của mỗi một cộng đồng, quốc gia, dân tộc Từ đó, giúp thế hệ trẻ có cái nhìn đúng hơn về những giá trị văn hóa dân tộc, ý thức về việc họ chính là những chủ nhân hưởng thụ và bảo vệ, phát huy giá trị của các DSVH, hình thành và nâng ý thức trân trọng, giữ gìn và bảo vệ DSVH

Thứ ba: Góp phần tuyên truyền, quảng bá về DSVH

Thông qua các hoạt động giáo dục tại nhà trường, GV có điều kiện hướng dẫn cho HS những cách thức, biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH của chính bản thân họ và cộng đồng của họ Đây chính là hình thức giáo dục thực tiễn thiết thực nhất và dễ tiếp thu nhất Đồng thời, với việc sử dụng DSVH trong DHLS ở trường THPT, các địa phương có dịp quảng bá, giới thiệu giá trị DSVH rộng rãi đến các đối tượng công chúng trong toàn xã hội

1.1.4.2 Ý nghĩa

Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quan quý giá trong dạy học nói riêng và giáo dục nói chung Vì vậy, sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa rất lớn về cả ba mặt:

Trước hết về mặt nhận thức

Sử dụng DSVH nói chung và DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh nói riêng trong DHLS Việt Nam sẽ góp phần làm phong phú thêm tri thức của HS về quê hương, nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc Góp phần cụ thể hóa kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa mà

HS cần thu nhận Từ đó hình thành những biểu tượng chân thực, giúp HS nhớ lâu, hiểu sâu sự kiện liên quan đến bài giảng với đầy đủ khía cạnh của nó Đồng

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thời, cũng góp phần tăng thêm tính sinh động của giờ giảng khiến kiến thức lịch

sử trở nên chân thực, gần gũi

Ngoài ra, sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh còn góp phần mở rộng kiến thức cho HS Học sinh không chỉ được học những kiến thức đã có trong chương trình mà còn có những kiến thức mới được khám phá trong quá trình trải nghiệm thực tế cùng di sản Từ đó, HS có thể dễ dàng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, hiểu một cách sâu sắc hơn về các sự kiện lịch sử, mối quan hệ của các sự kiện và có giải thích một cách khoa học hơn về các hiện tượng liên quan đến thế giới xung quanh

Thứ hai về phát triển kĩ năng cho HS

Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, tài liệu tham khảo nói chung, tài liệu DSVH nói riêng nếu được sử dụng hợp lý trong DHLS Việt Nam góp phần rèn luyện, phát triển các kĩ năng cho HS như: Tri giác tài liệu, tìm kiếm và xử lý thông tin, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và đặc biệt là phát triển năng lực học tập bộ môn, năng lực thực hành; giúp các em dễ dàng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống

Thứ ba về mặt giáo dục thái độ

Sử dụng có hiệu quả nguồn tài liệu DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hương đất nước, kính yêu quần chúng nhân dân, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, tự hào về mảnh đất mình đã sinh

ra và lớn lên, biết ơn, trân trọng những đóng góp của cha ông và mong muốn góp sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn Mặt khác, trên cơ sở được trải nghiệm thực tế tại DSVH thấy những hình ảnh chân thực, tiếp xúc với những nghệ nhân sống sẽ khơi dạy trong trái tim các em lòng kính yêu, khâm phục những người đã sáng tạo ra DSVH, từ đó nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về trách nhiệm bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Mặt khác, sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS còn là một biện pháp tích cực để thực hiện nguyên lý “học đi đôi với hành”, “nhà trường

gắn với xã hội”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”,“Giáo dục phổ thông phải gắn

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

liền với lịch sử, thiên nhiên, xã hội, con người địa phương, làm cho việc giảng dạy và học tập ở nhà trường thắm đượm hơn cuộc đời thực, HS lúc đi học đã học, đã sống thực với xã hội xung quanh” [16]

Như vậy, việc học tập lịch sử có sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh có vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho HS; giúp HS phát triển kĩ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức; kích thích hứng thú học tập cho HS; phát triển trí tuệ; giáo dục nhân cách HS Trên cơ sở đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS, nâng cao chất lượng giáo dục phù hợp, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo

sát việc sử dụng DSVH nói chung và DSVH Dân ca quan họ Bắc Ninh Nói riêng trên địa bàn Huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh

Địa điểm khảo sát: Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát ở các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh bao gồm Trường THPT Thuận Thành số 1, Trường THPT Thuận Thành số 2, Trường THPT Thuận Thành số 3 và Trung tâm GDTX huyện Thuận Thành

Thời gian khảo sát: chúng tôi tiến hành khảo sát trong năm học 2019-2020 (tháng 3-5 năm 2020)

Đối tượng khảo sát: Giáo viên lịch sử ở các trường THPT (25 giáo viên): Trường THPT Thuận Thành số 1, Trường THPT Thuận Thành số 2, Trường THPT Thuận Thành số 3, Trung tâm GDTX huyện Thuận Thành Học sinh (160 em) thuộc khối lớp 10, 11, 12 tại các trường THPT: Trường THPT Thuận Thành

số 1, trường THPT Thuận Thành số 2, Trường THPT Thuận Thành số 3, Trung Tâm GDTX huyện Thuận Thành Hầu hết các trường trên địa bàn huyện là những trường có truyền thống dạy tốt, học tốt, đội ngũ GV tâm huyết, yêu nghề, giàu kinh nghiệm, HS chăm ngoan, có ý thức học tập và trình độ nhận thức khá tốt

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Kế hoạch tiến hành: Soạn phiếu điều tra GV, HS sau đó tiếp xúc, phỏng vấn và phát phiếu điều tra cho GV và HS các trường THPT trên địa bàn huyện

Các phương pháp điều tra, khảo sát phỏng vấn GV lịch sử, HS các trường THPT về vấn đề cần khảo sát, điều tra bằng các phiếu điều tra, nhằm thu thập ý kiến của GV và HS về vấn đề cần khảo sát, dự giờ ở các trường THPT, quan sát hoạt động dạy học trên lớp của GV và HS; đánh giá chung về thực trạng DHLS

có sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS ở trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh

Kết quả khảo sát phiếu điều tra thu được như sau:

1.2.1.1 Đối với giáo viên

Câu 1: Thầy cô đánh giá như thế nào về việc dạy và học lịch sử hiện nay

Câu 2: Ngoài SGK, trong chương trình dạy học, Thầy (Cô) có sử dụng

thêm tài liệu tham khảo nào khác không?

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đối với câu hỏi này, có 68% GV thường xuyên sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo ngoài SGK trong quá trình DHLS ở trường phổ thông, 32% GV có thỉnh thoảng sử dụng Không có GV nào không bao giờ sử dụng tài liệu tham khảo Cho thấy, GV đã nhận thức đúng đắn sự cần thiết, tầm quan trọng, ý nghĩa lớn lao của việc sử dụng tài liệu tham khảo trong DHLS ở trường phổ thông

Câu 3: Theo Thầy (Cô) có cần thiết phải sử dụng DSVH Dân ca Quan họ

Bắc Ninh vào DHLS ở trường THPT hay không?

Câu 4: Theo Thầy (Cô) việc sử dụng Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc

Ninh trong dạy học lịch sử có ý nghĩa gì?

Câu 5: Theo Thầy (Cô) việc sử dụng tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca

Quan họ Bắc Ninh vào dạy học có gì khác so với các tiết học hàng ngày mà Thầy (Cô) vẫn làm?

Kết quả thu được: Có 52% GV được hỏi cho rằng việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS là rất cần thiết; 44% GV cho rằng là cần thiết, chỉ có 4% GV chọn không cần sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trong DHLS Khi được hỏi về ý nghĩa của việc sử dụng DSVH trong DHLS, 68%

số GV được hỏi khẳng định sử dụng DSVH trong dạy học góp phần quan trọng vào việc giáo dục ý thức bảo tồn, phát huy DSVH, giúp học sinh trân trọng giá trị di sản, có 20% GV cho rằng sử dụng di sản có ý nghĩa trong việc phát triển các kĩ năng cần thiết cho HS, 12% GV cho rằng có ý nghĩa trong việc củng cố kiến thức bộ môn 100% GV cho rằng việc sử dụng tài liệu DSVH dân ca Quan

họ Bắc Ninh trong DHLS tạo nên sự khác biệt so với các tiết học hàng này mà

GV vẫn làm Trong đó, 64% GV cho rằng, GV sẽ phải làm việc nhiều hơn để giảng cho HS hiểu biết về DSVH, 36% cho rằng, bài học có thêm tài liệu tham khảo hỗ trợ giúp HS hứng thú hơn trong quá trình học tập Như vậy, hầu hết các

GV đều thấy được sự cần thiết, ý nghĩa to lớn của việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS ở trường phổ thông hiện nay

Câu 6: Thầy (Cô) có thường xuyên sử dụng tài liệu về Di sản văn hóa Dân

ca Quan họ Bắc Ninh vào dạy học ở trường THPT hay không?

Mặc dù đã nhận thức được sự cần thiết và ý nghĩa to lớn của việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS ở trường phổ thông nhưng khi được hỏi rằng Thầy (Cô) có thường xuyên sử dụng tài liệu về DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh vào dạy học ở trường THPT hay không? Có tới 52% GV chưa bao giờ sử dụng, 28% GV chỉ sử dụng trong một số bài có nội dung phù hợp, 12% GV có sử dụng thường xuyên, 2% GV thỉnh thoảng mới sử dụng Kết quả trên cho thấy, việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS vẫn còn rất hạn chế

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Câu 7: Thầy (Cô) thường sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc

Ninh trong DHLS ở trường phổ thông dưới hình thức nào?

Kết quả cho thấy, đa số GV sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS khi tiến hành bài Lịch sử địa phương (72%), 20% trong tổ chức hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm, chỉ có 8% GV sử dụng khi tiến hành bài học nội khóa trên lớp

Câu 8: Theo Thầy (Cô) hình thức nào sau đây giúp HS học tập với tài liệu

Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh có hiệu quả?

Có 56% GV cho rằng hình thức giúp HS học tập với tài liệu DSVH Dân

ca Quan họ Bắc Ninh có hiệu quả là hướng dẫn cho HS tiếp cận trực tiếp với DSVH, 20% GV lựa chọn tổ chức HS tiếp cận với tài liệu DSVH dưới sự hướng dẫn của GV, 14% GV lựa chọn hướng dẫn HS tự tìm kiếm tài liệu về DSVH qua Internet, 8% GV cho rằng nên giao cho HS tự lập kế hoạch, tự nghiên cứu tài liệu về DSVH

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh được sử dụng nhiều nhất khi

GV tiến hành dạy bài Lịch sử địa phương Điều này cũng có cơ sở bởi DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một trong những nét nổi bật, tạo nên đặc trưng của tỉnh Bắc Ninh Phương pháp được cho là hiệu quả nhất khi sử dụng DSVH là hướng dẫn HS tiếp cận trực tiếp với DSVH thông qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tổ chức hoạt động trải nghiệm tại các làng Quan họ cổ Với phương pháp này, HS sẽ rất hứng thú, HS được đến tận nơi để trực quan sinh động và thực hiện các nhiệm vụ GV đưa ra một cách thực tế nhất Điều đó tạo nên một môi trường học tập mở, thoải mái, HS được trực tiếp tiếp xúc với các nghệ nhân, được thực hành hát các làn điệu Dân ca Quan họ từ đó hiệu quả giáo dục được nâng cao

Câu 9: Vì sao trong thời gian qua, Thầy (Cô) ít quan tâm đến việc sử dụng

Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc Ninh trong dạy học lịch sử?

Khi được hỏi vì sao trong thời gian qua, Thầy (Cô) ít quan tâm đến việc

sử dụng DSVH Dân ca quan họ Bắc Ninh trong dạy học lịch sử? Có 20% GV ít

sử dụng do mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị bài, 48% do không có tài liệu, hướng dẫn tổ chức thực hiện, 20% do GV có hiểu biết chưa nhiều về DSVH, chưa biết cách khai thác và sử dụng có hiệu quả DSVH, 12 % GV đưa ra các lý

do khác như thời lượng trên lớp không đủ để có thế khai thác về di sản, hạn chế

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

vì không có kinh phí để tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho HS hay GV chưa được đào tạo nghiên cứu nhiều về di sản…

Câu 10: Thầy (Cô) có đề xuất gì để việc sử dụng tài liệu DSVH Dân ca

Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông có hiệu quả hơn?

Để khắc phục những khó khăn trong quá trình sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS nêu trên chúng tôi đã đề cập đến một số đề xuất Kết quả thu được là đã 24% GV cho rằng cần tăng cường hệ thống tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc Ninh, 36% GV chọn tăng thời lượng cho việc

sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS 24% GV cho rằng cần

có văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể việc sử dụng DSVH dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS, 12% GV yêu cầu cần tổ chức tập huấn cho GV về việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS, 4% GV đề nghị đầu tư kinh phí cho các trường tổ chức thực hiện giáo dục di sản

Như vậy, qua điều tra thực tế GV dạy lịch sử cho thấy rằng đa số GV đều nhận thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu DSVH Dân

ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS Do vậy, GV đã có những đề xuất về biện pháp, hình thức sử dụng có hiệu quả DSVH trong DHLS, coi đó là một nhân tố quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học

1.2.1.2 Đối với học sinh

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 1.1 Kết quả điều tra học sinh

Chưa có điều kiện đọc 82 51,3

4 Những kênh thông tin nào

giúp em biết nhiều hơn về Di

sản văn hóa Dân ca Quan họ

Bắc Ninh?

160

Tìm hiểu trên các phương tiện truyền thông, sách báo, internet 50 31,3 Thông qua giờ học trên lớp 80 50 Qua các chuyến đi tham quan,

5 Theo em môn học nào sau

đây giúp em có hiểu biết nhiều

về Di sản văn hóa Dân ca Quan

6 Theo em, nếu sử dụng Di sản

Văn hóa Dân ca Quan họ Bắc

Ninh trong dạy học Lịch sử sẽ

7 Nếu Thầy (Cô) sử dụng tài

liệu về Di sản văn hóa Dân ca

Quan họ Bắc Ninh trong dạy học

8 Thầy (Cô) có thường xuyên

yêu cầu các em tìm hiểu về Di

Thỉnh thoảng

125 78,1

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sản văn hóa ở địa phương nói

chung và Di sản văn hóa Dân

ca Quan họ Bắc Ninh không?

Thường xuyên

35 21.9

9 Thầy (Cô) có thường xuyên

sử dụng Di sản văn hóa dân ca

Quan họ Bắc Ninh trong dạy

học lịch sử không?

160

10 Nhà trường, Thầy (Cô) đã

bao giờ tổ chức các hoạt động

trải nghiệm tìm hiểu về Di sản

văn hóa Dân ca Quan họ Bắc

Ninh không?

Kết quả điều tra đã cho thấy tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Khi được hỏi “Em có thích học môn Lịch sử ở trường THPT không?”, đại đa số HS đều có cùng câu trả lời là “bình thường”(57,5%), 23,1% khẳng định là “không thích” Khi hỏi “Theo em môn Lịch sử là môn học” có tới 36,3% HS coi đó là môn phụ Điều này phản ánh đúng thực trạng hiện nay, đa số các phụ huynh không muốn con em mình theo học các ngành xã hội, họ chủ yếu đầu tư cho con học các ngành tự nhiên hoặc các khối chuyên ngoại ngữ nên việc các em chú ý đầu tư cho môn Sử là rất ít Bên cạnh đó, có khoảng gần 20% HS được hỏi trả lời rằng thích hoặc rất thích học Lịch sử, một số là các em có năng khiếu, đam

mê thực sự với bộ môn nhưng cũng không ít trường hợp không học được môn tự nhiên mới tập trung học môn xã hội

Đa số HS còn chưa quan tâm đến tìm hiểu các DSVH nói chung và DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh nói riêng, rất ít HS tự thường xuyên tìm hiểu về di sản Có tới 51,3% HS trả lời rằng chưa có điều kiện đọc, hay tìm hiểu về Dân ca Quan họ Bắc Ninh khi được hỏi “Em có hay tìm hiểu về Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh không?”, 23,7% đã một vài lần tìm hiểu, 11,3% chưa bao giờ tìm hiểu; những hiểu biết về di sản HS chủ yếu biết được qua bài giảng của GV

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trên lớp Khi được hỏi “Theo em môn học nào sau đây giúp em có hiểu biết nhiều

về Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh?”, đã có tới 100% HS lựa chọn môn Lịch sử Điều đó cho thấy, HS vẫn còn thờ ơ đối với di sản, phần lớn kiến thức

HS có được về di sản đều thông qua bài học trên lớp ở trường phổ thông Từ đó khẳng định vai trò của bôn môn Lịch sử trong việc hình thành kiến thức cho HS

về di sản

Mặt khác, HS đều nhận thấy rằng khi Thầy (Cô) sử dụng Di sản Văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử sẽ làm cho bài học sẽ trở nên sinh động hơn, giúp nâng cao hiểu biết về di sản và nâng cao ý thức bảo vệ di sản Học sinh đều có thích (56,3%), rất thích (23,8%) khi Thầy (Cô) sử dụng di sản trong dạy học Lịch sử Nhưng phần lớn Thầy (Cô) đã ít nhiều nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng di sản trong DHLS nhưng chưa xem đây là việc làm thường xuyên, chỉ thỉnh thoảng mới yêu cầu HS tìm hiểu về di sản (78,1%)

và sử dụng di sản trong DHLS (70,6%) Các nhà trường chưa có điều kiện đảm bảo nên cũng chỉ thỉnh thoảng mới tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho HS để tìm hiểu về DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh

1.2.2 Những vấn đề rút ra từ thực tiễn

Sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS là cần thiết, nhằm làm sinh động, phong phú bài giảng, tạo sự hấp dẫn, thu hút sự hứng thú học tập cho học sinh, khiến giờ học bớt nhàm chán, khô khan; sử dụng tốt nguồn tài liệu

về DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh còn góp phần hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của DSVH; rèn luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập và rèn luyện; góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của HS Đồng thời bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, tình yêu, lòng tự hào dân tộc, biết trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Tuy GV đã có sử dụng tài liệu về DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS nhưng còn chưa thường xuyên, còn lúng túng trong việc khai thác nội dung tài liệu, tổ chức khai thác sử dụng tài liệu di sản trong giảng dạy Việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS ở trường phổ thông chỉ thực sự phát huy được tác dụng tối ưu khi có sự đầu tư thời gian, công sức để tìm hiểu, nghiên cứu, thiết kế nội dung phù hợp với bài giảng nhưng nhiều GV còn chưa chú trọng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đầu tư thời gian, công sức để tìm hiểu về Di sản, nghiên cứu sử dụng di sản trong dạy học một cách có hiệu quả cũng như hướng dẫn HS tìm hiểu về Di sản Mặt khác, do nhận thức chưa đầy đủ về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông nên vẫn có những GV cho rằng sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong DHLS là không phù hợp nên không bao giờ sử dụng hoặc chỉ dừng lại ở việc nhắc đến di sản

Đa số HS chưa thực sự hứng thú với việc học tập bộ môn Lịch sử Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên Đa số HS đều rất hứng thú với giờ học có sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh nhưng vẫn còn rất thụ động

HS chưa thực sự tích cực, chủ động tìm hiểu về di sản Kiến thức về di sản chủ yếu thông qua lời giảng của GV mà HS ít được tiếp xúc thực tế với di sản Điều này bắt nguồn từ trình độ hiểu biết của GV về di sản, thời lượng chương trình cũng như điều kiện của các nhà trường còn nhiều hạn chế nên thực hiện chưa được hiệu quả

Tiểu kết chương 1

Trong DHLS ở trường phổ thông, việc sử dụng DSVH Dân ca Quan họ Bắc Ninh có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng góp phần giáo dục toàn diện

Ngày đăng: 25/09/2020, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w