LỜI NÓI ĐẦU Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quá trình... khác nhau. Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại YỚi nhau, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Chúng luôn vận động, đổi mới, phát triển hay đứng yên? Trong thực tiễn và nhận thức, hoạt động của con người tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, với nhiều mối liên hệ khác nhau và YỚi những mục tiêu khác nhau. Vậy, làm thế nào để con người có thể đạt được những mục tiêu đó và tránh những sai lầm trong nhận thức tư duy? Đe trả lời cho những câu hỏi trên, chúng ta cùng nghiên cứu đề tài: “PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG NHẤT CHO HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THựC TIỄN. VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ.” Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và phát triển của hiện thực. Do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan điểm của phép biện chứng duy vật, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố định hướng cho quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, giúp con người đạt dược nhiều thành quả tích cực, đặc biệt trong các hoạt động kinh tể. Do trình độ kiến thức còn có nhiều hạn chế, chắc chắn bài viết của nhóm em sẽ không tránh khỏi những thiểu sót và hạn chế. Kính mong thầy và các bạn góp ý để kiến thức của chúng em về vấn đề này được hoàn chỉnh hơn.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quátrình khác nhau Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại YỚi nhau, ảnh hưởng lẫnnhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Chúng luôn vận động, đổi mới, pháttriển hay đứng yên?
Trong thực tiễn và nhận thức, hoạt động của con người tồn tại trên rất nhiềulĩnh vực khác nhau, với nhiều mối liên hệ khác nhau và YỚi những mục tiêu khácnhau Vậy, làm thế nào để con người có thể đạt được những mục tiêu đó và tránhnhững sai lầm trong nhận thức tư duy?
Đe trả lời cho những câu hỏi trên, chúng ta cùng nghiên cứu đề tài:
“PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG NHẤT CHO HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THựC TIỄN VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ.”
Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động
và phát triển của hiện thực Do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn
là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan Hệ thống các quanđiểm của phép biện chứng duy vật, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đãtrở thành nhân tố định hướng cho quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn củacon người, giúp con người đạt dược nhiều thành quả tích cực, đặc biệt trong cáchoạt động kinh tể
Do trình độ kiến thức còn có nhiều hạn chế, chắc chắn bài viết của nhóm em
sẽ không tránh khỏi những thiểu sót và hạn chế Kính mong thầy và các bạn góp ý
để kiến thức của chúng em về vấn đề này được hoàn chỉnh hơn
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 7
1.1 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng 7
1.2 Phép biện chứng duy yật 10
PHẦN 2 NỘI DUNG cơ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 12
2.1 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy yật 12
2.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 12
2.1.1.1 Khái niệm moi liên hệ và moi liên hệ phổ biến 12
2.1.1.2 Tỉnh chất của các moi liên hệ 13
2.1.1.3 Nội dung nguyên lỷ 75
2.1.1.4 Ý nghĩa phương pháp luận 75
2.1.2 Nguyên lý về sự phát triển 16
2.1.2.1 Khái niệm sự vận động và sự phát triển 16
2.1.2.2 Tỉnh chất của sự phát triển 17
2.1.2.3 Nội dung nguyên ỉỷ 18
2.1.2.4 Ý nghĩa phương pháp luận 199
2.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 20
2.2.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 21
2.2.1.1 Mặt đổi lập; thong nhất, đẩu tranh, chuyển hoả của các mặt đổi lập 22 2.2.1.2 Nội dung quy luật 27
2.2.1.3 Ỷ nghĩa phương pháp luận 27
2.2.2 Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đỗi về chất, và ngược lại 28
2.2.2.1 Chat, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy 28
2.2.2.2 Nội dung quy luật 38
2.2.23 Ý nghĩa phương pháp luận 39
2.2.3 Quy luật phủ định của phủ định 40
2.2.3.1.Phủ định biện chứng, phủ định của phủ định 41
2.23.2 Nội dung quy luật 44
Trang 32.2.3.3 Ỷ nghĩa phương pháp luận 48
2.3 Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy yật 50
2.3.1 Một số vấn đề chung về phạm trù .50
2.3.1.1 Định nghĩa phạm trù và phạm trù trìêt học 50
2.3.1.2 Bản chất của phạm trù 51
2.3.2 Cái riêng và cái chung 53
2.3.2.1 Khái niệm cái riêng và cái chung 533
23.2.2 Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung 54
2.3.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 56
2.3.3 Nguyên nhân và kết quả 57
2.3.3.1 Khái niệm 57
2.3.3.2 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 59
2.3.3.3 Ý nghĩa phương pháp luận 61
2.3.4 Tất nhiên và ngẫu nhiên 62
2.3.4.1 Khái niệm 62
2.3.4.2 Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên 64
2.3.4.3 Ý nghĩa phương pháp luận 66
2.3.5 Nội dung và hình thức 67
2.3.5.1 Khái niệm 67
2.3.5.2 Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức 68
2.3.5.2 Ý nghĩa phương pháp luận 70
2.3.6 Bản chất và hiện tượng 71
2.3.6.1 Khải niệm 71
2.3.6.2 Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng 72
2.3.6.3 Ý nghĩa phương pháp luận 75
2.3.7 Khả năng và hiện thực 76
2.3.7.1 Khải niệm 76
Trang 42.3.7.2 Quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực 78
2.3.7.3.Ý nghĩa phương pháp luận 80
PHẦN 3: KHÁI QUÁT VÈ PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG PHÁP LUẬN; MỘT SỐ NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT * 1.81 3.1 Khái quát về phương pháp và phương pháp luận 81
3.1.1 Khái quát về phương pháp 81
3.1.1.1 Định nghĩa: 81
3.1.1.2 Phân loại phương pháp: 82
3.1.2 Khái quát về phương pháp luận 83
3.1.2.1 Khái niệm: 83
3.1.2.2 Phân loại: 83
3.2 Một sổ nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép duy vật biện chứng 84 3.2.1 Nguyên tắc toàn diện 84
3.2.1.1 Cơ sở lý luận 84
3.2.1.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc toàn diện 84
3.2.2 Nguyên tắc phát triển 86
a Cơ sở lý luận 86
b Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc phát triển 86
3.2.2.1 Nguyên tắc mâu thuẫn 87
3.2.2.1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc (phân tích) mâu thuẫn (còn được gọi là nguyên tắc phân đôi cái thống nhất) 87
3.2.2.1.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc mâu thuẫn 87 3.2.2.2 Nguyên tắc phân tích lượng - chất 89 3.2.2.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc phân tích lượng - chất
89
Trang 53.2.2.2.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc phân tích lượng - chất.
89
3.2.2.3.Nguyên tắc phủ định biện chứng 90
3.2.2.3.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc phủ định biện chứng 90 3.2.2.3.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc phủ định biện chứng 90 3.3 Một sổ yêu cầu phương pháp luận của các cặp phạm trù 91
3.3.1 Một số yêu cầu phương pháp luận được rút ra từ nội dụng của cặp phạm trù cái chung và cái riêng 91
3.3.2 Một số yêu cầu phương pháp luận được rút ra từ nội dung của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 91
3.3.3 Một số yêu cầu phương pháp luận được rút ra từ nội dung của cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên 93
3.3.4 Một sổ yêu cầu phương pháp luận được rút ra từ nội dung của cặp phạm trù nội dung và hình thức 93
3.3.5 Một số yêu cầu phương pháp luận được rút ra từ nội dung của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng 94
3.3.6 Một số yêu cầu phương pháp luận được rút ra từ nội dung của cặp phạm trù hiện thực và khả năng 95
3.4 Nguyên tắc lịch sử - cụ thể 95
3.4.1 Cơ sở lý luậ của nguyên tắc lịch sử - cụ thể 95
3.4.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc lịch sử - cụ thể 96
PHẦN 4: VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ! 100
4.1 Vận dụng giải thích các quy luật kỉnh tế 101
4.1.1 Quy luật cung - cầu 101
4.1.2 Quy luật hiệu suất biên giảm dần 103
Trang 6Hình 2.1 Cấu trúc của than đá và kim cương 30
Hình 2.2 Sự phát triển theo đường “xoáy ốc” của quy luật phủ định của phủ định 46
Trang 7NỘI DUNG PHẦN 1 PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
a
Khái niêm biên chứng và phép biên chứng
Trong chủ nghĩa Mac - Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mốiquan hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sựvật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện
chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là
sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người
Theo Ph.Ảngghen: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộgiới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ làphản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới
thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống cácnguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Với nghĩa như vậy, phépbiện chứng thuộc về biện chứng chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập YỚi phépsiêu hình - phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thể giới trong trạng thái
cô lập và bất biển
b
Các hình thức cơ bản của phép biên chứng
Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức cơ bản: phép biện chứngchất phát thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứngduy vật của chủ nghĩ Mác - Lênin
Phép biện chứng chất phát thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện
chứng trong lịch sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết
Trang 8học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu cho những tư tưởng biệnchứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên
lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết vềnhững nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âmdương gia Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét của tư tưởng biện chứng là triếthọc của đạo Phật, YỚi các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên” Đặcbiệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện một cách sâu sắc tinh thần của phép biệnchứng tự phát Ph.Ảngghen viết: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là nhữngnhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhàtriết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biệnchứng Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó làthế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclíttrình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, YÌmọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừngphát sinh và tiêu vong” Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứng đó về cơ bản vẫncòn mang tính chất ngây thơ, chất phát Ph.Ảngghen nhận xét: “Trong triết họcnày, tư duy biện chứng xuất hiện YỚi tính chất thuần phác tự nhiên chưa bị khuấyđục bởi những trở ngại đáng yêu Chính YÌ người Hy Lạp chưa đạt tới trình độ
mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là mộtchỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy Mối liên hệ phổ biến giữacác hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết; đối với họ, mối liên hệ
đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp” Phép biện chứng chất phác cổ đại nhậnthức đúng về tính biện chứng của thể giới nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trựcquan chất phác, ngây thơ, thiểu sự chứng minh bởi những thành tựu phát triển củakhoa học tự nhiên
Trang 9Từ nửa cuối thể kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi sâuvào phân tích, nghiên cứu từng yểu tố riêng biệt của thể giới tự nhiên, dẫn tới sự rađời của phương pháp siêu hình Đến thể kỷ XVIII, phương pháp siêu hình trở thànhphương pháp thống trị trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên,khi khoa học tự nhiên chuyển từ việc nghiên cứu đối tượng riêng biệt sang nghiêncứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong mối liên hệ, thì phương pháp
tư duy siêu hình không còn phù hợp mà phải chuyển sang một hình thức tư duymới cao hơn là tư duy biện chứng
Phép biện chứng duy tâm cỗ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện
ở Hêghen Theo Ph.Ảngghen: “Hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình thứcquen thuộc nhất YỚi các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức, từCantơ đến Hêghen.”
Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất củaphép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống Tính chất duy tâm trong triết họcHêghen biểu hiện ở chỗ ông coi biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ýniệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan.Theo Hêghen, “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thànhgiới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần “Tinh thần, tư tưởng,
ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm”.Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao nhất là Hêghen, đã xây dựng phép
biện chứng duy tâm YỚi hệ thống phạm trù, quy luật chung, có lôgích chặt chẽ của
ý thức, tinh thần V.I Lênin cho rằng: “Hêghen đã đoán được một cách tài tìnhbiện chứng của sự vật (của những hiện tượng, của thể giới, của giới tự nhiên) trongbiện chứng của khái niệm Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh tư tưởng của C.Mác:
“Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiênkhông ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có
Trang 10ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biệnchứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát triển được cái hạtnhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”.
Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức, cũng như trong triếthọc Hêghen là hạn chế cần phải vượt qua C.Mác và Ph.Ăngghen đã khắc phục hạnchế đó để sáng tạo nên phép biện chứng duy vật Đó là giai đoạn phát triển cao nhấtcủa phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phê phánđối YỚi phép biện chứng cổ điển Đức Ph.Ảngghen tự nhận xét: “Có thể nói rằnghầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoátkhỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và
về lịch sử”
1.2 Phép biện chứng duy yật
a
Khái niêm phép biên chứng duy vât
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng:
“Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động
và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin còn có một số định nghĩa khác
về phép biện chứng duy vật Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệphổ biến, Ph.Ảngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệphổ biến”; còn khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển (trong đó cóbao hàm học thuyết về sự phát triển của nhận thức) trong phép biện chứng màC.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I Lênin đã khẳng định: “Trong sốnhững thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về
sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, họcthuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vậtchất luôn luôn phát triển không ngừng”
Trang 11Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có hai đặc trưng cơ bảnsau:
Một là, Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thể giới quan duy vật khoa học Với đặc
trưng này, phép biện chứng duy vật chẳng những có sự khác biệt căn bản với phépbiện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hêghen (làphép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy tâm) mà còn có sựkhác biệt về trình độ phát triển so YỚi nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có tronglịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng trênlập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ trựcquan, ngây thơ và chất phác)
Hai là, trong Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin có sự thong nhất giữa nội dung thể giới quan (duy vật biện chứng) và phương pháp luận (biện chứng duy vật), do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thể giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thể giới Mỗi nguyên lý, quy luật trong
phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là sự giải thích đúngđắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việcnhận thức và cải tạo thế giới Trên cơ sở khái quát các mối liên hệ phổ biến và sựphát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tấtthảy mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duyvật của chủ nghĩa Mác - Lênin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luậnchung nhất cho quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, đó không chỉ lànguyên tắc phương pháp luận khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện,phát triển, lịch sử - cụ thể phương pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ranguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động, phát triển Với tư cách
Trang 12đó, phép biện chứng duy vật chính là công cụ khoa học vĩ đại để giai cấp cáchmạng nhận thức và cải tạo thể giới.
Với những đặc trưng cơ bản đó mà phép biện chứng duy vật giữ vai trò làmột nội dung đặc biệt quan trọng trong thể giới quan và phương pháp luận triểt họccủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác
- Lênin, đồng thời nó cũng là thể giới quan và phương pháp luận chung nhất củahoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
PHẦN 2 NỘI DUNG cơ BẢN CỦA PHÉP BỆN CHỨNG DUY VẬT
2.1 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy yật
Nguyên lý là những luận điểm xuất phát (tư tưởng chủ đạo) của một họcthuyết (lý luận) mà tính chân lý của nó là hiển nhiên, tức không thể hay không cầnphải chứng minh nhưng không mâu thuẫn YỚi thực tiễn và nhận thức về lĩnh vực
mà học thuyết đó phản ánh
Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn - nhận thức lâu dàicủa con người1 Nó vừa là cơ sở lý luận của học thuyết, vừa là công cụ tinh thần đểnhận thức (lý giải - tiên đoán) và cải tạo thế giới Ý nghĩa phương pháp luận củanguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc (tức những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thểphải tuân thủ đúng trình tự nhằm mục đích đề ra một cách tối ưu) tương ứng
Có hai loại nguyên lý: nguyên lý của khoa học (công lý, tiên đề, quy luật nềntảng) và nguyên lý của triết học Phép biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản
Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển
2.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1.1.1 Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biển
1 Chủ nghĩa duy lý / duy tâm cho rằng, nguyên lý xuất hiện trong linh hồn (lý tính) của con người nhờ vào năng lực trực giác / mách bảo của đấng siêu nhiên.
Trang 13Mối liên hệ là sự tác động (ràng buộc, thâm nhập ) lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng hay quá trình (vạn vật) mà trong đó, sự thay đổi của cái này sẽ tất yểukéo theo sự thay đổi của cái kia
Đối lập với mối liên hệ là sự tách biệt Sự tách biệt cũng là sự tác động qualại giữa các sự vật, hiện tượng hay quá trình nhưng sự thay đổi của cái này sẽkhông tất yểu kéo theo sự thay đổi của cái kia Do vậy mà vạn vật trong thể giớiđều luôn tác động lẫn nhau, nhưng có một số tác động dẫn đến sự thay đổi, cònmột số tác động khác chưa tạo nên sự thay đổi, tức còn nằm trong trạng thái ổnđịnh Vạn vật vừa tách biệt vừa liên hệ, vừa là nó vừa không là nó Thế giới vậtchất là một hệ thống thống nhất mọi yếu tố, bộ phận của nó Chính nhò sự thốngnhất vật chất mà vạn vật luôn tác động qua lại lẫn nhau
Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại
trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các
sự vật hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng chỉ các mối liên hệ tồn tại ởnhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất lànhững mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượngnghiên cứu của phép biện chứng Đó là các mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng
và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặcthù vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định Đồng thời,cũng tồn tại những mối liên hệ phố biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là
sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộnhững mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đadạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới
tự nhiên, xã hội và tư duy
Trang 142.1.1.2 Tỉnh chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biển và tính đa dạng, phong phú là những tínhchất cơ bản của các mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ: Theo quan điểm biện chứng duy vật,
các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thể giới là có tính khách quan Theoquan điểm đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hoá lẫn nhaucủa các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tạiđộc lập không phụ thuộc vào ý chí con người; con người chỉ có thể nhận thức vàvận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Tính phổ biến của các mối liên hệ: Theo quan điểm biện chứng thì không có
bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với sự vật, hiệntượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không bất cứ sự vật, hiện tượng nàokhông phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với nhữngmối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống,hơn nữa là một hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác
và làm biến đổi lẫn nhau
Tỉnh đa dạng, phong phú của mối liên hệ: Quan điểm biện chứng của chủ
nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của cácmối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính
đa dạng phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượnghay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vaitrò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên
hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở nhữnggiai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng cónhững tính chất và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vịtrí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mồi sự vật nhất định, trongnhững điều kiện xác định Mối liên hệ có thể chia thành: mối liên hệ bên trong và
Trang 15bên ngoài sự vật; mối liên hệ bản chất và hiện tượng; mối liên hệ chủ yểu và thứyểu; mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp; mối liên hệ trong tự nhiên, mối liên hệ trong
xã hội và mối liên hệ trong tư duy; mối liên hệ riêng, mối liên hệ chung và mối liên
hệ phổ biển
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàmquan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biển ở cácmối liên hệ đặc thù trong mối sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trongnhững điều kiện không gian và thời gian cụ thể
Mối liên hệ phổ biến cũng mang tính khách quan và phổ biển Nó chi phối
tổng quát sự tồn tại, vận động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xảy ra trong thếgiới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng
2.1.1.3 Nội dung nguyên lỵ
Mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình (vạn vật) trong thế giới đều tồn tạitrong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau Mối liên hệ tồn tại khách quan,phổ biến và đa dạng
Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên
hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chi phối một cáchtổng quát quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong thếgiới
2.1.1.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ tỉnh khách quan và phổ biển của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt
động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thựctiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộphận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lạigiữa sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về
Trang 16sự vật và xử lý hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểmtoàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn.
V.I.Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát
và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ giao tiểp”của sựvật đó”2
Từ tỉnh chất đa dạng, phong phú của các moi liên hệ đã cho thấy trong hoạt
động nhận thức và thực tiễn khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũngcần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tìnhhuống trong thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhậnthức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vịtrí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể, để
từ đó có được những giải pháp đúng đắn và hiệu quả trong việc xử lý các Yấn đề
thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh vàkhắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn tránh và khắc phục quan điểmchiết trung, ngụy biện
2.1.2 Nguyên lý về sự phát triển
2.1.2.1 Khái niệm sự vận động và sự phát triển
Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động
được hiểu như sự thay đổi nói chung “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tứcđược hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vậtchất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong YŨ trụ, kể
từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”3
2 V.I.Lênin: Toàn tập, t42, Nxb: Tiến bộ, Mátxcơva, tr364.
3 c Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, T20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, ừ 519.
Trang 17Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng,giảm thuần tuý về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nócũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bướcquanh co phức tạp.
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng, phát triển là
khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao (thay đổi về lượng), từ đơn giảnđến phức tạp (thay đổi về chất), từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện (thay đổi vềlượng - chất), do việc giải quyết mâu thuẫn trong bản thân sự vật gây ra, được thựchiện thông qua bước nhảy về chất, và diễn ra theo xu hướng theo phủ định của phủđịnh
Ở khía cạnh khác, phát triển cũng được xem là một khuynh hướng vận động
tổng họp của một hệ thống - sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quyđịnh về chất (thay đổi kết cấu - tổ chức) của hệ thống - sự vật theo hướng tiến bộgiữ vai trò chủ đạo; còn sự vận động có thay đổi những quy định về chất của hệthống - sự vật theo xu hướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những quyđịnh về lượng của hệ thống - sự vật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cầnthiết cho xu hướng chủ đạo trên Theo cách hiểu này, trong quá trình phát triển củacác hệ thống - sự vật vật chất xảy ra trong thế giới, không chỉ là sự thay đổi tiến bộ
mà còn chứa trong mình những thay đổi thoái bộ tạm thời, không chỉ là sự thay đổi
mà còn chứa trong mình những sự ổn định tương đối nữa
Khi bàn về phát triển, V.I Lênin viết: “Hai quan điểm cơ bản về sự pháttriển (sự tiến hoá): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như lập lại; và pháttriển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì chết cứng,nghèo nàn, khô khan Quan điểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ haimới cho ta chìa khoá của “sự tự vận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ
có nó mới cho ta chìa khoá của những “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn của tính
Trang 18tiệm tiến”, của “sự chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảysinh cái mới”4.
2.1.2.2 Tỉnh chất của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biển và tính đadạng, phong phú
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận
động và phát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quátrình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộctính tất yểu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn
ra trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng vàtrong mọi quá trình, trong mọi giai đoạn của sự vật, hiện tượng đó Trong mỗi quátrình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợpvới quy luật khách quan
Tính đa dạng, phong phú cửa sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là
khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng,mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Tồntại ở những không gian và thời gian khác nhau sự vật phát triển sẽ khác nhau Đồngthời, trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu nhiều sự tác động của các
sự vật, hiện tượng hay quá trình khác, của rất nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử, cụthể Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí
có thể làm cho sự vật thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới sự phát triển về mặt này vàthoái hoá ở những mặt khác Đó đều là những biểu hiện của tính phong phú, đadạng của các quá trình phát triển
4 V.I.Lênin: Toàn tập, T 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, ừ 379.
Trang 19Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biển và đa dạng', phát triển trong giới tự nhiên YÔ sinh; phát triển trong giới
tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triển trong tư duy, tinh thần Pháttriển xảy ra khi có sự thay đổi/chuyển hoá giữa các mặt đối lập, giữa chất và lượng,giữa cái cũ và cái mới, giữa cái riêng và cái chung, giữa nguyên nhân và kết quả,giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tượng, giữa tất nhiên và ngẫunhiên, giữa khả năng và hiện thực
2.1.2.3 Nội dung nguyên lý
Mọi sự vật, hiện tượng trong thể giới đều không ngừng vận động và pháttriển Phát triển mang tính khách quan - phổ biển, là khuynh hướng vận động tổnghợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy
về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định
2.1.2.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việcnhận thức thế giới và cải tạo thế giới Theo nguyên lý này, trong mọi nhân thức và
thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển Theo V.I.Lênin, “Lôgich biện chứng
đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động” , trong sự biếnđổi của nó”
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, địnhkiến, đối lập với sự phát triển Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giảiquyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt cần phải đặt sự vật, hiện tượng theokhuynh hướng đi lên của nó; mặt khác, con đường của sự phát triển lại là một quátrình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, YÌ vậy đòi hỏi phảinhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát
triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể trong nhận thức và giải
Trang 20quyết các Yấn đề thực tiễn, phù hợp với tình chất phong phú, đa dạng, phức tạp củanó.
Như vậy, với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển,phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin giữ một vai trò đặc biệt quantrọng trong nhận thức và thực tiễn Khẳng định vai trò đó của phép biện chứng duyvật, Ph.Ăngghen viết: “ Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nóxem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên
hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sựtiêu vong của chúng”5 V.I.Lênin cũng cho rằng: “Phép biện chứng đòi hỏi người taphải chú ý đến tất cả các mặt của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể củanhững mối quan hệ đó”6
2.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy yật
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và
lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong của mỗi một sự vật, haygiữa các sự vật, hiện tượng YỚi nhau và chi phối sự vận động, phát triển củachúng
Quy luật là đối tượng nghiên cứu của mọi ngành khoa học, là cốt lõi lýthuyết khoa học Quy luật và bản chất là những khái niệm cùng trình độ Quy luật
là công cụ tinh thần để nhận thức (lý giải - tiên đoán) và cải tạo thế giới Dựa trênnội dung quy luật, phương pháp luận xây dựng các quy tắc, phương pháp để chỉđạo hoạt động của chủ thể trong quá trình nhận thức và thực tiễn Muốn hoạt độngthành công phải hiểu đúng quy luật và làm theo quy luật, tức làm theo các quy tắc,phương pháp, do phương pháp luận đưa ra
Phân loại quy luật
5 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, ừ 38.
6 V.I.Lênin: Toàn tập, T 42, Nxb: Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, ừ 359.
Trang 21Trong thế giới tồn tại nhiều quy luật, chúng khác nhau về mức độ phổ biến,
về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối YỚi quá trình vận động
và phát triển của sự vật trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy Do vậy, việc phânloại quy luật là cần thiết để nhận thức và vận dụng có hiệu quả các quy luật vàohoạt động thực tiễn của con người
Nếu căn cứ vào mức độ của tính phổ biến để phân loại thì các quy luật được
chia thành: những quy luật riêng, những quy luật chung và những quy luật phổ
biển Những quy luật riêng là những quy luật chỉ tác động trong phạm vi nhất định
của các sự vật hiện tượng cùng loại Thí dụ: những quy luật vận động cơ giới, vận
động hoá học, vận động sinh học, Những quy luật chung là những quy luật tác
động trong phạm vi rộng hơn quy luật riêng, tác động trong nhiều loại sự vật, hiệntượng khác nhau Chẳng hạn: quy luật bảo toàn khối lượng, quy luật bảo toàn năng
lượng, Những quy luật phổ biến là những quy luật tác động trong tất cả các lĩnh
vực: từ tự nhiên, xã hội cho đến tư duy Phép biện chứng duy vật nghiên cứunhững quy luật phổ biến đó
Nếu căn cứ vào lĩnh vực tác động để phân loại thì các quy luật được chia
thành ba nhóm lớn: những quy luật tự nhiên, những quy luật xã hội và những quy
luật của tư duy Những quy luật tự nhiên là quy luật nảy sinh và tác động trong giới
tự nhiên, kể cả cơ thể con người, không phải thông qua hoạt động có ý thức của
con người Những quy luật xã hội là quy luật hoạt động của chính con người trong
các quan hệ xã hội; những quy luật đó không thể nảy sinh và tác động ngoài hoạtđộng có ý thức của con người, nhưng những quy luật xã hội vẫn mang tính khách
quan Những quy luật của tư duy là những quy luật thuộc mối liên hệ nội tại của
những khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận và của quá trình phát triển nhậnthức lý tính ở con người
Trang 22Với tư cách là một khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phépbiện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộcác lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Đó là: quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượngdẫn đến những thay đổi về chất, và ngược lại; quy luật phủ định của phủ định
2.2.1 Quy luật thống nhất và đẩu tranh của các mặt đối lập
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là “hạt nhân” của phépbiện chứng Theo V.I.Lênin, “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là họcthuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thể là nắm được hạt nhân củaphép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự pháttriển thêm”7
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật gốc, độnglực cơ bản, phổ biển của mọi quá trình vận động và phát triển Theo quy luật này,nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển
chính là mâu thuẫn khách quan, Yốn có của sự vật.
2.2.1.1 Mặt đổi lập; thống nhất, đẩu tranh, chuyển hoá của các mặt đổi lập
Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt tráingược nhau.Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật có đồng hoá và
dị hoá; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền Những mặt tráingược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập
Mặt đối lập: Sự vật là một tập họp các yếu tố (thuộc tính) tương tác với nhau
và với môi trường Sự tương tác này làm cho các yếu tố tạo nên bản thân sự vật cómột sự biến đổi nhất định, trong đó có vài yếu tố (biến đổi) trái ngược nhau Nhữngyếu tố trái ngược nhau (bên cạnh những yếu tố khác hay giống nhau) tạo nên cơ sởcủa các mặt đối lập trong sự vật Mặt đối lập tồn tại khách quan và phổ biến Thí
7 V.I.Lênin: Toàn tập, T 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, ừ 240.
Trang 23dụ, điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, đồng hoá và dị hoá củamột cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế của xã hội, chân lý
và sai lầm trong quá trình phát triển của nhận thức,
Thống nhất của các mặt đối lập là các mặt đối lập khẳng định nhau, nương
tựa vào nhau, thâm nhập lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau (mặt đối lập này lấymặt đối lập kia làm điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của mình); là các mặt đối lậpđồng nhất nhau, tức trong chúng chứa những yểu tố giống nhau cho phép chúngđồng tồn tại trong sự vật; là các mặt đối lập tác động ngang nhau, tức sự thay đổitrong mặt đối lập này tất yểu sẽ kéo theo sự thay đổi trong mặt đối lập kia, vàngược lại
Đẩu tranh của các mặt đối lập: dù tồn tại trong sự thống nhất, song các mặt
đối lập luôn luôn đấu tranh với nhau, tức chúng luôn tác động qua lại theo xuhướng phủ định, bài trừ hay loại bỏ lẫn nhau Tính đa dạng của hình thức đấu tranhcủa các mặt đối lập tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập, của mối liên hệ qualại giữa chúng, vào điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh của các mặt đối lập
Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranhcủa các mặt đối lập Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời,tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, cũng như sự phát triển sự vận động làtuyệt đối
Chuyển hoá của các mặt đối lập (giải quyết mâu thuẫn biện chứng): sự
thống nhất mang tính tương đối gắn liền YỚi sự ổn định của sự vật; sự đấu tranhmang tính tuyệt đối gắn liền YỚi sự vận động, thay đổi của bản thân sự vật Mâuthuẫn biện chứng phát triển tương ứng với quá trình thống nhất của các mặt đối lậpchuyển từ mức độ trừu tượng sang cụ thể; còn sự đấu tranh của các mặt đối lậpchuyển từ mức bình lặng sang quyết liệt Điều này làm xuất hiện khả năng chuyểnhoá của các mặt đối lập Khi điều kiện khách quan hội đủ, một trong các khả năng
Trang 24đó sẽ biến thành hiện thực, các mặt đối lập tự thực hiện quá trình chuyển hoá Mâuthuẫn biện chứng sẽ được giải quyết khi các mặt đối lập tự phủ định chính mình đểbiến thành cái khác Có hai phương thức chuyển hoá:
• Một là, mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia ở trình độ mới;
• Hai là, cả hai mặt đối lập cùng chuyển hóa thành những cái thứ ba nào đó mà
quy luật khách quan và điều kiện, tình hình cho phép
Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hoá giữa các mặt đối lập là một quátrình Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành haimặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gây gắt và khiđiều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giảiquyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và quá trình tác động,chuyển hoá giữa các mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luônvận động và phát triển Bởi vậy, sự liên hệ, tác động và chuyển hoá giữa các mặtđối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển thể giới V.I.Lêninkhẳng định: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”
Mâu thuẫn biện chứng, tức sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, tồn tại khách quan, phổ biển và rất đa dạng (mâu thuẫn bên trong - mâu thuẫn bên
ngoài, mâu thuẫn cơ bản - mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu - mâuthuẫn thứ yếu, mâu thuẫn trong tự nhiên - mâu thuẫn trong xã hội - mâu thuẫntrong tư duy, )- Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhautạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phảnánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tưduy trên con đường nhận thức chân lý khách quan Mâu thuẫn biện chứng trong tưduy không phải là ngẫu nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu thuẫn tronglôgích hình thức Những mâu thuẫn lôgích hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nóxuất hiện do sai lầm của tư duy Mâu thuẫn lôgích hình thức là mâu thuẫn được tạo
Trang 25thành từ hai phán đoán phủ định nhau về cùng một phẩm chất của sự vật tại cùngmột thời điểm Các mâu thuẫn khác nhau có vai trò không giống nhau đối với sựvận động, phát triển của bản thân sự vật Sự tác động của mâu thuẫn biện chứnglên bản thân sự vật là nguồn gốc, động lực của mọi sự tự vận động, phát triển xảy
ra trong thế giới
Phân loại mâu thuẫn
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng, cũng như trong tất cảcác giai đoạn phát triển của chúng Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng Tínhphong phú đa dạng được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặtđối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chức của hệ thống(sự vật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại
Căn cứ vào quan hệ đổi với sự vật được xem xét, người ta phân biệt thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
• Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối
lập của cùng một sự vật
• Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong
mối quan hệ sự vật đó YỚi các sự vật khác
Việc phân chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bênngoài chỉ là sự tương đối, tuỳ theo phạm YÌ xem xét Cùng một mâu thuẫn nhưngxét trong mối quan hệ này là mâu thuẫn bên ngoài nhưng xét trong mối quan hệkhác lại là mâu thuẫn bên trong Thí dụ: Trong phạm YÌ nước ta mâu thuẫn trongnội bộ nền kinh tế quốc dân là mâu thuẫn bên trong; còn mâu thuẫn về kinh tế giữanước ta với các nước ASEAN khác lại là mâu thuẫn bên ngoài Neu trong phạm viASEAN thì mâu thuẫn giữa các nước trong khối lại là mâu thuẫn bên trong Vìvậy, để xác định một mâu thuẫn nào đó là mâu thuẫn bên trong hay mâu thuẫn bênngoài trước hết phải xác định phạm vi sự vật được xem xét
Trang 26Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối YỚi quá trình vậnđộng và phát triển của sự vật Còn mâu thuẫn bên ngoài có ảnh hưởng đến sự pháttriển của sự vật Tuy nhiên mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài khôngngừng có tác động qua lại lẫn nhau Việc giải quyết mâu thuẫn bên trong không thểtách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài; việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài
là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong Thực tiễn cách mạng nước ta cũngcho thấy: việc giải quyết những mâu thuẫn trong nước ta không tách rời việc giảiquyết mâu thuẫn giữa nước ta với các nước khác
Căn cứ vào ỷ nghĩa đổi với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:
• Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát
triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các
sự vật Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi cơ bản về chất
• Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật Mâu thuẫn đó nảy sinhhay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đổi với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yểu
và mâu thuẫn thứ yểu.
• Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu của một giai đoạn phát triển
nhất định của sự vật và chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Giảiquyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vậtchuyển sang giai đoạn phát triển mới Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu
có quan hệ chặt chẽ với nhau Mâu thuẫn chủ yếu có thể là một hình thức biểnhiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản hay là kết quả vận động tổng hợp của các
Trang 27mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất định Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếutạo điều kiện giải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản.
• Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn
phát triển nào đó của sự vật nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâuthuẫn chủ yếu chi phối Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từngbước giải quyết mâu thuẫn chủ yểu
Căn cứ vào tỉnh chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong
xã hội thành mâu thuẫn đổi khảng và mâu thuẫn không đổi kháng.
• Mâu thuẫn đổi khảng là mâu thuẫn giữa những giai cấp những tập đoàn người,
có lợi ích cơ bản đối lập nhau Thí dụ: Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ,giữa vô sản với tư sản, giữa dân tộc bị xâm lược với bọn đi xâm lược
• Mâu thuẫn không đổi khảng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi
ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục
bộ, tạm thời Chẳng hạn mâu thuẫn giữa lao động trí óc YỚi lao động chân tay,giữa thành thị với nông thôn,
Việc phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa trongviệc xác định đúng phương pháp giải quyết mâu thuẫn Giải quyết mâu thuẫn đốikháng phải bằng phương pháp đối kháng; giải quyết mâu thuẫn không đối khángphải bằng thì phải bằng phương pháp trong nội bộ nhân dân
2.2.7.2 Nội dung quy luật
Mọi sự vật đều liên hệ lẫn nhau và luôn vận đông, phát triển Vận động, pháttriển do các mâu thuẫn gây ra Các mâu thuẫn biện chứng khác nhau tác độngkhông giống nhau đến quá trình vận động và phát triển của sự vật
Mỗi mâu thuẫn biện chứng đều trải qua ba giai đoạn: sinh thành (sự xuấthiện của các mặt đối lập) - hiện hữu (sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập) - giải quyết (sự chuyển hoá của các mặt đối lập)
Trang 28Mâu thuẫn biện chứng được giải quyết, cái cũ mất đi, cái mới ra đời với mâuthuẫn biện chứng mới hay thay đổi vai trì tác động của các mâu thuẫn biện chứng
cũ Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển Vậnđộng và phát triển xảy ra trong thể giới vật chất mang tính tự thân
2.2.1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, phổ biển và là nguồn gốc, động lực của sựvận động, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng mâu thuẫn,phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồngốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển V.I.Lênin đã cho rằng: “Sự phân
đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó đó là thực chất của phép biện chứng”.
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức vàgiải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức là phải biết phântích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp Trong quátrình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của cácloại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định, những đặc điểm của mâuthuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắnnhất
2.2.2 Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, và ngược lại
Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi
về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của cácquá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này,phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi vềchất của sự vật có cơ sở tất yếu từ những thay đổi về lượng của sự vật và ngược lại,những sự thay đổi về chất của sự vật lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự
Trang 29vật trên các phương diện khác nhau, Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan phổbiến lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, thuộc mọilĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
2.2.2.7 Chat, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy
a
Khái niêm về chất
Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Haimặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng
Phép biện chứng duy vật ra đời đem lại quan điểm đúng đắn về khái niệm
chất, lượng và quan hệ qua lại giữa chúng; từ đó khái quát thành quy luật chuyển hỏa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tỉnh quỵ định khách quan vổn có của
sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tỉnh làm cho sự vật nó chứ không phải là cái khác.
Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất Yốn có, làm nênchính chúng Nhờ đó chúng mới khác YỚi các sự vật, hiện tượng khác; nhờ đó màcon người mới có thể phân biệt sự vật, hiện tượng này YỚi sự vật, hiện tượng khác.Con người khác với động vật chính là nhờ những tính quy định Yốn có của conngười: có khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động, có khả năng tư duy
Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu
thành sự vật Đó là những cái Yốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặcđược hình thành trong sự vận động và phát triển của nó Tuy nhiên những thuộctính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lạiYỚi các sự vật, hiện tượng khác Chất của một người cụ thể chỉ được bộc lộ thôngqua quan hệ của người đó với người khác, với môi trường xung quanh, thông qualời nói và việc làm của người ấy Như vậy, muốn nhận thức đúng đắn về nhữngthuộc tính của sự vật, chúng ta phải thông qua sự tác động qua lại của sự vật đó
Trang 30YỚi bản thân chúng ta hoặc thông qua quan hệ, mối liên hệ qua lại của nó YỚi các
sự vật khác
Mồi sự vật có rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của
sự vật Do vậy, mồi sự vật có rất nhiều chất Chất và sự vật có mối quan hệ chặtchẽ, không tách rời nhau Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vậtkhông có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật
Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó Nhưng khôngphải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật Thuộc tính của sự vật cóthuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Những thuộc tính cơ bản được tổnghợp lại tạo thành chất của sự vật Chính chúng quy định sự tồn tại, sự vận động và
sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thayđổi hay mất đi
Trang 31Những thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sựvật khác Bởi vậy sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tínhkhông cơ bản cững chỉ mang tính chất tương đối, tùy theo từng mối quan hệ Thídụ: Trong mối quan hệ với động vật thì các thuộc tính có khả năng chế tạo sử dụngcông cụ, có tư duy là thuộc tính cơ bản của con người còn những thuộc tính kháckhông là thuộc tính cơ bản Song trong quan hệ giữa những con người cụ thể vởỉnhau thi những thuộc tính con người về nhận dạng, về dấu vân tay lại ưở thànhthuộc tính cơ bản.
Chất cùa sự vật không những quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành
mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của
sự vật Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tố như nhau, songchất của chúng lại khác nhau Kim cương và than chì đều có củng thành phần hoáhọc là nguyên tố các bon tạo nên; nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên
tử các bon là khác nhau, vì thế chẩt của chúng hoàn toàn khác nhau Kim cương rấtcứng, còn than chì lại rất mềm Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vậtphụ thuộc cả vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đồi phươngthức liên kết giữa các yếu tố ấy
Cùng được cẫu tạo rừ carbon nầưng với cấu trúc liền kểt khác nhau cho ra
than đá và kỉm cương
Hình 2.1 Cấu trúc liên kết của than đá và kim cương
Trang 33Khái niệm về lượng
Lượng là phạm trù triết học dùng chỉ tính quy định khách quan Yốn có của
sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại,tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật Với khái niệmnày cho thấy: một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác địnhbằng các phương thức khác nhau phù họp YỚi từng loại lượng cụ thể của sự vật
Lượng là cái khách quan, Yốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó.Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít,quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm, Trongthực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lượng cụ thểnhư vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây; một phân tử nước baogồm hai nguyên tử hydrô liên kết với một nguyên tử oxy, Bên cạnh đó có nhữnglượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độ nhận thứctri của một người; ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một công dân, trongnhững trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằngcon đường trừu tượng và khái quát hoá Có những lượng biểu thị yếu tố kết cấubên trong của sự vật (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hoá học, số lượnglĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội) có những lượng vạch ra yểu tố quy định bênngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật)
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật,hiện tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội hay tư duy Hai phươngdiện đó đều tồn tại khách quan Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mangtính tương đối Điều này phụ thuộc vào từng mối quan hệ cụ thể xác định Cónhững tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan
hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại Chẳng hạn số sinh viên học giỏi
Trang 34của một lớp sẽ nói lên chất lượng học tập của lớp đó Điều này cũng có nghĩa là dù
số lượng cụ thể quy định thuần tuý về lượng, song số lượng ấy cũng có tính quyđịnh về chất của sự vật
c
Khái niêm đô
Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất và mặtlượng Chúng tác động qua lại lẫn nhau Trong sự vật, quy định về lượng khôngbao giờ tồn tại nếu không có tính quy định về chất và ngược lại
Sự thay đổi về lượng và về chất của sự vật diễn ra cùng YỚi sự vận động vàphát triển của sự vật Nhưng sự thay đổi đó có quan hệ chặt chẽ YỚi nhau chứkhông tách rời nhau Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng sự thay đổi vềchất của sự vật và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng YỚi thay đổi
về lượng của nó Sự thay đổi về lượng có thể làm thay đổi ngay lập tức về chất của
sự vật Mặt khác, có thể trong một giới hạn nhất định khi lượng của sự vật thay đổi,nhưng chất của sự vật chưa thay đổi cơ bản Chẳng hạn khi ta nung một thỏi thépđặc biệt ở trong lò, nhiệt độ của lò nung có thể lên tới hàng trăm độ, thậm chí cóthể lên tới hàng ngàn độ, song thỏi thép vẫn ở trạng thái rắn chứ chưa chuyển sangtrạng thái lỏng Khi lượng của sự vật được tích luỹ vượt quá giới hạn nhất định gọi
là độ, thì chất cũ sẽ mất đi, chất mới sẽ thay thế chất cũ Chất mới ấy tương ứng
YỚi lượng mới tích luỹ được
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thayđổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy Chất vàlượng tồn tại khách quan, phổ biển, đa dạng, tương đối và thống nhất với nhautrong độ
Độ là moi liên hệ giữa lượng và chất của sự vật ở đó thể hiện sự thống nhất giữa lượng và chất của sự vật, trong đó sự vật vẫn còn là nỏ chứ chưa biển thành cái khác Dưới áp suất bình thường của không khí, sự tăng hoặc sự giảm của nhiệt
Trang 35độ trong khoảng từ 0°c đến 100°c, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng Nếunhiệt độ của nước giảm xuống dưới 0°nước ở thể lỏng chuyển thành thể rắn và nếutăng nhiệt độ từ
Trang 36100°c trở lên, nước nguyên chất thể lỏng chuyển dần sang trạng thái hơi Nước nguyên chất cũng thay đổi về chất.
d Khái niêm điểm nứt
Trong khuôn khổ của độ, lượng biến đổi từ từ, tiệm tiến tăng dần hoặc giảmdần, khi lượng biến đổi đạt tới giới hạn, chất của sự vật sẽ thay đổi, giới hạn đó gọi
là điểm nút
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chí mốc (giới hạn) mà sự thay đổi về
lượng vượt qua nó sẽ làm chất thay đồi căn bản Bất kỳ độ nào cũng được giới hạnbởi hai điểm nút Tại điểm giới hạn như 0°c và 100°c ở thí dụ trên gọi là điểm nútTại điểm đó sự thay đổi về lượng cũng đã đủ làm thay đồi về chất của sự vật
0°
cĐiểmnút,bưởcnhảy
100
°cĐiểmnut, b
ước
nhảy
550
°cĐiểmnút,bướcIihảy
LƯỢNGCNH3ỆTĐộ)
ị • X
Trang 37Sơ đổ 2.1 Điêm nút trong sự thay đổi về lượng dẫn đên sự thay đối vẻ chât củanước
Trang 38Khái niệm bước nhảy
Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi làbước nhảy Vậy bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chấtcủa sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên
Bước nhảy là bước chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật,
hiện tượng Sự thay đổi về chất diễn ra YỚi nhiều hình thức bước nhảy khác nhau,được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi sự vật Đó là cácbước nhảy: nhanh và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát và tự giác,
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời đó
cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vậnđộng, phát triển liên tục của sự vật Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biếnđổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một đường nút YÔ tận, thểhiện cách thức vận động và phát triển tất yếu này: “Những thay đổi đơn thuần vềlượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hoá thành những sự khác nhau vềchất”8
Như vậy sự phát triển của bất cứ của sự vật nào cũng bắt đầu từ sự tích luỹ
về lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất Songđiểm nút của quá trình ấy không cố định mà có thể có những thay đổi do tác độngcủa những điều kiện khách quan và chủ quan quy định Chẳng hạn thời gian đểhoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá ở mỗi nước là khác nhau Có những nướcmất 150 năm, có những nước mất 60 năm nhưng cũng có những nước chỉ mất 15năm
Chất mới của sự vật chỉ có thể xuất hiện khi sự thay đổi về lượng của nó đạttới điểm nút Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng đã thay đổi của sựvật Chất mới ấy có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự
8 C.Mác và Ph.Ằngghen: Toàn tập, T20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, ừ 179.
Trang 39vận động và phát triển của sự vật Chẳng hạn khi sinh viên vượt qua điểm nút là kỳthi tốt