Khái quát chung về ngành công nghiệp - Khái niệm công nghiệp theo nghĩa là một ngành kinh tế: Một nghĩa rất phổthông của công nghiệp là “ hoạt động kinh tế qui mô lớn, sản phẩm có thể l
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ
1 Khái niệm chung về ngành công nghiệp ô tô
1.1 Khái quát chung về ngành công nghiệp
- Khái niệm công nghiệp theo nghĩa là một ngành kinh tế: Một nghĩa rất phổthông của công nghiệp là “ hoạt động kinh tế qui mô lớn, sản phẩm ( có thể là phi vậtthể) tạo ra trở thành hàng hóa” Theo định nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyênsâu khi đạt được một qui mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngànhkinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giảitrí, công nghiệp thời trang,công nghiệp ô tô, công nghiệp báo chí…
1.2 Khái niệm ngành công nghiệp ô tô
- Xe hơi hay ô tô là loại phương tiện giao thông chạy bằng bánh có chở theo
động cơ của chính nó Tên gọi ô-tô được nhập từ tiếng Pháp (automobile), tên tiếng
Pháp xuất phát từ từ auto (tiếng Hy Lạp, nghĩa là tự thân) và từ mobilis (tiếng LaTinh, nghĩa là vận động) Từ automobile ban đầu chỉ những loại xe tự di chuyểnđược gồm 'xe không ngựa' và 'xe có động cơ' Còn từ ô tô trong tiếng Việt chỉ dùng
để chỉ các loại có 4 bánh Các kiểu khác nhau của xe hơi gồm các loại xe, xe buýt,
xe tải Tới năm 2005 có khoảng 600 triệu xe hơi trên khăp thế giới (0,074 trên đầungười)
Khi lần đầu tiên ra mắt, xe hơi được hoanh nghênh như một (phương tiện) cảitiến về môi trường so với ngựa Trước khi nó ra mắt, ở Thành phố New York, hơn10.000 tấn phân hàng ngày được dọn khỏi các đường phố Tuy nhiên, năm 2006, các
xe hơi là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn cũng như ảnhhưởng tới sức khoẻ trên khắp thế giới
- Công nghiệp xe hơi là ngành sản xuất, chế tạo, lắp ráp để tạo ra sản phẩm là xehơi hoàn chỉnh Ngành công nghiệp xe hơi bao gồm cả: công nghiệp phụ trợ: sản xuấtlinh phụ kiện, chi tiết máy…phục vụ cho ô tô; nghiên cứu cải tiến,chế tạo, phát minh
ra kiểu dáng các loại xe mới; lắp ráp xe hơi; các dịch vụ chăm sóc;…công nghiệp xehơi bị thống trị bởi một số lượng khá nhỏ các nhà sản xuất, những nhà sản xuất lớnnhất (theo con số xe sản xuất ra) hiện là General Motors, Toyota và Ford MotorCompany Ngành công nghiệp ô tô thiết kế, phát triển, sản xuất, tiếp thị và bán tất cả
Trang 2các loại xe cộ Trong năm 2007, hơn 73 triệu ô tô các loại gồm xe du lịch và xethương mại được sản xuất ra trên toàn thế giới Trong tổng số 71,9 triệu ô tô mới đượcbán ra trên toàn thế giới có 22,9 triệu ờ Châu Âu, 21,4 triệu ở Châu Á Thái BìnhDương, 19,4 triệu ở Mỹ và Canada, 4,4 triệu ở Châu Mỹ La tinh, 2,4 triệu ở TrungĐông và 1,4 triệu ở Châu Phi Các thị trường ở Bắc Mỹ và Nhật Bản đã chững lại,trong khi đó, thị trường ở Nam Mỹ và Châu Á phát triển rất mạnh Trong các thịtrường chính, Nga, Braxin, Ấn Độ và Trung Quốc cho thấy sự phát triển nhanh nhất.Một số tên hiệu xe hơi nổi tiếng: Volkswagen, Mercedes, Opel, BMW, Audi, Ford,Renault, Toyota, Skoda, Peugeot, Citroen, Fiat, Mazda, Seat, Nissan, Hyundai,Honda, Kia, Volvo, Mitsubishi, Suzuki, Smart, Mini (BMW), Chevrolet, Porsche,Alfa Romeo, Daihatsu, Chrysler, Subaru, Land Rover, Dacia, Jeep, Saab, Lexus,Jaguar, Ssangyong, Lancia, GM, Sonstige, Gesamt.
2 Phân loại ngành công nghiệp ô tô theo cách phân loại các dòng xe ô tô
Mỗi dòng xe ô tô, loại xe ô tô đều có hình dáng, kích thước, công dụng và đặctính khác nhau nên việc sản xuất cũng đòi hỏi công nghệ cũng như khoa học kỹ thuậtkhác nhau Với những đòi hỏi riêng cho từng loại xe nên có thể dựa vào việc phân loạicác dòng xe để phân loại ngành công nghiệp ô tô theo việc sản xuất, lắp ráp các dòng
xe đó Cụ thể như sau:
2.1 Phân loại theo phân loại về thân xe (body)
Thân xe cơ bản được chia thành 3 phần: Khoang máy; khoang người ngồi;
khoang để hành lý
Có nhiều kiểu thân xe khác nhau:
-Sedan
Đây là kiểu thân xe có ba khoang riêng biệt, 4 cửa, 4-5 chỗ ngồi
-Coupe: Đây là dòng xe 2 cửa thể thao, có 4 chỗ ngồi, luôn thể hiện được sức
mạnh của động cơ
-Lift back (Hatch back) Về cơ bản nó giống với coupe, là sự kết hợp khoang
hành khách và khoang hành lý Lắp cốp đồng thời là cửa sau
-Hardtop Cơ bản giống Sedan, nhưng không có khung cửa sổ, và cộ trụ cửa -Convertible Đây là một kiểu Sedan hoặc Coupe, nhưng nó có khả năng thu gọn
mui lại thành một chiếc mui trần
-Pickup Đây là một loại xe tải nhỏ, có khoang máy kéo dài về phía trước ghế
người lái
Trang 3-Van and wagon Kiểu xe này là sự kết hợp khoang hành khách và khoang hành
ký, nó chứa được nhiều người và hành lý Khoang hành khách thông với khoang hànhlý
2.2 Phân loại theo ô tô sử dụng nhiên liệu động cơ
- Xe có động cơ sử dụng nhiên liệu xăng: Đây là loại xe có động cơ sử dụng
nhiên liệu xăng, vì động cơ xăng là một sản phẩm có công suất lớn mà lại gọn nhẹ, lênđược sử dụng rộng rãi trên các loại xe chở người
- Xe có động cơ sử dụng nhiên liệu Diesel: Đây là loại xe có động cơ sử dụng
nhiên liệu dầu Diesel, động cơ Diesel là loại động cơ có Mômen xoắn lớn, mà vậnhành lại kinh tế (dầu rẻ hơn xăng) vì vậy nó được sử dụng chủ yếu trên các xe tải vàthể thao đa dụng
- Xe có động cơ lai (Hybrid): là loại xe được trang bị động cơ khác với các xe
thông thường, có động cơ xăng và Mô tơ điện Vì động cơ xăng phát ra điện và nạpvào Ắc quy lớn, nên kiểu xe này không cần trang bị thêm một bình ắc quy tiêu chuẩn.Môtơ bánh xe chạy với dòng điện 270V, còn dòng điện khác vẫn là 12V, khi xe chạy
ở vận tốc thấp thì động cơ điện được kích hoạt, và khi ở vận tốc lớn thì động cơ xăng
sẽ vận hành cho xe chạy đồng thời cho ông em động cơ điện ăn Trên một số xe đượctrang bị bộ phận hấp thụ năng lượng từ bánh xe vào một máy phát điện, nạp vào ắcquy khi ta sử dụng phanh Nhờ có sử phối hợp nhịp nhàng giữa hai loại động cơ nên
nó đã giảm đáng kể lượng khí thải ra môi trường và vận hành cũng rất kinh tế
- Xe có động cơ sử dụng năng lượng điện.
Đây là xe chỉ sử dụng đơn thuần một loại động cơ điện, điện được dự trữ trongmột bình ắc quy lớn thường đặt dưới sàn xe, trên xe không có máy phát nên xe phảiđược sạc đầy trước mỗi chuyến đi Hệ thống điện dùng cho động cơ là 290V, còn các
hệ thống khác là 12V
- Xe có động cơ sử dụng năng lượng từ pin nhiên liệu.
Đây là xe chạy bằng động cơ điện, điện được tạo ra bởi phản ứng giữa Hydro vàOxy trong không khí, thải ra nước Vì chỉ thải ra nước, nên đây là loại xe sạch, không
ô nhiểm môi trường, dự đoán đây sẽ là loại động cơ của thế hệ sau
3 Các giai đoạn phát triển và đặc điểm của ngành công nghiệp ô tô
3.1 Các giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp ô tô
Trang 43.1.1 Lịch sử hình thành công nghiệp ô tô thế giới
Để có được một ngành công nghiệp ô tô phát triển rực rỡ như ngày hôm nay,ngành công nghiệp này đã trải qua một thời gian dài phôi thai mà những nền tảng đầutiên chính là phát minh ra các loại động cơ Năm 1887, nhà bác học người ĐứcNicolai Oto chế tạo thành công động cơ 4 kỳ và lắp ráp thành công chiếc ô tô đầu tiêntrên thế giới Có thể nói ô tô ra đời là sự kết tinh tất yếu của một thời kỳ nở rộ nhữngphát minh trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiên của nhân loại Bởi ngay
từ thế kỷ 13, nhà khoa học, triết học người Anh-Roger Bacon đã tiên đoán rằng “Rồicon người có thể chế tạo ra những chiếc xe có thể di chuyển bằng một loại sức kéonhanh không thể tin nổi, song tuyệt nhiên không phải dùng những con vật để kéo”.Kể
từ khi ra đời, ô tô đã dành được sự quan tâm của biết bao nhiêu nhà khoa học, bác học
vĩ đại Họ miệt mài nghiên cứu ngày đêm để không ngừng cải tiến nó về cả hình thứclẫn chất lượng: từ những chiếc xe thuở ban đầu thô sơ, kồng kềnh và xấu xí ngày càngtrở nên nhỏ nhẹ hơn và sang trọng hơn Không lâu sau ô tô trở nên phổ biến, vớinhững ưu điểm nổi trội về tốc độ di chuyển cao, cơ động, không tốn sức và vô sốnhững tiện ích khác, ô tô đã trở thành phương tiện hữu ích, không thể thiếu của ngườidân các nước công nghiệp phát triển và là một sản phẩm công nghiệp có ý nghĩa kinh
tế quan trọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới Chính vì thế, theo lịch sử ngành côngnghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên của thế kỷ 20-năm 1901, trên toàn thế giới đã có
621 nhà máy sản xuất ô tô xe máy, trong đó 112 ở Vương quốc Anh, 11 ở Italy, 35 ởĐức, 167 ở Pháp, 215 ở Mỹ và 11 nước khác Tuy nhiên, mốc thời gian đánh dấu sự rađời chính thức của ngành công nghiệp ô tô phải kể đến năm 1910 khi ông Henry Ford-Người sáng lập ra tập đoàn Ford Motor nổi tiếng, bắt đầu tổ chức sản xuất ô tô hàngloạt trên qui mô lớn Vào những năm 1930 của thế kỷ 20, trước chiến tranh thế giớithứ 2, ô tô đã có được những tính năng kỹ thuật cơ bản Cùng với những thành tựukhoa học kỹ thuật thời đó, công nghiệp ô tô thế giới đã thực sự trở thành một ngànhsản xuất đầy sức mạnh với 3 trung tâm sản xuất chính Bắc Mỹ, Tây Âu (từ trước chiếntranh thế giới thứ I) và Nhật Bản (trước chiến tranh thế giới thứ II) Hầu hết các hãngsản xuất có tên tuổi trên thế giới như Ford, General Motor, Toyota, Mercedes-Benz đều ra đời trước hoặc trong thời kỳ này Sau chiến tranh thế giới thứ II, cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật hiện đại bùng nổ, ô tô và công nghiệp ô tô cũng có nhữngbước tiến vượt bậc Những thành tựu khoa học kỹ thuật được áp dụng như vật liệumới, kỹ thuật điện tử, điều khiển học, đã làm thay đổi cơ bản, bản thân ô tô và côngnghiệp ô tô cả về mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ cũng như về quy mô kinh tế xã
Trang 53.1.2.Các giai đoạn phát triển ngành công nghiệp ô tô thế giới
Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của ô tô và ngành sản xuất ô tô thế giới,
có thể thấy rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ô tô Quá trình phát triển của ngành côngnghiệp ô tô trên thế giới có thể chia làm 3 giai đoạn:
Trước năm 1945: Nền công nghiệp ô tô của thế giới chủ yếu tập trung tại Mỹ,sản lượng công nghiệp ô tô ở Tây Âu và Nhật Bản rất thấp
Giai đoạn 1945-1960: Sản lượng công nghiệp ô tô của Nhật Bản và Tây Âu tăngmạnh song còn nhỏ bé so với Mỹ
Giai đoạn từ 1960 trở lại đây: Nền công nghiệp sản xuất ô tô xe máy Nhật đãvươn lên mạnh mẽ và đã chiếm vị trí thứ nhất trong ngành công nghiệp to lớn này.Nhật đã trở thành đối thủ số một của Mỹ và Tây Âu trong ngành công nghiệp ô tô.Ngành công nghiệp ô tô của Nhật có khả năng cạnh tranh rất lớn, để sản xuất 1 chiếc
xe ô tô mới, Nhật chỉ cần 17 giờ trong khi Mỹ cần 25 giờ và Tây Âu cần 37 giờ Còn
để xuất xưởng 1 mẫu xe mới Nhật chỉ cần 43 tháng trong khi Mỹ cần 62 tháng và Tây
Âu cần những 63 tháng Bên cạnh đó là tính cạnh tranh của các bộ phận chi tiết phụtùng Số lượng các khuyết tật tính trung bình trên 1 xe của Nhật là 0,24 so với Mỹ là0,33 và Tây Âu là 0,62 Tuy nhiên sức cạnh tranh này gần đây đã giảm Sản lượng ô
tô trên thế giới, từ năm 1960 đến nay, gần như ổn định quanh con số khoảng 50-52triệu xe/năm, tập trung vào 3 trung tâm công nghiệp lớn là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu.Thị trường thế giới về ô tô vào khoảng 780 tỷ USD/năm Riêng 6 tập đoàn lớn củacông nghiệp ô tô năm 1999 đã sản xuất tới 82,5% tổng số ô tô thế giới trong đó Mỹ có
3 tập đoàn, Nhật, Đức, Pháp mỗi nước một tập đoàn
3.2 Đặc điểm ngành công nghiệp ô tô
3.2.1 Ngành công nghiệp ô tô cần có sự đầu tư lớn, lâu dài
So với vốn đầu tư vào các đại bộ phận các ngành công nghiệp khác, vốn đầu tưvào ngành công nghiệp ô tô là cao hơn rất nhiều, có thể nói là cực lớn Mỗi ô tô cóđến 20.000 - 30.000 chi tiết, bộ phận khác nhau Các chi tiết, bộ phận lại được sảnxuất với những công nghệ có đặc điểm khác biệt; chi tiết phụ tùng của loại xe nàykhông thể sử dụng chung cho các loại xe khác, do vậy vốn đầu tư cho việc sản xuất20.000- 30.000 chi tiết thường rất cao Chẳng hạn như Ford có tới 60 000 bạn hàngchuyên cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho công ty trên toàn cầu Điều này chứng tỏ
Trang 6rằng vốn đầu tư cho toàn ngành là rất lớn Hơn nữa, giá trị của mỗi đơn vị chi tiết phụtùng nói riêng và giá trị đơn vị sản phẩm là rất lớn và đòi hỏi chất lượng cao Thế nênvào năm 1998 trong 10 tập đoàn trên thế giới có tài sản ở nước ngoài cao nhất có sáutập đoàn là các hãng ô tô hàng đầu thế giới: General Motor, Ford, Toyota, DaimlerChrysler và Volkswagen Sáu tập đoàn này đóng góp 5% tổng giá trị đầu tư trực tiếptrên toàn thế giới Hiện nay, riêng ngành công nghiệp ôtô chiếm 10% tổng giá trịthương mại trong các ngành công nghiệp chế tạo Thêm vào đó, do đặc điểm củangành là không ngừng vận dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Vì thế, ngoài cáckhoản chi phí ban đầu bao gồm chi phí xây mới nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị kỹthuật, đào tạo công nhân lành nghề,…và các khoản chi thường xuyên như mua nguyênvật liệu, bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc, bảo quản hàng hoá,…thì chi phí cho côngtác nghiên cứu và triển khai (R&D) trong lĩnh vực ô tô cũng chiếm một phần đáng kểtrong tổng vốn đầu tư ban đầu và tăng thêm Chính vì thế khi một hãng trong ngànhđầu tư dây chuyền công nghệ mới sẽ phải tính toán rất kỹ lưỡng chứ không thể đầu tư
ồ ạt như các ngành khác
Ở Việt Nam: Trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, tổng vốn đầu tư phát triển là830.000-850.000 tỷ đồng (khoảng 59-61 tỷ USD) và tăng hàng năm từ 11-12%.Ngành công nghiệp nhận được khoảng 44% trong số này Và đầu tư cho ngành côngnghiệp ô tô giai đoạn 2001-2010 chiếm khoảng 2% tổng đầu tư phát triển, hay 44%đầu tư phát triển cho ngành công nghiệp.Theo bản qui hoạch ngành công nghiệp ô tôViệt Nam giai đoạn 2001-2010 thì tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện được bản quihoạch này khoảng 16.000-18.000 tỷ đồng (khoảng 1-1,1 tỷ USD) và 35.000-40.000 tỷđồng (khoảng 2,2-2,5 tỷ USD) trong giai đoạn 2010-2020
3.2.2 Ngành công nghiệp ô tô có sản phẩm mang giá trị rất cao
Đặc điểm nổi bật của ngành đó là sản phẩm mang giá trị rất cao Chiếc xe ôtô từrất lâu đã không còn được coi chỉ là phương tiện đi lại đơn thuần mà các nhà chế tạo
đã không ngừng trang bị cho nó vô số tiện ích khác, khiến cho ô tô giờ đây như mộtmái nhà di động, một biểu tượng của sự giàu có, thịnh vượng Một chiếc xe ôtô có giátrị từ chục nghìn đôla cho đến hàng trăm nghìn đôla, thậm chí có cái lên tới 700.000đến 800.000 USD Thêm một sự khác biệt nữa so với các sản phẩm chế tạo khác, mộtchiếc ô tô được hình thành từ rất nhiều chi tiết gần 30 000 chi tiết đòi hỏi sự tinh vitrong chế tạo Chính nhờ đặc điểm này mà ngành công nghiệp ô tô trở thành kháchhàng của rất nhiều các ngành khác
Trang 73.2.3 Ngành công nghiệp ô tô đòi hỏi về công nghệ và công nghiệp phụ trợ cao
- Đây là ngành đòi hỏi công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Một sản phẩm ô tôđược tung ra trên thị trường là sự kết hợp của hàng nghìn, hàng vạn chi tiết các loại,không giống nhau Mỗi chi tiết đều có những tiêu chuẩn kỹ thuật riêng và được chếtạo theo phương pháp riêng ở những điều kiện khác nhau nhưng vẫn đảm bảo tínhđồng bộ của sản phẩm Khi công nghiệp ô tô phát triển, xuất hiện nhiều chi tiết vượtquá khả năng thao tác của con người, yêu cầu phải có sự trợ giúp của máy móc kỹthuật Máy móc kỹ thuật càng hiện đại càng giảm bớt sự nặng nhọc và nguy hiểm;nhưng điều quan trọng hơn là dưới sự điều khiển của con người, những máy móc hiệnđại có thể chế tạo và lắp ráp các chi tiết thành sản phẩm cuối cùng với xác suất sai sótkhông đáng kể
- Ngành công nghiệp ô tô yêu cầu công nghệ cao vì vậy sự thay đổi về công nghệ
sẽ mang lại cơ hội tiếp cận công nghệ mới, tiên tiến đáp ứng nhu cầu cũng như đòi hỏicủa khách hàng, nhưng nếu doanh nghiệp không đuổi kịp sự thay đổi của công nghệthì các sản phẩm rất dễ trở nên lỗi thời hoặc không đáp ứng được nhu cầu hiện tại củakhách hàng Vì vậy mà yếu tố công nghệ ảnh hưởng rất mạnh đến sản xuất ô tô ỞViệt Nam, chủ yếu sử dụng công nghệ nước ngoài, tùy thuộc từng loại xe mà nhà máysản xuất và lắp ráp thực hiện chuyển giao của các nước khác nhau Công nghệ haydùng chủ yếu: MWM (Đức), tập đoàn ô tô Hoa Thân (Trung Quốc), công nghệ củaNhật, Hàn,… Với các công nghệ khác nhau như công nghệ sơn hàn, điều khiển hệthống, lắp ráp động cơ…
- Để có thể sản xuất thành công một chiếc ô tô cần có tới hàng ngàn chi tiết khácnhau Bản thân một doanh nghiệp với giới hạn về quy mô và nguồn lực không thể tựmình sản xuất tất cả các chi tiết Muốn làm được điều này, phải có hàng trăm, thậmchí hàng ngàn doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm khác nhau mới có thể đảm đương.Một chiếc xe hơi được coi là sự hiện thân của cả một chuỗi cung khổng lồ của nhiềudoanh nghiệp Công nghiệp phụ trợ là ngành công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việcsản xuất các thành phần chính Ngành này rất đa dạng từ gia công cơ khí, chế tạokhuôn đúc, rèn, đúc, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, sản xuất những linh kiện, phụ liệu, phụtùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm cho tới cả những sản phẩm trunggian, những nguyên liệu sơ chế
3.2.4 Ngành công nghiệp ô tô cần mạng lưới tiêu thụ chuyên nghiệp và rộng khắp
Do đặc tính của sản phẩm mang giá trị cao, cần thiết phải được hưởng các dịch
Trang 8vụ chăm sóc sau bán hàng khá thường xuyên như bảo dưỡng, sửa chữa Chính vì thế,
từ khi ra đời ngành công nghiệp ô tô đã chọn cách tiêu thụ sản phẩm của mình thôngqua các đại lý mà không bán hàng trực tiếp Chẳng hạn như, Ford có hơn 15.000 đại lýtrên khắp thế giới Và tất cả mọi giao dịch với khách hàng đều thông qua đại lý
II CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH Ô
TÔ Ở VIỆT NAM
1 Nhân tố thị trường
Muốn phát triển được ngành công nghiệp ô tô thì yếu tố đầu tiên và tiên quyết đó
là thị trường Thị trường có lớn, có tiềm năng thì mới hứu hẹn cơ hội cho ngành côngnghiệp ô tô Ở Việt Nam theo tính toán thì thị trường ôtô rất tiềm năng với mức tiêuthụ có thể đạt 1 triệu xe/năm Nhưng thị trường vẫn chỉ ở dạng tiềm năng và khôngbiết đến bao giờ mới thành hiện thực bởi vì chúng ta đang đánh thuế tiêu thụ đặc biệtvới ôtô rất cao nhằm hạn chế tiêu dùng làm cho thị trường tăng trưởng chậm, cònchính sách khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ (trong đó có ôtô) mới được
Bộ Công thương ban hành vào tháng 8/2007
2 Nhân tố con người
Lực lượng lao động (LLLĐ) cả nước tại thời điểm 1/7/2008 là 48,3 triệu người
Cơ cấu lao động: lao động nam chiếm 50,7% LLLĐ, lao động nữ chiếm 49,3% LLLĐ.Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ của nước ta đang dần được nâng lên songvẫn có tới 75% LLLĐ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Trong số lao động cóchuyên môn, phần lớn vẫn là công nhân kỹ thuật, dạy nghề ngắn hạn, dạy nghề dàihạn và trung học chuyên nghiệp (chiếm các tỷ lệ tương ứng là 7,3%, 4,4%, 1,6%, và5,0% năm 2008) Tỷ trọng LLLĐ có trình độ từ cao đẳng và đại học trở lên chỉ chiếm6,8% Ngành công nghiệp ô tô đòi hỏi lao động có trình độ tay nghề cao, tỉ mỉ, chi tiết.Mặc dù thực tế nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay chưa thực sự đáp ứng được toàn
bộ nhu cầu cho ngành một cách tốt nhất, song: Con người người Việt Nam được cho
là khéo tay có đầu óc sáng tạo, bản tính cần cù chăm chỉ học hỏi, thông minh, nhanhnắm bắt được công nghệ mới; mặt khác chi phí của nguồn nhân lực ở Việt Nam rẻ sovới các nước trong khu vực và trên thế giới tạo điều kiện thuận lợi cho phát triểnngành công nghiệp ô tô, và là môi trường thuận lợi cho việc thu hút FDI đầu tư chongành công nghiệp ô tô Việt Nam; đặc biệt là tập trung mạnh tại khâu lắp ráp Việcsản xuất tại công tại công đoạn này thường xuyên đòi hỏi một số lượng lớn lao động,
do vậy, điều này sẽ cho phép giảm đáng kể chi phí sản xuất
3 Nhân tố vốn
Trang 9Ngành công nghiệp ô tô là ngành cần một số lượng vốn rất lớn Đây là một đặcđiểm nổi bật của ngành này Muốn xây dựng được ngành đã khó, phát triển được lạicàng khó hơn Do vậy số vốn cần thiết để đầu tư vào ngành có thể nói là một con sốkhổng lồ Trong gần 20 năm qua có rất ít các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnhvực sản xuất linh kiện cũng như chuyển giao công nghệ ôtô vào Việt Nam Điều nàyrất khó khăn cho việc phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Ví dụ như: tậpđoàn Ford trong năm 2004 đã tìm địa điểm để đầu tư 1 nhà máy sản xuất động cơ ôtôtại khu vực Đông Nam Á với số vốn là 400 triệu USD họ đã khảo sát tại nhiều nướctrong đó có Việt Nam nhưng sau đó lại quyết định đầu tư tại Philipines Mới đây cũngtập đoàn này đã đầu tư 500 triệu USD để sản xuất xe cỡ nhỏ tại Thái Lan chứ khôngphải là Việt Nam Tại Việt Nam họ chỉ có 1 dây chuyền lắp ráp công suất khoảng10.000 xe/năm, đến nay có lẽ đã khấu hao hết Họ không chọn Việt Nam là vì chúng
ta không hội đủ những điều kiện cần thiết Song không có gì là không thể, khi mànguồn vốn đầu tư vào nước ta đang ngày một tăng lên, hay nói cách khác là Việt Namđang thành công trong việc thu hút đầu tư từ nước ngoài, đực biệt là vốn đổ vào ngànhcông nghiệp ô tô ngày một tăng lên đáng kể Trong bối cảnh như hiện nay, khi mà nềnkinh tế thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, chúng ta khôngthể tránh khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đó, song chúng ta đang dần dần hồiphục nền kinh tế Với môi trường kinh doanh hấp dẫn chúng ta vẫn cạnh tranh đượcvới các nước khác trong khu vực; tiềm năng phát triển trung và dài hạn của nền kinh
tế nước ta vẫn tốt, thu phục được lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài Vốn FDI vàoViệt Nam tăng lên đáng kể, năm 2008 chúng ta có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký là:
64 tỷ USD (gấp hơn 3 lần so với năm 2007), cùng với nững chính sách ưu đãi từ chínhphủ, với sự ưu ái của ngân sách nhà nước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào tương laitươi sáng cho ngành ô tô khi mà vấn đề quan trọng là vốn đã được giải quyết
4 Nhân tố khoa học công nghệ
Muốn có nền công nghiệp ô tô Việt Nam trưởng thành thì ngành này phải chếtạo được chiếc xe ô tô made in Vietnam chính hiệu khi có ít nhất 51% linh kiện chếtạo tại Việt Nam Muốn vậy, về cấu trúc, ngành ô tô bắt buộc phải tạo ra một hệ thốngcông nghiệp phụ trợ (chế tạo linh phụ kiện) ô tô đủ lớn về qui mô và có tính đồng bộcao Các doanh nghiệp Nhà nước lớn do được Nhà nước cấp vốn nên đang đầu tư vàonhững dây chuyền sản xuất linh kiện khá tiên tiến từ các nước trong khu vực Tuynhiên, khó khăn đặt ra là khu vực cung cấp nguyên vật liệu như thép, hóa chất trongnước còn yếu kém nên chất lượng sản phẩm chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu củacác liên doanh Mô hình sản xuất của các doanh nghiệp này vẫn duy trì theo kiểu tích
Trang 10hợp sản xuất từ trước.
Một số ít các doanh nghiệp FDI có cơ sở sản xuất linh kiện (dập vỏ xe) với trình
độ công nghệ tiên tiến (Toyota, Ford), nhưng các cơ sở này nhập khẩu nguyên vật liệu
từ nước ngoài, không sử dụng nguyên vật liệu sản xuất trong nước Các doanh nghiệpcòn lại không đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất linh phụ kiện tại Việt Nam mà chủyếu nhập khẩu từ các Công ty mẹ hoặc các đối tác nước ngoài khác trong khu vực Cóthể nói nhân tố góp phần quyết định sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô ở ViệtNam đã phần nào được giải quyết
III SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ô TÔ
1 Xuất phát từ vai trò và vị trí của ngành công nghiệp ô tô trong nền kinh tế
Từ khi ra đời cho đến nay ngành công nghiệp ô tô luôn chứng tỏ vai trò tối quantrọng trong tất cả mọi lĩnh vực: không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng của conngười trong việc đi lại và luân chuyển hàng hoá mà còn đóng góp rất lớn trong pháttriển kinh tế xã hội của từng quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.Công nghiệp ô tô đã và đang là động lực tăng trưởng cho nhiều quốc gia Công nghiệp
ô tô là một ngành có quy mô lớn mang lại thu nhập cao Tổng giá trị hàng hóa dongành công nghiệp này tạo ra đã đạt tới những con số khổng lồ Ngành công nghiệp ô
tô được xem là một ngành sản xuất vật chất, cung cấp phương tiện đi lại và vậnchuyển tối ưu nhằm đảm bảo mạch máu lưu thông, thúc đẩy kinh tế phát triển Theothống kê, 82% khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường ô tô và 75% hành khách
đi lại bằng phương tiện cơ động này Như vậy, ở điểm này, ngành công nghiệp ô tô đãgián tiếp đóng góp vai trò không thể thiếu của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tếcủa quốc gia và thế giới Ngoài ra, do đặc trưng gắn liền với thành tựu khoa học kỹthuật, ngành công nghiệp ô tô có tác động thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển đặcbiệt là các ngành tự động hóa, khoa học điện tử, công nghệ mới, hóa chất, cơ khí chếtạo,… từ đó thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực liên quan cùng phát triển đóng góp vào sựphát triển chung của nhân loại Bên cạnh đó, công nghiệp ô tô là khách hàng lớn nhấtcủa nhiều ngành công nghiệp phụ cận như: kim loại, hóa chất, cơ khí, điện tử,… vàtạo công ăn việc làm cho vô số lao động trong các ngành công nghiệp này