Hydrat trên da gây ra chủ yếu bởi lớp sừng phụ thuộc vào sự hiện diện của các thành phần hút ẩm gọi chung là yếu tố giữ ẩm tự nhiên có trong các tế bào sừng của lớp sừng và lipid nội bà
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
/
PHẠM THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH
CỦA KEM GIỮ ẨM DA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
TS Nguyễn Thị Mai Anh
Là người thầy giàu kinh nghiệm và đầy nhiệt huyết đã luôn tận tâm hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Tôi trân trọng cảm ơn toàn thể thầy cô, các anh chị kỹ thuật viên và các bạn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học tại bộ môn Bào chế - Trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm thực nghiệm tại bộ môn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong học tập và cuộc sống
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Phạm Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 2
1.1 Một số nội dung cơ bản về da và chăm sóc da 2
1.1.1 Cấu tạo giải phẫu cơ bản của da 2
1.1.2 Biện pháp chăm sóc để có làn da khỏe, đẹp 4
1.2 Một số nội dung về giữ ẩm da 5
1.2.1 Biện pháp giữ ẩm da 5
1.2.2 Các chất giữ ẩm 6
1.2.3 Các cách đánh giá năng giữ ẩm da 10
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới về kem giữ ẩm 13
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 15
2.1.1 Nguyên liệu 15
2.1.2 Thiết bị 16
2.1.3 Động vật thí nghiệm 16
2.2 Nội dung nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Phương pháp bào chế kem bôi da 17
2.3.2 Phương pháp đánh giá một số tính chất vật lý của kem 18
2.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng bám dính trên da thỏ 18
2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng giữ ẩm 19
2.3.5 Đánh giá tính kích ứng da 20
2.3.6 Phương pháp đánh giá độ ẩm da 21
Trang 5CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Khảo sát thông số kỹ thuật 24
3.1.1 Thiết bị tác động lực gây phân tán 24
3.1.2 Thời gian khuấy 24
3.1.3 Tốc độ khuấy 25
3.2 Nghiên cứu xây dựng công thức 25
3.2.1 Khảo sát lựa chọn chất nhũ hóa 25
3.2.2 Khảo sát lựa chọn tỷ lệ chất nhũ hóa 27
3.2.3 Khảo sát lựa chọn tá dược pha dầu 29
3.2.4 Khảo sát lựa chọn thành phần pha nước 31
3.2.4 Khảo sát lựa chọn chất giữ ẩm 32
3.3 Đánh giá sản phẩm nghiên cứu 39
3.3.1 Hình thức 39
3.3.2 Độ ổn định cấu trúc hóa lý 39
3.3.3 Khả năng bám dính trên da thỏ 39
3.3.5 Tính kích ứng trên thỏ 40
3.2.6 Đánh giá tác dụng sơ bộ trên da người 40
CHƯƠNG IV : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NMF Natural Moisturizing Factor ( yếu tố giữ ẩm tự nhiên)
TEWL Total Evaporative Water Loss ( mất nước qua da)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Nguyên liệu và hóa chất sử dụng trong quá trình thực nghiệm 15
Bảng 2 2 Máy móc, thiết bị sử dụng 16
Bảng 2 3 Bảng đánh giá mức độ phản ứng của da 21
Bảng 2 4 Bảng chia điểm mức độ kích ứng da 21
Bảng 3 1 Thành phần công thức khảo sát các thông số kỹ thuật 24
Bảng 3 2 Thành phần công thức trong khảo sát CNH 26
Bảng 3 3 Kết quả đánh giá đặc tính các mẫu 26
Bảng 3 4 Thành phần các công thức trong khảo sát tỷ lệ CNH 28
Bảng 3 5 Thành phần các công thức trong khảo sát tỷ lệ CNH 28
Bảng 3 6 Thành phần công thức trong khảo sát pha dầu 30
Bảng 3 7 Thành phần các công thức khảo sát thành phần pha nước 32
Bảng 3 8 Thành phần các chất các mẫu khảo sát chất giữ ẩm 33
Bảng 3 9 Kết quả đánh giá khả năng giữ ẩm 33
Bảng 3 10 Ý nghĩa các thông số trong thử tính bám dính 34
Bảng 3 11 Kết quả đo chỉ số kết dính sinh học 35
Bảng 3 12 Thành phần công thức khảo sát chất giữ ẩm 34
Bảng 3 13 Điểm trung bình mức độ kích ứng da (TB) 35
Bảng 3 14 Kết quả chênh lệch độ ẩm da ở các TNV 37
Bảng 3 15 Thành phần công thức kem giữ ẩm 39
Bảng 3 16 Kết quả đo độ ẩm da trên 3 TNV 40
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1 1 Cấu tạo giải phẫu của da 2
Hình 1 2 Sự thay đổi hydrat hóa sau 2 giờ 11
Hình 1 3 Sự thay đổi hydrat hóa sau 24 giờ 11
Hình 1 4 Sự thay đổi hydrat hóa trong quá trình thử 12
Hình 2 1 Sơ đồ bào chế kem bôi da 17
Hình 2 2 Thí nghiệm đo khả năng bám dính 18
Hình 2 3 Vị trí các vùng thử tính kích ứng trên thỏ 20
Hình 2 4 Các vị trí thử nghiệm khả năng giữ ẩm 22
Hình 3 1 Da thỏ sau các thời điểm bôi kem 36
Hình 3 2 Đồ thị biểu diễn chênh lệch HL nước theo thời gian ở TNV1 37
Hình 3 3 Đồ thị biểu diễn chênh lệch HL nước theo thời gian ở TNV2 38
Hình 3 4 Đồ thị biểu diễn chênh lệch HL nước theo thời gian ở TNV3 38
Hình 3 5 Đồ thị biểu diễn độ chênh lệch HL ở 3 TNV 41
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Da là cơ quan có diện tích lớn nhất của cơ thể con người, có vai trò tích cực trong
hệ thống miễn dịch và là hàng rào đầu tiên chống lại sự xâm phạm từ môi trường, bảo
vệ cơ thể khỏi bệnh tật.Một chức năng quan trọng của da là giảm mất nước cơ thể và duy trì độ ẩm của chính nó Hydrat hóa da đầy đủ là rất quan trọng để có làn da khỏe, đẹp bởi việc thiếu nước là nguyên nhân hình thành nếp nhăn và sự xuất hiện các bệnh
về da
Các sản phẩm mỹ phẩm được tiêu thụ ngày càng nhiều trên thị thường, đóng vai trò làm sạch, bảo vệ và làm đẹp da Ngày nay, mục tiêu nghiên cứu của nền công nghiệp mỹ phẩm là tạo ra các sản phẩm đáp ứng hoàn hảo những mong muốn của người tiêu dùng Đối với các sản phẩm chăm sóc da, chức năng cơ bản và quan trọng chính là dưỡng ẩm Giữ ẩm cho da được công nhận là cách chăm sóc da để chống lão hóa Bên cạnh đó việc duy trì đủ lượng nước cần thiết trong da, tạo nên sự mềm mại và tăng cường chức năng bảo vệ của nó chống lại các yếu tố bất lợi từ môi trường Bằng các cơ chế khác nhau, các chế phẩm dưỡng ẩm có thể giúp làm giảm sự mất nước, đảm bảo hydrat hóa da để duy trì một làn da khỏe, đẹp
Từ những nhận thức trên và xuất phát từ nhu cầu thực tế, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu bào chế và đánh giá một số đặc tính của kem giữ ẩm da” với
mục tiêu:
1 Bào chế được kem giữ ẩm da bằng phương pháp nhũ hóa
2 Đánh giá một số đặc tính của kem giữ ẩm da
Trang 102
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 1.1 Một số nội dung cơ bản về da và chăm sóc da
Da là cơ quan có diện tích lớn nhất cơ thể con người, đóng vai trò là hàng rào chống mất nước và bảo vệ cơ thể khỏi tác động bất lợi của môi trường Đặc biệt, lớp sừng, hoạt động như một rào cản hữu hiệu để ngăn chặn sự xâm nhập của các chất gây dị ứng hoặc các chất độc hại vào cơ thể Một chức năng thiết yếu khác của lớp sừng là hút các phân tử nước được cung cấp từ các mô da sâu hơn và bầu khí quyển, do đó đảm bảo hydrat hóa của da Trạng thái hydrat hóa của da rất quan trọng để duy trì các chức năng hàng rào biểu bì, các hoạt động enzyme khác nhau và các hoạt động bình thường của tế bào như biệt hóa và tẩy da chết của các mô da Hydrat trên da gây ra chủ yếu bởi lớp sừng phụ thuộc vào sự hiện diện của các thành phần hút ẩm (gọi chung là yếu tố giữ ẩm tự nhiên ) có trong các tế bào sừng của lớp sừng và lipid nội bào xung quanh các tế bào
1.1.1 Cấu tạo giải phẫu cơ bản của da
Da là một tập hợp các mô đặc biệt và phức tạp được chia thành ba lớp: lớp biểu bì, lớp
sự tác động của môi trường xung quanh vào vùng da lớp ngoài cùng đó không giống nhau [2] Lớp biểu bì chứa nhiều loại tế bào, bao gồm tế bào keratinocytes, được tham gia vào một quá trình sinh sản liên tục để thay thế các tế bào, tẩy tế bào chết, tế bào
Trang 11cả đều đóng vai trò tích cực trong việc duy trì làn da khỏe mạnh Từ bề mặt da xuống đến lớp hạ bì, năm lớp này như sau: lớp sừng, lớp bóng, lớp hạt, lớp sợi, lớp đáy [2] Lớp biểu bì giữ một lượng lớn nước Lớp có hàm lượng nước cao nhất là lớp đáy, giữ khoảng 80%, mỗi lớp tiếp theo có ít nước hơn, với lớp sừng chỉ chứa 10-15% nước Nước được giữ trong tế bào và trong khoảng kẽ giữa các tế bào Cơ thể càng trẻ, càng có nhiều nước trong da Khả năng giữ nước của làn da giảm dần theo tuổi tác, khiến da dễ bị mất nước và xuất hiện nhiều nếp nhăn hơn
Chức năng chính của lớp biểu bì là sản xuất lớp trên cùng, lớp sừng Một hệ thống hình thành keratinocyte hoạt động không đúng không thể tạo ra một lớp sừng có thẩm
mỹ Do đó, một yếu tố quan trọng cho làn da đẹp dường như là sự chuyển hóa thích hợp của tế bào keratinocytes để tạo ra một lớp sừng khỏe mạnh Điều này rất quan trọng để bảo vệ chống mất độ ẩm và sự xâm nhập của vi khuẩn và các chất kích thích hóa học
Trong lớp đáy, các tế bào biểu bì mới được hình thành do sự phân chia tế bào Các
tế bào da hình thành trong lớp đáy được đẩy lên bởi các tế bào trẻ hơn cho đến khi cuối cùng chúng bị bong ra khỏi bề mặt da Đây là một quá trình liên tục Khi các tế bào di chuyển lên trên, chúng bắt đầu thoái hóa, mất nước, trở nên khô và xẹp Vào thời điểm chúng đạt đến các lớp ngoài cùng, các tế bào đã chết [4] Khi các tế bào di chuyển qua các lớp, chúng tiết ra nhiều lipid (cholesterol, axit béo, và ceramides) vào các khoảng gian bào, tăng sự gắn kết giữa các tế bào, do đó giúp làm cho lớp biểu bì trở thành một rào cản hiệu quả
Các hoạt động chính của tầng sừng là ngăn ngừa mất nước da bằng cách ngăn nước bay hơi qua da và ức chế các chất lạ xâm nhập vào da Các tế bào được tổ chức với nhau và được bao quanh bởi lipid và ceramide, cũng như glycoprotein, desmosomes,
Trang 124
các sản phẩm phân hủy peptide, bã nhờn, và các enzyme hoạt động Các lipid nội bào đóng vai trò quan trọng trong các đặc tính giữ nước của da bằng cách đóng vai trò như một rào cản, giữ nước và ngăn ngừa mất nước quá mức Ceramides chiếm tới 40% trong tổng số lipid nội bào và cũng đóng một vai trò quan trọng trong khả năng giữ nước của da
Tầng sừng có chứa NMF, nó bao gồm khoảng 40% acid amin tự do, 12% acid pyrrolidon carboxylic, 12% đường, 7% urê và khoảng 30% các chất khác Tiếp xúc với chất tẩy rửa và điều kiện khí hậu khắc nghiệt có thể làm giảm NMF, khiến da trở nên mỏng manh và khô [20]
Lớp hạ bì
Lớp hạ bì là lớp thứ hai của da nằm bên dưới lớp biểu bì và dày hơn lớp biểu bì Lớp hạ bì chủ yếu được tạo thành từ các sợi collagen và elastin Nó cũng chứa các mạch máu, dây thần kinh, cơ quan cảm giác, tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi và nang lông [4] Lớp hạ bì được tạo thành từ 80% độ ẩm, sợi elastin cung cấp các đặc tính đàn hồi và sợi collagen cung cấp khung cấu trúc Collagen đại diện cho khoảng 70% protein của da và cung cấp sức đề kháng, khả năng phục hồi Ngoài collagen và elastin, lớp hạ bì còn có nhiều loại sợi khác, được nhóm lại với nhau dưới dạng glycoprotein cấu trúc và một tập hợp các hóa chất được nhóm lại dưới dạng glycosaminoglycan Chúng chịu trách nhiệm cho việc hydrat hóa, thay thế và giữ nước Chúng cũng điều chỉnh tính thấm, cung cấp khả năng chống lại áp lực và chịu trách nhiệm định hướng các protein [20]
Lớp dưới da
Lớp dưới da (mỡ) là lớp thứ ba và cuối cùng của da Nó nằm ngay dưới lớp hạ bì Lớp này mang lại cho da hình dạng và hoạt động như một chất cách nhiệt và là kho dinh dưỡng, nơi các chất dinh dưỡng có thể được lưu trữ cho đến khi cần thiết Lớp dưới da được gắn chắc chắn vào bề mặt dưới của lớp hạ bì nhưng liên kết lỏng lẻo với các cấu trúc bên dưới của nó, mang lại sự di động cho da ở vùng sâu hơn Các thùy mỡ của mô được bao quanh bởi các sợi collagen, hỗ trợ các mạng lưới mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh từ các mô dưới da đến lớp hạ bì [20]
1.1.2 Biện pháp chăm sóc để có làn da khỏe, đẹp
Làm sạch da và giữ ẩm đúng cách là hai quá trình cơ bản để duy trì sức khỏe của da và toàn vẹn hàng rào biểu bì [16] Vai trò của làm sạch da là loại bỏ các mảnh vụn bên
Trang 135
ngoài, dịch tiết da và vi sinh vật Ngoài ra, tính toàn vẹn của hàng rào biểu bì phải được duy trì một cách nhất quán để cho phép cân bằng nội môi vì sự hiện diện của hàm lượng nước da thích hợp là bắt buộc đối với các chức năng enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp lipid và phục hồi hàng rào Do đó, dưỡng ẩm là một thành phần quan trọng trong việc duy trì thói quen thường xuyên của hàng rào da bên ngoài Điều này đặc biệt đúng trong các điều kiện có rối loạn chức năng hàng rào biểu bì và giảm hàm lượng nước biểu bì [32]
1.2 Một số nội dung về giữ ẩm da
1.2.1 Biện pháp giữ ẩm da
Về mặt lý thuyết, có ba cơ chế chính để giữ ẩm cho da:
- Hút ẩm : Bổ sung độ ẩm cho da bằng cách hút ẩm từ môi trường không khí bên ngoài khi độ ẩm môi trường lớn hơn 70% Tuy nhiên, đôi lúc nó cũng gây tình trạng khô da do hiện tượng hút ẩm ngược, bởi vào những ngày thời tiết hanh khô, độ ẩm thấp, chất này sẽ hút nước từ lớp hạ bì lên, gây ra tình trạng mất nước bên trong da Nhóm hút ẩm bao gồm nhiều chất, các chất có phân tử nhỏ và lớn Các phân tử hút ẩm nhỏ xâm nhập vào lớp sừng, glycerine là một ví dụ điển hình của phân nhóm này Nó cực kỳ hút ẩm và khi để cân bằng trong môi trường ẩm ướt, nó sẽ hút nước cho đến khi đạt mức 55% (kl/kl), nghĩa là mỗi phân tử glycerin hút khoảng sáu phân tử nước Glycols và các phân tử polyhydroxy khác như propylene glycol, butylene glycol, glucose, sacarose và sorbitol cũng hoạt động thông qua cơ chế này [18] Các chất hút
ẩm có phân tử lớn, không có khả năng thâm nhập vào lớp sừng mà tạo thành một lớp hút ẩm, hút nước trên da Chúng bao gồm: glycosaminoglycans (như acid hyaluronic), collagen và các protein khác [4]
- Khóa ẩm : Tạo ra một màng chắn vật lý trên bề mặt da, ngăn chặn sự bốc hơi nước qua lớp biểu bì.Những chất hoạt động theo cơ chế này sẽ đạt hiệu quả hơn nếu được bôi trực tiếp sau khi bổ sung một lớp nước bên dưới chúng [4] Các chất khóa ẩm thường là hỗn hợp hydrocarbon có thể tìm thấy trong dầu khoáng và Vaseline [15]
- Làm mềm da : Lấp đầy khoảng trống giữa các tế bào, làm giảm sự bốc hơi nước khỏi
bề mặt da, đồng thời duy trì độ ẩm của da Ngoài ra nó còn có khả năng phục hồi và tái tạo da, có thể được xem là sự kết hợp giữa hai cơ chế hút ẩm và khóa ẩm.Trong thực
tế, các chế phẩm dưỡng ẩm thương mại hiện đại hoạt động bằng sự kết hợp của các
Trang 146
phương pháp trên Các chất hoạt động theo cơ chế này có thể kể đến các alcol béo : alcol cetylic, alcol cetostearic, [25]
Ngoài ra bản thân bề mặt da cũng có NMF, chúng bao gồm khoảng 40% acid amin tự
do, 12% acid pyrrolidon carboxylic, 12% đường, 7% urê và khoảng 30% các chất khác NMFs có hiệu suất cao trong việc hút và giữ nước từ không khí, và đưa nước vào các tế bào sừng Hydrat NMF tạo thành các tương tác ion với các sợi keratin, làm giảm lực giữa các sợi và do đó làm tăng độ đàn hồi trên lớp sừng và da Độ đàn hồi này làm cho làn da trông khỏe mạnh, dẻo dai và ngăn ngừa nứt hoặc bong tróc do áp lực cơ học Hơn nữa, NMF cho phép các tế bào sừng cân bằng áp suất thẩm thấu gây
ra bởi lipid nội bào xung quanh chúng Bằng cách duy trì sự cân bằng áp suất thẩm thấu, nó ngăn chặn nước thừa quá mức, như được thấy trong làn da nhăn nheo của người đã tắm quá lâu, khiến cho các tế bào sừng bị co lại (nhìn thấy được các nếp nhăn) [4]
1.2.2 Các chất giữ ẩm
❖ Các chất hút ẩm
Acid Hyaluronic
Thông tin
Acid Hyaluronic là một chất thuộc nhóm đường amin có chứa polysacarit được gọi
là glycosaminoglycan phân bố rộng rãi trong các mô cơ thể, HA nổi tiếng là một trong những thành phần chính của lớp hạ bì Polyme hút ẩm của phân tử đường này tạo sự hydrat hóa và tính toàn vẹn cấu trúc cho lớp hạ bì Tuy nhiên, đã có báo cáo rằng HA cũng có mặt tự nhiên trong lớp biểu bì Trọng lượng phân tử nằm trong phạm vi từ 50.000 đến 8x106 HA liên kết nước và hoạt động như một chất bôi trơn giữa mạng lưới collagen và sợi elastin trong lớp hạ bì trong quá trình di chuyển của da Dung dịch acid hyaluronic 2% giữ 98% nước còn lại chặt đến mức như thể nó là một loại gel Các acid hyaluronic trọng lượng phân tử cao tạo thành màng nhớt hydrat hóa trên da Kích thước phân tử càng lớn, sự kết của các phân tử càng lớn, và do đó, màng nhớt có chức năng và liên kết với bề mặt da càng lớn Do trọng lượng phân tử cao, axit hyaluronic
sẽ không thâm nhập sâu hơn vào các kẽ hở giữa các tế bào [3]
Glycerin
Tính chất
Trang 157
Là một chất lỏng trong suốt, không màu, không mùi, hút ẩm, ngọt gấp 0,6 lần so với đường mía Tan trong nước và rượu, ít tan trong acetone và thực tế không hòa tan trong cloroform và ether Glycerin có thể được sử dụng làm dung môi, chất làm dẻo,
chất làm ngọt, chất bôi trơn và chất bảo quản [3]
Tác dụng trên da
Nhiều tác dụng của glycerol trên da đã được báo cáo Các hoạt động đa dạng của polyol glycerol trên lớp biểu bì bao gồm cải thiện quá trình hydrat hóa lớp sừng, chức năng hàng rào bảo vệ da và tính chất cơ học của da, bảo vệ chống lại các kích thích kích thích, tăng cường sự thoái hóa của vết thương Ngay cả một tác dụng kháng khuẩn đã được chứng minh [8] Tầm quan trọng của glycerin trong các sản phẩm chăm sóc da đã được thiết lập tốt Để giải thích lợi ích của nó, các nghiên cứu ban đầu đã tập trung vào tính chất giữ ẩm và tính chất bảo vệ của nó Gần đây, glycerin đã được chứng minh là điều chỉnh pha lipid của tầng sừng và ngăn chặn sự kết tinh của cấu trúc lamellar của chúng trong ống nghiệm ở độ ẩm tương đối thấp Sự kết hợp của glycerin vào hỗn hợp lipid ở tầng sừng cho phép lipid duy trì trạng thái tinh thể lỏng ở độ ẩm thấp [9] Các dải băng lặp đi lặp lại được lấy từ da được điều trị bằng kem glycerin 15% cho thấy rằng glycerin khuếch tán vào lớp sừng để tạo thành một bể chứa Trong một vài giờ sau khi áp dụng, việc giảm sự mất nước qua biểu bì đã được ghi nhận, tiếp theo là da động vật bằng các giá trị tăng sau vài giờ [17] Hơn nữa, ở bề mặt da người, trở kháng điện và tăng hệ số ma sát đã được tìm thấy đi kèm với sự cải thiện tình trạng
da, theo đánh giá của một chuyên gia Các thí nghiệm in vitro đã chứng minh hoạt tính
giữ ẩm của glycerol thấp hơn so với diglycerol và triglycerol Tuy nhiên, glycerol cho thấy sự vượt trội so với các chất trên trong việc cải thiện tình trạng khô da trong mô hình chuột lang [27] Do đó, nếu một nguyên liệu có khả năng hấp thụ nước từ môi trường hoặc từ mô da, thì đó là một loại chất dưỡng ẩm hữu ích trên lâm sàng Được biết, glycerol khuếch tán vào lớp sừng và giữ nước trong da Hiệu quả hydrat hóa da của glycerol phụ thuộc vào lượng humectant được hấp thụ và tính chất hóa lý của nó trong SC Tác dụng giữ ẩm tuyệt vời của glycerol là do sự tích lũy cao trong toàn bộ
độ dày của SC , [24] Do đó, glycerol có thể hoàn thành tác dụng hydrat hóa da của nó bằng các cơ chế phức tạp hơn là chỉ bằng cách hấp thụ nước [8]
Trang 168
❖ Các chất khóa ẩm, làm mềm da
Vitamin E
Tính chất
Alpha tocopherol ( vitamin E) là một sản phẩm tự nhiên Dược điển Châu Âu 6.0
mô tả alpha-tocopherol là chất lỏng nhờn, trong, không màu hoặc nâu vàng [26]
Độ tan: thực tế không tan trong nước, tan trong ethanol (95%) Có thể trộn với acetone, chloroform, ether và dầu thực vật [26]
Tác dụng trên da
Là một vitamin tan trong dầu, vitamin E có khả năng liên kết với lớp màng, giúp bảo vệ lipid màng tế bào, đồng thời ngăn không cho mất nước từ biểu bì Thường sử dụng vitamin E với tỷ lệ 0.001-0.05% [26]
Không chỉ có tác dụng giữ ẩm, vitamin E còn là 1 trong những chất chống oxy hóa
tự nhiên được sản xuất nhằm bảo vệ da cũng như giúp da chống lại tác động gây hại khi phải tiếp xúc thường xuyên với tia UV Vốn dĩ làn da chúng ta đã có 1 lượng vitamin E tự nhiên tồn tại, tuy nhiên khi da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, lượng vitamin E này sẽ có dấu hiệu giảm sút theo thời gian Đó là lí do vì sao cần bổ sung vitamin E vào quy trình dưỡng da hằng ngày dưới nhiều dạng thức khác nhau
Alcol cetylic
Tính chất
Alcol cetylic tồn tại dưới dạng sáp, hạt, hoặc khối, có mùi và vị nhạt
Nhiệt độ nóng chảy: 45-52oC
Độ tan: Tan tự do trong ethanol (95%) và ether, độ tan tăng khi nhiệt độ tăng, thực
tế không tan trong nước Có thể trộn lẫn khi tan chảy với chất béo, parafin lỏng và rắn,
Alcol cetostearic
Trang 179
Tính chất
Ở điều kiện thường tồn tại dưới dạng khối màu trắng hoặc màu kem, dạng mảnh, viên hoặc hạt, có vị ngọt nhạt đặc trưng Khi đun nóng Alcol cetostearic tan chảy thành chất lỏng trong suốt, không màu hoặc màu vàng nhạt không có chất lơ lửng
Tác dụng trên da
Tác dụng trên da tương tự alcol cetylic
Vaselin
Vaseline là hydrocarbon bão hòa của C24-34 được điều chế bằng cách hòa tan dầu
mỏ trong dung môi và thu thập các tinh thể kết tủa Nhiệt độ nóng chảy từ 38-60°C
Nó phù hợp như một thành phần dầu cho kem, kem nền và mỹ phẩm rắn không chứa nước, nó tạo 1 lớp trên da ngăn không cho nước thoát ra từ biểu bì [3]
❖ Yếu tố giữ ẩm tự nhiên (NMF)
Acid lactic
Tính chất
Acid lactic là tinh thể không màu đến màu vàng hoặc là chất lỏng, có thể tan trong nước, rượu và glycerol, nhưng không hòa tan trong cloroform (6) Axit lactic là một acid a-hydroxy (AHA), là thành phần của NMF
Tác dụng trên da
Acid lactic làm tăng khả năng giữ nước của da, sau khi điều trị bằng axit lactic 5% kết hợp với 20% propylene glycol, TEWL tăng đã được ghi nhận ở những bệnh nhân bị bệnh giun đũa Acid lactic cũng có tác dụng kích thích sự tổng hợp ceramide và cải thiện chức năng hàng rào bảo vệ da [3]
Urê
Tính chất
Urê là tinh thể hình lăng trụ không màu, trong suốt, hơi hút ẩm, không mùi hoặc gần như không mùi Urê hòa tan tự do trong nước, ít tan trong rượu và thực tế không tan trong ether [3]
Tác dụng trên da
Tăng khả năng giữ nước của vảy từ bệnh nhân vảy nến và bệnh ichthyotic đã được quan sát thấy sau khi điều trị bằng các loại kem có chứa urê Urê có thể làm tăng tính thấm của da đã được thể hiện trong một số nghiên cứu, trong đó nó được phát hiện là chất tăng hiệu quả xâm nhập của các chất khác nhau Tuy nhiên, không phải tất cả các
Trang 1810
nghiên cứu đều khẳng định rằng urê là một chất kích thích thâm nhập hiệu quả, và điều trị da bình thường bằng các chất dưỡng ẩm có chứa 5% đến 10% urê đã được cho thấy giảm mất nước qua biểu bì, giảm phản ứng kích thích với chất hoạt động bề mặt natri lauryl sulphate [3]
1.2.3 Các cách đánh giá năng giữ ẩm da
Có nhiều kỹ thuật có sẵn để đánh giá hydrat hóa da, chúng chủ yếu bao gồm các phép đo tính chất điện, phương pháp phổ như quang phổ hấp thụ hồng ngoại và phát
xạ, đánh giá chức năng rào cản của lớp sừng, đo tính chất cơ học, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, quan sát bề mặt da [3]
❖ Thử nghiệm in vitro
- Một thử nghiệm trong ống nghiệm in vitro đã được thực hiện để ước tính các
thuộc tính của hydrogel có chứavitamin E gắn chất mang cấu trúc nano và nano nhũ tương vitamin E[28] Đối với các thí nghiệm, một cốc chứa 50 ml nước đã được niêm phong bằng giấy lọc Sau đó, 1,5 g chế phẩm được trải đều trên giấy lọc và cốc được bảo quản ở 32 ± 1 ° C trong 24 giờ Một cốc thủy tinh kín chứa đầy nước và không có công thức áp dụng đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo Để đánh giá sự mất nước
do bay hơi, các cốc được cân sau 24 giờ bảo quản
- Hệ số khóa ẩm (F) được tính theo phương trình sau:
F= [(A-B)/A]*100
- Trong đó: A là lượng nước mất từ cốc tham chiếu
B là lượng nước mất từ cốc có bôi chế phẩm [30]
❖ Thử nghiệm in vivo hiệu quả dưỡng ẩm cho da
Các phép đo tĩnh
Các xét nghiệm được tiến hành trên cẳng tay của các đối tượng khỏe mạnh và cho phép so sánh ngẫu nhiên các sản phẩm thử nghiệm với sản phẩm giả dược, một sản phẩm có sẵn và vùng da không được điều trị Bốn đến sáu sản phẩm có thể được thử nghiệm đồng thời Các sản phẩm được dùng ở mức 2mg/cm2[3]
- Cách 1 : Các sản phẩm thử nghiệm được đặt tại chỗ trong 1 giờ (hoặc 3h [14] ) Các phép đo được tiến hành tại các thời điểm khác nhau sau đó Loại bỏ sản phẩm dư thừa trước khi đo, đặc biệt khi chế phẩm có tỷ lệ lipid cao Hầu hết các chất dưỡng ẩm cho thấy sự gia tăng nhanh chóng các giá trị hydrat hóa đo được [3]
Trang 1911
Hình 1 2.Sự thay đổi hydrat hóa sau 2 giờ
- Cách 2 : Các sản phẩm thử nghiệm có thể được áp dụng trên các khu vực tương
tự ở cùng một tỷ lệ nhưng được băng gạc qua đêm trong 16 giờ Sáng hôm sau, các phép đo được tiến hành, bắt đầu 1 giờ sau khi gỡ bỏ miếng gạc, kết quả được thể hiện
Trang 2012
phẩm Sau đó, 50µl nước cất được thấm vào da, để yên trong đúng 10 giây, lau bằng khăn giấy mềm và sau đó đo độ hydrat hóa ngay lập tức Giá trị này đại diện cho độ hút ẩm của lớp sừng Các phép đo khác được thực hiện ở thời điểm 0,5 ; 1 ; 1,5 và 2 phút Vùng bên dưới đường cong từ 0,5 phút trở đi thể hiện khả năng giữ nước của lớp sừng [3]
Hình 1 4 Sự thay đổi hydrat hóa trong quá trình thử
Đánh giá hiệu quả hydrat hóa da của B alba polysacarit.Các tình nguyện viên được hướng dẫn không sử dụng các loại kem dưỡng ẩm, kem dưỡng da, xà phòng hoặc các
chế phẩm mỹ phẩm có trong vùng thử nghiệm trong 12 giờ trước khi nghiên cứu in
vivo Tất cả tình nguyện viên được ở trong phòng có nhiệt độ duy trì ở 25 ± 1 ° C và
độ ẩm tương đối 40% - 60% trong 15 phút trước khi theo dõi quá trình hydrat hóa da bằng Corneometer® CM 825 (Courage + Khazaka, Đức) ở trung tâm của mặt trong cánh tay Mức độ hydrat hóa da ban đầu của 22 tình nguyện viên đã được ghi lại, tiếp theo là bôi 0,05 và 0,10% B alba polysacarit lên da Các tình nguyện viên được hướng dẫn nghỉ ngơi trong phòng có kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm môi trường Hiệu quả dưỡng ẩm cho da được ghi nhận 15, 30, 45, 60, 90, 120, 150, 180 và 210 phút sau khi
sử dụng Sự khác biệt hydrat hóa da (%) đã được tính toán :
Hiệu quả dưỡng ẩm cho da (%) = [(At - A0) / A0] × 100
Trong đó : At = điện dung da tại một thời điểm xác định
A0 = điện dung da ban đầu [19], [6]
Một số cách khác
Một thử nghiẹm in vivo nữa cũng đã được tiến hành Hai vùng da tròn (đường kính 3,5
cm) được khoanh ở giữa mỗi cẳng tay của 4 tình nguyện viên nam khỏe mạnh Tình
Trang 2113
nguyện viên không được phép sử dụng bất kỳ sản phẩm chăm sóc da nào trên cẳng tay
3 ngày trước khi nghiên cứu Đối với mỗi cẳng tay, mỗi vị trí được xử lý bằng 0,2 ml kem dưỡng ẩm và chà nhẹ bằng ngón tay đeo găng và khu vực còn lại dùng làm đối chứng không bôi chế phẩm Các khu vực bôi kem và đối chứng được chọn ngẫu nhiên giữa các đối tượng Đối với mỗi đối tượng, thiết kế giống nhau ở cẳng tay phải và trái Các phép đo của cả hai thiết bị đã được thực hiện tại thời điểm ban đầu, 60 và 90 phút sau khi dùng sản phẩm Tất cả các phép đo được thực hiện theo các hướng dẫn cho phép đo hydrat hóa [5] Các tình nguyện viên được ở trong phòng có kiểm soát nhiệt
độ ở 23oC ± 1 và độ ẩm tương đối 28 ± 1% trong 30 phút trước khi đo Đối với mỗi thiết bị, 3 phép đo độc lập được thực hiện tại mỗi thời điểm cho từng khu vực được kiểm tra [11]
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới về kem giữ ẩm
Năm 2008, S Gautier, E Xhauflaire-Uhoda, P Gonry and G E Pierard đã nghiên cứu việc sử dụng chitin-glucan trong kem dưỡng da Khảo sát với nồng độ 0,5-2,0% chitin-glucan trong 6 tuần cho thấy với tỉ lệ 1,5% và 2,0% làm giảm đáng kể TEWL so với trường hợp giả dược, khả năng giữ nước của lớp sừng được cải thiện [10]
Năm 2015, Nattaya Louritha và Mayuree Kanlayavattanakul đã nghiên cứu về việc ứng dụng chất nhầy được chiết từ rau Malabar (Basella alba và B rubra) trong kem giữ ẩm Kết quảđược thử nghiệm trên 22 tình nguyện viên cho thấy không có hiện tượng kích ứng da và hiệu quả dưỡng ẩm da cho tác dụng tốt hơn 7-28% so với trường hợp không dùng sản phẩm[19]
Năm 2018,Ye Wang, Jiusheng Li, Yazhuo Shang, Xiangqiong Zeng,đã phát triển nhũ tương sáp với cấu trúc tinh thể lỏng và nghiên cứu khả năng giữ ẩm của chúng Kết quả phân tích thống kê chỉ ra rằng các nhũ tương làm tăng đáng kể mức độ hydrat hóa của da khi so sánh với mẫu chứng (p <0,001), với sự gia tăng của hàm lượng tinh thể lỏng, mức độ hydrat hóa tăng lên[31]
Flávio B Camargo, Jr., Lorena R.Gaspar và Patrícia M B G Maia Campos đã nghiên cứu về hiệu quả giữ ẩm của kem có chưa panthenol Khảo sát panthenol với các nồng độ 0,5%, 1,0%, và 5,0% , các mẫu kem được bôi hằng ngày lên cẳng tay của các tình nguyện viên khỏe mạnh trong 15, 30 ngày Tất cả các công thức được nghiên
Trang 2214 cứu đều tạo ra sự gia tăng đáng kể về độ ẩm của lớp sừng (p <0,001) sau 15 và 30 ngày sử dụng[7]
Trang 2315
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị
2.1.1 Nguyên liệu
Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2 1 Nguyên liệu và hóa chất sử dụng trong quá trình thực nghiệm
Trang 242.1.2 Thiết bị
Máy móc thiết bị sử dụng trong nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2 2 Máy móc, thiết bị sử dụng
7 Máy đo độ bền gel Texture Analyzer CT3 1500 Mỹ
Dụng cụ khác: Cân phân tích, cân kỹ thuật, bình hút ẩm,
cốc có mỏ, đũa thủy tinh, đèn cồn, nhiệt kế,
2.1.3 Động vật thí nghiệm
Thỏ trắng trưởng thành khỏe mạnh, có khối lượng 2,0-3,0 kg không có bất cứ bất thường nào trên da, được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng đầy đủ, có kiểm soát
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, nghiên cứu đã thực hiện các nội dung sau:
- Nghiên cứu xây dựng công thức kem giữ ẩm da
- Đánh giá một số đặc tính của kem giữ ẩm da :độ ổn định vật lý, khả năng bám dính, tính kích ứng trên da và khả năng giữ ẩm
Trang 2517
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bào chế kem bôi da
- Chuẩn bị pha nước
+ Cân các thành phần của pha nước
+ Đun nóng pha nước đến 65oC
- Chuẩn bị pha dầu
+ Cân các thành phần của pha dầu
+ Đun nóng pha dầu đến 60oC
- Phối hợp pha dầu vào pha nước bằng thiết bị nhũ hóa phù hợp[1], bảo quản ở nhiệt
độ phòng 24 giờ rồi tiến hành các thử nghiệm được trình bày ở mục 2.3.3 và 2.3.4
Hình 2 1 Sơ đồ bào chế kem bôi da
Trang 2618
2.3.2 Phương pháp đánh giá một số tính chất vật lý của kem
Hình thức
- Tiến hành quan sát và ghi nhận về màu sắc, thể chất của các công thức
- Yêu cầu về hình thức: Kem có màu trắng, thể chất mịn, đồng nhất, rất ít hay không có bọt khí, khi bôi lên da không có hiện tượng tạo kem trắng trên bề mặt da, không gây bóng và nhờn rít da
Độ ổn định vật lý
Cân 3,0g kem vào ống ly tâm 15ml để khảo sát khả năng tách lớp theo các thông
số: tốc độ ly tâm 5000vòng/phút trong thời gian 30, 120 phút
Sau đó quan sát đánh giá các mẫu sau ly tâm
2.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng bám dính trên da thỏ
- Nguyên tắc: Độ bám dính được đo bằng công thực hiện hoặc lực tối đa cần thiết
để tách miếng da thỏ ra khỏi kem [21], [12], [22]
Hình 2 2 Thí nghiệm đo khả năng bám dính
+ Da thỏ gắn trên khối trụ được hạ xuống từ từ, nhúng vào kem với độ sâu 3mm sau đó được nhấc ra khỏi kem