Tác giả xin trân trọng cảm ơn những ý kiến góp ý, phản biện quý báu của các nhàkhoa học trong và ngoài Học viện Hành chính Quốc gia; xin cảm ơn sự quan tâm và tạođiều kiện của Ban Tôn gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VÕ UY PHONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VÕ UY PHONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Cácthông tin, số liệu của luận án được trình bày trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Việc sửdụng, trích dẫn tư liệu của một số công trình nghiên cứu đã công bố khi đưa vào luận ánđược thực hiện đúng theo quy định Kết quả nghiên cứu khoa học của luận án chưa đượccông bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, tháng 9 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Võ Uy Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu, tìm hiểu quản lý nhà nước về Công giáo là một trong những chủ đềnhận được sự quan tâm, chú ý của Đảng, Nhà nước và đông đảo các nhà khoa học, các nhàquản lý ở nước ta trong những năm gần đây Sự thành công của đề tài nghiên cứu Luận án
là kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, nghiên cứu của tác giả và sự chỉ bảo tận tìnhcủa quý Thầy, Cô giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia; quýThầy, Cô giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia, Ban quản lý Đào tạo Sau Đại học,
Khoa QLNN về Xã hội, đặc biệt là PGS.TS Hoàng Văn Chức và TS Nguyễn Hoàng Anh luôn quan tâm, hướng dẫn tác giả trong cả quá trình xây dựng đề cương, tổ chức
nghiên cứu, đến khi hoàn thành Luận án
Tác giả xin trân trọng cảm ơn những ý kiến góp ý, phản biện quý báu của các nhàkhoa học trong và ngoài Học viện Hành chính Quốc gia; xin cảm ơn sự quan tâm và tạođiều kiện của Ban Tôn giáo Chính phủ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Quản lý Nhànước, Ban Tôn giáo và chính quyền các cấp trên địa bàn Đông Nam Bộ; xin cảm ơn độingũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo, các cán bộ Mặt trận Tổ quốc và đoànthể trên địa bàn Đông Nam Bộ; những nghiên cứu viên và bạn đồng nghiệp, đặc biệt là cácchức sắc Công giáo Đông Nam Bộ đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tham gia đóng góp ýkiến về những nội dung của đề tài Luận án
Mặc dù Luận án đã được triển khai nghiên cứu nghiêm túc, khoa học và bản thântác giả đã có nhiều nỗ lực, song chắc chắn vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế, tác giảmong nhận được những ý kiến góp ý của quý Thầy, Cô, các nhà khoa học, các chức sắcCông giáo và đồng nghiệp để bổ sung, hoàn thiện Luận án, xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận án
Nguyễn Võ Uy Phong
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Hội Thừa sai PariMặt trận Tổ quốcQuản lý nhà nướcTín ngưỡng, tôn giáoThành phố
Ủy ban đoàn kết Công giáo
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Ủy ban nhân dânVăn bản quy phạm pháp luật
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7 Những đóng góp mới của luận án 7
8 Kết cấu của luận án 8
Chương 1: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo10 1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo 10
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về tôn giáo 14
1.2 Nhóm công trình nghiên cứu Công giáo và quản lý nhà nước về Công giáo 19
1.2.1 Các Công trình nghiên cứu Công giáo 19
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về Công giáo 25
1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về Công giáo và quản lý nhà nước về Công giáo ở Đông Nam Bộ 28
1.3.1 Nghiên cứu về Công giáo ở Đông Nam Bộ 28
1.3.2 Nghiên cứu quản lý nhà nước về Công giáo ở Đông Nam Bộ 30
1.4 Nhận xét chung về tổng quan tài liệu và nhiệm vụ của luận án 31
1.4.1 Nhận xét về kết quả nghiên cứu đi trước 31
1.4.2 Những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu 32
Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG GIÁO 36
2.1 Khái quát về Công giáo trên thế giới và ở Việt Nam 36
2.1.1 Công giáo trên thế giới 36
2.1.2 Công giáo ở Việt Nam 38
2.2 Công giáo và một số khái niệm có liên quan đến luận án 43
2.2.1 Công giáo và hoạt động Công giáo 43
Trang 72.2.3 Giáo lý, giáo luật Công giáo 45
2.2.4 Lễ nghi và Bí tích Công giáo 46
2.2.4 Quản lý và quản lý nhà nước 47
2.3 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về Công giáo 48
2.3.1 Quản lý nhà nước về tôn giáo 48
2.3.2 Quản lý nhà nước về Công giáo 50
2.3.3 Chủ thể và đối tượng quản lý nhà nước về Công giáo 51
2.3.4 Nội dung quản lý nhà nước về Công giáo 54
2.3.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước về Công giáo 58
2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo và giá trị tham chiếu đối với các tỉnh, thành phố thuộc Đông Nam Bộ 62
2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ngoài và Việt Nam 62
2.4.2 Giá trị tham chiếu cho các tỉnh, thành phố thuộc Đông Nam Bộ 68
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN ĐÔNG NAM BỘ 71
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội địa bàn Đông Nam Bộ71 3.1.1 Về vị trí địa lý 71
3.1.2 Về kinh tế xã hội 71
3.1.3 Về dân số xã hội 72
3.2 Công giáo và hoạt động Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 73
3.2.1 Khái quát về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 73
3.2.2 Hoạt động Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 76
3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 81
3.3.1 Những yếu tố chủ quan 81
3.3.2 Những yếu tố khách quan 85
3.4 Thực trạng thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 88
3.4.1 Xây dựng và hướng dẫn tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách về tôn giáo88 3.4.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 94
3.4.3 Tuyên truyền, vận động tín đồ và tranh thủ chức sắc Công giáo 100
Trang 83.4.4 Chất lượng cán bộ, công chức quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn
Đông Nam Bộ 105 3.4.5 Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật quản lý nhà nước về Công giáo trên
địa bàn Đông Nam Bộ 110 3.4.6 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống hành vi lợi
dụng Công giáo xâm hại đến an ninh, trật tự ở Đông Nam Bộ 121
3.5 Kết quả thực hiện nhiệm vụ và những vấn đề đặt ra đối với các cơ quan chức
năng trong quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 125
3.5.1 Những kết quả đạt được 125 3.5.2 Một số vấn đề đặt ra đối với chính quyền các cấp trên địa bàn Đông Nam
Bộ trong quản lý nhà nước về Công giáo trong thời gian kế tiếp 128
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN ĐÔNG NAM BỘ 135 4.1 Dự báo xu hướng hoạt động của Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ trong
thời gian tới 135
4.1.1 Củng cố đức tin, gia tăng hoạt động truyền giáo gắn với hội nhập văn hóa
địa bàn Đông Nam Bộ 135 4.1.2 Tăng cường đối thoại với các cấp chính quyền, tuân thủ pháp luật trong quan
hệ với chính quyền các địa phương 136 4.1.3 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo138 4.1.4 Mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường đối thoại với các tôn giáo khác 139 4.1.5 Gia tăng các hoạt động vi phạm về đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự trái phép.140
4.2 Quan điểm về công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phương hướng quản lý nhà nước về Công giáo 142
4.2.1 Quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo 142 4.2.2 Phương hướng quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ146
4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ148
4.3.1 Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo 148 4.3.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo 151 4.3.3 Đổi mới công tác tuyên truyền và vận động tín đồ, chức sắc Công giáo 154 4.3.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo
Trang 94.3.5 Phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng
bào Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 160
4.3.6 Đổi mới hoạt động quản lý đất đai, xây dựng; quản lý hoạt động giáo dục, y tế và từ thiện nhân đạo của các tổ chức Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 165
4.3.7 Tăng cường thanh tra, kiểm tra giải quyết tốt những khiếu nại, tố cáo liên quan đến Công giáo và phòng ngừa hành vi lợi dụng Công giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ 168
4.4 Khuyến nghị 172
4.4.1 Đối với Chính phủ và các cơ quan Trung ương 172
4.4.2 Đối với chính quyền các tỉnh, thành phố trên địa bàn Đông Nam Bộ 173
Tổng kết Chương 4 174
KẾT LUẬN 176
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ xxv
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO xxvi PHỤ LỤC xl
Trang 10Bảng 3.2: Kết quả đánh giá về mức độ phù hợp của hệ thống pháp luật về tôn giáo ở
91Việt nam qua một số hoạt động
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát thực trang việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật
102
về tôn giáo tại các tỉnh Đông Nam Bộ
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và phẩm chất
109đạo đức của cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở ĐNB
Bảng 3.5 Thống kê về thực trạng diện tích đất sử dụng cho các cơ sở Công giáo
114
ở Đông Nam Bộ
Bảng 4.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết của việc phải tiếp tục hoàn thiện hệ
148thống pháp luật về tôn giáo
Bảng 4.2 Kết quả khảo sát tính cần thiết phải đổi mới về hình thức và phương
154pháp tuyên truyền và vận động chức sắc, tín đồ Công giáo ở ĐNB
Bảng 4.3 Kết quả khảo sát về tính cần thiết phải đầu tư cơ sở hạ tầng, an sinh xã
161hội tạo điều kiện cho giáo dân nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo sát về mức độ phù hợp của mô hình tổ chức bộ
98máy QLNN về tôn giáo ở Đông Nam Bộ
Biểu đồ 3.2: Thống kê về số lượng CBCC chuyên trách QLNN về tôn giáo
giáo ở Đông Nam Bộ
Biểu đồ 4.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết phải xây dựng và tổ chức các
160chưong trình phát triển kinh tế - xã hội cho nhân dân vùng giáo
Biểu đồ 4.2 Biểu đồ về tính cần thiết phải đổi mới quản lý hoạt động sử
dục, y tế, từ thiện nhân đạo của các tổ chức Công giáo
Trang 12x
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới có đông tín đồ, đồng thờicũng là một trong hai tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam (có số lượng tín đồ đứng thứ hai sauPhật giáo với 7,1 triệu tín đồ) Trên bình diện quốc gia và quốc tế, Công giáo đã và đangtác động sâu sắc vào tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tốchính trị, văn hóa, giáo dục và đào tạo,…kể cả an ninh, trật tự xã hội và đặt ra nhiều vấn đềcho công tác quản lý nhà nước (QLNN) ở mọi nơi mà tôn giáo này hiện diện
Đông Nam Bộ (ĐNB) là vùng đất trù phú, rộng lớn nằm ở vị trí trung tâm khu vựcNam Bộ với 06 tỉnh, thành phố: Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai,Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh, đây là khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước với tỷ lệ đôthị hóa hơn 50% dân số Trên địa bàn này có sự hiện diện của 4 giáo phận: Giáo phận TP
Hồ Chí Minh, Xuân Lộc, Phú Cường và Bà Rịa
Công giáo du nhập vào ĐNB năm 1585, đến nay, trải qua hơn 4 thế kỷ phát triển vớinhiều biến cố lịch sử, đến nay, đã đạt được những kết quả to lớn trong sứ mệnh truyền đạo
và ĐNB trở thành khu vực có đông tín đồ Công giáo nhất ở Việt Nam Theo số liệu thống
kê của Ban Tôn giáo các tỉnh, thành phố thuộc ĐNB cho thấy, ĐNB có quy mô tín đồCông giáo khoảng 2,36 triệu người, gần 2.300 linh mục, 03 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thầnhọc, sinh hoạt tôn giáo ở 1.939 cơ sở thờ tự ĐNB là khu vực có mật độ người theo Cônggiáo cao nhất cả nước, chiếm khoảng 13,75% tổng dân số trên toàn vùng
Những năm qua, với chính sách đổi mới, mở cửa và tự do TNTG của Đảng, nhànước, nhất là sau khi có Pháp lệnh TNTG 2004 và các Nghị định hướng dẫn thi hành, tìnhhình hoạt động, sinh hoạt tôn giáo của các chức sắc, tín đồ Công giáo trên địa bàn ĐNB đãdần có những chuyển biến tích cực, ổn định, đi vào nền nếp, tuân thủ chính sách, pháp luậtnhà nước; đồng bào Công giáo ĐNB ngày một hăng say, lao động sản xuất, tích cực thamgia xây dựng và bảo vệ quê hương
Thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật đổi mới của Đảng và nhà nước trênlĩnh vực tôn giáo, trong những năm qua chính quyền các cấp địa bàn ĐNB đã đạt nhữngkết quả tích cực trong QLNN về tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng như: hệ thốngchính sách, pháp luật nhà nước về tôn giáo ngày càng được thể chế hóa đầy đủ, rõ ràng;
Trang 14giáo được triển khai nghiêm túc và dần đi vào chiều sâu; bộ máy QLNN về tôn giáo cáccấp được duy trì ổn định, kiện toàn; đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về tôn giáo ngàycàng được quan tâm củng cố cả về số lượng, chất lượng; công tác tổ chức thực hiện chínhsách, pháp luật QLNN đối với hoạt động của các tổ chức Công giáo đã có những chuyểnbiến tích cực, đảm bảo đúng chính sách, pháp luật nhà nước và quyền tự do TNTG chonhân dân; hoạt động thanh tra, kiểm tra được tăng cường,…chức sắc và tín đồ Công giáohoạt động tôn giáo ổn định, trật tự hơn; đồng bào giáo dân ngày càng tin tưởng vào chủtrương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và hoạt động quản lý củachính quyền các cấp.
Bên cạnh những kết quả trên, QLNN về Công giáo ở ĐNB vẫn bộc lộ những hạn chế:mặc dù hệ thống pháp luật về TNTG của nhà nước ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiênvẫn còn nhiều hoạt động tôn giáo chưa có hướng dẫn chi tiết, gây lúng túng, khó khăn chocác cơ quan chức năng trong hoạt động quản lý; công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức,giáo dục mặc dù được thực hiện nghiêm túc tuy nhiên còn chậm đổi mới, chưa thích ứngvới xu thế của thời đại của địa phương, hiệu quả chưa cao; hệ thống, mô hình tổ chức bộmáy QLNN về tôn giáo các cấp chưa phù hợp gây khó khăn cho công tác tham mưu, quản
lý và phối hợp trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo nói chung và Công giáo nóiriêng; việc tổ chức, thực hiện pháp luật đối với hoạt động của các tổ chức, chức sắc, tín đồCông giáo còn gặp nhiều vướng mắc nhất là trong các vấn đề liên quan đến quản lý đất đai,quản lý hoạt động sửa chữa, xây dựng, cải tạo trùng tu các cơ sở kiến trúc Công giáo, cáchoạt động liên quan đến văn hóa, giáo dục, y tế và từ thiện của các cơ sở Công giáo
Mặc dù hoạt động Công giáo địa bàn ĐNB gần đây có nhiều điểm tích cực, songvẫn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp như: hoạt động truyền đạo và tổ chức các hội nghị, lễhội Công giáo trái pháp luật vẫn diễn ra ở một số cơ sở Công giáo; nhiều linh mục, chứcsắc Công giáo chưa cởi mở, hợp tác, chia sẻ với chính quyền các cấp trong việc vận độnggiáo dân tham gia vào công tác đoàn thể, xã hội ở địa phương, hoặc tháo gỡ những vấn đềphức tạp; một số chức sắc, tín đồ có biểu hiện gây rối, làm phức tạp đến an ninh, trật tựtrong những sự kiện chính trị lớn ở địa phương, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để phá hoại
khối “đại đoàn kết” toàn dân tộc Hiện tượng sửa chữa, cải tạo, xây dựng trái phép trong
các cơ sở Công giáo mặc dù được các cơ quan chức năng chấn chỉnh, tuy nhiên vẫn chưa
Trang 15giảm nhưng vẫn diễn biến phức tạp Một số chức sắc, linh mục Công giáo có biểu hiệnchống phá chính quyền, lợi dụng vấn đề môi trường, biển đảo hay sự buông lỏng quản lýcủa chính quyền ở cơ sở để lôi kéo, tập hợp giáo dân, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.Công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết những khiếu nại, tố cáo liên quan đến Công giáocòn chưa thực sự phát huy hiệu quả, nhiều vụ việc kéo dài gây mất ổn định chính trị, xãhội Công tác đấu tranh, phòng chống các hành vi lợi dụng Công giáo vẫn tiềm ẩn những
vấn đề phức tạp, có hiện tượng lợi dụng Công giáo để phá hoại khối “đại đoàn kết” toàn
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trên, trong đó có nguyên nhânxuất phát từ việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về Công giáo của các cơ quan chức năng trênđịa bàn Đông Nam Bộ
Xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng của chính quyền các cấp ở ĐNB và thực tiễnthực hiện nhiệm vụ trong QLNN về Công giáo; với kỳ vọng góp phần giúp các cơ quanchức năng ở ĐNB thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ QLNN về Công giáo, pháthuy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong QLNN về Công giáo
ở ĐNB nên tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về Công giáo trên địa bàn Đông Nam
Bộ” làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản lý công; có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
hiện nay ở nước ta
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống những cơ sở lý luận về Công giáo và QLNN về Công giáo;nghiên cứu thực trạng hoạt động Công giáo và thực trạng QLNN về Công giáo trên địa bànĐNB, trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện những cơ sở lý luận QLNN về Công giáo và đềxuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về Công giáo trên địa bàn trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án có bốn nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Trang 16- Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan những tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài
luận án, từ đó rút ra những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
- Thứ hai, tổng hợp, phân tích làm rõ cơ sở khoa học QLNN về Công giáo, nghiên cứu
thực tiễn QLNN về tôn giáo và Công giáo ở một số quốc gia, vùng miền ở Việt Nam và chỉ ranhững kinh nghiệm trong QLNN về Công giáo
- Thứ ba, nghiên cứu thực trạng QLNN về Công giáo trên địa bàn ĐNB, trên cơ sở đó
đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế; chỉ ra nguyên nhân của những kết quả vàhạn chế đó
- Thứ tư, nghiên cứu phương hướng hoạt động của Công giáo ở ĐNB trong giai đoạn
kế tiếp; tìm hiểu những quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo trong thời kỳ đổimới qua đó, đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN về Công giáo trên địa bànĐông Nam Bộ trong giai đoạn tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biện pháp QLNN của các cơ quan chức năngđối với hoạt động của các chức sắc, tín đồ, cơ sở Công giáo trên địa bàn ĐNB
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận án nghiên cứu các nội dung QLNN về Công giáo Cụ thể là QLNN đối
với hoạt động của các chức sắc, tín đồ, cơ sở Công giáo trên địa bàn ĐNB gồm: xây dựng chính sách,pháp luật; quy định tổ chức bộ máy; tuyên truyền, vận động chức sắc, tín đồ; tổ chức thực hiện chínhsách, pháp luật; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; thanh tra, kiểm tra; quản lý quan hệ quốc tế củacác tổ chức Công giáo (theo Điều 60, Luật TNTG)
- Về không gian: luận án được triển khai nghiên cứu trên địa bàn ĐNB gồm các tỉnh,
thành phố: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và TP Hồ ChíMinh Đây là địa bàn có đông đồng bào theo Công giáo nhất cả nước, hoạt động Công giáonhững năm gần đây có những vấn đề phức tạp
- Về thời gian: từ năm 2004 đến nay (sau khi có Pháp lệnh TNTG).
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được triển khai nghiên cứu dựa trên những cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, những tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn
Trang 17nước về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới và vận dụng những cơ sở lý luận của khoa học quản
lý, quản lý công
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận án tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: phương pháp này được sử dụng để thu thập
thông tin, số liệu của các công trình khoa học và các ấn phẩm sách, báo, tạp chí có liên quan đến
đề tài nghiên cứu của luận án
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nghiên cứu tổng quan tài liệu, những công
trình khoa học, đề tài, luận án, bài báo và những báo cáo, số liệu có liên quan đến đề tài luận án
Hệ thống hóa và phân tích các số liệu, dữ liệu có liên quan đến đề tài luận án để đánh giá nhữngkết quả đạt được của các công trình, dữ liệu, những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu và chỉ ranhững nội dung cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ đối với đề tài luận án
- Phương pháp Xã hội học điều tra bằng bảng hỏi: phương pháp này được sử dụng để
tham vấn những chuyên gia về tôn giáo và các nhà quản lý để giải quyết thấu đáo những vấn đềđặt ra cho đề tài luận án nhằm tăng độ tin cậy cho những đề xuất giải pháp quản lý nhà nước
Tác giả sử dụng 3 mẫu phiếu để tiến hành khảo sát với 3 nhóm đối tượng:
+ Cán bộ, công chức QLNN về tôn giáo với 180 phiếu
+ Cán bộ Mặt trận Tổ Quốc (MTTQ) và cán bộ công tác tại các tổ chức chính trị - xã hội với 80 phiếu
+ Các chức sắc Công giáo với 80 phiếu
Phương pháp chọn mẫu và phân bổ mẫu điều tra vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan, và sử dụng phần mềm SPPS để xử lý số liệu điều tra (xem phụ lục 5)
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để phân tích, đánh
giá tổng quan tài liệu; phân tích và đánh giá các kết quả điều tra, những số liệu, dữ liệu về thựctrạng QLNN về Công giáo trên địa bàn ĐNB
- Phương pháp chuyên gia: sử dụng phương pháp này để tham vấn ý kiến các nhà khoa
học, người hướng dẫn, các cán bộ quản lý có kinh nghiệm trên lĩnh vực nghiên cứu về những vấn
đề liên quan đến luận án
5
Trang 18- Ngoài ra luận án còn sử dụng một số các phương pháp khác như: phương pháp bảng,biểu hóa để tổng hợp, mô tả thực trạng Công giáo và kết quả điều tra thực trạng QLNN về Cônggiáo trên địa bàn ĐNB.
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
tâm của nhiều học giả, các cán bộ quản lý ở nhiều địa phương, nhằm thực hiện tốt hơn nhữngchủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước về tôn giáo và đảm bảo quyền tự do TNTGcho nhân dân, vậy hệ thống lý luận QLNN về Công giáo đã được hoàn thiện ở mức độ nào?Những cơ sở lý luận đó có tính hiệu quả, hiệu lực khi ứng dụng vào thực tiễn quản lý nhà nước
về Công giáo tại các địa phương hay không?
hoạt động của các chức sắc, tín đồ Công giáo nơi đây đã và đang diễn ra như thế nào? Có chấphành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước về TNTG hay không?
chính sách, pháp luật đổi mới về tôn giáo và công tác tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do TNTG
cho bộ phận nhân dân có đạo và vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo “sống phúc âm trong lòng
dân tộc”, tích cực tham gia các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vậy chính quyền các
địa phương ở ĐNB đã làm gì để thực hiện có hiệu quả những chủ trương, đường lối, chính sách,pháp luật đó? Có đảm bảo quyền tự do TNTG của bộ phận nhân dân theo Công giáo hay không?
đạt những kết quả tích cực, song còn những thách thức và khó khăn, vậy những khó khăn đó là gì
và nguyên nhân của những vấn đề đó?
giáo trên địa bàn ĐNB trong giai đoạn tới chính quyền các địa phương nơi đây cần phải cónhững giải pháp nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Với những chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và công tác tôngiáo, hoạt động của các tổ chức Công giáo ở ĐNB những năm gần đây, đã có nhiều chuyểnbiến tích cực, ổn định, chấp hành tốt chính sách, pháp luật nhà nước về tôn giáo;
6
Trang 19phần lớn chức sắc, tín đồ Công giáo đều tin tưởng vào chủ trương, chính sách đổi mới củaĐảng và nhà nước trên lĩnh vực tôn giáo và có nhiều đóng góp tích cực cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ quê hương; đồng bào, giáo dân thực hiện tốt đường hướng hành đạo “Sống
phúc âm trong lòng dân tộc” để phụng vụ hạnh phúc của đồng bào Bên cạnh chuyển biến
tích cực, hoạt động Công giáo ở ĐNB thời gian gần đây vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây mất
ổn định, phức tạp, khó lường, tập trung vào những vấn đề: truyền đạo; tổ chức lễ hội, hộinghị Công giáo; các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vấn đề đất đai và xây dựng cơ sở thờ tự,đặc biệt là hoạt động trái pháp luật của một số linh mục, tín đồ đã ảnh hưởng nghiêm trọngđến tình hình an ninh, trật tự Tìm hiểu thực tiễn cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đếnnhững thách thức trên, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ QLNN về Công giáo vẫn còn có những điểm hạn chế Nếu triển khai nghiên cứuthực tiễn về tình hình hoạt động và thực trạng QLNN về Công giáo ở ĐNB có hiệu quả, sẽ
là cơ sở cho việc xây dựng và đề xuất các giải pháp QLNN phù hợp, từng bước khắc phụcnhững tồn tại, hạn chế trong hoạt động Công giáo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN vềCông giáo ở ĐNB trong giai đoạn kế tiếp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Về mặt lý luận
Luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa họcQLNN về Công giáo ở Việt Nam có khả năng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựngnhững cơ sở khoa học QLNN về Công giáo Có khả năng vận dụng vào thực tiễn QLNN
về Công giáo trên địa bàn ĐNB Có thể làm tài liệu tham khảo cho CBCC công tác tronglĩnh vực QLNN về tôn giáo nói chung và địa bàn ĐNB nói riêng
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị thực tiễn trong việc tham khảo và vận dụngkết quả nghiên cứu trong việc nghiên cứu QLNN về Công giáo ở Việt Nam nói chung vàĐNB nói riêng
Có thể vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn QLNN về Công giáo ở ĐNB tronggiai đoạn hiện nay
Luận án là nguồn tài liệu minh chứng cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách,pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
7 Những đóng góp mới của luận án
Trang 20Dựa trên cách tiếp cận khoa học quản lý công, lý thuyết hệ thống, tôn giáo học và cơ
sở phương pháp luận Duy vật biện chứng luận án đã đạt được những kết quả sau về mặt lýluận:
đồ Công giáo; giáo lý, giáo luật Công giáo; lễ nghi và Bí tích Công giáo Luận án cũng xây dựngmột số khái niệm có liên quan đến luận án: quản lý, QLNN và QLNN về tôn giáo
thống pháp luật nhà nước về TNTG, gồm: Khái niệm QLNN về Công giáo; chủ thể, đối tượngQLNN về Công giáo; những nội dung và nguyên tắc QLNN về Công giáo
một số kinh nghiệm QLNN về Công giáo ở ĐNB
7.2 Về mặt thực tiễn
bàn ĐNB, phân tích và chỉ ra những ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống dân cư trên địa bànnày
về Công giáo ở ĐNB giai đoạn 2004 đến 2019 Qua nghiên cứu thực tiễn luận án đã chỉ ra nhữngthách thức đối với các cơ quan chức năng trong QLNN về Công giáo ở ĐNB trong thời gian kếtiếp
dự báo được xu thế phát triển của Công giáo ở ĐNB trong giai đoạn kế tiếp Qua nghiên cứunhững quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước và thực tiễn hoạt động Công giáocũng như kết quả QLNN về Công giáo ở ĐNB, luận án đã xây dựng và đề xuất các giải pháp cótính cần thiết và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về Công giáo trên địa bàn ĐNB trongthời gian tới
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung củaLuận án được cấu trúc trong 4 Chương, 16 tiết:
- Chương 1 Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Chương 2 Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về Công giáo
Trang 21- Chương 4 Quan điểm và giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về Công
giáo trên địa bàn Đông Nam Bộ
Trang 22Chương 1.
TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo
Tìm hiểu và nghiên cứu lý luận về tôn giáo là một chủ đề được nhiều học giả, các nhànghiên cứu ở nước ta hết sức quan tâm, có thể khái quát qua một số các công trình sau:
Sách tham khảo: “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”của tác giả
Đặng Nghiêm Vạn Nội dung cuốn sách luận bàn về đối tượng của tôn giáo thông qua phântích thuật ngữ tôn giáo; diễn trình tôn giáo qua lịch sử nhân loại, diễn biến của những địnhnghĩa về bản chất tôn giáo [148, tr.19-82] Cuốn sách cũng chỉ ra những yếu tố cấu thànhmột hình thức tôn giáo gồm: tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo; nội dung tôn giáo; hành vi vànghi lễ tôn giáo; tổ chức tôn giáo và vấn đề mê tín, hủ tục [149, tr.83-164] Tác giả cũngphân tích về nhu cầu, vai trò và diễn biến tôn giáo trong đời sống xã hội; khái quát quát vềtình hình tôn giáo và đặc trưng, vai trò của các tôn giáo ở Việt Nam [156, tr.165-373]
Nhìn từ khía cạnh triết học, tác giả Chu Văn Tuấn bài viết về “Giá trị tôn giáo từ
phương diện triết học”, đã cho thấy, tôn giáo có nhiều giá trị khác nhau như: đạo đức, giáo
dục, văn hóa lịch sử, Dưới góc độ triết học, tôn giáo có giá trị thế giới quan và nhân sinhquan, thể hiện: tôn giáo có một hệ thống quan niệm về vũ trụ và vạn vật, trong đó có conngười Tôn giáo cũng đưa ra cách lý giải về quá trình hình thành và phát triển của thế giới,nguyên nhân của những mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới, đó chính làgiá trị thế giới quan của tôn giáo Bên cạnh đó, tôn giáo đưa ra một hệ thống quan niệm vềcon người, về cuộc đời của con người, về ý nghĩa của cuộc sống con người, tương tự triếthọc, tôn giáo cũng trả lời các câu hỏi: con người được sinh ra từ đâu? sau khi chết, conngười sẽ về đâu? ý nghĩa cuộc sống của con người là gì? đây chính là giá trị nhân sinhquan của tôn giáo [143, tr.30-41]
Đề cập tới mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, tác giả Ngô Hữu Thảo trong bài
viết: “Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã khái
quát và phân tích khá rõ nét về mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo qua các giai đoạnthời kỳ lịch sử của xã hội loài người Nghiên cứu mối quan hệ này, theo tác giả: cả chính
Trang 23quyền lực; về mặt lịch sử có thể xuất hiện tôn giáo thuần túy, tuy nhiên logic là không thể;nếu vị trí nhà nước cao hơn vị trí tôn giáo thì giáo hội phải phục tùng, ủng hộ nhà nước; cónhững nhà nước mặc dù quy định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo nhưng vẫn thiên
vị một tôn giáo nào đó, không phủ nhận các tôn giáo khác để xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân tộc [123, tr.3-7]
Nghiên cứu về chính sách tôn giáo quốc tế, tác giả Phạm Hồng Thái, đã khái quát vàphân tích quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo ở Nhật Bản từ sau Chiếntranh Thế giới II; những ảnh hưởng của lực lượng quân Đồng minh tới chính sách tự dotôn giáo, chính sách nhà nước và tôn giáo phân ly và chính sách triệt để loại bỏ chủ nghĩaquân phiệt và chủ nghĩa dân tộc [121, tr.52-56]
Nghiên cứu về lý luận tôn giáo của tác giả Nguyễn Thị Bạch Tuyết qua bài viết: Tôn
giáo và an ninh xã hội ở khu vực Đông Nam Á, đã khái quát về những cơ hội và thách
thức, tình hình kinh tế xã hội và chính trị - an ninh ở khu vực Đông Nam Á Qua các dẫnchứng cụ thể cho thấy, tôn giáo có vai trò quan trọng trong việc ổn định trật tự an ninh xã
hội ở Đông Nam Á [146, tr.50-55] Tác giả khẳng định: “các tôn giáo ngày càng thể hiện
tốt hơn vai trò của mình trong việc góp phần bảo đảm an ninh xã hội với tinh thần chia sẻ nhân ái và khoan dung Phương cách tốt nhất là chia sẻ thông tin và hiểu biết lẫn nhau thông qua đối thoại để tìm ra các giải pháp thích hợp giải quyết bất đồng, tránh sự xung đột nhằm xây dựng một Đông Nam Á hòa bình, thịnh vượng và cùng phát triển”[146, tr.55].
Tìm hiểu về lịch sử tôn giáo Hoa Kỳ, Catherine L.Albanese trong cuốn sách: “Các
tôn giáo và tín ngưỡng ở Mỹ” đã khái quát về tình hình TNTG lục địa Bắc Mỹ Cuốn sách
cho thấy, mỗi bộ lạc người Indian trên mảnh đất này trước khi người Châu Âu đặt chânđến đều có tín ngưỡng riêng [157, tr.7-83] Sau này, người di cư lại mang theo tôn giáo vàtín ngưỡng của mình từ Cựu thế giới đến miền đất mới Người Châu Âu mang đến đạo DoThái, Công giáo La Mã và đạo Tin lành, người Châu Phi và Châu Á mang đến đạo Hồi,đạo Phật, đạo Hindu cùng nhiều tín ngưỡng khác, góp phần làm cho các TNTG mới pháttriển và tô điểm thêm bức tranh văn hóa phong phú, đa dạng ở lục địa này [157, tr.84-176]
Nghiên cứu của tác giả Lữ Vân qua cuốn sách: “Tôn giáo ở Trung Quốc, 100 câu hỏi
và trả lời”, cho thấy TNTG là vấn đề cá nhân của các công dân Trung Quốc và với việc
Trang 24là lợi ích cơ bản của những người theo hoặc không theo một tôn giáo nào là thống nhất trên
cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế Sách đã giúp độc giả thấy được một số nét cơ bản vềcác tôn giáo ở Trung Quốc, lịch sử và hiện trạng, có những lời giải thích về chính sách tôngiáo của Trung Quốc, quan điểm hiện nay về tôn giáo trong giới học thuật và nhiều vấn đềkhác liên quan tới Công Giáo ở Trung Quốc [173, tr.63-176]
Nghiên cứu của tác giả Ngô Hữu Thảo trong cuốn sách: “Công tác tôn giáo từ quan
điểm Mác - Lênin đến thực tiễn Việt Nam”, đã làm sáng tỏ một số những cơ sở lý luận
quan điểm của duy vật lịch sử về nguồn gốc tôn giáo, quan điểm của C.Mác về vai trò củatôn giáo; những quan điểm của Ph.Ăngghen về vấn đề tôn giáo qua một số tác phẩm kinh
điển Theo nghiên cứu tác giả, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Quyền tự do TNTG ở Việt
Nam chỉ có thể được đảm bảo khi gắn liền, hữu cơ với nền độc lâp tự do dân tộc của tổ quốc; quyền tự do TNTG chỉ được đảm bảo trong mối quan hệ với quá trình cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới và với khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đảm bảo quyền tự do TNTG trước hết là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Đảng và Nhà nước là nhân tố quan trọng hàng đầu [124, tr.72-73].
Nghiên cứu của tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ trong cuốn sách: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo và công tác tôn giáo” đã góp phần làm sáng tỏ những tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo Qua nội dung các bàiviết, các tác giả đã làm sáng tỏ hơn về những tư tưởng của Bác về các vấn đề: mối quan hệgiữa tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã hội; những vấn đề phương pháp luận; vềđoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; về mối quan hệ giữa tôn giáo với CNXH; về mối quan
hệ giữa dân tộc với tôn giáo [109, tr.23-171] Cuốn sách đã cung cấp cho đọc giả góc nhìntoàn diện, đa chiều, đầy đủ những tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo,
là cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng những quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luậtnhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo Đây cũng là những tư liệu quý cho việc vậndụng vào thực tiễn QLNN đối với các hoạt động tôn giáo ở nước ta
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Dương Quan điểm, đường lối của Đảng về tôn
giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
chung về TNTG; quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo vàchính sách tôn giáo qua các Cương lĩnh, Văn kiện, Nghị quyết của Đảng từ thời kỳ đổi mớiđến nay [62, tr.19-70] Nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra những đặc điểm cơ bản của các
Trang 25Công trình nghiên cứu của Phạm Hữu Xuyên trong đề tài: “Quan điểm Hồ Chí Minh
về tín ngưỡng, tôn giáo” cho thấy: “theo Hồ Chí Minh tự do tín ngưỡng thực sự chỉ có được khi đất nước được độc lập Nói cách khác tự do tín ngưỡng phải gắn với lợi ích của
cả dân tộc, tự do tín ngưỡng không phải để duy trì và biện hộ cho quan hệ thống trị giai cấp”[155, tr.57] và “Quyền tự do tín ngưỡng là quyền dân chủ, được pháp luật thừa nhận, cũng như các quyền khác; quyền phải gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”[155, tr.59] Luận án đã tìm hiểu quan điểm đoàn kết lương giáo; quan điểm ứng xử
khoan dung với tôn giáo và quan điểm đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt giữatôn giáo và chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh
Nghiên cứu của tác giả Lưu Ngọc Khải về: “Đảng và Nhà nước đổi mới chính sách
Tôn giáo - Phát huy truyền thống Đại đoàn kết các dân tộc”, đã cho thấy những đổi mới
trong nội dung Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôngiáo được thể hiện qua các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng về tôn giáo và công tác tôngiáo từ Đại hội VI của Đảng đến nay Với những đổi mới về quan điểm của Đảng và chínhsách của Nhà nước về TNTG đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tôngiáo và tín đồ theo đạo, để đồng bào, tín đồ, chức sắc tôn giáo hòa hợp cộng đồng, dân tộclàm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc [93, tr4-7]
Đánh giá về kết quả 10 năm thực hiện Pháp lệnh TNTG, tác giả Phạm Huy Thông
cho rằng: qua 10 năm tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh TNTG, bên cạnh những điểmtích cực, còn bộc lộ một số hạn chế như: chưa đề cập đến tư cách pháp nhân của các tổchức tôn giáo; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn ghi tên linh mục xứ, quản lý việccải tạo, trùng tu cơ sở thờ tự; việc tham gia các công tác xã hội hóa gặp khó khăn do nhà tuhành không được phép; việc quản lý lễ hội, quyên góp xây dựng cơ sở thờ tự, phân cấpthẩm quyền công nhận tôn giáo chưa rõ ràng; chưa quy định thẩm quyền giải quyết việchòa giải xung đột trong việc tranh chấp đất đai giữa các cơ sở tôn giáo với các đơn vị, tổchức, cá nhân bên ngoài…gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội [129, tr.118-122]
Ngoài những công trình kể trên, còn rất nhiều các công trình, bài viết nghiên cứu về
lý luận tôn giáo; đạo đức tôn giáo, quan điểm của Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềtôn giáo; chính sách, pháp luật nhà nước về tôn giáo, công tác tôn giáo, những công trình
và bài viết trên là nguồn tư liệu qúy, có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu tôn giáonói chung và QLNN về Công giáo nói riêng ở nước ta hiện nay
Trang 261.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về tôn giáo
Những năm gần đây, nghiên cứu QLNN về tôn giáo đã và đang nhận được sự quantâm của các nhà quản lý, nhà khoa học, kết quả nghiên cứu của các học giả đã dần làmsáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tôn giáo và QLNN về tôn giáo, có thểkhái quát qua một số công trình sau:
Nghiên cứu QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay, tác giả Nguyễn
Đức Lữ cho rằng: QLNN về tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của công tác tôn giáo và
QLNN về tôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định pháp luật [105,
tr.291-292] Nghiên cứu cũng khẳng định, mục tiêu của QLNN đối với hoạt động tôn giáonhằm đảm bảo quyền tự do TNTG của nhân dân; phát huy những mặt tích cực, hạn chếnhững mặt tiêu cực của tôn giáo; xây dựng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và nhằm tăngcường vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo [105, tr.297].Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những yêu cầu khách quan của việc QLNN đối với các hoạtđộng tôn giáo; chủ thể và khách thể QLNN đối với hoạt động tôn giáo và các nội dungQLNN đối với các hoạt động tôn giáo [105, tr.292-328]
Nghiên cứu về công tác tôn giáo, tác giả Ngô Hữu Thảo quan niệm: “công tác tôn
giáo là hoạt động của cả hệ thống chính trị trong việc hoạch định và hiện thực hóa các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước đối với tôn giáo, nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực chủ yếu cho sự thành công của công cuộc CNH và HĐH ở nước ta”[124, tr.106] Theo tác giả, để làm tốt công tác tôn giáo ở nước ta
cần quan tâm đến 3 nội dung đó là: (1) xây dựng, hoạch định đường lối, chủ trương, chínhsách, pháp luật về tôn giáo; (2) tổ chức phương tiện, xây dựng thiết chế phù hợp nhằm đảmbảo hiện thực hóa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước; (3) xây dựng độingũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo các cấp [124, tr.107-112]
Năm 2012, nghiên cứu về thực trạng các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, tác giả NguyễnHồng Dương đã đề xuất một số giải pháp về công tác tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạntới gồm: (1) đổi mới nhận thức về công tác tôn giáo; (2) đổi mới QLNN về tôn giáo; (3)tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật nhà nước về tôn giáo theo quan điểm của Đảng,phù hợp với công ước quốc tế; (4) tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo
Trang 27kiên quyết đấu tranh chống lại những hành vi lợi dụng TNTG để mê hoặc, chia rẽ, phá hoạikhối đại đoàn kết toàn dân tộc [62, tr.312-327].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Hữu Dược Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt
Nam từ năm 1975 đến nay, đã thành công trong việc xây dựng những cơ sở lý luận về tôn
giáo và QLNN về tôn giáo; phân tích và làm sáng tỏ những quan niệm của Mác - Lê nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, bản chất tôn giáo và công tác tôn giáo [56, tr.30-69].Theo tác giả, hiện nay có ba mô hình QLNN về tôn giáo: (1) chính giáo hợp nhất; (2) chính
- giáo phân ly và (3) chính giáo hòa hợp [56, tr.55] Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏthực trạng QLNN về tôn giáo từ năm 1975 đến năm 2010, qua đó phân tích, nhận xét, đánhgiá về những kết quả đạt được và một số những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước vềtôn giáo giai đoạn 1975 - 2010, chỉ ra một số những vấn đề trong việc thực hiện nhiệm vụQLNN về tôn giáo ở nước ta [56, tr.70-119]
Nghiên cứu về chính sách tôn giáo, qua bài viết: “Chính sách tôn giáo của Việt Nam
trong bối cảnh khu vực - Qua so sánh với Hàn Quốc”, tác giả Nguyễn Quang Hưng cho
thấy có sự tương đồng giữa cấu trúc văn hóa, lịch sử, xã hội giữa Việt Nam và Hàn Quốc ởgiai đoạn trước 1945 Tuy nhiên sau giai đoạn này điều đó đã thay đổi căn bản do hai quốcgia đi theo 2 chế độ chính trị khác nhau, mặc dù hai nhà nước đều chủ trương xây dựngnhà nước thế tục tách hẳn Nhà nước với Giáo hội Hàn Quốc theo mô hình tích cực thế tụcphương Tây, thì Việt Nam thời kỳ trước đổi mới lại theo đuổi mô hình thế tục tuyệt đốitheo chủ nghĩa Mác - Lênin Ở Hàn Quốc, các tổ chức tôn giáo tuy không can dự vàonhững hoạt động chính trị nhưng vẫn cộng tác với chính quyền trong việc xây dựng sựthịnh vượng quốc gia; trong khi đó, ở Việt Nam lại lấy mô hình vô thần tuyệt đối để loại
bỏ tôn giáo ra đời sống xã hội Hệ quả là các tổ chức tôn giáo có nhiều đóng góp cho công
cuộc đưa Hàn Quốc trở thành con “Rồng” của Châu Á, còn ở Việt Nam, các tổ chức tôn
giáo chưa đóng góp được nhiều cho sự phát triển xã hội [91, tr.21-35]
Với mục tiêu trang bị những kiến thức, kỹ năng QLNN về tôn giáo cho sinh viên
Hành chính, năm 2001 tác giả Nguyễn Hữu Khiển biên soạn giáo trình: “Quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay”, Nội dung giáo trình cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về quan điểm
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; khái quát về sự ra đời, vận động và pháttriển của tôn giáo; những yếu tố cấu thành tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Trang 28trước năm 2000 [95, tr.7-90] Giáo trình cũng làm rõ những cơ sở lý luận về QLNN đối vớicác hoạt động tôn giáo ở Việt Nam [95, tr.109-126].
Nhằm nâng cao chất lượng và đổi mới hoạt động đào tạo tại Học viện Hành chính
Quốc gia năm 2004, nhà giáo Hoàng Văn Chức đã biên soạn giáo trình: “Quản lý nhà
nước về tôn giáo và dân tộc”, sử dụng cho sinh viên đại học Hành chính Nội dung giáo
trình cung cấp cho sinh viên những kiến thức tổng quan về tôn giáo như: khái niệm, nguồngốc, bản chất của tôn giáo; xu thế phát triển tôn giáo trên thế giới hiện nay [51, tr 9-19].Giáo trình cũng khái quát tình hình tôn giáo, các yếu tố tác động đến quá trình hình thành,đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam và giới thiệu khái quát một số tôn giáo lớn ở Việt Nam [51,tr.19-36] Khái quát về những quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước về tôngiáo, giáo trình đã xây dựng một số những cơ sở lý luận QLNN đối với hoạt động tôn giáo[51, tr.37-65]
Tìm hiểu về: “Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo hiện nay”, tác giả Hà Quang
Trường đã khái quát về thực trạng QLNN các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam từ sau Hiệpđịnh Giơnevơ (1954) đến nay Bài viết khẳng định: quan hệ giữa nhà nước ta và các tổchức tôn giáo theo hướng pháp quyền XHCN, nhà nước ta là chủ thể quản lý các tôn giáo,hoạt động tôn giáo; nhà nước chủ động giải quyết các mối quan hệ giữa nhà nước với các
tổ chức tôn giáo, đồng thời thúc đẩy việc tự điều chỉnh của tôn giáo để thích ứng với sựquản lý của nhà nước XHCN; phát huy những điểm tương đồng của tôn giáo và CNXH,những yếu tố tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội để phát triển kinh tế - xã hội; mởrộng đối ngoại trong lĩnh vực tôn giáo, chống lợi dụng tôn giáo; giải quyết các vấn đề tôngiáo ngay từ cơ sở [142, tr.12-14]
Nhằm cung cấp những kiến thức và thông tin cho đội ngũ CBCC QLNN về tôn giáo,
năm 2017, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ấn hành tập tài liệu: “Bài giảng Tôn giáo và công
tác tôn giáo” Nội dung tài liệu cung cấp một số kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác
nước Việt Nam về tôn giáo [11, tr.1-27] Tập bài giảng cung cấp cho học viên những kiến thức
cơ bản về tôn giáo, giới thiệu khái quát về các tôn giáo lớn ở Việt Nam; cung cấp những cơ sở lýluận QLNN về tôn giáo [11, tr.27-32] Tài liệu cũng khái quát về thực trạng QLNN đối với hoạtđộng tôn giáo ở Việt Nam trên các mặt: thực trạng tình hình tôn giáo; những hoạt động tôn giáo
và những vấn đề đặt ra; vấn đề xây dựng VBQPPL; hệ
Trang 29thống cơ quan chức năng QLNN về tôn giáo; chính sách nhà nước về tôn giáo và một sốthủ tục hành chính trên lĩnh vực TNTG [11, tr.32-45].
Kết quả nghiên cứu đề tài khoa học: “Tin lành ở Việt Nam Thực trạng, một số vấn đề
đặt ra và giải pháp”, của tác giả Nguyễn Xuân Hùng năm 2014 đã làm rõ lịch sử truyền
giáo của đạo Tin lành ở Việt Nam qua 2 giai đoạn: từ thời điểm du nhập (1922) đến năm
1975 và giai đoạn 1975 đến năm 2013 [86, tr.17-39] Đề tài cũng đã nghiên cứu và đánhgiá về mối quan hệ giữa nhà nước với giáo hội Tin lành ở Việt Nam qua các thời kỳ; mốiquan hệ giữa đạo Tin lành với các vấn đề xã hội và hoạt động truyền giáo với những vấn
đề liên quan đến an ninh, trật tự ở Việt Nam [86, tr.71-137]
Kết quả nghiên cứu đề tài luận án: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin
lành ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thế Duy, đã thành công trong việc hoàn thiện những cơ
sở lý luận QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành, xây dựng được một số khái niệmnhư: QLNN đối với hoạt động tôn giáo, QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành, [55,tr.30-65] Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm sáng tỏ thực trạng QLNN đối với hoạtđộng của đạo Tin lành ở Việt Nam trên các mặt: (1) xây dựng và tổ chức thực thi phápluật; (2) tổ chức bộ máy QLNN về tôn giáo; (3) đội ngũ cán bộ, công chức; (4) công tácthuyết phục và vận động tín đồ (5) quản lý các hoạt động hành chính đạo; (6) công tácthanh tra, kiểm tra và phòng ngừa các hành vi lợi dụng đạo Tin lành [55, tr.81-110]
Kết quả nghiên cứu đề tài khoa học: “Quản lý nhà nước về Tôn giáo ở các tỉnh Tây
Nguyên”, của tác giả Ngô Văn Minh đã làm sáng tỏ những yêu cầu khách quan của việc
nâng cao hiệu lực QLNN về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở nước ta; những quan điểmcủa Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về tôn giáo và QLNN về tôn giáo ở ViệtNam giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu luận án đã xây dựng được hệ thống cơ sở lýluận QLNN về tôn giáo bao gồm: những khái niệm; chủ thể và khách thể quản lý; mục tiêuquản lý và những nội dung QLNN về tôn giáo [107,tr.33-38] Đề tài đã làm sáng tỏ nhữngkết quả đạt được và chỉ ra những kinh nghiệm QLNN về tôn giáo ở Tây Nguyên [107,tr.98-119]
Với mục đích đánh giá thực trạng tổ chức và bộ máy QLNN về tôn giáo ở Việt Nam,
năm 2015 Ban Tôn giáo Chính phủ đã thực hiện: “Đề án khảo sát thực trạng lực lượng
cán bộ làm công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị hiện nay” Kết quả nghiên cứu của
Đề án đã khái quát khá rõ nét về tình hình tôn giáo, hoạt động tôn giáo và những tác động
Trang 30thực trạng công tác tôn giáo và QLNN về tôn giáo ở Việt Nam đến năm 2014 [12, tr.3-22].Tài liệu cũng đã thống kê, phân tích, đánh giá chi tiết về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ,công chức QLNN về tôn giáo cả ở 4 cấp, kết quả cho thấy: bên cạnh những kết quả đạtđược, vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, đòi hỏi chính quyền các cấp phải có những giảipháp khắc phục trong thời gian tới [12, tr.23-50].
Triển khai nghiên cứu đề tài: “Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây
Nguyên”, tác giả Chu Văn Tuấn đã làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa
vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên [145, tr.27-74] Nghiêncứu cho thấy những vấn đề đặt ra đối với tôn giáo trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên
đó là: vấn đề biến đổi văn hóa; vấn đề tôn giáo - tộc người; vấn đề biến đổi tôn giáo; vấn
đề hoạch định chính sách và thực thi chính sách tôn giáo và vấn đề toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế đến tôn giáo ở Tây Nguyên [145, tr.150-167] Dựa trên các quan điểm: pháthuy nguồn lực tôn giáo phục vụ cho phát triển bền vững; nhìn nhận tôn giáo như một thựcthể tôn giáo tồn tại khách quan; quan tâm giải quyết dứt điểm những vấn đề nổi cộm củatôn giáo ở Tây Nguyên và gắn việc xây dựng chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn vớichính sách dân tộc và an ninh, quốc phòng, đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm phát huyvai trò của tôn giáo cho sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên [145, tr.198-231]
Từ góc độ quản lý công, năm 2018 tác giả Hà Ngọc Anh thực hiện đề tài luận án:
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” Nội dung đạt được
của đề tài đã góp phần hoàn thiện những cơ sở lý luận về QLNN đối với các hoạt động tôn
giáo Theo tác giả: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là phương thức hoạt
động do cơ quan nhà nước, các tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành, nhằm đảm bảo cho việc quản lý về tôn giáo được thực hiện theo đúng chủ trương, chính sách, pháp luật, các quy định về hoạt động tôn giáo phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước gắn với ổn định chính trị - xã hội và đời sống nhân dân”[1, tr.38].
Triển khai nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hoạt động tôn giáo tác giả cho rằng vẫn
còn những hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ trên: (1) hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật còn thiếu; (2) tổ chức bộ máy QLNN còn bất cập, đội ngũ CBCC còn chưa đápứng yêu cầu; (3) công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác tôngiáo còn chưa được chú trọng; (4) còn buông lỏng công tác thanh tra, kiểm tra [1, tr.100-
Trang 31Kết quả nghiên cứu đề tài luận án: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
vùng đồng bằng Sông Cửu Long”, của tác giả Trần Văn Tình đã góp phần hoàn thiện một
số những cơ sở lý luận QLNN đối với hoạt động tôn giáo, khẳng định sự cần thiết và chỉ ra
5 nội dung QLNN đối với hoạt động tôn giáo [136, tr.47-59] Nghiên cứu thực trạngQLNN đối với hoạt động tôn giáo ở đồng bằng Sông Cửu Long tác giả cho rằng cần tiếptục xem xét một số vấn đề sau nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với khu vực này: (1)tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý hoạt động tôn giáo; (2) nâng cao trình độCBCC làm công tác tôn giáo; (3) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Khmer, vùngđông đồng bào theo tôn giáo; (4) tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững anninh, quốc phòng [135, tr.123-125]
Bên cạnh những công trình, bài viết đã kể trên, còn có một số các công trình nghiêncứu khác được tìm hiểu dưới góc độ triết học, xã hội học, chính trị học, quản lý công, tuynhiên những công trình này được triển khai ở phạm vi hẹp, có giá trị tham khảo trong quátrình nghiên cứu và hoàn thành luận án của tác giả
1.2 Nhóm công trình nghiên cứu Công giáo và quản lý nhà nước về Công giáo
1.2.1 Các Công trình nghiên cứu Công giáo
Nghiên cứu và tìm hiểu về Công giáo rất đa dạng, phong phú, được tìm hiểu từ hàngnghìn năm đến nay, dưới nhiều khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau, có thể khái quát quamột số nhóm công trình sau:
Những công trình nghiên cứu cơ bản về Công giáo, lịch sử Công giáo:
Nghiên cứu của các tác giả Lewis M Hopfe và Mark R Woodwarrd trong cuốn:
“Các tôn giáo trên thế giới”, đã làm sáng tỏ lịch sử hình thành và phát triển Kitô giáo từ
thế kỷ thứ nhất Công nguyên với Giáo đoàn Jerusalem và qua nhiều giai đoạn Theo cáctác giả, Kitô giáo bắt nguồn từ một chi phái của Do Thái giáo, trong thế kỷ thứ I trướcCông nguyên, trong lòng Đế Quốc La Mã, giai đoạn Hoàng đế Casesar (63, tr.CN đến 14CN) trị vì, người sáng lập ra Kitô giáo là Đức Giêsu Nazareth [168, tr444-446] Cuốn sáchcũng đề cập tới việc quản lý Giáo hội thuở ban đầu; lịch sử biên soạn Kinh Tân ước vànhững cuộc tranh cãi thần học [168,tr.472-481] Cuốn sách đề cập đến các cuộc đại ly giáo,
và các phong trào cải cách giáo hội từ thế kỷ thứ nhất, đến nay [168, tr.495-518] Cuốnsách là nguồn tư liệu có giá trị trong việc tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề liên quanđến Công giáo
Trang 32Sách chuyên khảo: “Một số tôn giáo ở Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Thanh Xuân.
Đây là cuốn sách được tái bản nhiều lần, nghiên cứu về những tôn giáo ở Việt Nam Đốivới Công giáo, cuốn sách trình bày về sự ra đời và phát triển của Công giáo qua các thời
kỳ từ thời kỳ trung cổ đến thời kỳ Cộng đồng Vatican II; giới thiệu về Kinh Thánh vànhững giáo lý, luật lệ, lễ nghi của Công giáo; những điều răn của Thiên chúa và của Giáohội; giới thiệu về cơ cấu tổ chức và hệ thống phẩm trật của Công giáo [153, tr.111-201].Cuốn sách cũng khái quát về lịch sử Công giáo Việt Nam, từ khi bắt đầu du nhập (1553)đến nay và khái quát về thực trạng tình hình GHCGVN về quy mô, chức sắc, tín đồ và hệthống bộ máy tổ chức Công giáo [153, tr.202-222]
Nội dung bài viết tác giả Lê Gia Hân về: “Cơ cấu giáo hội và hệ thống phẩm trật của
đạo Công giáo” đã khái quát về GHCG và cung cấp một số kiến thức, thông tin cơ bản về
tổ chức bộ máy Giáo triều Vatican Bài viết cũng giới thiệu về cơ cấu tổ chức bộ máy vàcác cơ quan giúp việc của Giáo triều và hệ thống các thứ bậc cơ quan quản lý của giáotriều và hệ thống các phẩm trật của giáo hội Công giáo Roma [70, tr.73-75]
Tìm hiểu về Đức chúa Giêsu Kitô trong cuốn: “Đức Giêsu Kitô”, tác giả Thiên Hựu
đã khắc họa rõ hơn về Đức Giêsu Kitô, về cuộc đời và sự nghiệp của ngài; về những truyềnthuyết về Chúa giáng sinh, Đức mẹ đồng trinh và những điều được ghi lại trong KinhThánh và nhận định của tác giả [165, tr.140-215] Cuốn sách cũng tìm hiểu về sự nghiệptruyền giáo của Đức Giêsu, các môn đồ đầu tiên của ngài và những lập luận, nghiên cứu,phân tích về Vụ án Chúa Giêsu, Bữa tiệc ly biệt và những phút sau cùng của ngài sau khichịu hình phạt đóng đinh trên Thập tự giá [165, tr.558-634] Cuốn sách là nguồn tư liệuquan trọng, góp phần làm sáng tỏ thêm những bí ẩn xung quanh cuộc đời và sự nghiệptruyền đạo của Đức Giêsu Kitô
Sách chuyên khảo: “Công giáo Việt Nam - Một số vấn đề nghiên cứu”, của tác giả
Nguyễn Hồng Dương Nội dung cuốn sách giới thiệu những kiến thức cơ bản vềGHCGVN: cơ cấu tổ chức bộ máy, Hội đồng giám mục, các kỳ Đại hội và đường hướngmục vụ của Công giáo Việt Nam,… Cuốn sách cung cấp một số dữ liệu thống kê về tìnhhình hoạt động tôn giáo của tín đồ Công giáo Tây Nguyên; một số hoạt động quốc tế củaGHCGVN; hoạt động của các tổ chức Công giáo miền núi phía bắc và các Dòng tu ở ĐồngNai hiện nay [59, tr.119-261] Phần cuối tác phẩm đã lược sử một số vấn đề và sự kiện vềTòa thánh Vatican trên trường quốc tế
Trang 33Tìm hiểu về cuộc sống của người Công giáo Việt Nam, tác giả Nguyễn Hồng Dương
đã xuất bản cuốn sách: “Nếp sống đạo của người Công giáo Việt Nam” Nội dung cuốn
sách tập hợp nhiều bài viết của các tác giả khác nhau về những thông tin đời sống cộngđồng Công giáo ở một số vùng miền trên đất nước như: sống đạo của người Công giáoViệt Nam - Khái niệm sự phát triển [60, tr.7-30]; nếp sống Công giáo, sự giao thoa giữađức tin và văn hóa dân tộc [60,tr.31-45; giới trẻ Công giáo Việt Nam và việc học tập, giảngdạy giáo lý hiện nay [60, tr.57-76],…Cuốn sách cũng khái quát về các truyền thống lịch
sử, sự giao thoa giữa Công giáo với các tín ngưỡng, tôn giáo và truyền thống dân tộc trêncác vùng, miền, những ảnh hưởng của phong tục, tập quán văn hóa đến hoạt động Cônggiáo và nếp sống của tín đồ đạo Tin lành ở Việt Nam
Những công trình quốc tế nghiên cứu về Công giáo:
Nghiên cứu của tác giả Lường Hoài Thanh: “Vài nét về cộng đồng Công giáo
Philippines trong lịch sử” thấy rằng: cộng đồng Công giáo ở Philippines là cộng đồng
Công giáo lớn nhất khu vực Châu Á và đứng thứ 2 thế giới sau cộng đồng Công giáoBrasil Công giáo được truyền vào Philippinnes đầu thế kỷ XVI, cùng với sự xâm lược củathực dân Tây Ban Nha Tại đây, Công giáo gặp những điều kiện thuận lợi cho công cuộctruyền giáo như: không gặp phải sự kháng cự quyết liệt của dân bản địa; người dânPhilippines chỉ có tín ngưỡng thuần túy; đất nước chưa trải qua giai đoạn phát triển đỉnhcao; người dân cởi mở đón nhận tôn giáo mới [121, tr.64-65] Nghiên cứu của tác giả chothấy, Công giáo và nhà nước thực dân Tây Ban Nha có mối quan hệ chặt chẽ với nhaukhông thể tách rời, điều này thể hiện ngay trong Hiến pháp 1935 của Philippines Cônggiáo Philippines cùng với thực dân Tây Ban Nha đã tham gia quản lý các hoạt động chínhtrị xã hội, nhiều minh chứng cho thấy Công giáo tham gia cả hoạt động quân sự, đồng thờicũng là thủ lĩnh, dẫn dắt giáo dân lật đổ tổng thống Mascos ở Philippinnes [121, tr.65-70]
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Hương qua bài viết: “Sự can thiệp của tôn giáo
vào chính trị ở Philippines” cho thấy: mặc dù Nhà nước Philippines xây dựng theo mô
hình thế tục, tuy nhiên, các tổ chức tôn giáo luôn can thiệp vào các vấn đề xã hội, kể cả vấn
đề chính trị Tác giả cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự can thiệp của Công giáovào chính trị ở Philippinnes: (1) mô hình tôn giáo và nhà nước hợp nhất của Tây Ban Nha;(2) sự đa dạng tổ chức tôn giáo theo đuổi những mục đích khác nhau là nguồn tiềm tàng
Trang 34xã hội; (4) các đảng phái chính trị phải dựa vào sức mạnh của các tổ chức tôn giáo Sự canthiệp của tôn giáo vào chính trị ở Philippines là con dao hai lưỡi, vừa là sự ủng hộ, vừa làmối nguy đối với nhà nước Chừng nào các đảng phái chính trị còn dựa vào các tổ chức tôngiáo thì vai trò của các tổ chức tôn giáo còn in đậm trong chính trường đất nước, còn tiềm
ẩn những vấn đề mâu thuẫn, xung đột [92, tr.41-50]
Những công trình nghiên cứu về Công giáo Việt Nam:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Dương về: Tổ chức xứ, họ Công giáo ở Việt
Nam - Lịch sử - hiện tại và những vấn đề đặt ra, đã khái quát những cấu trúc cơ bản về mặt
tổ chức ở xứ đạo, họ đạo (cấp cơ sở) của Công giáo và những phương thức hoạt động củacấp tổ chức này trong lịch sử và ở giai đoạn hiện nay [61, tr.17-58] Theo tác giả: nhữngnguyên tắc tổ chức và hoạt động của họ đạo, xứ đạo là cứ liệu quan trọng để đối chiếu thựctrạng công tác QLNN về tôn giáo của chính quyền các cấp
Tìm hiểu về tổ chức hàng giáo phẩm của GHCGVN, tác giả Nguyễn Hồng Dương có
bài viết: “Hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam - Vấn đề nhân sự và đào tạo” Bài viết
cho thấy hàng giáo phẩm CGVN được thiết lập đầy đủ, có quyền bính trực tiếp lãnh đạoGHCG Việt Nam từ sau khi Giáo Hoàng Gioan XXIII ban hành Tông hiến Venerabilum
Nostrorum ngày 24/11/1960 [57, tr.35] Tác giả cho rằng: “Hàng giáo phẩm là xương
sống, trụ cột của Giáo hội Quan tâm cất nhắc vào các vị trí của Giáo hội không chỉ là mối quan tâm của GHCGVN mà còn là mối quan tâm của Nhà nước Việt Nam, nhằm tạo điều kiện đảm bảo cho GHCGVN thực hiện đường hướng: Sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào” [57, tr.35-42].
Nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Hợp qua bài viết “Sự hình thành cộng đồng người
Việt Công giáo ở Đồng bằng Sông Cửu Long” Qua việc nghiên cứu các tư liệu điền dã và
các kết quả khảo sát của tác giả cho thấy: người Việt Công giáo đã có mặt tại Đồng bằngSông Cửu Long cùng thời điểm bắt đầu hình thành cộng đồng người Việt nơi đây, khinhững lưu dân đầu tiên đến khai phá vùng đất này Người Công giáo Việt có mặt nơi đây
do nhiều nguyên nhân khác nhau như: chính sách cấm đạo, thiên tai, dịch bệnh, do bị triềuđình truy sát và do chiến tranh [84, tr.32-36] Nghiên cứu quá trình phát triển của Cônggiáo nơi đây tác giả nhận định: giai đoạn hình thành từ khi người Việt vào khai phá đếnnăm 1802 có một số xứ họ đạo hình thành; giai đoạn Nhà Nguyễn (1802 -1884) có một số
họ đạo được thành lập nhưng không nhiều; giai đoạn Pháp thuộc từ 1885 - 1945, đây là
Trang 35này; giai đoạn 1945 - 1954 nhịp độ phát triển Công giáo nơi đây chậm lại; giai đoạn 1954
Giơnevơ [84, tr.32-40]
Những công trình nghiên cứu về hoạt động truyền giáo:
Kết quả nghiên cứu của Đặng Luận trong đề tài, “Truyền giáo và phát triển đạo
Công giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Kon Tum”, đã làm sáng tỏ lịch sử
truyền giáo, quá trình du nhập và phát triển của Công giáo ở Kon Tum; công trình cũng chỉ
ra những đặc điểm truyền giáo và những ảnh hưởng của đạo Công giáo đối với các mặt đờisống xã hội của đồng bào nơi đây [103, tr.53-76] Kết quả nghiên cứu cho thấy Công giáo
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa của đồng bào Kon Tum, điều này được thẩm thấu quathời gian Có những tác động mang tính chất có lợi cho đời sống xã hội như: lối sống, tậpquán sinh hoạt, sản xuất; cũng có những ảnh hưởng mang tính xáo trộn đời sống xã hộinhư: phong tục, tập quán, lễ nghi, văn hóa cộng đồng, nghi thức vòng đời Nghiên cứucũng cho thấy những hoạt động mang tính áp đặt, cưỡng bức từ các giáo sĩ, tạo tâm lýhoảng loạn, lo sợ từ phía tín đồ như: kêu gọi phá thần, hủy bỏ vật linh, ngẫu tượng; đả kíchmạnh mẽ tín ngưỡng bản địa, đã tạo ra những bất ổn trong đời sống của đồng bào nơi đây[103, tr 82-116]
Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Thơ trong đề tài: “Quá trình hình thành, phát triển
và đặc điểm của giáo phận Phát Diệm”, cho thấy quá trình truyền giáo vào Giáo phận Phát
Diệm diễn ra từ thế kỷ XVII, tuy nhiên phải cho đến khi Nhà Nguyễn bỏ lệnh cấm đạo,công cuộc truyền đạo mới thành công [126, tr.43-67] Trong quá trình phát triển giáo phận
có một số linh mục, tín đồ Công giáo bị thực dân lợi dụng, tham gia vào các hoạt độngkháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân địa phương, tuy nhiên bên cạnh đócũng có hàng nghìn tín đồ Công giáo là những tấm gương tiêu biểu trong công cuộc bảo vệ
tổ quốc như: linh mục Phạm Bá Trực, Vũ Bá Nghiêm, Bước vào công cuộc đổi mới doĐảng lãnh đạo, phần lớn đồng bào Công giáo của giáo phận hăng say lao động, sản xuất,chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước về tôn giáo [126, 86-138]
Bài viết của tác giả Đoàn Triệu Long: “Đạo Công giáo buổi đầu trên mảnh đất
Quảng Nam - Đà Nẵng”, đã làm sáng tỏ về thời điểm Công giáo được truyền vào Quảng
Nam, Đà Nẵng và công cuộc truyền giáo nơi đây Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, công cuộctruyền giáo ấy mới chỉ là bước thử nghiệm, kết quả đạt được chưa được khả quan Qua
Trang 36Nam, Đà Nẵng, tác giả khẳng định vai trò và tầm ảnh hưởng của Công giáo nơi đây tới sự phát triển Công giáo ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử [98, tr.36-39].
Những công trình nghiên cứu các hoạt động Công giáo:
Bài viết của nhà nghiên cứu Phạm Huy Thông về “Công giáo trong bối cảnh toàn
cầu hóa” đã cho thấy: trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông đã tạo ra những thời cơ thuận lợicho hoạt động truyền giáo của Công giáo trên phạm vi toàn thế giới Bên cạnh đó, trong xuthế toàn cầu hóa, bên cạnh những điểm tốt đẹp được đem lại cũng tạo ra những vấn đề xãhội rất khó khắc phục như: đói nghèo, chiến tranh, các vấn đề xã hội khác, đây là những
cơ hội mới cho công cuộc truyền giáo của GHCG, được các nhà truyền giáo, hàng giáophẩm Công giáo đặc biệt chú trọng, khai thác để tăng cường ảnh hưởng của Giáo hội Bêncạnh những thuận lợi đó, công cuộc truyền giáo cũng gặp phải những thách thức bắt nguồn
từ sự phát triển của khoa học và công nghệ, sự phai nhạt đạo ở tín đồ, sự cứng nhắc tronggiáo lý, giáo luật và lễ nghi Công giáo, đã làm cho không ít các tín đồ Công giáo trên thếgiới xa rời tôn giáo này [127, tr.7-13]
Bàn về vấn đề xung đột và hội nhập văn hóa giữa tôn giáo với văn hóa truyền thống
dân tộc, tác giả Nguyễn Hồng Dương đã có bài viết: “Kitô giáo với vấn đề xung đột và hội
nhập văn hóa: Bước đầu tìm hiểu và so sánh giữa trường hợp Công giáo và Tin lành
ở Việt Nam” Bài viết cho thấy Công giáo và Tin lành vào nước ta đều xảy ra hiện tượng
xung đột và hội nhập với văn hóa, tín ngưỡng truyền thống tuy nhiên ở những mức độ khác
nhau Theo tác giả: “Trải qua thời gian, văn hóa Công giáo đã xác lập được giá trị, vị trí, và có
được chỗ đứng trong văn hóa truyền thống và văn hóa đương đại Việt Nam, tuy nhiên, vai trò của văn hóa Tin lành đối với văn hóa truyền thống và đương đại Việt Nam hết sức mờ nhạt”[63, tr.18] Xung đột văn hóa Tin lành với văn hóa Việt Nam trong đó có phong tục thờ cúng tổ tiên
vẫn còn, đây là câu hỏi đối với các tổ chức, hệ phái Tin lành, trong đó có tổ chức Tin lành CMAphải xem xét trong thời gian tới
Tìm hiểu về Mối quan hệ giữa nhà nước Việt Nam với giáo hội Công giáo Rôma
hiện nay, tác giả Nguyễn Hồng Dương đã khái quát về những đặc điểm truyền giáo và đặc
điểm Công giáo ở Việt Nam; chỉ ra mối tương quan tác động qua lại giữa GHCGVN và
GHCG Roma; mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với Giáo triều Vatican trong nhữngnăm gần đây [58, tr.23-27] Qua bài viết, chúng ta cũng thấy được những biểu hiện cụ thể
Trang 37Tác giả Phạm Huy Thông trong bài: “Lối sống của người Công giáo Việt Nam: Quá
trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo”, cho thấy: có muôn ngàn lý do theo đạo của
người Việt Nam [128, tr.46-48] Người Công giáo Việt Nam cũng rất có ý thức giữ đạo,việc giữ đạo thể hiện qua thói quen, nếp sống sinh hoạt và sự thể hiện lòng kính Chúa củatín đồ Công giáo, thậm chí ngay cả việc di dời làng đến một vùng đất mới người ta vẫn lấytên cũ Theo tác giả, đúng như lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói với Giáo hoàng
Benedic II: “Ở Việt Nam, cộng đồng những người Công giáo là cộng đồng năng động,
kính Chúa, yêu nước và có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng và phát triển đất nước”[128, tr.52].
Bên cạnh những công trình, bài viết trên, còn rất nhiều những tài liệu khác tìm hiểu
về Công giáo như: Sách chuyên khảo: Các nhà tư tưởng lớn của Kitô giáo, của tác giả Hans Kung; cuốn sách: Nhân học Kitô, của tác giả Karl Rahner; sách tham khảo: Câu
chuyện Kinh Thánh, những bài học về lòng yêu thương, của tác giả Selina Hastings; sách
chuyên khảo: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, của linh mục Nguyễn Hồng; sách chuyên khảo: Sự du nhập
của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Kiệm; sách tham
khảo: Công giáo Việt Nam đối với sự phát triển bền vững đất nước của tác giả Nguyễn
Hồng Dương và một số bài viết chuyên sâu về Công giáo được đăng tải trên Tạp chíNghiên cứu Tôn giáo, Công tác Tôn giáo Những công trình, bài viết này được nghiên cứu,tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, có giá trị tham khảo trong việc tìm hiểu Công giáonói chung và QLNN về Công giáo nói riêng
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về Công giáo
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về Công giáo, tuy nhiên, nghiên cứu trênphương diện quản lý công lại chưa nhiều Chủ yếu tìm hiểu QLNN về Công giáo trênphương diện chính trị, triết học, lịch sử Có thể khái quát qua một số công trình dưới đây:
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Minh Đô trong đề tài: “Dòng tu Công giáo ở nước ta
hiện nay và những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước” Kết quả nghiên cứu đã
Trang 38giáo và các hình thức tu trì của Công giáo ở Việt Nam Đề tài đã làm sáng tỏ về vai trò, vịtrí của dòng tu trong GHCG và tìm hiểu về quá trình hình thành, phát triển của các dòng tuCông giáo [67, tr.11-37] Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm sáng tỏ thực trạng hoạtđộng của các dòng tu Công giáo và những bất cập trong QLNN đối với hoạt động của cácdòng tu Công giáo ở Việt Nam hiện nay [67, tr.38-69].
Bài viết của tác giả Đoàn Triệu Long về: “Công tác quản lý nhà nước đối với đạo
Công giáo ở miền Trung - Thực trạng và một số kiến nghị”, cho thấy công tác QLNN về
Công giáo ở khu vực miền Trung được các cấp chính quyền hết sức chú trọng, đạt đượcnhững kết quả tích cực trong quản lý tổ chức; về nhân sự và hoạt động của các chức sắc,tín đồ; quản lý đất đai và cơ sở thờ tự; quản lý hoạt động quốc tế và đấu tranh với các hoạtđộng lợi dụng Công giáo [100, tr.38-43] Bên cạnh kết quả đó, vẫn còn những hạn chế cầnkhắc phục, đặc biệt là vấn đề khiếu kiện về đất đai có liên quan đến Công giáo chưa đượcxem xét và giải quyết dứt điểm; sự phối hợp giữa các cơ quan trong QLNN về Công giáocòn có những hạn chế; đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về tôn giáo chưa nhiều, ít kinhnghiệm, thiếu chuyên môn, vẫn là những vấn đề cần phải có những giải pháp trong giaiđoạn kế tiếp [100, tr.44-47]
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Mạnh Đoàn trong đề tài: “Công tác vận động giáo
dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay”, khẳng định:
tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân chính trị là nền tảng của Đảng ở cơ sở và có vị trí, vai tròđặc biệt quan trọng trong công tác vận động chức sắc, tín đồ Công giáo trong việc thựchiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước; chất lượng và nộidung phương thức vận động chức sắc, tín đồ Công giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả QLNN đối với Công giáo, giáo dân [66, tr.26-58] Nghiên cứu cho thấy thực trạngcông tác vận động quần chúng của các tổ chức cơ sở đảng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ còn
có những hạn chế như: vận động chức sắc, tín đồ thực hiện đúng chính sách, pháp luật nhànước trên một số lĩnh vực như thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, quản lý đất đai, xây dựng,hoạt động truyền đạo và vận động giáo dân đấu tranh phòng chống các hành vi lợi dụngCông giáo để trục lợi, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc [66, tr.74-86]
Đề tài nghiên cứu về “Quản lý Nhà nước đối với các dòng tu của đạo Công giáo Việt
Nam”, của tác giả Nguyễn Hữu Có đã đạt một số những kết quả trên phương diện lý luận
và thực tiễn Về mặt lý luận tác giả đã làm sáng tỏ 3 mảng lý luận chính về tôn giáo; chủ
Trang 39Nam về tôn giáo; QLNN về tôn giáo [52, tr.6-39] Về mặt thực tiễn tác giả đã khái quátđược những nội dung cơ bản về tổ chức đạo Công giáo: phẩm trật giáo hội; bộ máy Giáotriều Vatican; Công giáo ở Việt Nam; tìm hiểu về các dòng tu, phân loại dòng tu, quá trìnhhình thành, phát triển và phương thức hoạt động của các dòng tu Công giáo ở Việt Nam[52, tr.40-79].
Từ kinh nghiệm thực tiễn quản lý, tác giả Lê Quang Toàn có bài viết: “Quản lý nhà
nước về các hội đoàn và dòng tu Công giáo” Nội dung bài viết đã khái quát về thực trạng
hội đoàn, dòng tu và hoạt động của các hội đoàn, dòng tu Công giáo ở 13 tỉnh miền Trung
và Tây Nguyên; phân tích, đánh giá về thực trạng QLNN đối với những hội đoàn, dòng tuCông giáo; dự báo về xu hướng phát triển hội đoàn, dòng tu Công giáo tại miền Trung vàTây Nguyên trong giai đoạn tới, qua đó, đề xuất một số những chủ trương, giải pháp vớicác cơ quan chức năng nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ QLNN đối với hội đoàn,dòng tu Công giáo trên địa bàn [136, tr.61-67]
Công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Hoàng Vương: “Quản lý nhà nước đối với
hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội” Kết quả nghiên cứu của đề
tài luận án đã xây dựng được hệ thống những cơ sở lý luận QLNN đối với hoạt động củađạo Công giáo và chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với hoạt động của đạoCông giáo ở Việt Nam [152, tr.46-62] Luận án cũng phân tích và làm sáng tỏ việc thựchiện các nội dung QLNN đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn TP Hà Nộigiai đoạn 2004 đến 2017 Qua nghiên cứu cho thấy việc QLNN đối với hoạt động của đạoCông giáo trên địa bàn TP Hà Nội vẫn gặp những khó khăn, hạn chế tập trung vào nhữngvấn đề như: hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện; công tác tuyên truyền, vận động chức sắc,tín đồ Công giáo chưa thực sự hiệu quả; nhận thức của một bộ phận CBCC về tôn giáo vàcông tác tôn giáo còn hạn chế; quản lý đất đai, xây dựng và từ thiện nhân đạo vẫn chưathực sự hiệu quả, đòi hỏi phải có những giải pháp để khắc phục [152, tr.124-131]
Nhìn từ khía cạnh quan hệ quốc tế của các tổ chức Công giáo, tác giả Phan Thị Mỹ
Bình đã thực hiện thành công đề tài: Quản lý nhà nước đối với hoạt động quan hệ quốc tế
của Giáo hội Công giáo Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm sáng tỏ một số
những cơ sở lý luận QLNN đối với quan hệ quốc tế của GHCGVN, làm rõ chủ thể, kháchthể và đối tượng nghiên cứu của QLNN đối với quan hệ quốc tế của GHCGVN Theo tác
Trang 40hệ thống chính sách, pháp luật về quan hệ quốc tế; (2) xây dựng đội ngũ CBCC; (3) tổchức thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo; (4) thanh tra, kiểm tra việc thực hiệnchính sách, pháp luật về tôn giáo và (5) quản lý hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức tôngiáo [19, tr.32-41] Đánh giá về thực trạng QLNN đối với quan hệ quốc tế của GHCGVNtác giả khẳng định: Nhà nước ta đã đạt những kết quả quan trọng trong việc xây dựng vàban hành các chính sách, pháp luật trong QLNN đối với quan hệ quốc tế của các tổ chứctôn giáo, tạo điều kiện cho GHCGVN duy trì và mở rộng các quan hệ với Tòa ThánhVatican và GHCG quốc tế, đào tạo và bồi dưỡng chức sắc Công giáo, nâng cao niềm tincủa tín đồ giáo sĩ vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; giúp GHCGVN đẩymạnh các hoạt động từ thiện, nhân đạo; làm thế giới hiểu rõ hơn về chính sách tự do TNTG
ở Việt Nam [19, tr.119-124]
Ngoài những công trình khoa học trên còn một số những công trình, bài viết khác về
chủ đề QLNN về công giáo như: Luận án của tác giả Đoàn Triệu Long: Giáo phận Đà
Nẵng - Lịch sử và vấn đề hiện tại; công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Long về: Vận dụng quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay và một số công trình, đề tài nghiên cứu khác ở trình độ thạc sĩ, phạm vi
nghiên cứu hẹp có giá trị tham khảo trong quá trình triển khai nghiên cứu luận án
1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về Công giáo và quản lý nhà nước về Công giáo ở Đông Nam Bộ
1.3.1 Nghiên cứu về Công giáo ở Đông Nam Bộ
Nghiên cứu của Đặng Mạnh Trung trong bài viết: “Vài nét về sự hình thành các xứ,
họ đạo đầu tiên ở Đông Nam Bộ”, cho thấy: Cộng đồng Công giáo đầu tiên ở Đông Nam
Bộ xuất hiện vào khoảng đầu và giữa thế kỷ XVII cùng với sự di cư của các lưu dân ngườiViệt phía Bắc Tổ Quốc, trong các cộng đồng người khai hoang, lập ấp, chạy trốn chiếntranh, né tránh chính sách cấm đạo của triều đình Nhà Nguyễn Thông qua bài viết, tác giảcũng cung cấp những hình ảnh khái quát về các xứ họ đạo đầu tiên ở 5 khu vực Đông NamBộ: khu vực Bình Thuận, khu vực Đồng Nai, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, khu vực Thànhphố Hồ Chí Minh và khu vực Bình Dương [140, tr.49-54]
Bài viết của Ngô Quốc Đông: “Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ 1948 -1954” cho
thấy nguyên nhân hình thành Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ; mô tả về nhân sự, tổchức và tôn chỉ của Hội; những hoạt động đồng hành kháng chiến, hoạt động báo chí và bí